báo cáo về nghi lễ vòng đời của người Chăm ISLAM ở An Giang
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: TS VÕ VĂN THẮNG
Long Xuyên, 5/2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi chân thành cám ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học
và Đào tạo Trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành
đề tài này
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự cộng tác, hỗ trợ nhiệt tình của các vị giáo cả, phó giáo cả, bà con đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang và hai tỉnh bạn Ninh Thuận và Bình Thuận Xin chân thành tri ân!
Nhóm nghiên cứu cũng gửi lời cám ơn chân thành đến các anh em đồng nghiệp, những người đã hỗ trợ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp chúng tôi hoàn thành đề tài đúng tiến độ
Nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa nói chung và văn hóa Chăm nói riêng là vấn
đề không dễ Bên cạnh những đóng góp nhất định, công trình chắc chắn sẽ còn nhiều hạn chế Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp nhiệt tình của quý đồng nghiệp cũng như các nhà khoa học
Xin chân thành cảm ơn!
Long Xuyên, tháng 05/2010
Ts Võ Văn Thắng
Trang 3Đề tài “Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang” bao gồm ba phần:
Phần dẫn luận nêu rõ lý do chọn đề tài, khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu; trình bày mục tiêu và đối tượng nghiên cứu; những phương pháp nghiên cứu được vận dụng đồng thời định hướng đóng góp của đề tài…
Trong phần nội dung, chúng tôi đi vào tìm hiểu khái quát về người Chăm Islam
ở An Giang Cụ thể, đề tài tập trung vào vấn đề tên gọi, nguồn gốc và sự phân bố dân
cư của họ
Về nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang, đề tài trình bày theo hệ thống từ các nghi lễ trong giai đoạn sinh, nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành đến nghi lễ trong giai đoạn tử Ngoài việc mô tả chi tiết các lễ thức, đề tài cũng tập trung khai thác những yếu tố tín ngưỡng, các quan niệm của cộng đồng Chăm Islam liên quan đến nghi lễ vòng đời Đề tài cũng tập trung so sánh nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang và nghi lễ vòng đời của người Chăm Bà ni, Chăm Bà la môn khu vực Miền Trung để từ đó làm nổi bật những đặc điểm, giá trị của từng đối tượng
Ở phần kết luận, chúng tôi đúc kết lại những nhận định khoa học về nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang, trên cơ sở đối sánh với nghi lễ vòng đời của người Chăm Bà ni và Chăm Bà la môn Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng tích cực của đồng bào Chăm Islam ở An Giang thông qua nghi lễ vòng đời của họ
Trang 41 Khotanh: Tục cắt da quy đầu
2 Chèn Khotanh: Người đàn ông làm nhiệm vụ cắt da quy đầu cho các bé trai
3 Ga sâm: Tục cấm cung
4 Khotam Koran: Lễ mừng học trò thuộc một đoạn kinh Koran
5 Khănh: Váy của người phụ nữ Chăm
6 Wali: Vị chủ hôn
7 Ôn Uốk: Người đàn ông hướng dẫn nghi thức hôn lễ cho chú rể
8 Mụ Uốk: Người phụ nữ hướng dẫn nghi thức hôn lễ cho cô dâu
9 Ahly: Trưởng các xóm, ấp ngừi Chăm
10 Hakêm: Giáo cả
11 Imâm: Chức sắc Islam giáo
12 Tuôn: Chức sắc Islam giáo
13 Maha: Người mai mối
14 Pakloh panuốik: Lễ hỏi
15 Harie padưng baguk: Ngày nhóm họ
16 Hagây he: Ngày đưa rể
17 Mă săm chăm nêk: Lễ hợp cẩn
18 Hanh đu: Ván khiêng thi hài người chết
19 Ông Sẽak: Ông từ giữ Thánh đường Chăm
Trang 5NỘI DUNG TRANG
I DẪN LUẬN
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
II NỘI DUNG
1 Khái quát về người Chăm Islam ở An Giang 7
2 Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang 10
2.1 Nghi lễ trong giai đoạn sinh 11 2.1.1 Những điều kiêng cữ khi phụ nữ mang thai 11
2.3.3 Cầu nguyện cho người chết 25
3 So sánh nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang 26
3.1 So sánh nghi lễ trong giai đoạn sinh 26 3.2 So sánh nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành 27 3.3 So sánh nghi lễ trong giai đoạn tử 37
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
Phụ lục
Trang 6Người Chăm là một trong số 54 dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Về văn hóa, dân tộc Chăm có nền văn hóa khá đồ sộ, góp phần làm phong phú bức tranh văn hóa tổng thể
ở nước ta Mặc dù trải qua nhiều giai đoạn biến động thăng trầm của lịch sử, văn hóa Chăm vẫn giữ được những giá trị đáng quý đồng thời tiếp thu những tinh hoa của các dân tộc khác trong quá trình giao lưu văn hóa Bên cạnh nền văn hóa vật chất như các đền đài, tháp chàm, các thánh đường… thì nền văn hóa phi vật thể của người Chăm cũng là một khía cạnh chứa nhiều yếu tố vừa đặc sắc vừa huyền bí
Để tìm hiểu một tộc người, một nền văn hóa, theo chúng tôi, điều cốt yếu nhất là tìm hiểu đời sống tâm linh, hay nói khác hơn là tìm hiểu những yếu tố thuộc về đời sống tinh thần của tộc người đó Trong đó, các nghi lễ vòng đời là một nội dung cốt lõi để tìm hiểu đời sống tâm linh.Bởi lẽ, thông qua những nghi lễ trong cuộc đời con người, ta có thể tìm hiểu thế giới quan, nhân sinh quan, phong tục tập quán, tâm hồn, tình cảm của tộc người đó
Nghi lễ vòng đời người chứa đựng đời sống tâm linh, nét văn hóa, tâm hồn tình cảm của một tộc người Nó có ảnh hưởng trực tiếp tới mỗi cá nhân và cộng đồng, thậm chí còn là sợi dây
vô hình gắn kết giữa cá nhân với cộng đồng dân tộc Con người từ khi sinh ra đến lúc mất đi, dù muốn dù không, họ cũng sẽ bị những nghi lễ vòng đời chi phối Chính vì vậy, nghi lễ vòng đời người là một trong những môi trường tốt nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người
Trong xu hướng phát triển, hội nhập như hiện nay, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa đang được chú trọng Văn hóa các tộc người ngày càng được đầu tư nghiên cứu Đó là cơ sở để khẳng định và đề ra những chính sách hợp lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đích thực Thực tế cho thấy, trong những năm qua, do giao lưu, tiếp nhận các nền văn hóa khác nhau, văn hóa Chăm, trong đó có các nghi lễ vòng đời người, đã ít nhiều có những biến đổi Việc nghiên cứu, khẳng định lại những nét đặc sắc trong nghi lễ vòng đời người Chăm là một việc làm cần thiết và cấp bách
Đối với người Chăm Islam ở An Giang, từ trước đến giờ đã có rất nhiều đề tài, chuyên luận, bài báo khoa học… đề cập với nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang lại là một vấn đề còn bỏ ngỏ Thiết nghĩ, nghiên cứu văn hóa người Chăm ở An Giang nói chung và nghi lễ vòng đời nói riêng
là một việc làm cần thiết Nó góp phần khẳng định những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Chăm ở An Giang; khu biệt với những đặc trưng, giá trị văn hóa của người Chăm Bà la môn, Chăm Bà ni khu vực miền Trung, đồng thời nghiên cứu một cách có hệ thống nghi lễ vòng đời của người Chăm ở An Giang còn là cơ sở để đề xuất những kiến nghị nhằm duy trì và phát huy những giá trị văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc này Chính vì những nguyên nhân nói trên,
Trang 72
chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang” để nghiên cứu
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong quyển Champa Tổng mục lục các công trình nghiên cứu, Nguyễn Hữu Thông và
nhóm tác giả của Phân viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật miền Trung đã thống kê được 2.278 công trình, bài viết khoa học về văn hóa Chăm của các tác giả trong và ngoài nước đã được xuất bản, tính đến năm 2002 Đây là con số thống kê chưa hoàn chỉnh về tình hình nghiên cứu văn hóa Chăm cho đến thời điểm này Mặc dù vậy, nó cũng cho thấy rằng, đây là một đề tài hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Vấn đề văn hóa, dân tộc luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đặc biệt là các vùng quốc gia đa sắc tộc Việc nghiên cứu văn hóa của một cộng đồng dân tộc không chỉ dừng lại ở mức độ nắm bắt những giá trị, đặc trưng của văn hóa cộng đồng dân tộc đó
mà còn là cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách về văn hóa, xã hội đề ra những giải pháp, những chiến lược tích cực nhằm đảm bảo vấn đề an sinh xã hội, phát triển quốc gia, vùng dân tộc thiểu số Do vậy, trong bất kỳ thời đại nào, vấn đề văn hóa dân tộc cũng là vấn đề thu hút được sự đầu tư nghiên cứu
Về văn hóa Chăm, Thư tịch cổ Trung Hoa đã có những ghi chép ban đầu về dân cư và Vương quốc Champa – Vương quốc cổ của tổ tiên người Chăm ngày nay Những tư liệu về
Champa của Trung Quốc ghi lại chủ yếu trong Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường
thư, Tống sử v.v Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp
- Hoàn Vương - Chiêm Thành Nhưng những sử liệu nói trên chủ yếu nói về việc triều cống, giao tranh, hòa hiếu giữa Champa và một số quốc gia trong khu vực thời bấy giờ “Những tư liệu của Trung Quốc viết về phong tục tập quán của người Chăm xưa không có hệ thống, rất hiếm hoi, rời rạc và sơ sài, nhiều khi thiếu chính xác.” (Phan Quốc Anh, 2004: 4)
Phải đến nửa cuối thế kỷ XIX, trong sự phát triển chung của các ngành khoa học, người Chăm và nền văn hoá của họ mới được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu với tư cách là đối tượng của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau Cụ thể là năm 1852, J Graufurd công bố danh sách 81 từ vựng tiếng Chăm, mở đầu cho các cuộc khảo sát về người Chăm được tiến hành tại Việt Nam Sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm được ra đời Cụ thể, tác giả A Bastian đã công bố hai trang từ vựng tiếng Chăm năm 1868 K.F Holle cho in bảng chữ cái Chăm năm 1877 E Aymonier cho công bố bài viết về văn tự và các phương ngữ Chăm năm 1881 Năm 1889, A Bergaigne xuất bản công trình nghiên cứu về lịch sử Champa qua các văn bản cổ… Có thể thấy, bước đầu nghiên cứu về Champa, các nhà khoa học phương Tây quan tâm nhiều đến vấn đề ngôn ngữ và văn tự Chăm Phải đến những năm đầu của thế kỷ XX, việc nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc, các di tích mới được quan tâm Đáng chú ý là tác giả L Finot với công trình thống kê các danh mục kiến trúc Chăm (1901); L Cadiere và H Parmentier cũng
có nhiều bài viết quan trọng đề cập di tích và các vấn đề khảo cổ Chăm khu vực Miền Trung
Từ sau thế chiến thứ II, do những biến động về lịch sử, việc nghiên cứu văn hóa Chăm có
phần lắng đọng Đáng chú ý nhất là công trình của tác giả Rie Nakamura về Chăm Việt Nam - sự
đa dạng tộc người, năm 1999 Trong đó, tác giả đã đề cập một số vấn đề quan trọng liên quan đến
đời sống văn hóa của người Chăm Islam ở An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, vấn
đề nghi lễ vòng đời vẫn chưa được đề cập thỏa đáng
Trang 83
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về văn hóa Chăm khá đồ sộ Đa số các công trình này tập trung nghiên cứu về người Chăm khu vực Miền Trung Các tác giả phương Tây thường tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, văn tự, văn bia, nghệ thuật kiến trúc, khảo cổ Champa Một số công trình đề cập đời sống văn hóa xã hội của người Chăm nhưng chưa đi sâu vào tìm hiểu các nghi lễ vòng đời người một cách có hệ thống
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Nhận thức rõ vai trò công tác nghiên cứu văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số nói chung và văn hóa cộng đồng dân tộc Chăm nói riêng, ở nước ta từ trước đến nay đã có nhiều công trình xoay quanh đối tượng này Từ những năm 1945 – 1975, đã có nhiều công trình nghiên cứu khá chuyên sâu về văn hóa Chăm Điển hình như: Nhóm tác giả Nguyễn Trắc Dĩ, Thái Văn Kiểm,
Tạ Chí Đại Trường, Dohamide và Dorohiem với công trình Dân tộc Chàm lược sử (1965); Nguyễn Bạt Tụy Nghiêm Thẩm, Nguyễn Khắc Ngữ với công trình Mẫu hệ Chàm (1967); Đặc biệt, năm 1974, Nguyễn Văn Luận cho ra mắt công trình Người Chăm Hồi giáo ở miền Tây Nam
phần Việt Nam Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về người Chăm Islam khu vực
miền Tây Nam Việt Nam, trong đó có An Giang Trong công trình này, tác giả cũng đã miêu tả một cách vắn tắt về tập tục gia đình của người Chăm Islam, trong đó có những tập tục sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma… Đây là những gợi ý hết sức quý báu để nhóm nghiên cứu đi vào khảo sát một cách hệ thống các nghi lễ vòng đời người Chăm Islam ở An Giang Tuy nhiên, dựa trên cơ sở lịch đại, từ sau năm 1975 đến nay, đời sống, phong tục của người Chăm Islam ở An Giang đã có những biến chuyển nhất định Do vậy, những kết luận của tác giả Nguyễn Văn Luận về nghi lễ liên quan đến vòng đời của người Chăm miền Tây Nam Phần cũng cần được xem xét lại
Từ sau năm 1975, tình hình nghiên cứu về văn hóa Chăm ở nước ta có nhiều khởi sắc
Đặc biệt là đóng góp của các tác giả Lê Ngọc Canh (Múa Chăm, 1982), Tùng Lâm và Quảng Đại Cường (Truyện thơ Chàm, 1983); Phan An, Phan Văn Dốp (Văn hóa Chăm, 1991) Công trình nghiên cứu Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận của tác giả Phan Quốc Anh
(2004) là một công trình công phu, nghiên cứu khá toàn diện, hệ thống về nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr khu vực Ninh Thuận… Các nhà nghiên cứu người Chăm cũng cho ra mắt
nhiều công trình rất có giá trị Điển hình như: Ngô Văn Doanh (Văn hóa Champa, 1994; Văn hóa
cổ Champa, 2002), Inrasara (Văn học Champa, 1994; Văn học dân gian Champa, 1995; Các vấn
đề về văn hóa xã hội Chăm, 1999; Văn hóa xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại, 2008)…
Ngoài những công trình nêu trên, còn có nhiều bài viết được đăng tải trên các Tạp chí Dân tộc học, khoa học xã hội, Khảo cổ học, Nghiên cứu lịch sử, một số website trong và ngoài nước…
Trong giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa người Chăm Islam ở Nam Bộ, trong đó có An Giang Cụ thể như: Lâm Tâm với công
trình Một số tập tục người Chăm An Giang (1993) Tác phẩm này đã trình bày khái quát về nguồn
gốc, đặc điểm, tập tục, sinh hoạt văn hoá và tín ngưỡng của người Chăm ở An Giang Tuy chưa thật sự hệ thống và toàn diện nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình “bóc tách” những lớp vỏ văn hóa Chăm ở địa phương An Giang Ngoài ra, có thể kể đến tác giả Phan Văn
Dốp với công trình nghiên cứu Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long (1991) Trong đó, ông đã dành một chương nói về Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long Thêm nữa, tác giả Dohamide cũng có nhiều bài viết quan trọng đăng trên Tạp chí Bách Khoa như: Cuộc sống tại gia
đình người Chàm (số 136), Đời sống người Chàm Châu Đốc (số 142); Những tập tục của người Chàm Hồi giáo (số 188) Năm 2004, ông cùng Dorohiêm cho ra mắt cuốn Bangsa Champa Tìm
về với một cội nguồn cách xa tại Mỹ Công trình này giống như một quyển hồi ký của tuổi thơ
Trang 94
ông, vừa ghi chép lại những sử liệu quan trọng liên quan đến quá trình hình thành cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang
Năm 2004, Hội thảo về “Những biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người
Chăm và người Khmer tại Nam Bộ hiện nay” đã được tổ chức, thu hút nhiều nhà khoa học quan
tâm Nhiều tham luận liên quan đến người Chăm Islam đã được công bố Tuy nhiên, phần lớn các tham luận này đề cập các vấn đề chính sách xã hội, quá trình biến đổi trong đời sống hiện đại…
mà chưa chú ý đến các nghi lễ trong vòng đời của người Chăm Islam
Có thể nói, cho đến nay đã có một số công trình, bài viết đề cập nghi lễ vòng đời người Chăm nhưng chưa thật sự có hệ thống mà chỉ đi vào tìm hiểu vài khía cạnh như hôn lễ, tang lễ…
Có công trình đi vào tìm hiểu một cách hệ thống về nghi lễ vòng đời người Chăm nhưng đối tượng chính lại là người Chăm Ahiêr (Chăm Bà la môn) khu vực Ninh Thuận Nhiều đề tài khác cũng thường tập trung nghiên cứu về văn hóa người Chăm Bà la môn, Chăm Bà ni ở khu vực miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận) Trong khi đó, văn hóa người Chăm Islam ở An Giang
được nghiên cứu với mức độ khá khiêm tốn Đặc biệt, vấn đề Nghi lễ vòng đời của người Chăm
Islam ở An Giang là vấn đề còn bỏ ngỏ Trong tình hình phát triển mới của đất nước, việc nghiên
cứu nghi lễ vòng đời của cộng đồng dân tộc mang tính cấp thiết, đòi hỏi được sự quan tâm sâu sắc của các cấp mà trước hết là các nhà nghiên cứu trong nước nói chung và tỉnh An Giang nói riêng Đây là cơ sở quan trọng để củng cố và phát triển đời sống văn hóa xã hội cho cộng đồng người Chăm bên cạnh cộng đồng người Việt trong tương lai
3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng chính là nghi lễ vòng đời người Chăm Islam trên địa bàn tỉnh An Giang Đó là những nghi lễ liên quan đến đời sống của mỗi người Chăm Islam từ khi sinh cho đến khi chết Chúng tôi sẽ khảo sát các nghi lễ dựa trên ba giai đoạn chủ yếu của đời người: sinh, thành niên, tử
Ngoài đối tượng chính đã nêu, trong đề tài, chúng tôi còn chọn khảo sát hai đối tượng khác, có tính chất bổ trợ cho đối tượng chính, đó là nghi lễ vòng đời của người Chăm Bà la môn
và người Chăm Bà ni khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận Các đối tượng này sẽ được sử dụng để
so sánh, đối chiếu với đối tượng chính, nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa chúng
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu về quá trình hình thành cộng đồng dân tộc Chăm Islam ở An Giang;
- Nghiên cứu các nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang một cách hệ thống,
từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt về nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang và người Chăm Bà la môn, Chăm Bà ni (Ninh Thuận, Bình Thuận);
- Đề xuất những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa trong đời sống xã hội của người Chăm ở An Giang thông qua các nghi lễ vòng đời được nghiên cứu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Tìm hiểu các công trình, bài viết, các ấn
phẩm có liên quan đến đối tượng kể cả tư liệu trên Internet để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan, biện chứng về đối tượng
5.2 Phương pháp khảo sát:
Trang 105
- Mục đích: Thu thập thông tin chi tiết về nghi lễ vòng đời của người Chăm
- Địa bàn khảo sát:
+ Chọn khảo sát 05 xã có đồng bào Chăm Islam sinh sống Bao gồm: Khánh Bình (huyện
An Phú); Châu Phong (Tân Châu); Phú Hiệp (trước thuộc Phú Tân, nay thuộc Thị xã Tân Châu); Khánh Hòa (Châu Phú); Vĩnh Hanh (Châu Thành) thuộc tỉnh An Giang
+ Chọn khảo sát 01 địa bàn có người Chăm Bà ni sinh sống tại xã Liên Hương huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận và 01 địa bàn có người Chăm Bà la môn sinh sống là phường Đô Vinh, Thành phố Phan Rang Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận
vòng đời của người Chăm
5.3 Phương pháp so sánh:
So sánh các nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang và người Chăm Bà la
môn; Chăm Bà ni (Ninh Thuận, Bình Thuận) để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt
Ngoài những phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn vận dụng một
số phương pháp khác như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lo-gic và lịch sử … nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống về đối tượng
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Công trình nghiên cứu thành công sẽ cung cấp những tư liệu, những nhận định khoa học
về nghi lễ vòng đời của người Chăm An Giang, chỉ ra những giá trị tích cực của nó, đóng góp những cứ liệu cần thiết cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Chăm nói chung
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một trong những cơ sở để các cấp lãnh đạo, quản lý hoạch định chính sách, đưa ra những chủ trương phù hợp nhằm phát triển đời sống văn hóa, tín ngưỡng, chăm lo vấn đề an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc Chăm ở An Giang
Ngoài ra, bản báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu cần thiết cho việc giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên Khoa Văn hóa nghệ thuật nói riêng, Trường Đại học An Giang nói chung
7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI: Đề tài được kết cấu thành 3 phần
I DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
7 Bố cục của đề tài
II NỘI DUNG
1 Khái quát về người Chăm Islam ở An Giang
Trang 116
1.1 Vấn đề tên gọi 1.2 Nguồn gốc
1.3 Phân bố dân cư
2 Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang
2.1 Nghi lễ trong giai đoạn sinh
2.2.1 Những điều kiêng cữ khi phụ nữ mang thai 2.2.2 Lễ cắt tóc và đặt tên
2.2 Nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành
2.2.1 Tục cắt da quy đầu 2.2.2 Tục cấm cung 2.2.3 Nghi thức cưới hỏi 2.3 Nghi lễ trong giai đoạn tử
2.3.1 Quan niệm người Chăm Islam về cái chết 2.3.2 Nghi thức tang lễ
2.3.3 Cầu nguyện cho người chết
3 So sánh nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam và nghi lễ vòng đời người Chăm
Bà ni, Chăm Bà la môn khu vực Miền Trung
3.1 So sánh nghi lễ trong giai đoạn sinh 3.2 So sánh nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành 3.3 So sánh nghi lễ trong giai đoạn tử
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 127
II NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG
1.1 Về tên gọi
Trước đây, đồng bào Chăm có nhiều tên gọi như: Chàm, Chà, Chà Và, Chà Và Ku, Chiêm Thành, Champa Ngoài ra, đồng bào thường tự gọi là Chăm, Chăm Bàni, Chăm Islam, Chăm Chuk, Chăm Kaphir, Chăm Jet Trong đó, một số tên gọi xuất phát từ việc đọc trại các âm tiếng Chăm mà thành Điển hình như tên “Chàm” bắt nguồn từ tên gọi là Champa, dần dần biến âm thành Chàm Tên gọi này được dùng phổ biến trong người Chăm Hay tên “Chà” cũng là trường hợp tương tự Vì trong ngôn ngữ người Chăm có danh từ “Ja” và “Chà” có nghĩa là “thằng”, từ
đó người Kinh cũng thường gọi: người Chà, xóm Chà, làng Chà để chỉ xóm xã người Chăm Tên
“Chà Và” cũng có thể do người Kinh phiên âm từ tiếng “JaVa” (tên thủ đô của nước Inđônêxia)
mà thành Tuy nhiên, người Chăm rất thành kiến với tên gọi Chà Và Theo họ, tên gọi này mang tính “kỳ thị dân tộc”
Trong tên tự gọi riêng, đồng bào Chăm thường dựa theo đặc điểm về tôn giáo Chẳng hạn, người Chăm Hồi Giáo tự xưng là Chăm Islam (Chăm con giáo chủ Allah) và Chăm Bà ni (người Chăm theo Hồi giáo không chính thống) Người Chăm theo đạo Bà la môn tự xưng là Chăm Jet (Chăm chính thống) và Chăm Chuk (khi có người chết thì đem thiêu xác) Người Chăm Hồi giáo cũng còn gọi những người Chăm theo tôn giáo khác là “Kaphis”, có nghĩa là “dị giáo”
Với mỗi tên gọi của đồng bào, những cách giải thích và tiếp cận khác nhau sẽ giúp chúng
ta có cái nhìn toàn diện hơn trong việc tìm hiểu và tiếp xúc với văn hoá và cộng đồng của người Chăm ở từng vùng miền cũng như cộng đồng người Chăm ở Việt Nam nói chung
Ở Việt Nam, người Chăm Hồi giáo được chia thành hai nhóm chính Trong đó, người Chăm theo Hồi giáo không chính thống hiện cư ngụ tại khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận, còn gọi là Chăm Bà ni Họ mang nhiều yếu tố của văn hóa bản địa do quá trình giao lưu, tiếp biến các giá trị văn hóa Các lễ thức được tiến hành mang đậm dấu ấn chế độ gia đình mẫu hệ và văn minh nông nghiệp, ít liên quan đến lễ thức Hồi giáo chính thống
Người Chăm theo Hồi giáo chính thống hiện cư ngụ tại An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, còn gọi là Chăm Islam Họ vẫn giữ được những phong tục, tập quán
cũ và thường xuyên liên hệ với thế giới Hồi giáo thông qua Hồi giáo Malaysia, Campuchia, Ả Rập Họ không bị ảnh hưởng nhiều bởi văn hóa bản địa (An Giang)
Trước đây, các nhà khoa học, giới báo chí thường gọi người Chăm Islam ở An Giang bằng nhiều thuật ngữ khác nhau Ví dụ như “Người Chăm Châu Đốc”, “Người Chăm Châu Giang”, “Người Chăm Hồi Giáo ở An Giang”, “Người Chăm Hồi Giáo ở Châu Đốc”… Chúng tôi nhận thấy, các cách gọi gắn với địa danh Châu Đốc ngày nay không còn phù hợp nữa Bởi lẽ, hiện tại địa bàn Thị xã Châu Đốc không có các Puk, Pơlây hoặc một nhóm cộng đồng Chăm nào
Hiện nay, để thống nhất cách gọi, các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Chăm Islam” để chỉ người Chăm theo đạo Hồi chính thống Ngoài ra, còn có thuật ngữ “Chăm Bà ni” để chỉ những người Chăm theo đạo Hồi không chính thống (Phạm Thị Vinh, 2008) Các thuật ngữ này
xuất phát từ tiếng Ả Rập Cụ thể, trong tiếng Ả Rập, chữ “Islam” (لإسلام) có nghĩa là Hồi giáo Những người Chăm theo đạo Hồi được gọi là “Musulman” (مسلمان) còn một người Hồi giáo thì
gọi là “Muslim” (مسلم) có nghĩa là “một trong những người nộp thân cho Chúa Trời, tức Allah”
Bản thân cộng đồng Chăm ở An Giang và nhiều nơi khác cũng sử dụng thuật ngữ Chăm Islam để chỉ những người Chăm theo Hồi giáo chính thống Chính vì vậy, theo chúng tôi, dùng
Trang 13Theo các sử liệu cổ của Trung Quốc, Vương quốc Champa được thành lập từ năm 192 sau
Công nguyên, lấy tên là Lâm Ấp (có nghĩa là xứ rừng) Sau đó, Lâm Ấp lần lượt đổi tên thành
Hoàn Vương rồi Chiêm Thành Lâm Ấp được thành lập là do Khu Liên, một viên chức bản địa vì không chịu nổi sự cai trị hà khắc của nhà Hán nên lãnh đạo người dân nổi dậy lật đổ chính quyền khu vực Nam Thừa Thiên Huế ngày nay Lâm Ấp có địa bàn trải dài từ thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng thuộc Tây Nguyên Trong quá trình phát triển đất nước, Vương quốc Champa có những biến động nhất định do ảnh hưởng của chiến tranh Người Champa từng có xung đột với các quốc gia trong khu vực thời bấy giờ như Chân Lạp (Campuchia), Malaska, Xiêm (Thái Lan)… Đặc biệt, những cuộc xung đột và giao tranh với Đại Việt có ảnh hưởng rất lớn đối với sự biến đổi lãnh thổ và dân cư Lâm Ấp
Năm 982, dưới thời vua Lê Đại Hành, quân đội Đại Việt đã phá hủy kinh thành Indrapura thuộc Quảng Nam ngày nay, buộc người Champa phải rời bỏ kinh thành, di cư về phía Nam Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cầm quân tiến đánh Chiêm Thành, bắt sống Quốc vương Champa
là Chế Củ Champa phải dâng các châu Địa lý, Ma linh, Bố chánh (thuộc Quảng Bình, Quảng Trị) Dưới thời của Hồ Quý Ly, Quốc vương Champa tiếp tục thất trận, phải dâng đất Chiêm động và Cổ lũy để đổi lấy sự tự do Tuy nhiên, biến động lớn nhất của cư dân Champa có lẽ được đánh dấu vào năm 1471 Khi ấy, vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đánh Champa, bắt sống Quốc vương Bàn-la Sau đó, lãnh thổ Champa bị chia cắt thành ba nước nhỏ, đó là Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan Cũng từ sau thất bại ấy, hàng loạt người Chăm đã bỏ chạy Có nhóm chạy lên miền núi, có nhóm vượt biên giới sang trú tại vương quốc Chân Lạp
Đến đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất giang sơn, nhà Nguyễn đã áp dụng chính sách cai trị ngày càng chặt chẽ đối với người dân Champa Đến năm 1822, vua Champa cuối cùng là PoChơnChan đóng đô ở Phan Rang phải bỏ ngai vàng cùng các binh tướng, tùy tùng và gia đình vượt Trường Sơn trốn sang Campuchia
Năm 1833, khi Lê Văn Khôi nổi lên chống lại nhà Nguyễn, nhờ được người Champa (lúc này đang hưởng quyền tự trị) ủng hộ nên dễ dàng chiếm các miền Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết Tuy nhiên, sau đó khoảng thời gian không lâu, cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi bị dẹp tan Vua Minh Mạng đã thẳng tay tàn sát dân Champa khiến họ phải trốn đi nơi khác như Campuchia, Mã Lai, Xiêm,
Trong những năm của thế kỷ XVII, XVIII, tình hình Chân Lạp có những biến động phức tạp, chiến tranh xảy ra liên miên, đời sống người dân nhất là những lưu dân vốn gặp khó khăn lại khó khăn hơn Trong bối cảnh ấy, người Chăm dễ dàng tìm đến với chúa Nguyễn khi có điều kiện Nhưng cũng vì những điều kiện cụ thể mà họ không thể trở về cố hương với cộng đồng gốc của mình mà định cư rải rác ở nhiều nơi thuộc vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay
Năm 1841, Nam Bộ có cuộc khởi nghĩa Lâm Sâm ở Trà Vinh Lúc bấy giờ, vua Thiệu Trị xuống chiếu cho Trương Minh Giảng đang ở Chân Lạp (Campuchia) rút quân về Những người Chăm và người Mã Lai được tuyển vào quân đội triều Nguyễn cùng gia quyến của họ đã rút theo
Trang 149
đoàn quân của Trương Minh Giảng, khâm sai đại thần Lê Văn Đức, phó khâm sai Doãn Uẩn của triều Nguyễn cũng theo về Sau đó, họ cư trú cùng gia đình dọc sông Hậu (cù lao Katambong) và Khánh Bình (An Phú) cho đến ngày nay
Năm 1858, ở Chân Lạp, Tuôn Sết It lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống lại triều đình phong kiến Cuộc khởi nghĩa đã thu hút khá đông người Chăm, người Mã Lai tham gia Đến khi cuộc khởi nghĩa thất bại, rất nhiều người Chăm, người Mã Lai chạy về Nam Bộ Tất cả đều được Triều Nguyễn thu nhận và cho định cư ở vùng đất An Giang, cụ thể là phân bố trong 7 làng: Châu Giang, Katambong, Phũm Soài, La Ma, Koh Koi, Koh Kia và Sa Bâu Đây được xem là đợt di dân đông đảo nhất của người Chăm từ Campuchia về An Giang
Cần phải nói thêm, địa bàn lãnh thổ vương quốc Champa xưa kia là một khu vực có khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, không thuận lợi cho quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Do vậy, có nhiều khả năng, người Chăm có xu hướng di cư đến các vùng lân cận để tìm một môi trường sống thuận lợi hơn Do phía Đông giáp biển, họ không thể di cư theo hướng này mà chỉ có thể đi theo hướng Bắc, Tây hoặc Nam Theo hướng Tây, họ sẽ gặp trở ngại lớn bởi dãy Trường Sơn hiểm trở và các tộc người miền núi lúc bấy giờ Hướng Bắc, người Chăm sẽ gặp cộng đồng Đại Việt và chắc chắn rằng, họ không đủ sức để chống chọi với dân tộc hùng mạnh này Do vậy, nếu những người Chăm muốn rời bỏ quê hương của họ để tìm vùng đất tốt hơn, chỉ còn một hướng duy nhất là Nam tiến Lúc bấy giờ, Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoang hóa Tuy vậy, điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng so với lãnh thổ vương quốc Champa là thuận lợi hơn rất nhiều Có lẽ, vì nguyên do này, khi Chúa Nguyễn lập phủ Gia Định (1698), Nguyễn Hữu Cảnh thụ mệnh chiêu mộ dân binh vào Nam khai phá ruộng đất, khẩn hoang lập làng thì một bộ phận người Chăm miền Trung đã mạnh dạn tham gia vào đây để tìm một môi trường sống mới
Như vậy, cư dân Chăm ở Nam Bộ nói chung và ở An Giang nói riêng được hình thành từ hai nguồn chủ yếu, từ Trung Bộ chuyển cư thẳng vào vùng đất mới phía Nam và một phần khác không nhỏ từ Chân Lạp trở về
1.3 Phân bố dân cư
Theo số liệu tập hợp của Ban Dân tộc tỉnh An Giang, hiện nay người Chăm ở An Giang là 13.722 nhân khẩu, khoảng 2.810 hộ, 7404 nữ, 6.318 nam sống chủ yếu tập trung ở các Puk (ấp) hay trong những Pơlây (xã) xen kẽ với người Kinh Có thể liệt kê tình hình phân bố dân cư như sau:
- Ấp Đồng Cô Ky thuộc xã Quốc Thái huyện An Phú Tiếng Chăm gọi là “Koh Kôkia”,
có nghĩa là “cồn Cây Sao”
- Ấp La Ma (hay còn gọi là cù lao Ba) thuộc xã Vĩnh Trường, huyện An Phú Tiếng Chăm gọi là “Koh plao ba”, có nghĩa là “ba cù lao” hay “ba cái cồn”
- Ấp Phước Thành thuộc xã Đa Phước huyện An Phú Tiếng Chăm gọi là “Koh kapoak”
có nghĩa là “còn tơ tằm”
- Ấp Phum Soài, thuộc Phường Châu Phong, Thị xã Tân Châu Tiếng Chăm gọi là “Puk
Pa ok”, có nghĩa là “ấp chòm Soài”
- Ấp Châu Giang trước đây thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân Tuy nhiên, từ tháng 10/2009, Tân Châu chính thức được quyết định nâng lên Thị xã, có sát nhập một số địa phận hành chính thuộc Huyện Phú Tân vào Thị xã Tân Châu, trong đó có Châu Giang, cho nên, hiện nay, làng Châu Giang thuộc Phường Châu Phong, Thị xã Tân Châu Cũng chính vì nguyên do này, hiện nay, các làng Chăm ở An Giang chủ yếu thuộc 3 huyện (An Phú, Châu Phú, Châu
Trang 1510
Thành) và Thị xã Tân Châu, chứ không phải 5 huyện như các tài liệu trước đây đã ghi Về tên gọi làng Chăm Châu Giang có ba luồng ý kiến khác nhau Có người cho rằng, xuất phát từ cách gọi của người Chăm “Moot Chruk”, có nghĩa là “mõm con heo” Có người lại cho rằng, Châu Giang trước đây có tên là “Koh kôi”, có nghĩa là “cồn quan thuế”, ý chỉ nơi này có người Chăm khu vực Nhơn Hội (An Phú), thuộc “cồn quan thuế” di cư xuống Cũng có ý kiến cho rằng, Châu Giang là tên chính thức của làng này Bởi lẽ, từ thời nhà Nguyễn, quan lại bắt người Chăm phải lấy họ Châu hoặc Chau “Châu Giang” có nghĩa là “người họ Châu sống dọc theo sông”
- Ấp Sabâu, thuộc xã Khánh Bình huyện An Phú Tiếng Chăm gọi là “Prek Sabâu”, có nghĩa là “rạch cỏ tranh”
- Ấp Koh kôi, thuộc xã Nhơn Hội, huyện An Phú Tiếng Chăm “koh kôi” có nghĩa là “cồn Quan Thuế” (cồn có trạm quan thu thuế)
- Ấp Khánh Mỹ, thuộc xã Khánh Hòa huyện Châu Phú Khánh Mỹ là tên gọi theo người Việt, tiếng Chăm gọi ấp này là “Koh Tambong” có nghĩa là “cồn cây gậy” Trong đó, theo tiếng Chăm và tiếng Khmer “koh” có nghĩa là “cồn”, còn “Tambong” là tiếng Khmer Do vậy, có nhiều giả thuyết cho rằng, vùng này xưa kia người Khmer cư trú trước người Chăm
- Ngoài ra, cũng có một số người Chăm ở xã Khánh Bình và xã Nhơn Hội huyện An Phú
di cư đến xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (An Giang) từ năm 1979 sống về nghề ruộng rẫy và buôn bán nhỏ Dân số cư trú ở địa phương tính đến nay đã được trên dưới một trăm hộ và khoảng
800 nhân khẩu Bên cạnh đó, ở thành phố Long Xuyên có khoảng 20 hộ và 120 nhân khẩu của người Chăm sinh sống, chủ yếu làm dịch vụ và buôn bán
2 NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG
Đối với cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang, tôn giáo trở thành nhân tố chi phối mọi hoạt động văn hoá, các phong tục, tập quán và sinh hoạt đời sống hằng ngày Chúng ta có thể nhận thấy các chuẩn mực tôn giáo có vị trí hết sức to lớn đối với đời sống, sinh hoạt của đồng bào Chăm Niềm tin và sự tôn kính đối với Thượng đế Allah, Thiên sứ Mohamad và Thiên kinh Koran của cộng đồng Chăm An Giang rất bền vững
Người Chăm Islam tin vào Thiên đường và Địa ngục Đối với họ, thực tế có đến 4 thế giới:
- Thế giới thứ nhất là thế giới trong bụng mẹ
- Thế giới thứ hai chính là thế giới ngoài đời, thế giới mà con người đang sống
- Thế giới thứ ba là thế giới sau khi con người chết đi
- Thế giới thứ tư là thế giới người chết sống lại, ngày phán xét cuối cùng Trong ngày phán xét này sẽ quyết định, ai có công được lên Thiên đàng, ai có tội sẽ bị đày xuống địa ngục
Người Chăm Islam luôn sống, hành xử theo đúng Giáo luật Hồi giáo, được quy định nghiêm ngặt trong Thánh kinh Koran Những điều luật và đức tin ấy chi phối rõ rệt đời sống từng
cá nhân kể từ lúc sinh ra đến khi chết đi
Mặc dù trong quá trình di cư, sinh sống và giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau, đời sống văn hóa người Chăm Islam cũng có những biến đổi nhất định Song, về cơ bản, họ vẫn giữ được những phong tục, tập quán và tổ chức cuộc sống xã hội theo đúng chuẩn mực được quy định trong kinh Koran Vấn đề này sẽ được sáng rõ khi ta khảo sát các nghi lễ gắn với vòng đời người Chăm Islam ở An Giang
Trang 1611
2.1 Nghi lễ trong giai đoạn sinh
2.1.1 Những điều kiêng cữ khi phụ nữ mang thai
Không riêng về người Chăm Islam, hầu như đối với tất cả các dân tộc trên thế giới, trong bất kỳ thời đại nào, việc phụ nữ mang thai và sinh nở luôn là niềm hạnh phúc lớn, là một sự kiện quan trọng trong gia đình Bởi lẽ, việc sinh nở đánh dấu sự ổn định trong quá trình duy trì và phát triển nòi giống, bảo đảm cho quá trình tồn tại vững chắc của mỗi gia đình nói riêng và cộng đồng nói chung
Đối với người Chăm Islam ở An Giang, ngay trong giai đoạn phụ nữ mang thai, họ đã có những kiêng cữ nhất định để bảo vệ cả mẹ và thai nhi Trước đây, phụ nữ mang thai phải kiêng nằm võng, kiêng leo trèo (sợ té sẽ hư thai); không được ngồi quay lưng ra hướng cửa chính (sợ sinh con chậm); mỗi khi làm việc gì phải làm cho xong thật mau lẹ (sau sẽ dễ sinh); chỉ được ăn uống ngồi, kiêng ăn đứng hoặc vừa ăn vừa đi (sợ dao động thai nhi)… Theo một số tài liệu, khi phụ nữ mang thai, họ có thể ăn uống không cần kiêng cữ giống như một tín đồ bình thường, mà thèm gì thì ăn nấy Điển hình, họ có thể ăn thịt heo hoặc ăn uống tự nhiên ngay trong tháng ăn chay Ramadan… (Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, 1992: 196) Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, phụ nữ Islam khi mang thai có thể không tiến hành Ramadan, nhưng không ăn thịt heo như đã có nhóm tác giả nhận định Bởi lẽ, đây được xem như là một sự cấm kỵ nghiêm khắc
Hiện nay, đời sống xã hội phát triển, phụ nữ Chăm khi mang thai và sinh nở thường đến các cơ sở y tế địa phương, được tư vấn và chăm sóc sức khỏe theo phương pháp y học hiện đại,
do vậy, sự kiêng cữ như trước kia đã phần nào được giản lược Thay vào đó là những chỉ dẫn mang tính khoa học hơn như ăn uống đủ chất, hạn chế lo lắng buồn phiền, hạn chế mang vác nặng, giữ gìn thể trạng, thể chất thật tốt… Khác với người Chăm Bà la môn ở Ninh Thuận, khi mang thai, phụ nữ phải kiêng cữ nhiều trong ăn uống, nói năng Kể cả người chồng cũng phải kiêng giết súc vật, cắt cổ gà vịt… Người Chăm Islam kiêng cữ khi mang thai có phần đơn giản hơn, bởi lẽ, bản thân họ ít tin vào các yếu tố dị đoan hay bùa chú
Sau khi sinh, lá nhau phải được rửa sạch và chôn ngay dưới chân cầu thang Theo quan niệm của người Chăm Islam ở An Giang, việc chôn nhau thai dưới chân cầu thang là để sau này đứa trẻ dù có đi bất kỳ nơi đâu, vẫn nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ gia đình tổ tiên mà tìm về Khi sinh con xong, người mẹ phải nằm lửa đúng một tuần Sau một tuần ấy, người ta sẽ hốt bếp cho người phụ nữ Tất cả than, xác thuốc uống đều được gói chung lại, đem chôn nơi chân cầu than như nhau thai
2.1.2 Lễ cắt tóc và đặt tên
Đối với người Chăm Islam ở An Giang, việc sinh đẻ, nhất là đẻ con trai, được xem là điều vui sướng Do đó, người Chăm Islam thường đặt nhiều nghi thức để phòng ngừa “hồn ma” có thể quấy nhiễu hài nhi và cầu mong cho đứa bé được nhiều điều tốt lành Ngoài ra, người ta thường đặt cạnh đứa trẻ đường ngọt (cầu mong sau này nó thành người tốt), bánh mì (cầu mong sống lâu)
và vàng (cầu mong sau này giàu có)… Trước kia, con gái thường không được “đón tiếp” long trọng như con trai Tuy nhiên, hiện nay hiện tượng “trọng nam khinh nữ” trong người Chăm Islam không còn nhiều Hầu như con trai hay con gái ra đời đều là niềm vui của gia đình và cộng đồng
Nguyễn Văn Luận (1974) cho rằng, theo tín ngưỡng của người Chăm Islam, khi vừa sinh
ra, người ta phải đọc bên tai phải đứa trẻ lời gọi đọc kinh để nó quen với đức tin Hồi giáo Tuy nhiên, hiện nay tục này không còn
Trang 17Người Chăm Islam có ba cách đặt tên chủ yếu: đặt tên thánh, đặt tên trí thức và đặt tên thường
Ngoài tên thường gọi hoặc trên danh nghĩa giấy tờ, mỗi người Chăm Islam bắt buộc phải
có một tên thánh Về phương điện tín ngưỡng, tên thánh là tên mà khi chết người thân, bạn bè người quá cố sẽ gọi để nhắn nhủ vong hồn Họ còn tin rằng, khi đến “ngày tận thế”, “ngày phán xét cuối cùng”, họ sẽ được gọi dậy bằng chính tên thánh đó Nếu ai không có tên thánh thì xem như vĩnh viễn không được Đấng Allah gọi đến
Tên trí thức là tên được đặt theo tên của các vị thánh Người được đặt tên trí thức thường
là con của các ông Haji Họ sẽ được đặt 1 trong 25 tên các vị thánh Hồi giáo Ví dụ như: Ibrohêm, Dohamaide, Soleymal… Do vậy, trường hợp trùng tên là rất phổ biến
Ngoài ra, người Chăm Islam còn đặt tên theo các ngày trong tuần (tên thường) Có nghĩa
là đứa trẻ được sinh ra vào ngày nào, họ sẽ lấy ngày đó để đặt tên Ví dụ sinh vào ngày thứ Hai trong tuần thì sẽ đặt tên “Sôm”; sinh vào ngày thứ Năm sẽ đặt tên “Chịp”; sinh ngày thứ Bảy đặt tên “Chơi”… Đặt theo cách này cũng sẽ trùng tên rất nhiều Do đó, người Chăm An Giang khi nói đến người nào thường thêm đặc điểm của họ hoặc con ông nào đó vào tên gọi Ví dụ: “Sôm cao”, “Sôm thẹo” hoặc “Sôm con ông Youso”…
Thời Minh Mạng, triều đình Huế yêu cầu người Chăm lấy họ theo ngôn ngữ Việt Nam
Họ được chọn các họ: Hán, Hứa, Bá, Lựu, Đằng, Lưu, Mã, Lộ, Nguyễn, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên, Ức, Vạn, Ưng, Lâm… Riêng vua chúa người Chăm sẽ lấy các họ: Ông, Ma, Trà, Chế Các
họ của vua chúa người dân thường không được quyền lấy Chính vì cách lấy họ mới này dẫn đến tình trạng nhiều người có cùng họ, thậm chí cùng tên, nhưng xét về nguồn gốc, họ không hề có
bà con thân thuộc gì Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, chính quyền ban hành Đạo dụ số 52 (29/8/1956) buộc người Việt Nam, dù bất kỳ gốc Việt hay ngoại quốc đều phải lấy tên có âm Việt Người Chăm chấp hành theo Đạo dụ này Họ phiên âm tên tiếng Chăm thành các tên gọi có
âm Việt Ví dụ như: “Hosen” phiên âm ra thành “Châu Sanh”; “Mahli” phiên âm thành “Mạch Ly”; “Youso” phiên âm thành “Du Số”… Tuy nhiên, ngày nay người Chăm thường lấy tên theo đúng ngôn ngữ của dân tộc của họ
Thực chất, các tên đặt theo ngày trong tuần hay theo âm Việt chỉ được người Chăm dùng trong giao tiếp hàng ngày hoặc trong thủ tục giấy tờ khi cần thiết Đới với người Chăm Islam ở
An Giang, tên chính thức và quan trọng nhất của họ chỉ là tên thánh Hơn nữa, theo quan niệm của Islam, việc đổi tên hoặc lấy đặt tên bằng ngôn ngữ khác xem như một hành động không ngoan đạo
Trang 1813
Như đã trình bày, thông thường, gia đình sẽ tổ chức Lễ cắt tóc và đặt tên cho trẻ sơ sinh khi được 7 ngày tuổi Tuy nhiên, tùy theo gia cảnh, họ có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn Đối với những gia đình nghèo, không đủ tiền để giết bò, dê hoặc gà cúng tế và đãi khách, người
ta có thể không làm lễ này Đến khi đứa trẻ 15 tuổi (tuổi đánh dấu sự trưởng thành theo quan niệm của người Chăm Islam), người ta mới làm Lễ cắt tóc và đặt tên Lúc bấy giờ, nghi thức không giống như lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh, mà giống như một bữa tiệc để đứa bé tuyên bố với cộng đồng về sự hiện hữu của mình
2.2 Nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành
Trước giai đoạn trẻ thật sự trưởng thành, người Chăm Islam còn trải qua một nghi lễ nhỏ,
đó là Lễ mừng học trò đã thuộc kinh Koran (gọi là Kho-tam Coran) Theo đó, khi đứa trẻ thuộc được một đoạn kinh Koran, gia đình sẽ làm lễ mừng cho thầy nó và nó Lễ này chủ yếu là do gia đình, cha mẹ muốn khuyến khích tinh thần học tập của con em mình, chứ không bắt buộc tuân thủ theo thời gian hay điều kiện gì cụ thể Vào dịp lễ này, gia đình mời thầy và một số bà con thân thích đến dự Thầy được sắp xếp ngồi cùng đứa trẻ ở phía trên, tương đối tách biệt với khách mời đến dự Buổi lễ bắt đầu bằng việc cả thầy và trò (đứa trẻ) cùng đọc một số đoạn kinh dưới sự chứng kiến của mọi người xung quanh Sau khi thầy trò đọc được một vài đoạn kinh, tất cả người tham dự cùng đọc kinh cầu Thượng đế ban phúc lành Cuối cùng, người ta cùng dùng một bữa tiệc nhỏ do gia đình đứa trẻ chuẩn bị thết đãi Nghi lễ này xem như là một sự động viên, khuyến khích tinh thần cho cả người thầy dạy lẫn người học trò Tuy nhiên, cả thầy và trò không nhận được một tặng vật nào (Nguyễn Văn Luận, 1974)
Tuy vậy, qua quá trình khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, hầu như hiện nay nghi thức này không còn tồn tại trong cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang Có lẽ, một phần vì hiện nay đa số người Chăm Islam đều đã tự ý thức được tầm quan trọng của việc học, họ đã chủ động hơn trong quá trình tiếp cận tri thức mới mà không cần đòi hỏi những nghi lễ khuyến học như trên Cũng có thể do sự đơn điệu của nghi lễ Kho-tam Coran, thiếu những nghi thức cụ thể nhằm tôn vinh người thầy và người học, nên dù có tổ chức, người ta vẫn không thấy được những hiệu quả tích cực của nó Có lẽ, chính vì vậy mà nghi lễ này ngày nay đã dần biến mất
2.2.1 Tục cắt da quy đầu (Khotanh)
Tục cắt da quy đầu hay còn gọi là tục thành đinh là một tập tục phổ biến ở nhiều dân tộc Tuy nhiên, ở mỗi dân tộc, tập tục này mang những nghi thức và ý nghĩa khác nhau Điều chung nhất là nó đánh dấu sự trưởng thành của một đứa trẻ để bắt đầu cho giai đoạn thành niên
Đối với người Chăm Islam, tục cắt da quy đầu là một nghi lễ được tôn trọng triệt để, dù không được minh định trong thánh kinh Koran Nghi thức này nhằm mục tiêu đảm bảo sự “sạch sẽ” cho những người con trai trong quá trình thực hiện những nghi lễ tại thánh đường, nó còn đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời đứa trẻ, chứng nhận đứa trẻ Islam đã đến tuổi thành niên,
có đầy đủ năng lực và trực tiếp lãnh hội trách nhiệm cũng như đức tin đối với Allah
Độ tuổi tiến hành tục Khotanh không được quy định cụ thể, nhưng bắt buộc không vượt quá 15 tuổi Người ta thường tổ chức cắt da quy đầu cho từng nhóm trẻ Thông thường, trong mỗi xóm Chăm sẽ có người chuyên làm nhiệm vụ này, gọi là “Chèn Kho tanh” Vào những ngày rỗi việc, các đứa bé trai trạc 13-15 tuổi sẽ được tập hợp lại Người ta sẽ giải thích cho đứa trẻ biết nguyên do vì sao phải thực hiện tục này và yêu cầu chúng phải nghiêm chỉnh thực hiện để làm tròn bổn phận của một tín đồ Islam Ông Chèn Kho tanh sẽ đọc kinh và tiến hành cắt da quy đầu cho chúng Đứa trẻ được thoa một chất thuốc lên đầu dương vật (trước đây chỉ là các loại thuốc dân gian) Chèn Kho tanh bóp nắn cho thuốc này tan đều Sau đó, ông dùng một chiếc kẹp tre,
Trang 1914
kẹp lớn da quy đầu của đứa trẻ mà kéo lên Tiếp theo, ông dùng dao bén cắt lớp da quy đầu Cắt xong, Chèn Kho tanh sẽ thoa thuốc cầm máu lên vết cắt Nếu không có nhiễm trùng, khoảng một tuần sau đứa trẻ có thể hoàn toàn bình phục, sinh hoạt bình thường Trước đây, do vấn đề không đảm bảo vệ sinh nên có nhiều trường hợp đứa trẻ bị nhiễm trùng Có những trường hợp nơi vết cắt mưng mủ khiến đứa trẻ vô cùng khó chịu Cũng chính vì nguyên do này nên trước kia người Chăm Islam An Giang thường tổ chức lễ cắt da quy đầu cho trẻ vào mùa nước nổi Khi gặp trường hợp nhiễm trùng, các lớp băng bị dín vào đầu dương vật không thể tháo ra được, người ta
sẽ rửa sạch một chiếc xuồng, đổ nước vào đó và cho trẻ ngâm mình thật lâu, cho đến khi băng mềm, có thể tháo ra được mới thôi Nhưng cách này cũng gây nhiễm trùng nặng, khiến trẻ đau nhức, khó chịu hàng tháng trời
Như đã trình bày, Kho tanh có ý nghĩa quan trọng đối với tín đồ Islam Người đến tuổi trưởng thành mà không làm tục này xem như thiếu can đảm, bị bạn bè chê cười, thánh đường vẫn chấp nhận họ đến hành lễ, đọc kinh nhưng phải đứng vị trí riêng Nếu họ đến ngồi gần thì tự động các tín đồ khác sẽ bỏ đi vì sợ lây “dơ dáy” Phụ nữ biết người nam chưa làm tục Kho tanh sẽ từ chối khi họ đến hỏi cưới, vì bản thân cô ta và gia đình cô ta sợ bị người khác chê cười Không những thế, con trai không làm lễ Kho tanh thì không được làm chủ gia đình, không được quyền phân chia tài sản… Có thể nói, việc thực hiện lễ Kho tanh có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà còn đối với gia đình và cộng đồng Do vậy, hiện nay tục này vẫn được duy trì một cách khá triệt để trong cộng đồng Chăm Islam Tuy nhiên, so với trước kia, tục Kho tanh ngày nay có nhiều tiến bộ hơn Cụ thể, những người phụ trách công việc này (Chèn Kho tanh) phải được trải qua các khóa huấn luyện, được trang bị các kiến thức và dụng cụ y tế cần thiết Trước khi cắt da quy đầu, đứa trẻ sẽ được chích thuốc tê Khi cắt, người ta sử dụng thuốc rửa, thuốc cầm máu và những dụng cụ chuyên khoa Do đó, sau khi cắt xong, đứa trẻ rất mau chóng trở lại với sinh hoạt bình thường mà ít đau nhức, không nhiễm trùng…
2.2.2 Tục Cấm cung (Ga sâm)
Theo quan niệm của người Chăm Islam, phụ nữ phải kín đáo Bởi lẽ, nếu phụ nữ để cho người khác giới nhìn thấy, họ sẽ dễ sinh ra tà ý, từ đó dẫn đến những hành động tội lỗi, trái với đạo luật Hồi giáo Phụ nữ Chăm Islam thể hiện việc kín đáo trước hết là qua cách ăn mặc Phụ nữ Chăm Islam ở An Giang hiện nay vẫn giữ được chiếc áo cổ truyền, đó áo dài quá gối, rộng, bít tà,
cổ áo hình trái tim khoét rộng để có thể mặc chui đầu Tay áo dài đến cổ tay bó chặt… Tuy nhiên, kiểu áo cổ truyền này hiện nay chỉ còn được các cụ già mặc Thiếu nữ Chăm lại ưa thích mặc áo dài cải tiến theo kiểu hiện đại của người Việt (cổ đứng, tay ráp lăn, cài nút ở bên sườn phải… ) nhưng chi tiết bít tà vẫn còn được bảo lưu Chiếc áo cổ truyền của phụ nữ Chăm có tuổi thường may bằng chất liệu lụa tằm màu trắng ngà, nhưng cũng có khi màu đen, màu gụ… Phụ nữ Chăm chỉ mặc chiếc áo này vào các dịp lễ, Tết, ngày cưới, còn ngày thường họ quen mặc áo ngắn như
áo kiểu, áo bà ba giống của người Việt,…
Người Chăm ở Trung Bộ và ở An Giang đều gọi chiếc váy là Khănh Tuỳ theo nguyên vật
liệu dệt và cách thức trang trí và sử dụng mà người Chăm phân biệt thành ba loại váy: loại dệt
bằng tơ tằm, giữ nguyên sắc ngà của tơ, dành cho phụ nữ lớn tuổi gọi là Khănh kah; loại dệt bằng chỉ và kim tuyến chỉ bạc dát óng ánh gọi là Khănh kếh, loại nhuộm bằng tơ tằm mịn dệt công phu
bằng những màu sắc và hoạ tiết như hình thoi màu vàng nổi trên nền lụa xanh hoặc nâu đỏ gọi là
Khănh pa Hiện nay, các thiếu nữ Chăm khá giả thường mặc loại váy này trong các dịp lễ cưới
Thông thường, người già mặc váy mở (váy quấn), người trẻ mặc váy kín (hay váy ống, đó là một mảnh vải dài khoảng 2m, ngang 1,2m may dính hai đầu theo chiều ngang, tức là bề khổ của vải), khi mặc vào váy dài tới gót chân Phụ nữ Chăm ở An Giang tuy ít bị quy định khắt khe về trang phục như những phụ nữ Hồi giáo các nuớc khác, y phục che kín cả người, thậm chí chỉ để lộ hai
Trang 2015
mắt nhưng điều đó không có nghĩa là trang phục của phụ nữ Chăm An Giang là không kín đáo Khi ở nhà với người thân, phụ nữ Chăm có thể mặc áo tay ngắn nhưng váy phải dài tới gót chân Lúc có người lạ đến nhà hoặc đi ra đường, phụ nữ Chăm phải mặc váy với áo tay dài và phải có khăn choàng đầu
Ngoài vấn đề ăn mặc kín đáo, giai đoạn trước năm 1975, phụ nữ Chăm Islam ở An Giang còn phải chịu cấm cung (ga sâm) Theo tìm hiểu của chúng tôi, tục cấm cung của người Chăm Islam An Giang không giống với tục cấm cung của người Chăm Bà ni khu vực Miền Trung Nếu người Chăm Bà ni xem cấm cung như là một nghi thức “thành đinh” (đánh dấu sự trưởng thành) của phụ nữ thì đối với người Chăm An Giang, tục cấm cung mang một hành động để gia đình và bản thân thiếu nữ tự quản lý mình tốt hơn Nhiều người còn cho rằng, trước kia người Chăm Islam ở An Giang không có tục cấm cung, nhưng khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, bọn chúng thường hay bắt bớ phụ nữ đẹp, do vậy, phụ nữ Chăm không dám đi ra đường mà suốt ngày trốn trong nhà Nếu có đi đâu thì phải đi cùng với người thân Dần dà, việc phụ nữ đến tuổi thành niên
bị cấm cung đã trở thành phổ biến, thành tục Đây là một cách lý giải cũng khá thuyết phục về nguồn gốc tục cấm cung của người Chăm Islam ở An Giang Bởi lẽ, từ sau năm 1975, khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, hiện tượng phụ nữ Chăm bị cấm cung ngày một giảm đi và hầu như hiện nay không còn nữa
Theo lời kể của ông Musa Haji, Giáo cả làng Chăm Khánh Mỹ (xã Khánh Hòa huyện Châu Phú), Trưởng Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo Tỉnh An Giang, tục cấm cung của phụ nữ Chăm ngày xưa được tiến hành như sau:
Thiếu nữ đến tuổi dậy thì (thường thì khoảng 14 đến 15 tuổi) phải thực hiện tục cấm cung (ga sâm) Người nhà sẽ dành cho cô ấy một cái buồng riêng Trong buồng riêng ấy, người nhà sẽ trang bị cho cô gái tất cả những vật dụng cần thiết để hạn chế việc cô gái phải đi ra ngoài Người nhà cũng để trong đó các dụng cụ để cô gái dệt vải, quay tơ
Đối với các gia đình khá giả, trong thời gian cấm cung của cô gái, người ta thường thuê một bà già thêu dệt thật giỏi ở chung và dạy cô gái dệt vải, vừa để phục vụ cho cô gái khi cô có nhu cầu Đối với các gia đình khó khăn, buồng cô gái cũng phải được che cẩn thận Buồng này đến lúc có chồng sẽ là nơi hợp cẩn của đôi tân lang tân nương Sau đó, họ sống ở đấy một thời gian, dài hay ngắn tùy vợ chồng quyết định
Trong thời gian cấm cung, phụ nữ Chăm thường không được đi ra ngoài vào ban ngày Đến tối, họ sẽ được mẹ, chị ruột hoặc bà vú dẫn xuống sông tắm rửa Có nhiều gia đình cẩn thận,
họ che cây cầu nơi người nữ tắm cũng kín đáo và kiên cố như căn phòng Phụ nữ vào đó tắm xong, người nhà sẽ dẫn lên buồng riêng của cô ấy, tiếp tục quẩn quanh trong đó
Gia đình người Chăm rất nghiêm khắc đối với con gái trong giai đoạn cấm cung Cụ thể, cấm con gái tiếp khách bên ngoài, nhất là nam giới, bất kể người đó là bà con thân thích đến đâu Thậm chí có trường hợp, nhà trai đến hỏi cưới, làm đám hỏi xong rồi mà chỉ được nhìn thấy người con gái qua khe buồng, khe cửa
Vào những ngày trong xóm có đám cưới, thiếu nữ Chăm được mẹ hoặc bà vú đưa đến chúc mừng cô dâu Đồng thời, đây xem như là dịp để giới thiệu cô gái với những chàng trai trong xóm Đây là cơ hội hiếm hoi cho những chàng trai tìm bạn đời của mình Đặc biệt, các bà mẹ có con trai còn độc thân, dù bận bịu đến đâu, lúc này cũng tranh thủ đến lân la hỏi han để tìm cô dâu tương lai cho con trai mình Trường hợp các cô gái bị cấm cung lâu mà vẫn chưa có người nào đến hỏi cưới, vào độ ba mươi tuổi thì gia đình cũng dần dần cho cô được thông thả, rồi sau đó là được tự do hoàn toàn Đồng bào Chăm Islam trước đây cho rằng, việc cấm cung sẽ giúp gia đình
Trang 2116
quản lý con gái tốt hơn, tránh xảy ra quan hệ yêu đương lăng nhăng, gây tiếng xấu cho gia đình
và dòng họ Mặt khác, họ cũng cho rằng, con trẻ không đủ chín chắn để chọn bạn đời, phải cấm cung để hạn chế tiếp xúc, hạn chế sự tự do tìm hiểu của trai gái Mọi thứ sẽ do các bậc làm cha, làm mẹ lo chu toàn Tuy nhiên, quan niệm này hiện nay đã thay đổi Phụ nữ Chăm Islam trong xã hội ngày nay đã được đi học, được tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa văn nghệ, tự do chọn bạn đời theo ý nguyện của mình Hiện nay, tục cấm cung không còn nữa
Có ý kiến cho rằng, chính vì cấm cung, không giao du, tiếp xúc với người ngoài được nên người Chăm Islam An Giang chỉ kết hôn với những người trong cùng dòng tộc, bà con Thực tế, việc kết hôn cùng dòng tộc đối với người Chăm Islam là có thật Tuy vậy, nó không phải xuất phát từ tục cấm cung mà nó được giáo luật Hồi giáo quy định và cho phép (điều này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn trong phần nói về nghi thức cưới hỏi của người Chăm Islam ở An Giang)
2.2.3 Nghi thức cưới hỏi
Mỗi dân tộc có thể có những quan niệm khác nhau về hôn nhân Đối với người Chăm Islam, họ coi sự độc thân như là điều tội lỗi Hôn nhân không chỉ là bổn phận của con cái đối với gia đình mà còn là bổn phận của một tín đồ đối với Thượng đế Chính vì thế, hầu hết các tín đồ Islam khi đến tuổi lập gia đình, nếu chưa có đối tượng thì đều được cha mẹ tìm để tiến đến hôn nhân Gia đình người Chăm Islam ở An Giang là gia đình phụ quyền, chồng phải đi cưới vợ, chồng làm chủ tài sản của gia đình, có quyền thừa kế tài sản nhiều hơn nữ giới, được quyền cưới
vợ lẻ Theo luật tục, chỉ có người chồng mới được quyết định chuyện làm ăn, mua bán giữa gia đình với bên ngoài Chỉ người chồng mới được đi làm ăn xa Nếu một gia đình mà người đàn ông trưởng qua đời, chú bác hoặc con, cháu trai sẽ là người đại diện… Nam giới cũng được quyền lấy nhiều vợ với điều kiện họ đảm bảo cuộc sống no đủ cho những người vợ ấy Người vợ không có quyền ngăn cản chồng lấy thêm vợ lẻ Tuy vậy, hầu hết các gia đình Chăm Islam ở An Giang đều
là gia đình một vợ, một chồng
Đối với người Chăm Islam, hầu như không có tình trạng nam nữ chung sống trước hôn nhân Đây là điều mà giáo luật nghiêm cấm, nếu vi phạm sẽ bị cộng đồng lên án, cô lập Giáo luật quy định, những người chưa làm đám cưới mà ăn ở với nhau dẫn đến có thai mới làm đám cưới thì con của họ sau này sẽ không được làm chủ hôn khi trong gia đình có đám cưới Bởi vì, đó là đứa con ngoài giá thú, không phải là đứa con của người cha mà là đứa con của người mẹ So với các nghi lễ khác của người Chăm Islam, hôn nhân có những biến đổi nhất định Đây là hệ quả của quá trình giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trong khu vực Đồng thời, đó cũng là kết quả của các phong trào vận động loại bỏ những quan niệm lạc hậu trong hôn nhân do Nhà nước ta thực hiện Đời sống xã hội phát triển, người Chăm Islam ngày càng có những tiến bộ về nhiều mặt, trong đó có các quan niệm về hôn nhân Mặc dù vậy, một số quy định vẫn còn được bảo lưu Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày những điều kiện cụ thể của người Chăm Islam khi kết hôn
- Đối tượng kết hôn: Luật tục Hồi giáo nghiêm cấm việc kết hôn với những người cùng
thân tộc Cụ thể, cấm người nam kết hôn với mẹ đẻ, con gái, chị em ruột, các cô, dì, cháu gái, mẹ
vợ, mẹ nuôi, con dâu, con gái riêng của vợ Họ khuyến khích kết hôn giữa anh chị em họ Điển hình như con chú, con bác, con dì, con cô, con cậu Cô gái có thể lớn tuổi hơn chàng trai chứ không nhất thiết phải nhỏ hơn Nguyên tắc cơ bản trong chế độ hôn nhân của người Chăm Islam
là hai đối tượng phải cùng tôn giáo Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có trường hợp người Chăm Islam kết hôn với người không cùng tôn giáo Ở An Giang vẫn có trường hợp người Chăm kết hôn với người Việt, người Khmer… Đối với người ngoại đạo, họ phải thực hiện một số thủ tục và làm lễ nhập đạo trước khi làm lễ cưới Trường hợp người ngoại đạo là nam, họ phải làm lễ khotanh, học giáo lý và được hướng dẫn cách thức hành lễ Nếu là nữ, họ phải học giáo lý, thuộc
Trang 2217
các tín điều Hồi giáo, đặc biệt là tín điều thứ I (giữ lòng tin tuyệt đối với Thánh Allah và Thiên
xứ Muhammad) Ngày nay, việc kết hôn với những người ngoài dòng họ đang ngày càng phát triển do người Chăm nhận thức được những cuộc hôn nhân với người cùng dòng họ trong phạm
vi 3 đời sẽ gây nên hiện tượng đồng hóa, để lại nhiều di chứng ảnh hưởng đến con cái
- Độ tuổi kết hôn: trước đây, nam nữ thường được xây dựng gia đình rất sớm, bởi vì hôn
nhân của họ do cha mẹ sắp xếp Do đó, nạn tảo hôn xuất hiện trong cộng đồng người Chăm Bởi
lẽ, lúc đó, độ tuổi của nữ khi kết hôn thường vào khoảng 15 – 18 tuổi Còn nam kết hôn ở độ tuổi
từ 16 – 20 Hiện nay, do bãi bỏ tục cấm cung đối với nữ giới nên nam, nữ đã được tự do tìm hiểu nhau chứ không còn hoàn toàn phụ thuộc vào sự quyết định của cha mẹ hoặc những người mai mối như trước đây Độ tuổi kết hôn của nam và nữ cũng được nâng lên Cụ thể, hiện nay tuổi kết hôn của nữ là khoảng 18 – 20, còn nam từ 20 – 25 Một trong những nguyên nhân làm cho độ tuổi kết hôn được nâng lên là do các cuộc vận động xây dựng cuộc sống mới của Đảng và Nhà nước nhằm loại trừ hiện tượng tảo hôn Nguyên nhân khác nữa là do thế hệ trẻ sau này đã ý thức được phải có sự nghiệp ổn định trước khi lập gia đình để có điều kiện nuôi dạy con cái Đây là yếu tố cơ bản Đó là nét tích cực, phù hợp với luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước ta
- Nguyên tắc kết hôn: Người Chăm Islam ở An Giang vẫn giữ nguyên tắc của người Chăm
Hồi giáo nói chung trong việc kết hôn Cụ thể, họ phải đảm bảo các nguyên tắc căn bản sau đây:
+ Đối tượng kết hôn phải là người Chăm Islam hoặc những người đã đảm bảo đức tin với Thánh Allah, thề sẽ tuân thủ các luật tục Hồi giáo
+ Trong lễ cưới bắt buộc phải có cô dâu và chú rể
+ Cô dâu chú rể là những người trưởng thành và có đủ trí khôn
+ Bắt buộc hôn lễ phải được sự chấp thuận của cha vợ và chú rể (biểu hiện của chế độ phụ quyền)
+ Phải trao đủ số tiền đồng cho cô dâu
- Trang phục: Trước đây, trong ngày cưới, chú rể được mặc trang phục giống như vị
Hadji đi hành hương ở thánh địa Mécca Trang phục chú rể bao gồm áo dài trắng phết gót, quần ống chẹt cũng màu trắng Trên lưng có khăn Sal trắng, đầu đội mũ vải trắng (tượng trưng cho sự trong sạch) Đôi khi người ta còn cho chú rể đeo thêm cây gươm dài trên lưng Có nơi, chú rể quấn xà rông bằng vải, tay đeo nhẫn bạc “Theo đạo luật, ngày cưới chú rể không được mặc đồ bằng tơ lụa và đeo trang sức bằng vàng” (Lâm Tâm, 1993: 64)
Cô dâu được trang điểm lộng lẫy Đầu đội vương miện có đính cườm, trang sức sáng lấp lánh Tóc cô dâu được bới cao lên và cài ba cây trâm Cây trâm lớn nhất ở giữa có hình mảnh trăng lưỡi liềm và ngôi sao, biểu hiện của đạo Islam Đây chính là cây trâm trong lễ cưới mà chú
rể sẽ rút ra để xác nhận cô dâu chính là một tín đồ Islam Trang phục cô dâu thường mặc là áo nhung đỏ hoặc tím, dài tới gối, không xẻ hông Một dải băng to màu xanh lam quấn quanh ngực
và vai Dưới chân áo là xà rông được làm bằng chất liệu tơ tằm, màu sắc rất đẹp Thông thường chiếc xà rông này do cô gái tự tay dệt lấy Cô dâu thường đeo trang sức bằng vàng như kiềng, xuyến vàng, cà rá Theo luật tục người Chăm, những đồ trang sức chỉ được mang theo số lẻ, không mang theo số chẵn, vì đó là điều không tốt Cô dâu và chú rể thường nhuộm móng tay, móng chân màu đỏ bằng chất liệu từ một loại lá cây của dân tộc này
Ngày nay, người Chăm Islam ở An Giang ngoài trang phục cổ truyền như đã nêu trên, cô dâu và chú rể còn mặc những trang phục cưới hiện đại Chú rể mặc đồ Tây như áo veston, thắt cà vạt, mang giày Tây nhưng phải có dấu hiệu của một tín đồ Hồi giáo là phải đội mũ kapeak… Cô
Trang 2318
dâu thuê những bộ áo cưới theo kiểu phương Tây Có thể thấy, trang phục của ngưởi Chăm Islam trong ngày cưới thể hiện tính linh hoạt, giao lưu với các dân tộc khác trong khu vực Bên cạnh việc lưu giữ những bản sắc theo đúng luật tục, người Chăm Islam có xu hướng tiếp thu các phong cách ăn mặc hiện đại trong lễ cưới
- Phương tiện di chuyển: Trước đây, người ta thường không cho chú rể bước chân xuống
đất, nên trong ngày cưới, họ thường dùng xe lôi có lọng che và những người khác thì đi bộ như một đám rước đến nhà cô dâu Hiện nay, nếu đoạn đường đến nhà gái xa, người ta thường dùng
xe ô tô Nếu đoạn đường gần, đám rước sẽ đi bộ Chú rể được che lọng hoặc che dù trên đường đi đến nhà cô dâu
- Vị chủ hôn (ông Wali): Trong lễ cưới, nhất thiết nhà gái phải có một vị đứng ra đại diện
cho cô dâu để nói lời chấp thuận thay cho cô dâu Vị này gọi là Wali, giống như chủ hôn trong đám cưới người Việt Ông Wali phải là người thuộc về họ bên nội của cô dâu Có thể là cha cô dâu hoặc ông nội, ông cố, anh em trai của cô dâu, chú bác ruột… Ngoài ra, người ta cũng có thể mời các vị giáo cả, phó giáo cả hay các vị chức sắc, những người lớn tuổi có uy tín trong xóm làm Wali
- Ôn Uốk và mụ Uốk: Trong lễ cưới của người Chăm Islam, nhất thiết nhà trai phải có ôn
Uốk và nhà gái phải có mụ Uốk Đây là những người rất am hiểu về các tập tục của dân tộc Họ
sẽ hướng dẫn cho cô dâu và chú rể từ cách ăn mặc, trang sức đến cách trang trí phòng hoa chúc, các nghi thức hành lễ… Ngoài ra, theo quan niệm của người Chăm Islam, ôn Uốk và mụ Uốk còn
có “phép thuật”, có khả năng giúp cô dâu chú rể chống lại các thế lực “ma quái” theo quấy phá đám cưới cũng như cuộc sống của đôi vợ chồng sau này
- Người mai mối (maha): Cũng giống như một số dân tộc khác, người mai mối đóng vai
trò khá quan trọng trong việc cưới hỏi của người Chăm Islam ở An Giang Ông mai bà mai được gọi là ông maha, mụ maha Khi gia đình nhà trai xác định được đối tượng cần tiến tới hôn nhân,
họ sẽ nhờ mụ maha hay ông maha đến nhà con gái để tìm hiểu, dọa hỏi ý kiến Chủ yếu họ sẽ nói cho gia đình cô gái biết có người muốn kết tóc se tơ với cô; cho gia đình cô biết là họ sẽ đi tiền đồng, tiền chợ bao nhiêu Nếu được sự chấp thuận, trước khi lễ cưới diễn ra, mụ maha hay ông maha sẽ đi qua nhà gái nhiều lần nữa Có thể xem maha như người kết nối giữa hai gia đình với nhau Maha thường là những người trung niên trở lên, có uy tín và người đó thường là vợ của ông giáo cả, phó giáo cả hay vợ của các thầy, các chức sắc trong làng
- Cách chọn ngày cưới: Khác với người Chăm Bà ni và Chăm Bà la môn khu vực miền
Trung, người Chăm Islam ở An Giang không nhất thiết phải coi ngày khi cưới hỏi Họ có thể tổ chức lễ cưới vào tất cả các ngày trong năm Tuy nhiên, thông thường họ sẽ tổ chức vào khoảng thời gian sau mùa hành hương, tức tháng 12 theo lịch Islam (khoảng tháng 3 Tây lịch) hoặc tổ chức vào dịp sinh nhật Thiên sứ Muhammad, khoảng 12 tháng 3 theo lịch Islam (khoảng tháng 7 Tây lịch) Vào thời điểm này, các gia đình người Chăm thường tổ chức ăn mừng linh đình, cho nên nếu tổ chức đám cưới thì rất tiện lợi
- Lễ hỏi (hay còn gọi là đám nói): Theo quan niệm của người Chăm Islam, trước lễ cưới
cần phải có một nghi thức “dứt khoát lời nói” Người ta gọi đó là lễ “Pakloh panuốik”, có tính chất gần giống như đám hỏi, đám nói trong nghi lễ của người Việt
Vào ngày này, gia đình chú rể khoảng mười người bao gồm cha mẹ, anh chị em và những người hàng xóm có uy tín sẽ mang lễ vật đến nhà cô gái Trong đoàn, nhất thiết phải có vị Ahly (trưởng các xóm, ấp) và ông bà maha đi cùng Bên nhà gái, thường sẽ có cha mẹ cô gái, thân nhân họ hàng và ông Ahly tham dự để chứng kiến Khi bắt đầu làm lễ, ông maha hoặc mụ maha
Trang 2419
sẽ đại diện nhà trai nhắc lại những điều kiện đã thỏa thuận giữa hai gia đình Sau khi nhắc xong, ông hỏi nhà gái có đồng ý với những điều kiện trên hay không Nếu nhà gái thấy đầy đủ thì trả lời đồng ý, nếu thấy thiếu thốn điều kiện nào thì sẽ trao đổi, yêu cầu thêm Cuối cùng, hai bên sẽ thống nhất lại tất cả những thông tin đã trao đổi Trong lễ này, nhà gái và nhà trai sẽ dùng một bữa tiệc nhẹ
Thông thường, trong lễ này, nhà trai trao tiền chợ cho gia đình cô gái Đây là số tiền nhà trai dành cho đàng gái sửa soạn lễ cưới Số tiền này nhiều hay ít tùy thuộc vào hoàn cảnh của chàng trai và sự thỏa thuận của hai gia đình Bên cạnh tiền chợ còn có tiền đồng Tiền đồng là tiền cưới (sây kawanh) có tính chất tượng trưng, xem như chàng trau “mua sự tự do” của cô gái Sau khi thành hôn, dù người chồng có khó khăn tới đâu hoặc có xảy ra chuyện ly hôn, tiền đồng vẫn thuộc về cô gái Trong lễ nói, cha mẹ chàng trai không bắt buộc phải có mặt mà chỉ cần có người đại diện trong dòng họ và ông maha hoặc mụ maha đứng ra trao đổi với nhà gái là được Sau đó, nếu xảy ra việc từ hôn thì chỉ cần thông báo cho ông mai hoặc bà mai mà thôi Từ lễ hỏi đến lễ cưới thời gian dài, ngắn tuỳ mỗi gia đình Sau lễ hỏi, đôi trai gái có thể tới lui thăm viếng nhau nhưng không được gặp mặt nhau Người ta chỉ bố trí người đàn ông tiếp đón Tuy nhiên, thông qua những cuộc viếng thăm người nhà sẽ sắp chỗ ngồi cho chàng trai hoặc cô gái từ một nơi kín đáo có thể lén nhìn được diện mạo của người vợ hoặc chồng tương lai của mình
- Lễ cưới: Lễ cưới của người Chăm Islam An Giang thường diễn ra trong hai ngày: ngày
nhóm họ và ngày cưới (ngày đưa rể)
+ Ngày nhóm họ: Ngày nhóm họ (Harie padưng baguk) còn gọi là ngày dựng việc Trong
ngày này, nhà trai và nhà gái đều trang hoàng nhà cửa lộng lẫy, sạch sẽ, tinh tươm Rạp được dựng lên, có treo đèn kết hoa, trải thảm trên nhà Phòng cô dâu cũng được dọn dẹp sạch sẽ, gọn gàng Từ ngày này, giường cô dâu được trải nệm, đặt hai chiếc gối, được canh giữ cẩn thận vì sợ
có tà ma quấy rối Thông thường, trong lễ cưới của người Chăm, nhà cô gái được trang hoàng lộng lẫy hơn so với nhà trai (vì nghi lễ thức chủ yếu tổ chức bên nhà gái) Trong ngày nhóm họ, thanh niên Chăm thường tập hợp tại nhà chú rể, còn các cô gái tập hợp tại nhà cô dâu Số khách đến dự tiệc tuỳ theo khả năng từng gia đình Ông Sẽak (giống như ông từ canh giữ thánh đường) được nhờ đi thông báo cho cư dân Chăm trong làng, nhưng số thực khách đến dự do một vị Ahly quyết định trong số người dành cho xóm mình
Trong ngày nhóm họ của lễ cưới người Chăm, cô dâu được mụ Uốk trang điểm thật lộng lẫy, còn chú rể thì được Ôn Uốk hướng dẫn về nghi thức ăn mặc, các cách hành lễ Chiều ngày
nhóm họ, cô dâu và chú rể mặc trang phục cưới truyền thống của dân tộc và được trang điểm như
trong ngày cưới chính thức Ôn Uốk và mụ Uốk tiến hành làm lễ cho cô dâu và chú rể ở hai nơi
khác nhau Sau đó, có một vị bô lão sẽ khấn vái đọc kinh cùng những người chung quanh chúc tụng hướng về cô dâu hoặc chú rể Bài kinh này có nội dung như lời giao ước chấp nhận cuộc hôn nhân trước Thánh Allah
Tối đến, các thanh niên tụ họp tại nhà cô dâu và chú rể để chúc mừng Cô dâu và chú rể tiếp đãi bạn bè Đây là dịp để các cô gái cấm cung được gia đình đưa đến tham dự Thông thường, các bè mẹ có con trai, nhân dịp này mà xem mặt, tìm kiếm bạn đời cho con trai mình Ngày nay, buổi tối nhóm họ thường có tổ chức văn nghệ rất sôi nổi Thanh niên tập trung lại nhà
cô dâu, chú rể ca hát rôm rả suốt đêm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi Người Chăm Islam An Giang không thích mua bánh đãi khách trong ngày cưới Thông thường, họ sẽ tự xay bột làm bánh hoặc mua bột về làm Theo họ, bánh tự tay làm sẽ quý hơn bánh mua về Điều đáng lưu ý là trong ngày nhóm họ hay ngày cưới, người Chăm Islam đều nghiêm cấm uống rượu Rượu cũng không xuất hiện trong các nghi lễ cưới xin cũng như trong đời sống thường ngày của họ Tuy
Trang 2520
nhiên, đám tiệc của người Chăm Islam có nhiều bánh trái và các món ăn truyền thống như Cà ri
bò, trừu, dê, tung lò mò
+ Ngày cưới: Ngày cưới (Hagây He) còn gọi là ngày đưa rể Trong ngày này, họ hàng và
bạn bè đàng trai cùng tụ họp để đưa chàng rể về nhà cô dâu Thông thường, khi chàng rể bước chân xuống thang, các bạn bè hát lên bài “La mẽk, la mư” (Giã từ cha mẹ) nội dung nhắc về công
ơn sinh thành dưỡng dục cũng như diễn tả cảm xúc của người con khi bước chân ra khỏi gia đình Điều này cũng cho thấy những tàn dư của chế độ mẫu hệ trong cộng đồng người Chăm Islam ở
An Giang
Thứ tự của đoàn đưa rể như sau: đi đầu là các vị bô lão, trong đó phải có mặt ông Hakêm (giáo cả) hay Ahly phụ trách tôn giáo xóm ấp đó Tiếp theo là thanh niên cùng trống nhạc (nếu có) Chú rể có thể đi bộ hoặc ngồi trên xe, được một thanh niên cầm chiếc lọng hoặc dù che đi bên cạnh Phía sau có ông mai hay bà mối Điều đặc biệt là cha mẹ chàng rể ít khi đi cùng đoàn này Người ta thường nhờ hai em bé trai bưng hai cái khay Một khay đựng tiền đồng, một khay đựng trầu cau Trầu để nguyên lá chứ không têm, phải sắp xếp trầu cho đủ đôi Ngoài ra, lễ vật nhà trai mang qua nhà gái còn có một mâm trái cây, một mâm bánh ngọt, một chén nhỏ đựng gạo Những lễ vật ấy tượng trưng cho bổn phận nuôi dưỡng người vợ mà chú rể phải đảm nhận sau này
Đến nhà gái, mọi người chỉ được tập trung ở phòng ngoài, chuẩn bị cho lễ trao tiền đồng
và lễ “Kobol” Nhà gái thường trải chiếu cho quan khách ngồi ngay gian ngoài Ngày nay, người
ta thường dùng bàn tròn cho khách ngồi, giống như đám cưới người Việt Khi mọi người ổn định chỗ ngồi xong, ông Wali giao số tiền đồng cho đại diện nhà gái trước sự chứng kiến của mọi người Số tiền đồng này đã được thỏa thuận trước trong lễ nói Tiếp theo, họ tiến hành lễ gả, gọi
là “Kobol” Chú rể được đưa đến ngồi trước mặt cha mẹ vợ, vị đại diện chủ hôn bên nhà gái, ông mai bà mối và những người làm chứng Một người đứng tuổi, có uy tín, thường là vị chức sắc trong giáo hội, được nhà gái yêu cầu trước sẽ đọc những lời “khot bah” cho chú rể nghe Nội dung lời “khot bah” là những khuyến cáo về hôn nhân, nghĩa vụ của vợ chồng, những điều cấm
kỵ của luật tục và luật đạo trong cuộc sống vợ chồng Đồng thời, đó còn có nội dung khuyên nhủ chàng trai hãy cố gắng làm tròn nghĩa vụ mà chàng sắp đảm nhận
Sau lời “khot bah”, vị chủ hôn bên nhà gái sẽ nắm lấy tay chú rể, long trọng tuyên bố:
“gia đình tôi bằng lòng gả con gái tôi, tên cho chàng trai, tên với số tiền đồng là ” Lập tức, chàng rể phải trả lời ưng thuận: “Tôi xin nhận người con gái này, từ đây là vợ chính thức của tôi, có nộp số tiền đồng là ”
Theo tín ngưỡng của người Chăm Islam, cả hai bên phải nói thật lưu loát không được ngập ngừng, vì họ tin rằng, nếu ngập ngừng hay vấp váp sẽ ảnh hưởng không tốt cho cuộc sống
vợ chồng sau này Ngoài ra, họ hải nói cho thật to, rõ để nhiều người cùng nghe được Chính vì thế, vị chủ hôn bên nhà gái và chàng rể phải học đi học lại câu ấy thật nhiều lần để nói cho suông
sẻ Nếu trường hợp một trong hai người vì lý do gì đó không thể nói rõ ràng hoặc suông sẻ thì người ta sẽ yêu cầu nói lại cho đến khi nào rõ ràng mới thôi Tuy nhiên, điều này cũng xem như một “điềm gở” trong hôn nhân Khi chú rể đáp lại xong, ông Wali và các bô lão sẽ đọc kinh chúc phúc cho đôi trẻ Mọi người cũng đồng hoan hô và cùng tham gia cầu nguyện
Sau khi mọi người cầu nguyện xong, chú rể được Ôn Uốk đưa vào phòng cô dâu Thường thì đường vô phòng cô dâu được trải thảm tươm tất Trong phòng, cô dâu được mụ Uốk chưng diện cho thật lộng lẫy Mụ Uốk cũng ngồi bên cạnh cô dâu vừa để bảo vệ cô dâu, vừa hướng dẫn
cô dâu các lễ tục theo đúng nguyên tắc Cô dâu ngồi ở giữa giường hơi chếch về phía bên trái
Chú rể sẽ đến trước mặt cô dâu, đặt khai trầu xuống và rút cây trâm cao nhất trên đầu cô dâu Đây
Trang 2621
là cây trâm có biểu tượng hình mặt trăng lưỡi liềm và ngôi sao, một biểu tượng chứng tỏ cô dâu
là người Islam Chú rể rút trâm này xem như hành động ngụ ý xem cô dâu có phải người cùng đạo hay không Sau đó, chú rể sẽ ngồi cạnh cô dâu, phía bên phải để mọi người cùng chiêm ngưỡng Một vị bô lão đứng ra cầu nguyện cho cô dâu và chú rể, mọi người cùng hoà theo Sau
đó, chú rể thay trang phục và cùng ra gian nhà ngoài tiếp chuyện cùng bạn bè
Tối đến là lễ hợp cẩn (mă săm chăm nêk) Nhà cô dâu mời những phụ nữ đứng tuổi, có
đầy đủ chồng con đến giăng mùng, chuẩn bị gối mền cho đôi tân lang và tân nương Trước khi động phòng hoa chúc, đôi vợ chồng cùng ăn chung bữa cơm đầu tiên, có tính tượng trưng cho việc bắt đầu sự chung sống của hai người Người ta cũng bày tiền ra cho hai vợ chồng giành Họ tin rằng, nếu vợ hoặc chồng giành được nhiều tiền hơn, sau này họ sẽ là người nắm tài sản, quyền hành trong gia đình
Người Chăm Islam An Giang thường giữ nguyên sự trang hoàng phòng cô dâu cho đến ngày thứ ba mới tháo xuống Đến ngày này, họ hàng, cha mẹ chú rể cùng nhau đến thăm hai vợ chồng mới, đem theo đủ các thứ vật dụng cần dùng cho một gia đình Nhà gái cũng làm một bữa tiệc để đãi đàng trai cùng một số bà con đến chứng kiến tài sản của nhà trai tặng cho vợ chồng mới Từ đó, hai vợ chồng bắt đầu một cuộc sống riêng của gia đình mình Nếu nhà chú rể khá giả thì có thể cất một căn nhà cho vợ chồng mới ở bên nhà vợ Tuy nhiên, cũng có trường hợp hai vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng Ngày nay, việc chọn lựa chỗ ở do hai vợ chồng trẻ tự quyết định
Giáo luật cho phép một người đàn ông có thể lấy 4 vợ Tuy nhiên, thực tế thì hiếm người đàn ông Chăm Islam nào có nhiều vợ, mà thường chỉ một vợ, một chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước Ngoài ra, nếu hai vợ chồng chung sống mà thấy không hợp nhau ở điểm nào đó, họ có thể ly dị Bởi lẽ, trước khi lấy cô gái, theo thông lệ, người con trai Chăm ít được tiếp xúc với cô ta Khi biết rõ dung mạo, tính tình của nàng dâu, chàng trai có thể từ chối việc chung sống với điều kiện không được đòi lại số tiền đồng và tiền chợ Trước khi đi đến ly dị, người ta có những buổi hòa giải do ông Ahly hoặc ông Hakêm thực hiện Đối với người Chăm Islam, các vị này có vai trò như quan tòa Người Chăm Islam có ba hình thức ly dị:
- Thứ nhất, khi người chồng tuyên bố (một cách công thức) quyết định bỏ vợ vì một lý do chính đáng nào đó Lúc này, họ sẽ bắt đầu cuộc sống ly thân Tuy nhiên, nếu người chồng tỏ ra hối hận, muốn rút lại tuyên bố của mình thì đôi bên có thể đoàn tụ lại với điều kiện người vợ cũng tán thành Khi ấy, sẽ tiếp tục sống chung mà không cần một nghi thức nào cả
- Thứ hai, khi người chồng tuyên bố đến hai lần liên tiếp câu công thức quyết định bỏ vợ Trong trường hợp này, hai người vẫn có thể chung sống lại với nhau nếu người vợ ưng thuận Họ
sẽ làm một bữa tiệc đơn giản xem như là “đám cưới lại” Nhưng nếu người vợ không chấp nhận sống lại, người chồng phải chu cấp cho người vợ trong vòng 3 tháng (sau 3 kỳ kinh nguyệt), nếu không có dấu hiệu mang thai thì việc ly dị được tiến hành Khi ấy, nếu người chồng cương quyết xin ở lại với người vợ đó thì phải qua một thủ tục phức tạp hơn mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây
- Thứ ba, khi người chồng ly dị theo hình thức thứ hai mà sau 3 tháng vợ vẫn không đồng
ý ở lại Ngoài ra, hình thức này cũng xảy ra nếu người chồng tuyên bố đến 3 lần liên tiếp câu công thức quyết định bỏ vợ trước mặt nhiều người Hình thức ly dị thứ ba xem như hình thức ly
dị vĩnh viễn Trong trường hợp này, nếu người chồng muốn ở lại với vợ mà vợ đồng ý, anh ta phải nhờ một người đàn ông khác cưới vợ của anh ta Sau ba tháng, người chồng hờ đó sẽ làm thủ tục ly dị với người vợ mới cưới Lúc bấy giờ, người chồng cũ mới có quyền xin làm đám cưới lại với người vợ cũ Nếu không làm đúng thủ tục như thế, anh ta sẽ bị trừng phạt nặng
Trang 2722
Mục đích của giáo luật này là muốn cho người chồng cảm thấy xấu hổ vì phải cưới lại người vợ đã ăn ở với một người đàn ông khác như vợ chồng Từ đó, nó có tính giáo dục, răng đe cao Tuy nhiên, người chồng cũng chỉ có quyền xin cưới lại vợ cũ hai lần Nếu ly dị đến lần thứ 3 thì vĩnh viễn không được cưới lại nữa Trên thực tế, người Chăm Islam ở An Giang thường chung sống với nhau bền chặt đến cuối đời Nếu có xung đột giữa vợ chồng, gia đình sẽ giải quyết cho
ổn thỏa Mức độ nặng hơn thì các vị giáo cả và phó giáo cả sẽ can thiệp, cho nên hầu như ít có những trường hợp ly dị theo hình thức thứ hai và thứ ba
Giáo luật Islam cũng quy định các trường hợp người vợ hoặc chồng được quyền ly dị Cụ thể là:
- Nếu người chồng hoặc vợ bị bệnh phong cùi thì người còn lại có quyền yêu cầu ly dị Vị giáo cả sẽ xem xét, nếu đúng sự thật thì sẽ cho phép ly dị
- Người chồng hoặc vợ vi phạm các luật tục, các đạo luật của một tín đồ Islam, không xứng đáng là một tín đồ, đã được khuyên can nhiều lần nhưng không sửa đổi Trường hợp này phải có đủ chứng cứ, cũng được giáo cả xem xét và quyết định cho ly dị hay không
- Người chồng hoặc vợ bị bệnh tâm thần
- Người chồng hoặc vợ bị bệnh vô sinh (kể cả trước và sau khi cưới)
- Người chồng hoặc vợ bị bệnh lâu ngày hoặc người chồng không đủ sức làm lụng, không chu cấp đủ tiền để nuôi vợ
Ngoài ra, nếu một trong hai người ngoại tình thì người kia cũng có quyền yêu cầu ly dị Giáo luật cũng quy định, khi ly dị, của cải, tài sản phải được chia đều cho cả chồng lẫn
vợ Cụ thể, của cải do hai người làm ra thì phải chia đôi Cái nào do người chồng hoặc người vợ làm ra thì người đó có quyền giữ lấy hoặc chia cho người kia bao nhiêu tùy ý Riêng tiền đồng trong đám cưới thuộc về người vợ Nếu có con, hai vợ chồng sẽ thỏa thuận cho con sống với ai Nếu con sống với vợ, người chồng có nghĩa vụ chu cấp cho đến khi đứa trẻ 15 tuổi Người đàn bà
có quyền đi lấy chồng khác sau ba tháng kể từ lúc ly dị
Có thể thấy, nghi thức cưới hỏi của người Chăm Islam An Giang đã có nhiều biến đổi khá
rõ nét Chúng ta đều biết, giáo lý tôn giáo chi phối khá sâu sắc trong gia đình, trong đó có hôn nhân của người Chăm Các lễ nghi trong hôn nhân của người Chăm phải thực hiện theo giáo lý, cấm không được sửa đổi Sự sửa đổi trong nghi lễ hôn nhân được coi là không tốt Mặc dù vậy, với sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế tri thức, văn minh hiện đại, ít nhiều thay đổi được nhận thức của đồng bào Chăm về nghi thức cưới xin Một số hủ tục đã được giản lược hoặc thay đổi Trang phục cô dâu chú rể, cách trang trí rạp, phòng hoa chúc, kể cả các món ăn đãi khách trong ngày cưới cũng được thay đổi theo hướng hiện đại hóa Điều này đã góp phần long trọng cho ngày hôn lễ có phần lộng lẫy và đa dạng hơn
Sự thay đổi trong nhận thức của người Chăm trước tác động của nền văn minh mới đã có nhiều tiến bộ, một số hủ tục đã bị đẩy lùi Đặc biệt, việc bỏ tục cấm cung đã giúp cho nam nữ dễ tiếp xúc, tự tìm hiểu nhau trước khi tiến tới hôn nhân Điều này rất cần thiết và phù hợp với một cộng đồng văn minh hiện đại Bên cạnh đó, độ tuổi kết hôn cũng được nâng lên đáng kể, giúp cho các cặp vợ chồng trẻ chín chắn hơn, đủ sức khỏe, nhận thức và trách nhiệm đảm đương cương vị những người làm chủ gia đình Hiện nay, hôn nhân trong dòng tộc cũng đã giảm rất nhiều Đó là một bước tiến đáng kể về nhận thức của đồng bào Chăm Islam ở tỉnh ta
Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm như vừa nêu, hiện trạng hôn nhân của đồng bào Chăm
An Giang vẫn còn tồn tại một số điều đáng lưu tâm Cụ thể, còn một số thiếu nữ Chăm kết hôn
Trang 282.3 Nghi lễ trong giai đoạn tử (tang lễ)
2 3.1 Quan niệm của người Chăm Islam về cái chết
Đối với người Chăm Islam, con người có 4 thế giới Trong đó, cõi sống chỉ là cõi tạm để chuyển qua cõi vĩnh hằng sau khi chết đi và chịu sự phán xét cuối cùng của Thánh Allah Họ tin rằng, vào ngày phán xét cuối cùng, linh hồn sẽ trở về với thể xác và ngồi dậy để nghe lời phán xét của Thượng đế Những ai khi sống, làm tròn nghĩa vụ của một tín đồ Hồi giáo, đến ngày phán xét cuối cùng, linh hồn sẽ được lên thiên đàng; ngược lại sẽ bị đày xuống địa ngục Chính vì quan niệm đó nên người Chăm Islam tỏ ra hết sức bình thản đối với cái chết, xem sự chết như một điều tất yếu Quan niệm này cũng chi phối những nghi thức tang lễ của người Chăm Islam Tang lễ của họ được tổ chức khá giản tiện, chủ yếu chôn cho xong thi hài người quá cố để linh hồn của
họ sớm về với Thượng đế Người Chăm Islam cũng không cho rằng, có sự liên hệ giữa linh hồn người chết và người sống, cho nên họ không tổ chức cúng lạy người chết, không có bàn thờ tổ tiên,…
Người Chăm Islam ở An Giang không có những nghi lễ mừng lên lão, mừng thượng thọ,
họ cũng không có thói quen chuẩn bị cho sự “ra đi” như người Việt hay một số dân tộc khác Khi gia đình thấy người bệnh sắp tắt thở, họ sẽ đặt người hấp hối quay đầu về phía Tây để người đó
tự đọc câu kinh cầu xin Thượng đế tha thứ lỗi lầm của họ Nếu người bệnh mê man, không đọc nổi câu kinh ấy thì người nhà sẽ đọc thay họ Người Chăm Islam cũng cho rằng, sau khi chết, vong hồn người quá cố sẽ được hai vị thần là Monkar và Nakir đến thẩm vấn Do vậy, tử thi phải được tắm rửa sạch sẽ để đợi chờ cuộc thẩm vấn thiêng liêng này Nếu người chết là đàn ông, họ
sẽ được những người đàn ông tắm rửa và khâm liệm Ngược lại, nếu người chết là đàn bà, họ sẽ được những người đàn bà tắm tử thi và khâm liệm Hiện nay, tại các làng Chăm ở An Giang, người ta đã thành lập những ban chuyên tắm rửa và khâm liệm tử thi Những ban này làm việc chủ yếu trên tinh thần tự nguyện, bởi họ cho rằng, việc tắm rửa và khâm liệm tử thi là một việc làm nhân đạo
Khi gia đình có thân nhân qua đời, người Chăm Islam chỉ thay nhau đọc kinh cầu cho linh hồn người quá cố được siêu thoát, nghiêm cấm trường hợp than khóc, kêu gào thảm thiết Họ cho rằng, những lời than khóc chỉ làm cho linh hồn người chết vướng víu không siêu thoát được, còn những giọt nước mắt sẽ tạo thành vũng nước lớn cản chân linh hồn về với Thượng đế
2.3.2 Nghi thức tang lễ
Khi gia đình có người hấp hối, người nhà sẽ đi báo cho bà con lân cận đến để cùng đọc kinh cầu cho linh hồn người chết bình thản rời khỏi cõi đời Khi bệnh nhân tắt thở, người nhà sẽ dùng tay thấm nước sạch vuốt mặt người chết Thông thường, người chết được chôn trong ngày (24 giờ) Nếu chết buổi sáng thì chôn vào buổi chiều; nếu chết buổi tối thì sáng hôm sau chôn Trước khi chôn, tử thi phải được tắm rửa (lễ mộc dục) sạch sẽ
Người ta sẽ đưa tử thi vào bên trong, dùng xà phòng và nước sạch cọ rửa nhiều lần Dùng bông gòn tẩm dầu thơm ngoáy lỗ tai, mắt, mũi, miệng tử thi nhiều lần cho thật sạch Có một số nơi, người ta còn bóp nặn và vuốt từ bao tử xuống hậu môn tử thi để chất thải tống hết ra ngoài Sau đó, họ sẽ dùng bột long não rắc vào các khớp xương của tử thi (đầu gối, khuỷu tay)… Người
Trang 2924
Chăm Islam thường rất coi trọng sự sạch sẽ Do đó, nước thải khi tắm rửa tử thi cũng cần được
xử lý Đối với các gia đình ở nhà sàn, người ta dùng một dụng cụ như cái khay lớn, dưới đây khay có một ống thoát nước dài Tử thi được tắm trong cái khay này Tất cả các chất thải và nước thải sẽ theo đường ống dẫn ra một nơi xa chỗ ở của họ Đối với các hộ không ở nhà sàn, chiếc khay này cũng được đặt ở một vị trí cao hơn mặt sàn (trên giường chẳng hạn), nước thải cũng sẽ được dẫn ra ngoài như trên
Khi tắm rửa tử thi xong, người ta đặt tử thi lên một bộ ván và xé vải trắng liệm tử thi Vải trắng thể hiện sự tinh khiết của người chết Vải chỉ được dùng tay xé, không được dùng dao kéo cắt và cũng không được dùng kim chỉ may lại Tiếp theo, người ta sẽ quấn tử thi bằng ba lớp vải trắng Các khớp xương của tử thi có thể được lót thêm lớp bông gòn Khâm liệm xong, ông Hakêm hoặc ông Ahly đến kiểm tra xem tử thi có được liệm đúng thủ tục Islam hay không Nếu đúng, các ông sẽ đọc kinh cầu nguyện cho vong hồn người chết Mọi người cũng đọc theo Không cúng bánh trái, nhang đèn cho người chết Người Chăm cũng không có tục nhận tiền phúng điếu
Khác với người Chăm Bà la môn, người Chăm Islam ở An Giang chôn người chết Huyệt chôn người chết của người Chăm An Giang khác hẳn so với các dân tộc khác Huyệt phải sâu quá đầu người (khoảng 1,8 mét), chiều dài khoảng 1,8 đến 2 mét, chiều ngang khoảng 1 đến 1,2 mét Huyệt luôn được đào theo hướng Bắc - Nam (Điều này khác với nguyên tắc huyệt mộ của các quốc gia Islam Ả Rập Các nước Ả Rập đào huyệt theo hướng Đông – Tây để thi hài quay đầu về hướng Tây) Dưới đáy huyệt của người Chăm Islam An Giang, bên phía Tây, người ta khoét một cái lỗ theo chiều dài vừa với tử thi Khi chôn, tử thi sẽ nằm nghiêng bên phải, mặt và ngực quay
về hướng mặt trời lặn (hướng Tây, hướng của Thánh địa Mecca) Ngoài ra, tử thi phải được ép vừa vặn vào cái lỗ đã khoét, dùng tấm ván chèn bên ngoài rồi mới lấp đất lại Phần phía dưới của người chết phải trực tiếp chạm với đất Ngay cả tấm ván chặn tử thi cũng phải là ván mau mục để thi thể người chết sớm phân hủy, vong hồn của họ mới sớm về với Thượng đế Không được chôn theo quần áo hay bất kỳ vật gì cho người chết
Thông thường, khi liệm và cầu kinh xong, tử thi được đem chôn ngay Người ta để tử thi lên một tấm ván to gọi là “hanh đu” Các thanh niên sẽ khiêng “hanh đu” ra đồng chôn Trước đây, mỗi gia đình thường tự chôn cất người thân trên phần đất của mình Nhưng người Chăm không cho phép chuyển cốt Do vậy, nếu cứ chôn trên đất gia đình thì diện tích đất sẽ ngày một thu hẹp lại Chính vì vậy mà hiện nay, người Chăm Islam ở An Giang quy định người chết phải được chôn trong nghĩa địa của Islam Nếu đoạn đường tới nghĩa địa xa quá, người ta có thể dùng
xe để vận chuyển “hanh đu” Trong quá trình vận chuyển “hanh đu”, nghiêm cấm tiếng khóc than, không có tiếng kèn trống gì cả
Đến huyệt, người ta đặt tử thi phía trên rồi từ từ chuyển xuống huyệt Tử thi được lắp vừa vặn vào cái lỗ được khoét sẵn bên vách huyệt, dùng tấm ván chắn lại rồi lắp đất Người thân và
bà con đi đưa tang đứng quanh huyệt để đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố Lúc bấy giờ, họ
sẽ gọi tên thánh (được đặt trong lễ cắt tóc và đặt tên lúc nhỏ) người quá cố nhiều lần để nhắn nhủ những điều họ cần chuẩn bị để tiếp đón hai vị thần Monkar và Nakir đến thẩm vấn
Phần mộ của người Chăm Islam không được đắp mô lên mà phải được san lấp cho bằng phẳng Họ cho rằng, làm như thế sẽ tránh được tình trạng phân biệt giàu nghèo, tránh coi nhân vật mất đi là quá quan trọng Cũng chính vì vậy, người ta sẽ đánh dấu phần mộ bằng cách dựng hai tấm bia hoặc đóng hai thanh gỗ ở đầu và chân mộ Trên đó có ghi họ tên người chết, ngày, tháng, năm qua đời Dựng xong hai tấm bia xem như công việc chôn cất hoàn tất
Trang 3025
2.3.3 Cầu nguyện cho người chết
Việc cầu nguyện cho người chết trong cộng đồng người Chăm Islam An Giang cũng khá đơn giản, chủ yếu là cầu cho vong linh người quá cố được siêu thoát
Vào tối ngày chôn cất, bạn bè, người thân của tang chủ sẽ đến nhà để cầu nguyện Các đoạn kinh Koran sẽ được ngâm đọc với giọng trầm đều Sau khi cầu nguyện xong, tang chủ đãi cháo gà hoặc bánh ngọt tùy hoàn cảnh từng gia đình Trước đây, việc cầu nguyện như thế diễn ra trong ba đêm liền Sau đó, người ta còn cầu nguyện vào các đêm thứ 7, thứ 10, thứ 40, thứ 100 và một lần nữa vào đúng 1 năm kể từ lúc người mất Tuy nhiên, hiện nay các nghi thức cầu nguyện ngày càng được đơn giản hóa Người ta không tổ chức lễ giỗ mà bất cứ lúc nào có của ngon vật
lạ, họ có thể cầu nguyện để tưởng nhớ chung cho những người quá cố Họ cũng không nhất thiết đọc kinh tại nhà mà có thể nhờ thầy Imâm đọc giùm
Có ý kiến cho rằng, “khi chôn người chết xong, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 40, người nhà phải đến mộ đọc kinh ngày hai lần, vào lúc mặt trời vừa mới mọc và mặt trời sắp lặn để tưởng nhớ người quá vãng” (Lâm Tâm, 1993: 75) Tuy vậy, qua quá trình khảo sát và tìm hiểu của chúng tôi, người Chăm Islam không có tập tục này
Người Chăm Islam ở An Giang không làm bàn thờ để thờ cúng ông bà, tổ tiên Giáo luật nghiêm cấm việc thờ cúng các di ảnh hay mẫu tượng Trong nhà có người chết cũng không mặc tang phục Họ cũng không cần chọn đất mai táng Ai chết ở đâu thì chôn ở khu vực đó, chỉ cần thực hiện đúng quy tắc mai táng là được Ngoài ra, họ cũng không có tục tảo mộ
Có thể thấy, các nghi thức cúng tế, cầu nguyện và thờ cúng tổ tiên của người Chăm Islam
ở An Giang khá đơn giản Điều này bắt nguồn từ quan niệm của họ về sự chết, về thế giới với sự dẫn dắt của giáo luật Do không xem mối quan hệ giữa người sống và người chết có tồn tại, nên
họ không lưu tâm đến vấn đề thờ cúng tổ tiên
Tóm lại, nghi lễ trong giai đoạn tử của người Chăm Islam hiện vẫn còn bảo lưu những yếu tố truyền thống của họ theo đúng giáo luật Cụ thể là việc tắm rửa tử thi, khâm liệm, chôn xác nằm nghiêng, mồ bằng phẳng và được đánh dấu hai đầu Một số lễ thức đã được giản lược hoặc biến đổi cho phù hợp với tình hình phát triển mới của xã hội
Qua việc tìm hiểu các nghi lễ chuyển đổi của người Chăm Islam, chúng tôi nhận thấy, các nghi lễ đời người của họ đều gắn liền với tôn giáo và chịu sự chi phối của giáo luật Các nghi lễ
từ khi mới sinh ra cho đến lúc mất đi được thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để theo đúng tinh thần của giáo luật Những năm gần đây, các nghi lễ này có một số biến đổi cho phù hợp với đời sống mới Tuy vậy, những biến đổi đó thường liên quan đến điều kiện kinh tế và nhận thức, còn các bước tiến hành lễ hầu như vẫn chưa có sự thay đổi nào Đặc biệt là những biến đổi trong nghi lễ của đời người là những biến đổi không mang tính áp đặt từ bên ngoài mà hoàn toàn tự nguyện từ sự thay đổi nhận thức của chính người Chăm Islam
Trang 3126
3 SO SÁNH NGHI LỄ VÒNG ĐỜI NGƯỜI CHĂM ISLAM AN GIANG VÀ NGHI
LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CHĂM BÀ NI, CHĂM BÀ LA MÔN KHU VỰC MIỀN TRUNG
Tuy được cho là có cùng nguồn gốc, nhưng người Chăm ở nước ta theo hai tôn giáo khác nhau, Hồi giáo và Bà la môn giáo Chính điều đó đã tạo ra sự khác biệt khá rõ nét về tín ngưỡng, phong tục của hai cộng đồng nói trên Cụ thể, người Chăm Hồi giáo luôn tin tưởng tuyệt đối vào Thánh Allah và Thiên sứ Mahammad còn người Chăm Bà la môn giáo tôn thờ các vị thần tối cao
là Brahma, Visnu và Siva Từ những sự khác biệt ấy, dẫn đến sự khác biệt về những nghi lễ thức trong vòng đời của mỗi người
Ngay cả người Chăm cùng theo Hồi giáo vẫn có sự khác biệt giữa Hồi giáo chính thống (Islam) và Hồi giáo không chính thống (Bà ni) Bởi lẽ, người Chăm Bà ni khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận ít liên lạc với Hồi giáo thế giới mà chủ yếu tiếp thu các yếu tố văn hóa bản địa Trong khi đó, người Chăm Islam thường xuyên có mối liên hệ với thế giới Hồi giáo nên hầu như giữ được những nét đặc trưng của Islam giáo
Trong phần này, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh các nghi lễ vòng đời của ba đối tượng: người Chăm Islam An Giang, người Chăm Bà ni và người Chăm Bà la môn Chúng tôi cũng chia các nghi lễ này ra ba giai đoạn để tiện việc khảo sát Ngoài ra, để làm nổi bật các đối tượng và giúp tiếp cận sự tương đồng và dị biệt giữa các đối tượng, chúng tôi sẽ trình bày phần này qua các biểu bảng
3.1 So sánh nghi lễ trong giai đoạn sinh Chăm Islam Chăm Bà ni Chăm Bà la môn
9 Phụ nữ mang thai chỉ kiêng
cữ những điều đơn giản nhằm đảm
bảo sức khỏe và tinh thần tốt cho
quá trình sinh nở; không sử dụng
bùa chú; người chồng không phải
cữ kiêng
9 Kiêng cữ tương đối giống người Chăm Islam Có điều, đối với người Chăm Islam, người mẹ mang thai bé trai là niềm vui của gia đình, còn đối với người Chăm Bà ni mang thai bé gái mới là niềm vui lớn
9 Ngoài kiêng cữ
về ăn uống, sinh hoạt, còn cữ về đường nói năng; phụ nữ mang thai phải đeo bùa trừ ma; chồng không được sát sanh; người nữ gần sanh phải làm lễ cúng
mụ
9 Khi sanh xong, nhau thai
phải được chôn ở chân cầu thang
Xác thuốc, than sưởi ấm cho người
mẹ cũng được chôn nơi đây
9 Trước đây có cất chòi tạm cho người phụ nữ sanh
Nhau thai được chôn trong khuôn viên sân nhà của sản phụ
9 Nhau thai được chôn trong khuôn viên sân nhà; con trai chôn hướng mặt trời mọc, con gái chôn hướng mặt trời lặn Than, xác thuốc phải hốt sạch và đốt ở ngã ba đường
Có nhiều hình thức nhằm xua đuổi tà ma đến quấy phá đứa trẻ như: đốt lửa ngoài sân,
Trang 3227
bôi vôi lên các bình gốm, treo nhánh xương rồng trước cổng…
9 Thông thường, khi sinh
được 7 ngày người ta làm lễ cắt tóc
và đặt tên Gia đình làm dê, cừu
hoặc gà tùy vào gia cảnh để đãi bà
con Mọi người tụ họp lại cầu kinh,
chúc phúc cho đứa trẻ Đứa trẻ sẽ
được đưa tới từng vị để các vị này
đọc kinh vào tai nó Ông Hakêm
hoặc thầy Imâm cắt một lọn tóc
tượng trưng và đặt tên cho đứa trẻ
Người Chăm Islam có 3 cách đặt
tên: theo tên thánh, theo trí thức và
tên thường Tên thánh là quan trọng
nhất vì tên này sẽ được kêu vào
ngày “phán xét cuối cùng”
Có nhiều trường hợp trùng tên
Sau khi đặt tên xong gia đình mời
khách dùng tiệc
9 Sinh xong 1 tháng sẽ đặt tên cho đứa trẻ, không cắt tóc Lễ này do 3 thầy: I mưm, ông Tìnk và ông Chan đảm nhiệm Lễ vật gồm dê, cơm
Ba ông này và ba mẹ đứa trẻ
sẽ đọc kinh, đặt tên cho đứa
bé Sau đó 3 vị tăng lữ dùng cơm, ăn xong đọc kinh lần nữa rồi kết thúc
Không có tên thánh như Chăm Islam mà chỉ có các tên thông thường như: Phú, Phong, Vinh…
Ít có trường hợp trùng tên
9 Không có nghi
lễ đặt tên, chủ yếu đặt tên luôn trong ngày trình tổ tiên khi đứa trẻ đầy tháng Lễ vật trong ngày này gồm có trứng, thịt gà, chuối, xôi, trầu, cau, rượu,…
Bà bóng sẽ là người làm lễ trình đứa bé trước tổ tiên Sau đó bà cắt tóc, xỏ tai và đặt tên cho đứa trẻ Ngoài
ra, trong lễ này cũng cần phải có 1 ông thầy
để đeo bùa cho đứa trẻ, mục đích là ngừa tà
ma
Người Chăm Bà la môn kiêng cữ việc đặt tên trùng
3.2 So sánh nghi lễ trong giai đoạn trưởng thành Chăm Islam Chăm Bà ni Chăm Bà la môn
9 Trước đây có lễ Khotanh
Koran để mừng đứa trẻ thuộc được
một số đoạn kinh Koran, nhưng nay
lễ này không còn
9 Không có lễ Khotanh Koran như người Chăm Islam
9 Không có các nghi lễ trưởng thành Trong giáo lý Bà la môn có đề cập tục đeo dây thiêng cho các bé trai thuộc đẳng cấp cao (con các thầy) nhưng hiện nay không thấy còn tục này
9 Tục cắt da quy đầu được
thực hiện đối với các bé trai dưới
15 tuổi nhằm đảm bảo sự “sạch sẽ”
cho người con trai khi đến thánh
đường cầu kinh Thường thì người
9 Tục cắt da quy đầu
đối với các bé trai chỉ được thực hiện mang tính chất tượng trưng Người ta chỉ dùng dao gỗ để cắt Lứa tuổi
Một vài nơi có tổ chức cúng gà khi đứa bé 15 tuổi nhưng không phổ biến Cũng có người cho rằng lễ thức này do
Trang 3328
ta sẽ tập hợp các bé trai cùng lứa
lại, lý giải cho chúng biết vì sao
phải làm việc này, sau đó ông Chèn
Khotanh đọc kinh và cắt da quy đầu
cho trẻ Làm xong tục này đứa trẻ
mới được xem là trưởng thành;
không làm xem như hèn nhát, dơ
dáy, không được cưới vợ, không
được làm chủ gia đình, không được
quyền phân chia tài sản… Ngày
nay tục này đã có nhiều tiến bộ,
thực hiện an toàn và vệ sinh hơn do
những người “Chèn Khotanh” được
trang bị kiến thức, dụng cụ y tế
chuyên khoa
thực hiện nghi thức này dành cho các bé trai cũng tương tự như đối với người Chăm Islam
Người Chăm Bà ni không coi trọng lễ trưởng thành dành cho bé trai, trong khi đó, lễ cấm cung của bé gái lại được thực hiện khá nghiêm túc và nhiều lễ thức (khác biệt so với người Chăm Islam)
ảnh hưởng của người Chăm Bà ni mà có, bản thân người Chăm Bà la môn trước kia không
có
9 Tục cấm cung như trước
đây, phụ nữ đến tuổi dậy thì không
được đi bất cứ nơi đâu, chỉ được ở
trong một căn phòng kín đáo Cô
gái sinh hoạt, dệt vải và đi lại trong
căn phòng đó Nếu cần đi đâu, cô ta
chỉ đi vào ban đêm và có người
thân đi cùng Thường các cô gái
cũng chỉ đi vào các dịp lễ cưới của
chị em, bạn bè trong xóm
Các gia đình khá giả sẽ thuê một bà
già khéo tay về dạy cho cô gái dệt
vải và phục vụ sinh hoạt của cô
Ngày nay, tục này không còn nữa
9 Tục cấm cung được
quy định rất nghiêm ngặt
Người con gái mà chưa qua lễ cấm cung sẽ bị coi như ở tình trạng “cấm”, không được phép
nghĩ đến hôn nhân
Lễ cấm cung thường được nhiều gia đình tổ chức chung cho các con gái của họ
Người ta phải dựng hai căn nhà tạm đối diện nhau, chiếc lớn ở phía Đông để làm lễ, chiếc nhỏ ở phía Tây cho các
cô vào đó cấm mình Suốt đêm, ông Gru và thầy Imâm sẽ đọc kinh trong nhà lớn, còn các cô gái sẽ ngủ trong nhà nhỏ và được 4 bà già canh giữ không cho ra ngoài với bất cứ
lý do nào Hôm sau, các cô sẽ mặc lễ phục, được một người đàn bà và một người đàn ông
có bồng đứa bé trên tay hướng dẫn qua căn nhà làm lễ Các
cô vào lần lượt từng người
Ông thầy cả đặt vào miệng mỗi cô một hạt muối, cắt một lọn tóc nhỏ trên đầu rồi cho uống nước Sau đó, các cô trở trở lại nhà nhỏ tiếp tục cấm mình Đến trưa, các cô thay áo
Trang 349 Nghi thức cưới xin: Coi sự
độc thân như là điều tội lỗi Hôn
nhân không chỉ là bổn phận của con
cái đối với gia đình mà còn là bổn
phận của một tín đồ đối với
Thượng đế
Gia đình người Chăm Islam ở An
Giang là gia đình phụ quyền, chồng
đi cưới vợ, làm chủ tài sản của gia
đình, có quyền thừa kế tài sản nhiều
hơn nữ giới, được quyền cưới vợ lẻ
Tuy nhiên, hầu hết các gia đình đều
là gia đình một vợ một chồng
Không có tình trạng nam nữ chung
sống trước hôn nhân Đây là điều
mà giáo luật nghiêm cấm, nếu vi
phạm sẽ bị cộng đồng lên án, cô
lập
9 Nghi thức cưới xin:
Coi sự độc thân là tội lỗi, hôn nhân là trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Thượng đế
Gia đình Chăm Bà ni theo chế
độ mẫu hệ, vợ đi cưới chồng,
vợ làm chủ tài sản, có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của gia đình và dòng tộc
Duy trì chế độ mẫu hệ, quyền chủ động trong hôn nhân thuộc về nhà gái Khi con gái sắp đến tuổi lấy chồng, cha
mẹ đã phải lo “nhắm” trước những chàng trai trong vùng để “lựa rể” cho con mình
Không có trường hợp sống trước hôn nhân
Đối tượng kết hôn: Khuyến khích
kết hôn giữa anh chị em họ Điển
hình như con chú, con bác, con dì,
con cô, con cậu Cô gái có thể lớn
tuổi hơn chàng trai chứ không nhất
thiết phải nhỏ hơn Nguyên tắc cơ
bản trong chế độ hôn nhân của
người Chăm Islam là nam, nữ phải
cùng tôn giáo Tuy nhiên, trong
thực tế, vẫn có trường hợp người
Chăm Islam kết hôn với người
không cùng tôn giáo Đối với người
ngoại đạo, họ phải thực hiện một số
thủ tục và làm lễ nhập đạo trước
khi làm lễ cưới
Đối tượng kết hôn: Do cha mẹ
cô gái chọn, phải cùng chung tôn giáo Quá trình lựa chọn của cha mẹ cô gái phải diễn ra
âm thầm, bí mật
Đối tượng kết hôn:
Phải là người trong đạo
và phải do cha mẹ chọn lựa
Độ tuổi kết hôn: trước đây, nam nữ
thường được xây dựng gia đình rất
Độ tuổi kết hôn: Trước đây
kết hôn sớm, nạn tảo hôn rất
Độ tuổi kết hôn: Tương
đối giống người Chăm