9 Chơng 2 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng.. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể tại
Trang 1Em xin bày tỏ lòng biết ơn sau sắc đến thầy giáo Võ Xuân Thành, ngời thầy đã tận tâm, tận ý và trực tiếp hớng dẫn em hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này.
Xin gửi lời tới UBND xã Bồi Sơn, Ban quản lý khu di tích Đền Quả Sơn, phòng văn hóa Thông tin và trung tâm Văn Hóa Thông tin thể thao huyện Đô Lơng đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện và cung cấp những t liệu cần thiết giúp em hoàn thành đề tài
Do thời gian không nhiều và trình độ hiểu biết có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Em mong thầy cô và các bạn góp ý để đề tài của em đợc hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn
Sinh viên
Nguyễn Thị Lý
Trang 2Mục lục
Trang
1 Lý do chọn đề tài: 4
2 Mục đích chọn đề tài 5
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
4 Phơng pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục của khóa luận 7
Nội dung Chơng 1: Một số khái niệm, lý luận khoa học liên quan tới công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể. 8 1.1 Một số khái niệm, lý luận 8
1.1.1 Di sản văn hóa 8
1.1.2 Di sản văn hóa vật thể 8
1.1.3 Di tích lịch sử văn hóa 8
1.1.4 Bảo quản di tích 8
1.1.5 Bảo tồn Di tích 8
1.1.6 Tu bổ và tôn tạo Di tích 8
1.2 ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể đối với sự phát triển của huyện Đô Lơng 9
Chơng 2 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng. 10 2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Đô Lơng 10
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Đô Lơng 10
2.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
10 2.1.1.2 Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 11
2.1.1.3 Vài nét về xã Bồi Sơn vùng Bạch Ngọc xa 12
2.2 Khái quát về Di tích lịch sử văn hóa đền Quả Sơn 13
2.2.1 Lịch sử văn hóa đền Quả Sơn 13
2.2.1.1 Xuất xứ và tên gọi 13
2.2.1.2 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang
. 14 2.2.1.3 Truyền thuyết gắn với đền Quả Sơn 17
2.2.2 Kiến trúc đền Quả Sơn 18
2.2.2.1.Lịch sử xây dựng đền Quả Sơn
18 2.2.22 Đền Quả Sơn trờng tồn với những giá trị 24
Trang 32.2.3 Đền Quả Sơn với mùa lễ hội 25
2.3 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể tại Đền Quả Sơn huyện Đô Lơng
26 2.3.1 Thực trạng về di tích lịch sử trên địa bàn huyện Đô Lơng 26
2.3.2 Khái quát về dự án bảo tồn và tôn tạo đền Quả Sơn 26
2.3.3 Những kết quả đạt đợc 27
2.3.3.1 Về bảo tồn di tích
2.3.3.2 Về quản lý nhà nớc . 27
2.3.4 Những hạn chế yếu kém 27
2.3.5 Nguyên nhân
28 Chơng 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóavật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng.. 29
3.1 Một số giải pháp. 29 3.1.1 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong các cấp các ngành về tầm quan trọng của di tích lịch sử văn hóa Đền Quả Sơn 29
3.1.2 Tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đô Lơng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Đền Quả Sơn 29
3.1.3 Tăng cờng và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa Đền Quả Sơn 30
3.1.4 Phát huy hiệu quả công tác bảo tồn giá trị văn hóa vật thể thông qua hoạt động lễ hội hàng năm
30 3.1.5 Xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể tại Đền Quả Sơn huyện Đô Lơng 30
3.1.6 Giải pháp về tài chính 31
3.2 Kiến nghị - đề xuất
31 3.2.1 Đối với UBND huyện Đô Lơng và xã Bồi Sơn 31
3.2.2 Đối với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch 32 Kết luận 33
Tài liệu tham khảo 35
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Đời sống tâm linh là một phần không nhỏ trong cuộc sống của con
ng-ời Từ xa xa đến nay bên cạnh sự dày công chiến đấu và vật lộn với tự nhiên,
để con ngời có đuợc sự tồn tài để rồi đi đến sự no đủ ấm cúng, cũng nh việc tìm đến sự phồn vinh, thịnh vợng khi một phần nào đó con ngời đã chinh phục cảm hóa đợc tự nhiên Thì cuộc sống tâm linh gần nh không thể thiếu, nó là một nhu cầu tất yếu đã trở thành một nét văn hóa của dân tộc Việt Nam
Song song với việc hình thành nên nét văn hóa trong đời sống văn hóa tâm linh đó là việc gìn giữ, bảo vệ và tôn tạo các danh thắng, khu di tích lịch
sử văn hóa nh: Đình, đền, chùa, am, miếu
Đô Lơng là mảnh đất văn hiến có bề dày lịch sử hàng trăm năm Là vùng đất phên dậu, vùng biên viễn của nớc Đại Việt dới triều Lý và cũng là trung tâm của tỉnh Nghệ An Có thể nói đây là cái nôi của đất Hoan Châu xa Cuộc sống của ngời dân nơi đây cũng hết sức bình thờng giản dị nh mọi miền quê khác, cũng có sự phấn đấu từng bớc đi lên, cùng với Đảng nhà nớc để xây dựng quê hơng Đô Lơng ngày một giàu đẹp hơn
Nhng ẩn chứa đằng sau những gì rất đỗi bình dị, đơn sơ đó mảnh đất và con ngời Đô Lơng còn có một mạch máu đang ngầm chảy trong từng tấc đất, từng trái tim của mỗi con ngời Đó là sự ngỡng vọng về tổ tiên, những khoảng lặng trong tâm hồn, khi họ nhìn lại những trang sử hào hùng, vẻ vang của quê hơng của lớp cha anh đã để lại Đó là một nét đẹp trong đạo lý uống nớc nhớ nguồn, là tấm lòng tôn kính những ngời đã có công gây dựng nên mảnh đất
Đô Lơng thân yêu
Không chỉ dừng lại ở đó Đô Lơng còn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa nh: Đền Đức Hoàng, đình Phú Nhuận, đình Lơng Sơn, khu di tích Truông
Trang 5Bồn Đặc biệt là đền Quả Sơn nơi thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ - ngời đã có công lớn trong việc khai dân lập ấp,
mở mang và gìn giữ bờ cõi, biến miền đất hoang sơ thành vùng trọng yếu cho
sự nghiệp phục hng của dân tộc
Để tởng nhớ công đức ngài Tri Châu sau khi ông mất nhân dân đã xây dựng ngôi đền dới chân núi Quả nay thuộc xã Bồi Sơn - Đô Lơng nên có tên gọi là đền Quả Sơn hay còn gọi là đền Quả đền Mợu
Đên đợc xây dựng năm 1058 sau khi Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang mất Đến 1952 đền bị máy báy Pháp ném bom ba lần làm cho cảnh quan khuôn viên và nhiều hiện vật tại đền bị h hỏng mất mát may mắn thay còn lại bức di tợng cổ tạc Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang, Long ngai và các đồ tế có thể nói sự tồn tại linh thiêng của ngôi đền và di tợng cổ độc bản của đức Thánh đã khẳng định một điều rằng: Cái ác dù tàn bạo đến đâu cũng không thể thắng nổi sự tôn nghiêm , uy nghi của ngôi đền va vị Tri châu Lý Nhật Quang Vì vậy mà việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể tại di tích Đền Quả Sơn là một việc vô cùng cấp thiết mà chúng ta thế hệ trẻ phải ra sức xây dựng gìn giữ và bảo vệ khu di tích Đền Quả Sơn tránh việc để hiện vật
ở đền bị xuống cấp , việc phân câp quản lý thiếu khoa học va cần tránh những
vi phạm trong việc trùng tu tôn tạo trái với luật di sản văn hóa hiện hành
Đền Quả Sơn là những dấu tích cổ ghi lại những bớc thăng trầm của lịch sử đất Nghệ An - vùng Hoan Châu xa Đền góp phần vào việc tạo nên nét
đẹp trong đòi sống văn hóa tâm linh để cùng hòa nhập vào làn sóng văn hóa của cả nớc và cùng hớng tới một nghìn năm Thăng Long Hà Nội
Mặt khác việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Đền Quả Sơn có ý nghĩa thực hiện tinh thần nghị quyết Trung ơng 5 khóa VIII của
Đảng về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam ''tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc''
Từ những lý do cơ bản và đầy thuyết phục trên khiến cho em chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Đền Quả Sơn ” làm…bài tiểu luận tốt nghiệp
2 Mục đích chọn đề tài
Trang 62.1 Đề tài "bảo tồn và phát huy giá trị di sản van hóa vật thể ở đền Quả Sơn xã Bồi Sơn huyện Đô Lơng tỉnh Nghệ An "
Nhằm mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, gìn giữ nguyên vẹn các hiện vật đang có tại đền Quả Sơn, cũng nh các cổ vật của đền
đợc lu giữ tại bảo tàng huyện Đô Lơng tránh việc để công trình kiến trúc của
đền, những cổ vật đang đợc lu giữ trong và ngoài đền bị xuống cấp, thất lạc hay bị kẻ xấu lợi dụng để chuộc lợi cá nhân Những nét cổ kính của ngôi đền
bị hủy hoại Nhằm góp phần vào việc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa địa phơng
và toàn dân tộc nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa này Để phục vụ cho đời sống tinh thần và nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của ngời dân huyện nhà và du khách thập phơng
2.2 Góp phần làm sáng tỏ vùng đất Bạch Ngọc xa (nay là 3 xã Ngọc Sơn, Bồi Sơn, Lam Sơn) Để góp phần vào việc giáo dục ý thức lịch sử cho thế
hệ trẻ
2.3 Nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức trong việc phát huy di sản văn hóa trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho nhân dân Đồng thời nâng cao việc bảo tồn, phát huy những di sản vô giá mà lịch sử để lại, những dấu tích phản ánh đợc bề dày lịch sử của mảnh đất Đô Lơng
2.4 Mặt khác cụ thể hóa đợc thực trạng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật tại đền Quả Sơn, những thuận lợi, khó khăn từ đó đa ra những giải pháp mang tính khả thi áp dụng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử của các ban ngành liên quan và nhân dân huyện nhà
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về quá trình hoạt động bảo tồn và phát huy, thực trạng của hoạt động và phát huy các giá trị văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn trên
địa bàn huyện Đô Lơng Đề ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn đợc hữu hiệu hơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài "bảo tồn và phát huy giá trị di sản van hóa vật thể ở đền Quả Sơn
Trang 7hoạt động của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng
4 Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phơng pháp sau:
- Phơng pháp nghiên cứu tài liệu
- Phơng pháp điền giá, khảo sát thực tế
- Phơng pháp điều tra, chụp ảnh minh họa
- Phơng pháp luận khoa học để giải thích các thuật ngữ
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích
5 Bố cục của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chơng
Ch
ơng 1: Một số khái niệm, lý luận khoa học liên quan tới công tác
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể
Ch
ơng 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng
Ch
ơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công
tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng
Trang 8Nội dung
Chơng 1 Một số khái niệm, lý luận khoa học liên quan tới công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể.
1 Một số khái niệm, lý luận
Là những hoạt động xây dựng, bảo vệ cho sự trờng tồn, ổn định cũng
nh phát huy đợc những giá trị của di tích đó
1.6 Tu bổ và tôn tạo Di tích
Là hoạt động nhằm tu sửa, bổ sung, tôn tạo Di tích để tăng khả năng sử
dụng và phát huy đợc giá trị của khu Di tích nhng đồng thời giữ đợc nguyên vẹn nét đẹp, cảnh quan và không gian văn hóa của Di tích
Trang 92 ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể
đối với sự phát triển của huyện Đô Lơng.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể có tầm quan trọng cả về sự phát triển kinh tế lẫn xã hội ở Đô Lơng
Giá trị di sản văn hóa đợc làm nên bởi lịch sử mà lịch sử là cả một quá trình phát triển đi lên của con ngời Những công trình kiến trúc hay những hiện vật trong lịch sử đợc sản sinh nhằm một mục đích là phục vụ cho đời sống của chính con ngời Chính vì mối quan hệ mật thiết đợc làm nên từ lịch
sử và sự phát triển đó mà cho tới ngày nay những giá trị đợc coi là di sản văn hóa cũng đợc xem là mẫu chốt tạo nên sự phát triển và đứng vững của miột nền văn hóa, một quốc gia, một dân tộc
Việt Nam đang đi trên con đợng hội nhập, chính vì những sự đóng góp không nhỏ của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở mỗi địa ph-
ơng đã chung sức chung lòng vào sự nghiệp phát triển văn hóa của dân tộc để xây dựng nền văn hóa Việt Nam "tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc"
Hầu hết các di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể đợc tồn tại, phát triển đều thu hút đợc nhiều mối quan tâm của con ngời Bởi lẽ nó là sự hiện hữu cho chỗ dựa tinh thần, tâm linh của con ngời
Bên cạnh những dòng lịch sử vẻ vang chói lọi đợc lu truyền qua những trang giấy thì còn có một dòng lịch sử bất diệt nữa đó chính là tấm lòng sự ghi nhớ và biết ơn của ngời đời về những câu chuyện có thật hay một huyền thoại anh hùng mà khi con ngời tìm đến nó nh tìm đến một sự tĩnh lặng, thoải mái làm chỗ dựa cho tâm hồn khi xung quanh là sự phát triển vồn và của xã hội
Từ đó ta có thể thấy rõ ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
Cha kể đến những giá trị du lịch mà khu Di tích mang lại cũng thông qua việc bảo tồn, tôn tạo mà ngời dân địa phơng có thể quản bá với du khách thập phơng về sự anh dũng của quê hơng, đất nớc, dân tộc mình sự nỗ lực vơn lên qua bao phen bị vùi dập
Đến đây ta có thể thấy đợc công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể có một ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và nhất là gìn giữ đợc bản sắc văn hóa của nớc nhà
Trang 10Chơng 2
Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa vật thể ở đền Quả Sơn huyện Đô Lơng.
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Đô Lơng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Đô Lơng
2.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
Huyện Đô Lơng đợc tách ra khỏi Anh Sơn từ năm 1963 có tổng diện tích tự nhiên 35.594 km2 Dân số có 19,8 vạn ngời đựơc phân bố thàh 32 xã và một thị trấn
Về vị trí đại lý: Đô Lơng nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An nơi tiếp giáp với các huyện đồng bằng và miền núi tạo thành ngã t kinh tế với 3 tuyến giao thông quan trọng: Đờng 7A, đờng 15 A và đờng 46 Tại thị trấn Đô Lơng vùng cầu Tiên, cầu Bara Đô Lơng trở thành một Trung tâm kinh tế th-
ơng mại có nhiều tiềm năng, triển vọng để phát triển kinh tế và không gian đô thị có tầm cỡ một thĩ xã trong tơng lai
Tiềm năng đất đai đa dạng, khoáng sản có trữ lợng lớn nh: đá vôi, cát sạn, đất sét, sứ, cao lanh kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật trải qua hơn 20 năm
đổi mới đã đợc đầu t đồng bộ tạo thành nguồn lực cho sự phát triển
Đất rộng, ngời đông, địa hình phức tạp vừa có đồng băng, miền núi, ven sông Mỗi vùng có những đặc điểm sinh thái riêng dẫn đến nền nông nghiệp
đa dạng với 4 loại cây chính, 4 nhóm sản phẩm: Cây lơng thực, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây nguyên liệu, trâu, bò, lơn, gà, gia cầm.v.v
Đô Lơng có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp nh Đập Đá Bàn (Bài Sơn),
Đập Khe Du (Hòa Sơn), Đập Khe Ngầm (Lam Sơn), Nớc khoáng nóng, (Giang Sơn), Bãi bồi (Tràng Sơn)
Những thắng cảnh thiên nhiên là những công trình kinh tế phục vụ cho
đời sống kinh tế con ngời Ngoài ra Đô Lơng còn có các khu Di tích lịch sử nh: Đền Quả Sơn, đền Đức Hoàng, nhà thờ Nguyễn Cảnh, Thái Bá Du, khu Di
Trang 11tích Truông Bồn các khu Di tích văn hóa sinh thái, các món ăn ẩm thực mang hơng vị đồng quê có từ xa.
Muốn ăn khoai sọ chấm đờng Sang đây mà ngợc Đò Lờng cùng anh
Đò Lờng bến nớc trong xanh Gạo ngon lúa tốt Bến Thành ngợc xuôi
Do có địa lý nh vậy nên Đô Lơng phát triển sản xuất men theo quốc lộ
và triền Sông Lam
2.1.1.2 Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
* Về kinh tế : Đô Lơng có địa hình tơng đối bằng phẳng, có chế độ thủy văn, nguồn nớc và nguồn nhân lực dồi dào trình độ dân trí cao, ngời dân cần
cù lao động, nhạy bén với thị trờng Với những lợi thế đó Đô Lơng đang từng bớc phấn đấu phát triển kinh tế, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Kinh tế có tốc độ tăng trởng liên tục qua các giai đoạn: 2001-2005 là 9,84%, 2006-2008 là 14,05%
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn đang chuyển dịch tích cực, đúng hớng với tỉ
lệ nông, lâm, ng nghiệp giảm còn 35,96% Thơng mại dịch vụ 2008 tang 20,20% so với 14,81% năm 2000 Ngành thơng mại dịch vụ tăng 43,04%, cơ cấu kinh tế lĩnh vực phi nông nghiệp năm 2008 đạt 64,04%
Trong những năm qua đợc sự quan tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các Sở và ban ngành cùng với sự phát huy năng động, tích cực sáng tạo của nhân dân, Đô Lơng đã đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng khai thác mọi tiềm năng, lợi thế, gắn sản xuất với thị tr-ờng, phát triển bền vững đáng ghi nhận là sản xuất nông nghiệp
Hệ thống chợ đợc nâng cấp, cải tạo, đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán của thị trờng Hoạt động thu chi ngân sách đúng tiết kiệm, phát triển mọi mặt, bảo đảm tiến độ phát huy kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững, phấn đấu đến
2011 tổng giá trị sản xuất đạt từ 6-6,5 tỷ đồng
Trang 12* Về văn hóa: Đô Lơng là vùng đất văn hóa nổi tiếng hiếu học, những tên làng nh Bạch Ngọc, Văn Khuê, Văn Lâm, Văn Tràng, Rú Bút, Hòn Nghiên, Hòn Mực từ lâu đợc nhân dân Đô Lơng hình tợng hóa thể hiện sự khát khao thích học hành đỗ đạt với triết lý học để biết, biết để làm ngời Qua bao thế hệ trở thành truyền thống hiếu học, tôn trọng ngời tài của Đô Lơng ngày nay.
Để có đợc những chiến công hiển hách nói trên bởi lẽ con ngời Đô
L-ơng năng động kiên cờng, cần cù, giàu lòng yêu nớc, trọng tình, trọng nghĩa
có tinh thần thợng võ cao xả thân vì nghĩa lớn Mỗi con ngời Đô Lơng đều giữ trong mình dòng máu lịch sử cứ chảy mãi qua năm tháng, qua các thế hệ bởi vậy mà khi về mảnh đất Đô Lơng ta còn thấy phảng phất đâu đó nền văn hóa lâu đời đợc gìn giữ và phát huy tạo nên những nét đẹp rất riêng
2.1.1.3 Vài nét về xã Bồi Sơn vùng Bạch Ngọc xa
Năm 1039 Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang về đây lựa chọn vùng Bạch
Đờng làm trung tâm hành chính, kinh tế và quân sự của tỉnh Nghệ An là vùng
đất biên viễn phía Nam nớc Đại Việt dới triều Lý
Theo sử sách tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành năm 1981 thì phủ Bạch Đờng gồm các thôn: Nhân Trung, Phúc An, Nhân Bồi, Miếu Đờng đời Ngô thuộc quyền Cửu Đức, thời Tiền Lê thuộc đất Hoan Đờng Địa danh Bạch Đờng chính thức đi vào lịch sử huyền thoại, dân ca và trở thanh một "linh địa" của xứ Nghệ
Từ năm 1044 Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang chọn mảnh đất này xây dựng thành Trung tâm hành chính, kinh tế và quân sự phía Nam nớc Đại Việt
Đến cuối thế kỷ XIX để tránh tên húy của vua Đồng Khánh Bạch Đờng đợc
đổi tên thành xã Bạch Ngọc cho đến 1953 xã Bạch Ngọc đợc chia thành 3 xã: xã Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn - sở lỵ châu Nghệ An đợc xây dựng dới núi Quả Sơn thuộc thôn Miếu Đờng nay là địa phận xã Bồi Sơn hiện còn lu giữ nhiều dấu tích và ngôi đền thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang
Trang 13Bạch Đờng nằm phía tả ngạn Sông Lam từ đầu đến cuối vùng đất theo
đờng liên thôn chạy dọc bờ sông từ thôn Miếu Đờng xuống dòng về Chợ Lờng (nay là thị trấn Đô Lơng) chỉ 4 km
Ngợc dòng lịch sử vào thời nhà Lý vị trí Bạch Đờng là miền sơn cớc, núi dăng thành lũy khá hiểm trở Bạch Đờng có lợi thế là trung tâm của châu Nghệ An đứng chân tại phủ lỵ có thể kiểm soát đợc cả vùng thủy du và đồng bằng
2.2 Khái quát về Di tích lịch sử văn hóa đền Quả Sơn
"Quả Sơn là nơi địa linh muôn đời có thể hóa thân ở đó" Nghe lời tiên bà ngời
và ngựa lên đờng về tới chân núi Quả tức vào năm 1057 Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang đã quy hoá và hiển thánh ở đó Nhân dân xứ Nghệ vô cùng thơng tiếc khi ông mất đã lập đền thờ tởng nhớ công lao của vị Tri Châu ngay dới chân núi Quả Sơn Không những vậy mà trên vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh còn
có đến trên 30 địa điểm lập đền thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang nhng đền Quả Sơn là ngôi đền chính
Vậy từ đây Đức Thánh - vị Vơng có công lao to lớn với vùng đất Bạch
Đờng đã nằm xuống dới chân núi Quả Sơn cũng từ đây ngôi đền dới chân núi Quả có tên gọi là đền Quả Sơn
2.2.1.2 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang
Theo thần phả đền Quả Sơn và nhiều t liệu lịch sử khác Lý Nhật Quàng
là con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ
Trang 14Tơng truyền thuở thiếu thời Ngài đợc Vua và Hoàng Hậu kèm cặp, ỡng dục những mong sớm trở thành rờng cột của nớc nhà Không phụ lòng mong mỏi của Vua cha và Hoàng Hậu, Lý Nhật Quang lớn lên trong niềm tự hào là một hoàng tử thông minh hiếu học, trí cao tài rộng có lòng yêu nớc th-
d-ơng dân nồng nàn
Đến năm 1039 ông đợc vua Lý Thái Tông cử vào trông coi việc tô thuế tại vùng đất Nghệ An - là vùng trọng yếu với muôn vàn khó khăn gian khổ Sau khi đợc giao trọng trách Lý Nhật Quang tìm hiểu mọi mặt từ đó đa ra đợc giải pháp tốt giúp ông hoàn thành xuất sắc công việc đợc giao và đợc nhà vua ban cho hiệu "Uy Minh Thái Tử" Do tính nghiêm cẩm, liêm trực không tơ hào một chút của dân nên ông đợc nhân dân Hoan Châu mến mộ
Tháng 10 năm Tân Tỵ (1041) ông đợc vua Lý Thái Tông xuống chiếu
cử làm Tri Châu Nghệ An với hiệu là Uy Minh Hầu Lý Nhật Quang với trọng trách đứng đầu vùng đất Hoan - Diễn Lý Nhật Quang thể hiện đợc tài năng của mình trên mọi lĩnh vực ông đã mở mang xây dựng đợc nhiều đồn trại quân binh, tích lũy đợc nhiều lơng thực, vũ khí làm nên nhiều chiến tích Từ những chiến thắng đó sau ngày thắng trận Lý Thái Tông về tại Hành Doanh - Nghệ
An cho mời Uy Minh Hầu Lý Nhật Quang đến để động viên, khen ngợi và trao quyền cao nhất cho ông "quyền tiết việt" (toàn quyền hành xứ Phơng Nam), tớc cao nhất "Tớc Vơng" trong vị thứ các Tớc thứ tự có Vơng, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam Cột mốc 1041 nay đợc Nghệ An làm ngày thành lập tỉnh cho ta thấy đợc vai trò và ảnh hởng của sự nghiệp phục hng của Ngài đối với vùng đất Hoan Châu là rất lớn
Lý Nhật Quang trị nhậm Nghệ An trong bối cảnh triều đình nhà Lý cha bình ổn cả việc nội trị lẫn ngoại giao Nội bộ nhà Lý xảy ra nhiều cuộc đấu đá tranh dành quyền lực giữa các Hoàng Tử, nhiều vùng đất Phiên trấn còn cha chịu thần phục triều đình, nhiều cuộc phản loạn nổi lên đây đó Trớc khi Lý Nhật Quang làm Tri Châu Nghệ An đã xảy ra ba cuộc phản loạn vào các năm : 1012,1016,1031 Phía ngoài biên giới thì Chiêm Thành, phía Nam đã liên minh với nhà Tống, phía Bắc thỉnh thoảng bị quân vào cớp phá
Trang 15Sử sách còn ghi lại Ngô Nhật Khánh phò mã của Ngô Vơng Quyền là một trong mời hai sứ quân xây dựng căn cứ địa ở Đờng Lâm nổi lên tranh dành với Đinh Bộ Lĩnh Sau khi thất bại Nhật Khánh bí mật bắt tay với Chiêm Thành hòng mợn thế lực ngoại bang để tranh đoạt quyền lực, mặc dù Đinh Bộ Lĩnh đã có nhiều biện pháp mềm dẻo nhng Nhật Khánh vẫn không chịu thần phục.
Trong lúc trị nhậm Nghệ An Lý Nhật Quang đã trổ tài kinh bang tế thế dùng uy để chế ngự, dùng ân để vỗ yên, dùng chính sách khoan giản và an lạc
"chính quyền thì khoan dung giản dị gần gũi với dân", sửa đổi và minh bạch các chính sách tô thuế lấy việc dân đợc ấm no yên vui, hạnh phúc làm gốc của việc cai trị
Để phát triển kinh tế Ngài cho dùng chiêu dụ dân lu tán từ vùng đất khác về khai khẩn đất hoang Vơng còn cho tiếp nhận tù binh Chiêm Thành lập nhiều ấp mới tại Tơng Dơng, Con Cuông để họ đợc sinh sống bình thờng Qua đây chúng ta cũng thấy đợc lòng bao dung độ lợng và sự uyên thâm trong "thuật đắc nhân tâm" của Lý Nhật Quang
Dới thời Lý Nhật Quang cai trị Nghệ An đã thu về 5 Châu, 52 Trại, 56 Sách, Lý Nhật Quang còn tiến hành hành loạt những biện pháp khuyến nông nh: Dạy cho dân nghề trồng dâu nuôi tằm, ơm tơ dệt lụa, mở rộng chăn nuôi nghề thủ công cho xây dựng nhiều công trình giao thông thủy lợi thuận tiện cho việc lu thông buôn bán của vùng, cùng với việc phát triển ngành nghề liên quan tới an ninh quốc phòng
Sự sôi động của các hoạt động kinh tế, văn hóa tại Nghệ An thời đó đợc
cụ thể hóa nh:
"Đô Lơng dệt gấm thêu hoa Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời"
Hay Tiên Hồ Tiên Xá bứt lá nung vôi“
Phú Minh nấu rợu, Quỳnh Côi đan bồ"
Qua vài dòng thơ tiêu biểu cũng phần nào lột tả đợc không khí sôi nổi
và sự miệt mài lao động sản xuất của ngời dân Nghệ An lúc bấy giờ
Ngoài kinh tế văn hóa ra Lý Nhật Quang còn chăm lo tới quân sự, an ninh quốc phòng Ngài cho xây dựng đội quân Nghiêm Thắng lúc cần thì
Trang 16tham gia chiến đấu bảo vệ bờ cõi, căn cứ Thuỷ Quan ở Lạch Cờn có vai trò ngăn chặn sự xâm lẫn của đội quân Chiêm Thành cùng với nhiều đội quân tại chỗ đủ để xây dựng Nghệ An thành "Thành đồng vách sắt".
Cùng với bớc ngoặt trong đờng lối chính trị văn hóa kinh tế an ninh quốc phòng tại Nghệ An Lý Nhật Quang đã cảm hóa và thu phục đợc mọi tầng lớp nhân dân đã biến vùng đất đợc coi là phức tạp về dân c hiểm trở về
địa hình, địa mạo trở nên hậu thuẫn, thống nhất trù phú về kinh tế lòng dân hoan lạc yên vui nhất là Nghệ An đã trở thành căn cứ then chốt, một pháo đài kiên cố cả về quân sự lẫn kinh tế là chỗ dựa cho các triều đại về sau
Suốt 16 năm trị nhậm Nghệ An quân Chiêm Thành không những không gây hấn mà còn sang triều cống đều đặn Khi Lý Nhật Quang qua đời vua Chiêm cho lập đền thờ ở núi Tam Tòa, của biển Thị Nại, Bình Định Phải nói
là Lý Nhật Quang có khả năng thuần hóa giặc hết sức tài ba
Đờng lối chính trị dựa vào lòng dân, khoan cho dân hớng dân vào con
đờng làm ăn lơng thiện, đề ra biện pháp có lợi cho dân, quan tâm chia sẻ lợi ích của dân đó là cơ sở để Lý Nhật Quang đi vào lòng ngời dân xứ Nghệ - những con ngời nổi tiếng ơng ngợc ít chịu thần phục ai ví nh:
"Thơng dân dân lập đền thờ Hại dân dân đái sụp mồ thấu xơng"
Tơng truyền câu này xuất hiện ở Nghệ An sau khi Lý Nhật Quang mất Câu ca vừa bày tỏ đợc lòng biết ơn của ngời dân xứ Nghệ vừa răn đe các thế lực ác bá cờng hào Đồng thời cũng là sự sòng phẳng đến cực đoan của con ngời xứ Nghệ
"Đợc làm vua, thua làm giặc"
"Đã thơng thì thơng cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn".
Với tài năng thiên phú và đức tính đáng quý Lý Nhật Quang cả khi còn sống cho đến khi đã mất đều chiếm giữ đợc trong lòng ngời một vị trí cao nhất của sự tôn kính, lòng biết ơn đó là những vẻ vang để đời khiến cho ngời dân
Đô Lơng - Nghệ An và cả dân tộc mãi mãi khắc ghi công ơn trời biển của vị
"Phúc Thần Cải Châu Trung Trực Liêm Khiết" này
2.2.1.3 Truyền thuyết gắn với đền Quả Sơn
Trang 172.2.1.3.1 Chùa Bà Bụt (Tiên Tích Tự)
Năm 1057 Lý Nhật Quang đi đánh giặc Lão Qua bị trọng thơng về đến Bạch Đờng thôn Thợng Thọ nay là (xã Lam Sơn) có bà tiên ở Tiên Tích Tự hóa thân cô hàng nớc báo với Ngài rằng "Quả Sơn là nơi địa linh muôn đời có thể hóa thân ở xứ ấy" Nghe lời tiên bà Ngài đến núi Quả Sơn thì quy hóa và hiển thánh ở đó quan quân và dân bèn xây dựng phần mộ và lập đền thờ ở chân núi Quả Sơn
Sau khi Lý Nhật Quang chết quán nớc ven đờng chỉ còn lại là một miếng đất bỏ không Quán và chủ không còn nữa
Tơng truyền Phật bà Quan Âm ở chùa Bà Bụt luôn linh ứng và phù giúp cho Lý Nhật Quang gặp nhiều thuận lợi may mắn Trong quá trình chinh phạt Chiêm Thành phật bà Quan Âm cũng đã phù giúp cho ông đánh giặc đợc thắng lợi Từ đó hàng năm có tục lễ nghinh xuân vào ngày 20 tháng giêng rớc
di tợng Lý Nhật Quang từ đền Quả Sơn về chùa Bà Bụt để lễ tạ long trọng
Lễ tạ ơn là phần lễ lớn gồm các chức sắc, nhân dân và du khách thập phơng về dự Lễ tạ tại chùa diễn ra hai năm một lần, lễ tạ mang nét đặc trng riêng vốn có từ lâu đời là hoạt động vô cùng ý nghĩa đồng thời là dịp ôn lại truyền thống hào hùng của các bậc tiền nhân của nhân dân
Chùa Bà Bụt nằm trên một vùng địa linh tơi tốt, cao ráo đẹp đẽ, trớc mặt
là dòng sông lam thơ mộng, sau lng là núi tạo thế vững chắc nh một bức tờng thành che chắn Đây là vùng đất xa kia Lý Nhật Quang chọn làm lỵ sở trong thời gian ông làm Tri Châu có mộ ngôi chùa linh thiêng tồn tại với thời gian tên chùa là Tiên Tích Tự nhân dân quen gọi là chùa Bà Bụt Chùa năm ở thôn Thợng Thọ nay là xã Bạch Ngọc huyện Đô Lơng phủ Anh Sơn này là xã Lam Sơn - Đô Lơng
2.2.1.3.2 Đền Quả Sơn với ngàn năm tâm linh
Lúc sinh thời Lý Nhật Quang đã là ngời thông minh hiếu học, trí cao tài rộng có lòng yêu nớc thơng dân nồng nàn Lúc về trấn trị miền Nam Đại việt trở thành "Đại phúc thần cải châu trung trực liêm khiết" Với bao chiến công lừng lẫy biến vùng đất phức tạp thành căn cứ địa then chốt hậu thuẫn Cho đến khi nằm xuống Lý Nhật Quang là một niềm tiếc thơng không chỉ với nhân dân Nghệ An dới triều Lý mà cả các triều đại về sau