Chữ “kìa” như là tiếng reo gợi sự ngạc nhiên, hào hứng trước cái lạ của xứ lạ: trang phục lạ “xiêm áo”, vũ điệu lạ “man điệu”, cách giao tiếp “e ấp” - Cái nồng ấm và tình tứ của các cô g
Trang 1TUYấN NGễN ĐỘC LẬP
(Hồ Chớ Minh)
I.Hoàn cảnh sỏng tỏc:
- Hoàn cảnh lớn:
HCM viết bản tuyờn ngụn khi đế quốc, thực dõn đang chuẩn bị chiếm lại nước ta:
+ Dưới danh nghĩa quõn đồng minh vào giải giỏp quõn đội Nhật, Quõn đội Quốc dõn Đảng TQ tiến vào phớaBắc
+ Quõn Anh tiến vào phớa Nam
+ Thực dõn Phỏp theo chõn đồng minh tuyờn bố “ Đụng Dương thuộc quyền bảo hộ của Phỏp”
- Hoàn cảnh cụ thể:
Ngày 19 - 8 - 1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 - 8 - 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu trở
về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang - Hà Nội Ngời đã soạn bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 -9
- 1945, tại quảng trờng Ba Đình -Hà Nội , Ngời thay mặt chính phủ lâm thời của Nớc Việt Nam dân chủcộng hòa trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trớc đồng bào cả nớc và thế giới
II.Đối tượng và mục đớch:
+ Đối tượng: nhõn dõn VN, nhõn dõn Thế giới và bọn đế quốc Anh, Phỏp, Mỹ.
+ Mục đớch :
- Tuyờn bố và khẳng định quyền độc lập , tự do của dõn tộc VN
- Bỏc bỏ luận điệu của bọn xõm lược trước dư luận TG
- Đồng thời khẳng định ý chớ bảo vệ độc lập dõn tộc
III Cõu hỏi và đề văn:
1 Vỡ sao HCM lại chọn trớch dẫn 2 bản tuyờn ngụn của Phỏp và Mỹ để mở đầu cho bản tuyờn ngụn của mỡnh? ( “Tất cả mọi người đều sinh ra cú quyền bỡnh đẳng Tạo húa cho họ những quyền khụng ai cú
thể xõm phạm được; trong những quyến ấy, cú quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnhphỳc”- MĨ và “Người ta sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi và phải luụn được tự do và bỡnh đẳng vềquyền lợi”- PHÁP)
- Trớch dẫn từ 2 bản tuyờn ngụn của Mĩ ( 1776) và Phỏp (1791) để Làm cơ sở phỏp lớ cho bản tuyờn ngụn.
a TNĐL là một văn kiện lịch sử trọng đại:
+ Bản tuyên ngôn đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ,
đánh đổ chế độ quân chủ lập hiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
+ Tuyên ngôn độc lập còn đập tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp về việc khai hóa ,
bảo hộ để nhằm tái chiếm Đông Dương
+ Tuyên ngôn độc lập vừa giải quyết được nhiệm vụ độc lập dân tộc, lại vừa giải quyết được nhiệm vụ dân
chủ cho nhân dân (Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hoà), tức
là bên cạnh chữ Độc lập lại có thêm chữ Tự do, mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước: kỉ nguyên độc lập,
tự do Đó là tư tưởng lớn , chân lí của thời đại mà sau này Bác đã đúc kết trong câu nói nổi tiếng : “Không
có gì quí hơn Độc lập, Tự do”
+ Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh và là kết quả của
bao nhiêu hi vọng của nhõn dõn VN
Trang 2b TNĐL là áng văn chính luận mẫu mực thể hiện ở: lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, ngôn ngữ hùng hồn
vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thù, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch vừabộc lộ tình cảm yêu nước thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc
* Trước hết, HCM xây dựng cơ sở pháp lí của chủ quyền dân tộc VN Cơ sở ấy là hai bản bản tuyên ngôn
của Pháp, Mĩ được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi (phần trích ở câu 1).Từ những nguyên tắc ấy, HCM suyrộng ra “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sungsướng và quyền tự do” và khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” àĐiều này có ý nghĩa vôcùng to lớn bởi Người đã:
- Đề cao truyền thống bình đẳng , tiến bộ của nhân dân Mĩ và Pháp nhằm ngăn chặn âm mưu của bọn xâmlược àDùng chiến thuật “ gậy ông đập lưng ông”
- Đặt 3 cuộc CM của nhân loại ngang bằng nhau, CM VN cùng lúc thể hiện 2 nhiệm vụ của 2cuộc CM Pháp,
Mỹ àCM VN trở thành một bộ phận của CM thế giới
- Từ 2 bản tuyên ngôn này, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc đều có quyền hưởng tự do, độc lập” à thúcđẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
*Tiếp đến, HCM đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc VN:
Thực dân Pháp đã chiếm nước ta trên 80 năm và hiện đang lăm le tái chiếm Để dọn đường cho cuộc xâmlược mới, chung chuẩn bị dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở VN nói riêng, ở Đông Dương nói chung Bởivậy, để khẳng định chủ quỳên của dân tộc, Người đã phủ nhận quyền của chúng đối với VN, bằng cách chứngminh ngược lại những lời rêu rao của chúng:
- Chúng kể công khai hóa, bản TN vạch trần những hành động tội ác “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”
+ Về chính trị, chúng: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ của ta; chia rẽ ba kì; tắm máu các phong trào yêu
nước và cách mạng; thi hành chính sách ngu dân; đầu độc dân ta bằng thuốc phiện, rượu cồn
+ Về kinh tế, chúng: bóc lột và vơ vét đến tận xương tủy; cướp không ruộng đất, hầm mỏ, giữ độc quyền in
giấy bạc ; đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí
- Chúng kể công “bảo hộ”, bản TN kể tội trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật (mùa thu
năm 1940, Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật; ngày 9.3.1945, Nhật tước khí giới của quânđội Pháp, bọn chúng hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng )
kết quả là: gây ra nạn đói khủng khiếp làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói
- Chúng tuyên bố Đông Dương trong đó có VN là thuộc địa và đòi lại, bản TN vạch rõ: ĐD và VN trở thành thuộc địa của Nhật từ năm 1940 và nhân dân ta đã giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải
từ tay Pháp.
- HCM khẳng định dân tộc VN có quyền trên đất nước của mình:
+ Nếu P phản bội đồng minh, hai lần bán rẻ ĐD cho Nhật thì VN đã đứng lên chống Nhật giành chủ quyền.+ Nếu P đê hèn, tàn bạo,và phản động ở hành động “thẳng tay khủng bố Việt Minh, giết nốt số tù chính trị ởYên Bái, Cao Bằng thì ta khoan hồng, nhân đạo
à Từ những cơ sở pháp lí và thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, HCM đi đến tuyên bố độc lập Lời tuyên bố gồm:
- Thoát li hẳn quan hệ thực dân với P, xóa bỏ hết những hiệp ước mà P đã kí về VN, xóa bỏ mọi đặc quyềncủa P trên đất nước VN
- Kêu gọi toàn dân đoàn kết một lòng chống lại âm mưu của P Khẳng định ý chí, quyết tâm mạnh mẽ củatoàn dân tộc (toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữvững quyền tự do dộc lập ấy)
- Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền tự do, độc lập của dân tộc VN
“NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU-NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC”
(Phạm Văn Đồng)
Trang 31 Hồn cảnh sáng tác:
- Được viết nhân dịp ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu ( 3/7) , được in trên tạp chí văn học số 7/1963
- Viết vào thời điểm đất nước đang xảy ra những sự kiện quan trọng, đặc biệt trên quê hương Nguyễn Đình Chiểu
2 Mục đích sáng tác:
+ Kỉ niệm ngày mất của NĐC , nhà văn tiêu biểu , người chiến sĩ yêu nước trên mặt trận văn hĩa và tư tưởng
+ Định hướng và đìêu chỉnh cách nhìn và chiếm lĩnh tác phẩm của NĐC
+ Thể hiện mối quan hệ giữa văn học và đời sống
+ Khơi dậy tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc
- Người ta chỉ biết NĐC là tác giả của ”Lục Vận Tiên” nhưng lại hiểu ”LVT” khá thiên lệch
- Ít người biết đến thơ văn yêu nước của NĐC , một khúc ca hùng tráng về phong trào yêu nước của nhândân Nam Bộ
THƠNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHỊNG CHỐNG AIDS, 1-12-2003
(CƠ PHI AN NAN)
I Xuất xứ:
Văn bản là thơng điệp của Tổng thư kí Liên hợp quốc Cơ- phi An- nan gửi nhân dân thế giới nhân ngày thế giới phịng chống AIDS, 1-12-2003
II Tĩm tắt nội dung chính của bản thơng điệp:
1 Bản thơng điệp nêu lên tầm quan trọng và ý nghĩa cấp bách của việc phịng chống hiểm họa HIV /AIDS: Chống lại HIV/AIDS là trách nhiệm lớn của mỗi nhà nước và mỗi người.
Tác giả cho rằng đĩ là vấn đề rất cần phải đặt lên “vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị vàhành động thực tế của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân là vì HIV/AIDS là một mối hiểu nguy lớn, một đại dịch đang hồnh hành đe dọa tồn nhân loại chúng ta”
2 Phần điểm tình hình đã qua tuy viết khơng dài nhưng tác giả nhìn chung vẫn đảm bảo được yêu cầu tồn diện tổng hợp và bao quát Ơng nêu đầy đủ cả mặt đã làm được và mặt cịn chưa làm tốt tại nhiều
khu vực khác nhau, với những hành động khơng chỉ của những quốc gia mà cịn của cả những tổ chức, cơng ty
và cả các nhĩm từ thiện và cộng đồng Phần điểm tình hình đĩ đã thể hiện một tầm nhìn rộng lớn của một con
Trang 4người trong cương vị lãnh đạo đứng đầu một tổ chức quốc tế lớn nhất, người đang đảm đương trọng trách tổng thư ký liên hợp quốc.
Toàn diện, tổng hợp, bao quát nhưng không hề chung chung trừu tượng, văn kiện còn có không ít những số liệu cụ thể đi kèm với tình hình cụ thể nắm rõ cả HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở giới nào và đang lan rộng nhanh nhất ở khu vực nào hay căn cứ vào đây để lo ngại “chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005”
Điều này đủ để cho thấy tác giả là một quan chức rất quan tâm trước tình hình cụ thể của cuộc chiến chống AIDS đã và đang diễn ra trên toàn cầu Ông cũng là người có đầu óc phân tích, nhận xét thấu đáo và đặc biệt là
có cách thể hiện dễ gây ấn tượng đối với người đọc, người nghe
Chẳng hạn, thay vì nêu tổng số người bị nhiễm HIV trong một năm thì C.An-nan đã dùng cách nói gây ấn tượng mãnh liệt và tức thời đối với tâm trí mỗi người: “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi,
có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”
Những lời tổng kết tình hình vừa nói có trọng tâm dồn cả sức năng vào luận điểm: “Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế”
Người đọc, người nghe dường như đã nhận ra được cảm xúc chân thành của tác giả ở đoạn nói về dịch HIV/AIDS “có rất ít dấu hiệu suy giảm, do chúng ta “chưa hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay” (2003)
3 Sau khi giúp người đọc nắm vững tình hình, bản thông điệp nêu rõ nhiệm vụ của mỗi người Phần
nêu tình hình gắn bó chặt chẽ với phần xác định nhiệm vụ cũng là phần chủ yếu mục đích, của thông điệp này Câu cuối của phần trước: “Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005 Còn đây là câu đầu của phần sau
Rõ ràng, Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hànhđộng cần thiết”
Nhưng bản thông điệp không chỉ dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung như thế: “Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa” Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo các thao tác so sánh và bác bỏ để nhấn mạnh là chúng takhông chỉ vì mục tiêu của cuộc cạnh tranh mà được phép quên cái thảm họa đang ngày một nhanh chóng cướp
đi cái đáng quý nhất là mạng sống và tuổi thọ của con người Ông còn tạo ra mối tương quan giữa một phía là
sự thờ ơ trước đại dịch HIV/AIDS và một phía là cái chết để cho quá đông cho thấy sự lên tiếng chống lại HIV/AIDS,với nhân loại vấn đề có ý nghĩa sinh tử, tồn vong”, sống hay không sống”
Cho đến khi kết thúc thông điệp C.An-nan vẫn còn nhắc nhở chúng ta không được quên nghĩa vụ khẩn cấp ấy: “Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính bạn
Đặc biệt là C.An-nan còn gắn nỗ lực chống HIV/AIDS với việc dỡ bỏ đi thái độ kì thị, phân biệt đối xử với những ai không may mắn mắc phải chứng bệnh thế kỉ này Ông nêu lên một luận điểm hơi bất ngờ đối với nhiềungười “Chúng ta còn bị chậm hơn nữa nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người
bị HIV/AIDS Sau đó ông lại gộp chung sự im lặng cùng với sự chia rẽ và phân biệt đối xử vào chung “cái thành lũy” đang vây quanh bệnh dịch này, cái thành lũy mà ông kêu gọi, hô hào mọi người trên thế giới hãy sát cánh cùng ông chung tay giật đổ
4 Trong bản thông điệp này phần có giá trị hơn cả là phần cuối bài Ở phần này, tác giả sử dụng những
câu văn ngắn gọn với một cảm xúc kìm nén, không lớn tiếng khoa trương mà có một vẻ đẹp cô đúc, sâu sắc Theo hướng lời ít ý nhiều đó, có câu văn như một quy luật gọn ghẽ mà độc đáo bất ngờ: “Trong thế giới đó,
im lặng đồng nghĩa với cái chết” Cũng có câu cô đọng mà tạo hình ảnh gợi cảm xúc: “Hãy cùng tôi giật đổ các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử trong vây quanh bệnh dịch này” Lại còn có câu vừa gọn ghẽđộc đáo vừa dễ hình dung và gợi cảm: “Hãy dừng lại để một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ đượcchính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ” Trong thế giới AIDS khắc nghiệt này không có khái niệm chúng ta và họ
Trang 5III “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ Trong thế giới đó, im
lặng đồng nghĩa với cái chết” Viết một văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên.
Gợi ý:
1 MB:
- Nêu vắn tắt sự lan tràn với tốc độ khủng khiếp của đại dịch AIDS trên phạm vi toàn thế giới Chỉ rõ một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thức trạng này là thái độ bang quan, xa lánh của cộng đồng đối với những người bị nhiễm bệnh
- Nêu ý kiến của Cô- phi An- nan
2 TB:
a Giải thích tư tưởng nêu trong lời thông điệp:
* “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ.”
- Tác giả gọi đó là “thế giới khốc liệt”:
+ Bởi theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, cứ mỗi phút trôi qua có khoảng 10 người bị nhiễm HIV Bệnhđang lây lan ở những khu vực mà trước đây vẫn còn an toàn, nhất là ở Châu Á Đáng báo động là đối với phụ nữ bởi phụ nữ chiếm tới 50 % số người nhiễm bệnh
+ Còn theo thống kê của Bộ y tế VN, trên đất nước ta cứ 15phút trôi qua lại có thêm một người mắc bệnh, như vậy sau mỗi ngày, ta lại có thêm 96 người nhiễm HIV, mỗi tuần là 672 người, mỗi tháng là 2920 người
và sau mỗi năm là 35.040 người, bằng dân số của một huyện!
+ Bởi bệnh không từ một ai, từ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đến cả những thai nhi còn nằm trong bụng mẹ! Từ giới thượng lưu, trí thức, dân lao động đến bọn trộm cắp, giang hồ….Nói tóm lại, ai cũng có nguy cơ mắc căn bệnh chết người này nếu không có hiểu biết về nó và không biết cách tự bảo vệ mình
- Nhưng tại sao lại “không có khái niêm chúng ta và họ”?
Cách nói “chúng ta và họ” thể hiện cái nhìn và cách ứng xử phân biệt, kì thị với những người bị lây nhiễm HIV/AIDS “chúng ta”- những người chưa bị lây nhiễm HIV/ AIDS, “họ”- những nạn nhân của căn bệnh này Nó thể hiện sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS Chính vì thế, con người dễ ảo tưởng, luôn nghĩ rằng mình được bảo vệ an toàn Nếu cứ giữ cách nhìn ấy, quan niệm ấy, cách ứng xử ấy trong cuộc đấu tranh chống lạiAIDS thì rất nguy hiểm ( Nêu dẫn chứng cụ thể) Bởi “Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”
* “Im lặng” là gì? Và tại sao “im lặng đồng nghĩa với cái chết”?
Phải chăng im lặng chính là sự kì thị, xa lánh của người khỏe mạnh với người nhiễm bệnh? Từ đó đẩy họ vào tình thế cô lập, mặc cảm, tự ti, thậm chí có thái độ hận đời, giấu giếm bệnh của mình và đi “trả thù đời”
Và như thế, HIV/AIDS ngày càng lây lan nhanh hơn, cái chết sẽ có thể đến với bất kì ai…
b Bàn luận, mở rộng vấn đề:
Tư tưởng mà Cô-phi An- nan nêu lên trong thông điệp trên hoàn toàn chính xác Tác giả không ngần ngại nêu ra một thực tế đáng báo động về căn bệnh thế kỉ mà còn chỉ rõ sự lệch lạc, thiếu hiểu biết của con người, đồng thời phê phán thái độ kì thị, phân biệt đối xử với những nạn nhân của căn bệnh
- Khẳng định sự đúng đắn và sâu sắc trong lời kêu gọi đầy tâm huyết của Tổng thư kí liên hiệp quốc
- Mỗi chúng ta cần phải sống lành mạnh, tự bảo vệ mình, cần phải tích cực góp phần vào việc thay đổi thái
độ đối với những người nhiễm AIDS Bởi vì, đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với mục đích đẩy lùi đại dịch này!
IV Viết bài văn trình bày những hiểu biết của anh, chị về căn bệnh HIV/AIDS và kêu gọi làm
những việc cụ thể để góp phần phòng chống căn bệnh này?
Gợi ý:
Trang 6– HIV là virut gây suy giảm miễn dịch ở người, chúng có khả năng gây nhiễm và phá hủy một số tế bào của hệthống miễn dịch, sự giảm số lượng các tế bào này làm mất khả năng miễn dịch của cơ thể.
– Có 3 con đường lây truyền HIV phổ biến:
+ Qua đường máu: truyền máu, tiêm chích, xăm mình, ghép tạng
+ Qua đường tình dục không an toàn
+ Mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền qua thai nhi và truyền cho con qua sữa mẹ
– Các giai đoạn phát triển của bệnh HIV/AIDS:
+ Giai đoạn sơ nhiễm hay giai đoạn “cửa sổ”: kéo dài 2 tuần đến 3 tháng Triệu chứng bệnh thường không biểuhiện hoặc biểu hiện nhẹ
+ Giai đoạn không triệu chứng: kéo dài 1 - 10 năm Lúc này số lượng tế bào giảm dần
+ Giai đoạn biểu hiện triệu chứng AIDS: Các bệnh cơ hội xuất hiện: tiêu chảy, viêm da, sưng hạch, lao, ung thưKapôsi, mất trí, sốt kéo dài, sút cân cuối cùng dẫn đến cái chết
– Hiện nay chưa có vacxin phòng HIV hữu hiệu, các thuốc hiện có chỉ có thể làm chậm tiến trình dẫn đến bệnhAIDS Do vậy, thực hiện lối sống lành mạnh, vệ sinh y tế, loại trừ tệ nạn xã hội là biện pháp tốt nhất để phòngHIV/AIDS
TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
“Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành “Tây Tiến”
II Xuất xứ: “Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng, thể hiện rõ phong cách nghệ thụât của nhà lãng mạn, tinh tế, phóng khoáng và tài hoa
thơ-III Đề văn và gợi ý:
1.Đề 1 Phân tích hình ảnh thiên nhiên miền Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến trong hoài niệm của tác giả qua đoạn thơ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
………
Trang 7Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Gợi ý:
1 MB: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
2 TB:
14 câu đầu bài thơ là nỗi nhớ đầy xúc động, bao trùm cả không gian, thời gian Nỗi nhớ dường như nén
chặt bỗng trào dâng, khiến kỉ niệm xôn xao hiện về:
a Hai câu mở đầu :
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- nỗi nhớ đơn vị cũ được cát lên thành lời, thành tiếng gọi vừa xao xuyến, bồi hồi vừa xen lẫn tiếc nuối:+ Sông Mã khơi nguồn cho nỗi nhớ vì đó là con sông từng chứng kiến vui buồn của người lính TT…
+ “Tây Tiến ơi” ba từ đơn giản nhưng thật tha thiết nghe như tiếng gọi nguời thương…ẩn chứa niềm bângkhuâng, thương nhớ
- Nỗi nhớ được nhân lên với nghệ thuật sử dụng điệp từ “nhớ”: “nhớ về… nhớ chơi vơi”
+ “nhớ về” gợi liên tưởng thời gian
+ “rừng núi” biểu tượng không gian
+ “Nhớ chơi vơi”- cách dùng từ độc đáo, như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, rừng dày, vực thẳm
+Từ cảm “ơi” vần với từ láy “chơi vơi”, tạo âm hưởng mênh mang, da diết.
b 12 câu tiếp theo : Nhớ con đường hành quân của người lính qua núi rừng Tây Bắc:
* Điều kiện thời tiết khắc nghiệt: “Sài Khao… đêm hơi “
- Những hình ảnh :“sương lấp”, “đoàn quân mỏi”, “đêm hơi”+ liệt kê những địa danh lạ “Sài Khao”, “Mường Lát”…, gợi lên sự khắc nghiệt của thời tiết, vẽ nên con đường hành quân cụ thể mà rộng khắp Nhưng trong
“sương lấp”, “đêm hơi” đoàn hùng binh vẫn dũng cảm vượt qua những nẻo đường chiến đấu
* Địa hình hiểm trở, dữ dội: “Dốc lên…….xa khơi”
- Những từ láy: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút + những hình ảnh đối lập: “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
àNhững câu thơ giàu chất tạo hình vẽ ra cái thế gập ghềnh, cheo leo của dốc núi như thử thách ý chí can
trường của người lính Nhưng các anh vẫn phơi phới, lạc quan, yêu đời, vẫn hồn nhiên, tinh nghịch trong tư thế
“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”.
-Sự phối thanh, ngắt nhịp lịnh hoạt đã tạo nên âm điệu lạ:
+Những thanh trắc: nghe nhọc nhằn, vất vả, giống như con đường hành quân gian khổ mà người lính phải trải qua
+Những câu thơ phân nhịp bẻ đội, như hoạ lại con đường hành quân gian khổ ở độ cao, độ sâu chóng mặt
+Những thanh bằng: nghe êm ái, nhẹ nhàng, như tâm hồn lâng lâng của người lính khi đã chiếm lĩnh được những
độ cao tuyệt đối
* Thiên nhiên hoang dại, dữ dội chứa đầy bí mật:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét…
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
- Những âm thanh ghê rợn: tiếng thác “gầm thét”, tiếng cọp “ trêu người” + những từ láy đối ứng nhau “chiều chiều”, “đêm đêm”, gợi tả cái bí mật quyền uy ghê gớm của rừng thiêng, nước độc Nơi đây cái chết luôn rình rập, đe doạ mạng sống con người
* Nhưng thiên nhiên vùng Tây Bắc cũng mang nét thơ mộng, lãng mạn của đại ngàn:
“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Hay “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi’
* Trên chặng đường hành quân gian khổ, có những người lính đã hy sinh :
“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa”
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.
Trang 8- Âm điệu câu thơ trĩu xuống như một tiếng khóc thầm Trong gian khổ, dãi dầu, có đồng đội đã không bước nữa, vĩnh biệt đoàn binh, nằm lại nơi chân đèo góc núi.
- Những từ: “không bước nữa”, “Gục lên súng mũ” & “bỏ quên đời” được dùng thay thế cho cái chết nhằm
giảm đi nỗi đau đớn nhưng người đọc vẫn cảm nhận rất sâu sắc nỗi xót xa thương tiếc đồng đội như trào lên trong lòng nhà thơ
- Nhưng đây là những câu thơ được viết với cảm hứng bi tráng, nhằm ca ngợi cái chết đẹp của người chiến sĩ
Tây Tiến vốn xuất thân từ những trí thức tiểu tư sản
c.Hai câu cuối đoạn :
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Diễn tả những kỉ niệm ấm áp tình quân dân.Câu thơ chứa đựng hình ảnh đẹp, hương vị ngọt ngào, giọng điệu
êm nhẹ như xua tan không khí mệt mỏi, lạnh lẽo, chết chóc & tạo ra cảm giác êm ái, dễ chịu, ấm cả lòng người
.3 KB:
2.Đề 2: Cảm nhận của anh, chị về thiên nhiên miền Tây Bắc và tình quân dân qua đoạn thơ:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa.
a Bức tranh thứ nhất mở ra bằng đêm liên hoan lửa trại biên giới:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
- Những động từ mạnh: “bừng lên, khèn lên, về, xây” diễn tả buổi liên hoan tưng bừng, sôi động trong ánh lửa bập bùng, trong âm thanh rộn ràng cùng những màu sắc sặc sỡ của áo xiêm
- Dùng hô ngữ “kìa em” như cô gái trong thực tại chứ không phải trong hoài niệm Cái sống động của kí ức có tác dụng thực tại hóa, kéo quá khứ về thực tại Chữ “kìa” như là tiếng reo gợi sự ngạc nhiên, hào hứng trước cái
lạ của xứ lạ: trang phục lạ “xiêm áo”, vũ điệu lạ “man điệu”, cách giao tiếp “e ấp”
- Cái nồng ấm và tình tứ của các cô gái đã biến các chàng trai, những người lính Tây Tiến thành thi sĩ “xây hồn thơ”
àĐó là sức sống của một dân tộc, tình cảm và xúc cảm của những người lính lâu nay bị những cuộc hành quân gian khổ kìm hãm nay như được hồi sinh trước vẻ đẹp của cuộc sống
- Nghệ thuật chơi chữ “hội đuốc hoa” được sử dụng khéo léo, gợi nhiều ý nghĩa:
+ Nghĩa thực là đốt đuốc để thắp sáng trong đêm lửa trại
+ Nghĩa hàm ẩn: mĩ lệ hóa hình ảnh này, gợi nghi thức trong hôn lễ Cử chỉ “e ấp” vừa gợi thái độ thẹn thùng, e
lệ của cô gái miền sơn cước vừa gợi thái độ của cô dâu mới
+Nét nhạc chơi vơi cùng vũ điệu Lăm vông của các cô gái Lào làm say đắm các chàng trai Hà Nội
à Đoạn thơ có giọng điệu hiền hòa êm ái phù hợp với không khí ấm áp của bản làng và tình quân dân thắm thiết
b Bức tranh thứ hai diễn tả vẻ đẹp của con người và cảnh vật Tây Bắc trong cảnh hoàng hôn sông nước Châu Mộc:
“Ngươì đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
- Bao trùm khổ thơ là vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên:
Trang 9+ Cảnh vật như có linh hồn phảng phát trong gió, trong cây “hồn lau nẻo bến bờ” hài hòa với tâm hồn đa cảm của những người chiến binh.
+ Dáng người lái thuyền với tay chèo uyển chuyển “dáng người trên độc mộc” hài hòa với dáng “hoa đong đưa”
- Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc: ba chữ “chiều sương ấy” gói trọn cả thời gian, không gian và ấn tượng khó quên đối với cảnh vật và con người Tây Bắc
- Điệp từ “có thấy, có nhớ” nhấn mạnh và khẳng định tình cảm tác giả
àNgòi bút tài hoa, lãng mạn của nhà thơ đã làm tiêu tan vẻ dữ dội của “dòng nước lũ”, tạo ra chất thơ cho cảnhvật
3 Đề 3: Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thụât khắc họa chân dung người lính Tây Tiến.
vẻ đẹp bi tráng- thần thái chung của bức tượng đài
- Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến ánh lên vẻ đẹp phi thường, khác lạ:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
+ Ngoại hình: “ không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”àđầu trọc, da xanh vì gian khổ, thiếu thốn, vì bệnh sốt rét
hoành hành Nhưng tư thế khi xung trận thì “dữ oai hùm”, “mắt trừng”giận dữ khiến quân thù khiếp đảm
Ba nét vẽ chính xác, dựng lên bức chân dung về người lính với vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt Bằng cái nhìn lãng mạn thì cái bi đã trở thành cái hùng
+ Tâm hồn:vừa bản lĩnh, can trường vừa hào hoa, lãng mạn, tình tứ Trong chiến tranh ác liệt, người lính luôn
mang trong mình khát vọng lập công cháy bỏng hướng về tiền phương với giấc mộng chiến trường “gửi mộng qua biên giới” Đồng thời họ đã sưởi ấm tâm hồn mình bằng một thoáng mơ mộng về “dáng kiều thơm”- dáng đẹp của người con gái Hà Nội thanh lịch (Nếu người lính trong thơ Chính Hữu nhớ “gian nhà không”, ruộng nương”, ‘giếng nước”, “gốc đa”; người chiến sĩ trong “Nhớ” của Hồng Nguyên thương về “…người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya” thì người lính Tây Tiến có cách nhớ thương riêng đầy chất trẻ trung, hào hoa lãng mạn Đó là nét khám phá của Quang Dũng khi vẽ chân dung anh bộ đội cụ Hồ tiểu tư sản thời chống Pháp)
+ Tính cách : gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng chấp nhận hi sinh Dù phải đối mặt thường nhật với cái chết “Rải rác
biên cương mồ viễn xứ” nhưng họ không lùi bước “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh” vì đã tâm niệm và ý thức sâu sắc về ý nghĩa của sự hy sinh “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng
- Sự mất mát, tổn thất của chiến tranh được Quang Dũng tiếp tục khai thác bằng bút pháp lãng mạn đậm màu sắc bi tráng :
“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Aó bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Cái bi thương, bi lụy được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tư tưởng lãng mạn:
+ Dùng nhiều từ Hán Việt: “đoàn binh”, “biên giới”, “biên cương”, “mồ viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc
hành”….gợi không khí trang trọng, cổ kính đồng thời giảm bớt đau thương
+ Cái bi thương bị mờ đi trước lí tưởng quên mình cho Tổ quốc “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh”, mang dáng dấp của những tráng sĩ xưa
+ Họ ra đi không có manh chiếu che thân nhưng lại được bọc trong những tấm “áo bào” sang trọng Cách nói trang trọng ấy đã giảm đi phần thê lương của cái chết
Trang 10+ Tác giả khơng dùng từ “chết”, “hi sinh”, “anh ra đi” mà lại viết “anh về đất” đầy sáng tạo Họ khơng chết mà chỉ đi tiếp con đường của tổ tiên để giữ vững sơn hà xã tắc.
+ Cái bi bị át đi trong tiếng gầm thét tiễn đưa của con sơng Mã, cái chết của người lính đã động lịng cả đất trời,sơng núi
àTrong âm hưởng vừa dữ dội vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hy sinh khơng hề bi thương mà thẫm đẫm tinh thần bi tráng
àGiọng thơ trang trọng thể hiện tình cảm đau thương và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội
3 KB:
VIỆT BẮC (trích) - Tố Hữu
I Hồn cảnh sáng tác bài thơ “Việt Bắc”
- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đơng Dương được kíkết Hồ bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phĩng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sửmới của dân tộc được mở ra
- Tháng 10/1954,những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuơi, Trung ương Đảng và Chínhphủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đơ Nhân sự kiện thời sự cĩ tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt
Bắc.
II Đề tham khảo:
Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta
…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)
- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuơi, Trung ương Đảng và Chínhphủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đơ Nhân sự kiện thời sự cĩ tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ ViệtBắc
2 Phân tích:
a Hai câu mở đầu đoạn:
“Ta về mình có nhớ ta.
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.
- Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của ca dao, dân ca Hai câu thơ này có chức năng lànhững lời đưa đẩy để nối liền các đề tài ở những câu tiếp theo Mở đầu là một lời ướm hỏi: “Ta về mình cónhớ ta” → Giọng hỏi tình tứ, với cách xưng hô mặn mà, quen thuộc: “ta – mình” Câu thơ bày tỏ sự bịn rịn,lưu luyến của người ra đi đồng thời bộc lộ sự hồn hậu của con người thơ Tố Hữu
- Nhà thơ khẳng định: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Đó là nỗi nhớ dành cho những gì đẹp nhất củaViệt Bắc “hoa và người”
Trang 11⇒ Hai câu thơ mở đầu đã giới thiệu chủ đề của đoạn thơ: hoa (thiên nhiên) và người (nhân dân) Việt Bắc.
b Tám câu thơ tiếp theo: Bộ tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc.
* Bức tranh thứ nhất (mùa đông):
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
- Việt Bắc hiện lên trong hai câu này có tính khái quát: một miền quê thật yên bình, êm ả Thiên nhiên xônxao, tràn ngập màu sắc: Màu xanh mênh mông, trầm tĩnh của rừng già, màu “đỏ tươi” của hoa chuối trảidài khắp núi rừng khiến cảnh vật trở nên sống động, rạng rỡ
- Trên nền cảnh mênh mông, xanh ngắt của đại ngàn, hình ảnh con người xuất hiện với một tư thế vữngchãi, tự tin của người làm chủ núi rừng: “Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng”
* Bức tranh thứ hai (mùa xuân):
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.
- Thiên nhiên được bao phủ bởi màu trắng tinh khiết và mỏng manh của hoa mơ rừng Hai chữ “trắng rừng”làm cho núi rừng như sáng bừng và trở nên dịu dàng, đằm thắm, quyến rũ lạ lùng
- Con người Việt Bắc hiện ra trong một công việc thầm lặng: “đan nón chuốt từng sợi giang”
+ Những từ ngữ: “đan, chuốt” gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng, tài hoa của người lao động
+ Người đan nón không chỉ đang làm công việc đan nón đơn thuần mà như đang gửi vào từng sợi giang,từng chiếc nón biết bao nỗi niềm, bao mơ ước thầm kín
* Bức tranh thứ ba - bức tranh đặc sắc nhất (mùa hạ):
“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô con gái hái măng một mình”.
- Bức tranh Việt Bắc vào hè có âm thanh rộn rã của tiếng nhạc ve Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho rừngphách ngả sang màu vàng rực rỡ, nôn nao Chữ “đổ” cực kì tinh tế Nó vừa nhấn mạnh đến việc biến đổimàu sắc mau lẹ của rừng phách, vừa diễn tả được những trận mưa hoa phách mỗi khi có đợt gió ào thổi
- Hình ảnh lao động đầy kiên nhẫn của một cô gái Việt Bắc “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, hình ảnhngười phụ nữ Việt Bắc chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm có phần âm thầm, lam lũ, nhọc nhằn
* Bức tranh thứ tư (mùa thu):
“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
- Ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnh huyền ảo Không khí se lạnh của trời thu theo ánhtrăng như bao phủ vạn vật, cỏ cây, ngấm vào nỗi nhớ của những con người đã gắn bó sâu nặng với ViệtBắc
- Câu kết đoạn khẳng định phẩm chất ân tình, thủy chung của người Việt Bắc Chữ “ai” là cách nói bónggió, mơ hồ của dân gian khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha Cũng chính vì vậy mà nỗi nhớ của người ra
đi dành cho người ở lại cũng trở nên quyến luyến, quay quắt, cồn cào, …
⇒ Giai điệu quyến rũ đặc biệt của giọng thơ, nỗi niềm thủy chung ân tình rất đỗi đằm thắm của đoạn thơtrên nói riêng và của “Việt Bắc” nói chung, trở thành chất men say có sức ngấm sâu vào trái tim độc giảnhiều thế hệ Đó là sức sống của “Việt Bắc” và hồn thơ Tố Hữu
Trang 12Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau đây: “Ta với mình, mình với ta
… Chày đêm, nên cối đều đều suối xa”.
(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)
G
ỢI Ý
1 Khái quát: (Đề 1)
2 Phân tích cụ thể:
a Người ra đi khẳng định lòng chung thủy của mình:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
- Ở đoạn đầu của bài thơ, người Việt Bắc trong nỗi niềm của người ở lại: Sợ người ra đi trở về thành thị sẽ quên mất mình (Sáng đèn có nhớ mảnh trăng giữa rừng) Niềm phấp phỏng ấy được diễn tả bằng một câu hỏi: “Mình về mình có nhớ …”, “Mình đi có nhớ … “ Vì vậy 4 câu thơ trên là câu trả lời, sự khẳng định của người ra đi
- Lời thơ dịu dàng, tình tứ với lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “ta - mình” Nỗi nhớ củangười cách mạng về quê hương Việt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Sự sắp xếp từ liềnđôi, thành cặp trong câu đã có đảo trật tự từ “Ta với mình, mình với ta” vừa gợi ra sự bịn rịn, lưu luyến,quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léo khẳng định tấm lòng của “ta” cũng giốngnhư “mình”
- Những từ ngữ chỉ thời gian mãi mãi “sau, trước” chỉ tình cảm trước sau như một, không nhạt phai,hai t ừ
“đinh ninh”, “mặn mà” xuất hiện liên tiếp trong một câu thơ đã khẳng định một cách chắc chắn lòng sonsắt của những người kháng chiến về xuôi
- Mượn cách so sánh, ví von quen thuộc của ca dao để giãi bày nỗi nhớ da diết, không vơi cạn:
“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
b
Nỗi nhớ Việt Bắc được diễn tả cụ thể:
(“Nhớ gì như nhớ người yêu
… Chày đêm nện cối đều đều suối xa”)
* Nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc:
- Hàng loạt hình ảnh liệt kê, cụ thể, gần gũi, gợi cảm: trăng, núi, nắng, khói, sương, rừng nứa, bờ tre, ngòiThia, sông Đáy, suối Lê … làm hiện lên một thiên nhiên thơ mộng, trữ tình và mang đậm nét đặc trưng củaViệt Bắc
- Nỗi nhớ có hình ảnh, có thời gian và không gian Đó là một nỗi nhớ sâu đậm và quá đỗi chân thành
* Nỗi nhớ con người Việt Bắc:
- Nét đặc sắc cao quí của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình, rộng mở, son sắt, thủy chung vớicách mạng:
“Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.
- Thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng, trầm tĩnh, thâm u, con người Việt Bắc giản dị, mộc mạc, dù cuộc sốnglao động gian khổ nhưng họ lạc quan yêu đời
Trang 13+ Hình ảnh người mẹ vất vả, nhọc nhằm nhưng ấm áp cảm động, địu con trên lưng dưới cái nắng cháy dađể bẻ bắp nuôi bộ đội:
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”.
+ Trong kí ức của Tố Hữu, Việt Bắc không chỉ kiên cường trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà cònnhẫn nại, cương quyết đương đầu với giặc dốt Đêm rừng Việt Bắc bập bùng đuốc sáng của những lớp học itờ Niềm vui, sự lạc quan chiến thắng sự gian nan, người Việt Bắc vẫn ca vang núi đèo:
“Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sớm những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”.
- Việt Bắc trở thành quê hương của những người kháng chiến - tình yêu đã “làm đất lạ hóa quê hương (ChếLan Viên) Cả những âm thanh của đời thường cũng đi vào nỗi nhớ của người ra đi: đó là tiếng mõ gọi trâuvề làng, tiếng chày giã gạo đêm đêm:
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nên cối đều đều suối xa”.
- Nỗi nhớ dội vào nỗi nhớ, điệp từ “nhớ” và kiểu câu bắt đầu bằng “Nhớ sao” khiến nỗi nhớ như trải dài vôtận
Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau:
“Mình đi, cĩ nhớ những ngàyMưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về cĩ nhớ chiến khuMiếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Mình về, rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để giàMình đi, cĩ nhớ những nhàHắt hiu lau xám, đậm đà lịng sonMình về, cĩ nhớ núi nonNhớ khi kháng Nhật, thuở cịn Việt MinhMình đi, mình cĩ nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…”
Trang 14đối đáp giao duyên chia tay lịch sử này, Việt Bắc lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời vận động CM,đấu tranh gian khổ (6 năm trước CMT8 và 9 năm kháng chiến chống Pháp)
* Lời của Việt Bắc chỉ có 12 câu lục bát nhưng tất cả đều xoáy vào kỉ niệm không thể nào quên của những ngày
CM còn trứng nước:
- Kỉ niệm của một thời vận động đấu tranh cách mạng gian nan và khổ cực Những từ ngữ, những hình ảnh chỉcần nhắc cũng gợi ra nỗi nhớ cảm động:
“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
-> Hình ảnh “mưa nguồn – suối lũ – mây mù” vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho nhữngkhó khăn, thử thách, khốn khó, cơ cực mà đồng bào và cán bộ đã phải chịu đựng và vượt qua
- Đó là những kỉ niệm thắm thiết nghĩa tình sâu nặng:
+ Cũng chính trong hoàn cảnh đó, Việt Bắc và con người VB càng “ đậm đà lòng son”, cưu mang cách mạng vànhững người con cách mạng Bốn chữ “đậm đà lòng son” cứ ấm nóng, tỏa sáng không chỉ trong bài thơ mà cả
ở trong lòng người
+ Câu thơ “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” tạo ra một tiểu đối vừa gợi sự gian khổ, vừa như cụ thểhóa mối thù của cách mạng: phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến tay sai Mối thù dân tộc như đè nặnglên vai của mọi người
- Kỉ niệm về những năm tháng vẻ vang, oanh liệt thời tiền khởi nghĩa
+“Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” -> Với những người trong cuộc chỉ cần gợi nhớ như vậy là đủ Kếtthúc giai đoạn lịch sử này là những ngày sôi động của Tổng khởi nghĩa CMT8
+ Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…”
-> Những địa danh, những sự kiện lịch sử, mái đìng Hồng Thái, cây đa Tân Trào được nhắc đến đã tạo nêntrong lòng mọi người niệm tự hào về những ngày tháng Tám mùa thu 1945, cách mạng bùng lên giành độc lập
b Đặc sắc nghệ thuật:
- Đoạn thơ ngắn 12 câu đã điệp 8 từ “mình” và 6 từ “nhớ, có nhớ” Những từ “mình” điệp ở đầu mỗi câu thơ đãtạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào Những từ “nhớ, có nhớ” gợi đến âm hưởng của
ca dao, dân ca, góp phần diễn tả một cách cảm động tràn đầy nỗi nhớ về cái nôi VB – quê hương cách mạng
- Bằng giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết của ca dao, dân ca, của điệu thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc,
Tố Hữu nhắn nhủ với chúng ta hãy nhớ mãi, hãy giữ lấy cái đạo lí ân tình thủy chung quý báu của cách mạng
Đề 4: Phân tích đoạn thơ sau: “Những đường Việt Bắc của ta….
… Vui lên việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
( Trích Việt Bắc- Tố Hữu)
GỢI Ý
- Khung cảnh Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức:
+ Những nẻo đường chiến khu Việt Bắc, đêm dêm những bước chân hành quân rầm rập, làm rung chuyển
cả đất trời: “Những đường….đất rung”
+ Đẹp nhất là hình ảnh quân đội nhân dân Việt Nam: hiện lên với sức mạnh hùng hậu (điệp điệp, trùng trùng) và vẻ đẹp lãng mạn( nhấp nhô đầu súng lấp lánh những ánh sao) Câu thơ vừa có giá trị tạo hình vừa
diễn tả khí thế, niềm vui của quân đội ta đang trên đà thắng lợi
Trang 15+ Hình ảnh của Dân cơng với “Bước chân nát đá, muơn tàn lửa bay” Tác giả đã thần thoại hĩa sức mạnh
của con người, bước chân của họ là bước chân của người khổng lồ, đội đá vá trời, rung chuyển càn khơn,bước chân của những con người đã làm nên chiến thắng kì diệu
- Mở ra viễn cảnh tương lai tươi sáng: “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
…… ……… đèo De, núi Hồng”
Câu thơ diển tả cảm hứng tự hào, lạc quan tin tưởng về một tương lai tươi sáng Dù hơm nay và cả nghìnđêm đã qua, dân tọc ta đã chìm trong khĩi lửa đau thương, tăm tối, mịt mù của chiến tranh, của đĩi nghèo,nhưng ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta sẽ được độc lập, tự do, no ấm…
- Nhà thơ nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sơng, tên núi của trăm miền gắn với những chiến cơng lừnglẫy cuả Việt Bắc đã đi vào lịch sử của dân tộc( Hịa Bình, Tây Bắc, Điện Biên…)
- Nghệ thuật:
+ Đoạn đầu: âm điệu thơ êm ả ngọt ngào
+ Đoạn sau: giọng thơ trở nên mạnh mẽ, dồn dập như âm hưởng bước chân hành quân của quân và dân ta…
ĐẤT NƯỚC
(Trích) - Nguyễn Khoa Điềm
I Xuất xứ
- “Mặt đường khát vọng » là tập trường ca được Nguyễn Khoa Điềm hồn thành ở chiến khu Trị-Thiên năm
1971 Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuốngđường đấu tranh hồ nhịp với cuộc chiến đấu của tồn dân tộc
- Đoạn " Đất Nước" trích phần đầu chương V của trường ca " Mặt đường khát vọng"
II Đề tham khảo :
Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã cĩ rồi …Làm nên Đất Nước muơn đời”
(Trích Chương V – Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)
- “Đất Nước” là một đoạn thơ trữ tình - chính luận Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suytưởng về Đất Nước dưới dạng một lời tâm tình, trò chuyện đằm thắm giữa “anh” và “em” Từ tư tưởng cốtlõi “Đất Nước của Nhân dân” nhà thơ có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc về Đất Nước
- Mỗi một thời đại có một cách hiểu, một quan niệm riêng về Đất Nước Thời trung đại, quan niệm ĐấtNước gắn liền với công lao của các triều đại Còn ở thời hiện đại, chúng ta thấy rõ sức mạnh to lớn củanhân dân, thấy rằng Đất Nước là của nhân dân Điều này được các nhà văn Việt Nam ý thức sâu sắc hơn ai
Trang 16hết khi dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống Mĩ cứu nước Tư tưởng xuyên suốtchương V của “Mặt đường khát vọng” chính là tư tưởng ấy:
“Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại”
2 Phân tích:
a Đất Nước là những gì gắn bó, gần gũi với đời sống của mỗi con người.
- Hình tượng thơ của Nguyễn Khoa Điềm óng ánh một màu sắc đặc biệt của chất liệu văn hóa dân gian.Âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca đã tạo nên một “khíquyển” dân gian độc đáo, đầy quyến rũ của đoạn thơ Khí quyển ấy tạo nên một không gian nghệ thuật gầngũi đến bất ngờ:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”
+Đất Nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng, được tạo dựng, bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từđời này qua đời khác Vì vậy: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
+ Mỗi người sinh ra, ý niệm về Đất Nước đã thấm đẫm trong môi trường gia đình, qua thế giới tinh thần màngười đó sống Đất Nước có khi bắt đầu từ những câu chuyện kể của mẹ: “Ngày xửa ngày xưa …”, là nhịpđiệu ngàn đời của lời kể cổ tích, có khả năng ngân vang trong tiềm thức của người Việt Người đọc lặng đitrước cách định nghĩa về Đất Nước thật bất ngờ của Nguyễn Khoa Điềm
- Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” thật độc đáo, sâu sắc:
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”
+ Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc: tục ăn trầu; nó gợi ra câu thành ngữquen thuộc: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”; nó gợi ra không gian tình nghĩa của sự tích “Trầu cau” …+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” còn là biểu tượng thiêng liêng: mỗi miếng trầu đều gánh trong nómột phần Đất Nước, mỗi miếng trầu bà ăn hôm nay đều có bốn ngàn năm tuổi Quá khứ luôn có mặt vớihiện tại, lịch sử vẫn hiện diện với hôm nay Câu thơ là sự phát hiện bất ngờ của nhà thơ: Đất Nước đượcchắt chiu, giữ gìn trong cả những sự vật bình thường, nhỏ bé
- Sự nghiệp mở mang - gây dựng luôn gắn liền với sự nghiệp hi sinh và bảo vệ bờ cõi:
“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
- Đất Nước gắn bó, hiện diện trong những gì thân thuộc, bình dị của cuộc sống hàng ngày, trong mỗi giađình:
“Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”
+ Đó là hình ảnh người mẹ “tóc bới sau đầu, tần tảo, đảm đang” Đây là hình ảnh gợi lại cội nguồn của dântộc, gợi đến một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam – gắn với cách bới tóc thùy mị của người phụ nữ
+ Đất Nước được tạo dựng trên nền tảng thủy chung của tình chồng vợ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừngcay muối mặn” Trong cay đắng, gian nan của cuộc sống vất vả, nhọc nhằn cha mẹ càng gắn bó, khăng khítchia ngọt sẻ bùi Ý thơ làm ta liên tưởng đến âm điệu tình nghĩa của bài ca dao:
Trang 17“Ai ơi bưng bát cơm đầyDẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
b Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian, chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch sử:
- Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian:
+ Đất và Nước là hai yếu tố chỉ vật chất, hai yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành khái niệm chỉ Giang SơnTổ Quốc Đất Nước là không gian gần gũi gắn bó với anh và em (Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm);là không gian của tình yêu đôi lứa (“… là nơi ta hò hẹn, … là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”).+ Ở đâu trên đất nước cũng gắn với những câu chuyện kể, truyền thuyết, những câu ca đã đi vào thế giớitinh thần của con người: “Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc – Nước là nơi con cá ngưông móng ước biển khơi”
→ Đất Nước vừa mang ý nghĩa cụ thể, gắn bó, gần gũi với từng cá nhân, vừa mang ý nghĩa khái quát làlãnh thổ chủ, quyền của quốc gia
- Đất Nước được cảm nhận theo chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch sử:
+ Truyền thuyết Tiên - Rồng, Lạc Long Quân - Âu Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Trong truyềnthuyết này cũng như trong lịch sử phát triển “đằng đẵng” và “mênh mông”, mở mang bờ cõi và “đoàn tụ” đã làmnên đặc trưng của dân tộc Việt
“Thời gian đằng đẵng Khơng gian mênh mơng Đất Nước là nơi dân mình đồn tụ Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
+ Mỗi con người Việt Nam, bằng máu xương, mồ hôi, công sức của mình, đã chiến đấu và lao động để mởmang và hoàn thiện đất nước, để truyền lại cho con cháu một Đất Nước trọn vẹn Những giá trị tinh thầnbền vững của đất nước gắn liền với quá khứ và - hiện tại - tương lai được nuôi dưỡng qua các thế hệ, nênmỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn và truyền lại cho con cháu mai sau những truyền thống tốt đẹp củacha ông:
“Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dị con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhờ ngày giỗ Tổ”
c Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và dân tộc:
- Đất Nước có trong mỗi chúng ta:
“Trong anh và em hôm nay
Trang 18Đều có một phần Đất Nước”
+ Xưng hô “anh - em” → Lời thơ trở thành một lời trò chuyện, tâm tình đằm thắm giữa Nguyễn Khoa Điềmvà thanh niên đô thị miền Nam
+ Mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên đều mang trong mình một phần Đất Nước Trong “anh và em” có dòngmáu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, có truyền thống của “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc, có tình nghĩathủy chung của cha và mẹ …”
⇒ Hai câu thơ vừa không lời nhắc nhở, vừa là sự khẳng định một cách trang trọng trách nhiệm của mỗicông dân đối với Tổ quốc
- Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung:
+ Đất Nước có trong tình yêu đôi lứa:
“Khi hai đứa cầm tay nhau Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”
→ Ngay từ những dòng thơ đầu tiên của bài “Đất Nước”, hình ảnh Đất Nước đã hòa quyện, gắn bó với hìnhảnh gia đình thân thuộc: miếng trầu của bà; búi tóc, câu chuyện kể của mẹ … Trong cảm nhận của NguyễnKhoa Điềm, gia đình là những tế bào nhỏ bé làm nên sự gắn kết của cả một cộng đồng “Anh và em cầmtay nhau” – Đất Nước sẽ “hài hòa nồng thắm” trong tình yêu đôi lứa, trong hạnh phúc gia đình Hai câu thơlà sự phát hiện giản dị nhưng cảm động về sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu đất nướcvà tình yêu dân tộc
- Đất Nước có trong tình yêu cộng đồng:
“Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn to lớn”
+ Ý thơ mở rộng từ cái “tôi” đến cái “chúng ta”: từ hình ảnh “hai đứa cầm tay nhau” đến chúng ta cầm taymọi người” – Đất Nước cũng từ “hài hòa nồng thắm” chuyển thành “vẹn tròn to lớn” Đó chính là sự gắnbó giữa cá nhân và cộng đồng
+ Tình yêu đôi lứa được mở rộng đến tình yêu đồng bào, làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, tạo nên thế đứngkiêu hùng của dân tộc trong suốt 4 ngàn năm lịch sử
- Hình ảnh Đất Nước trong tương lai:
“Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa.
Đến những ngày tháng mơ mộng”
→ Đất Nước sau bao biến động thăng trầm của lịch sử đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, đó là sự kế tục củacác thế hệ nối tiếp nhau Cụm từ “tháng ngày mơ mộng” đã phác họa vẻ đẹp của Đất Nước trong tương lai.Nhà thơ bộc lộ niềm tin vào thế hệ sau có đủ bản lĩnh và trí tuệ để đưa Đất Nước bay cao và bay xa
- Trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bĩ và san sẻ
Phải biết hĩa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”
+ Lời thơ như thủ thỉ, tâm tình: “em ơi em” cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu lắng về mối quan hệgiữa cá nhân và Đất Nước Đất Nước là “máu xương”, là sự hi sinh âm thầm của biết bao thế hệ đi trước,họ đã “sống và chết”, “giản dị và bình tâm” để làm nên Đất Nước
Trang 19+ Hàng loạt những động từ “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” nhằm nhắn nhủ thế hệ trẻ phải gần gũi di sảncủa cha ông, phải cống hiến tâm huyết, tài năng và cả đời sống của bản thân để xây dựng đất nước Từ
“hóa thân” giàu ý nghĩa hơn từ “hi sinh”, biểu hiện sự dâng hiến, hòa nhập, sống còn cùng Đất Nước
Đề 2: Phân tích đoạn trích “Đất Nước” (Trích Chương V – Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm) để làm rõ tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân dân”.
GỢI Ý 1.Khái quát: (Đề 1)
2 Phân tích:
a Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được N.K.Đ thể hiện trước hết bằng một chất liệu phù hợp: chất liệu văn hĩa dân gian:
* Cả bài thơ đã được sáng tạo, tái tạo từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hĩa lâu đời của người VN.
Hàng loạt các câu chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca; hàng loạt các phong tục tập quán, các địa danhxuất hiện trong các câu thơ
* Những chất liệu dân gian được nhào nặn bằng một cảm xúc mới, bằng ánh sáng của thời đại mới, những câu thơ vừa hiện đại vừa thấm đẫm chất dân gian truyền thống:
- Những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca đã hĩa thân thành các câu thơ của N.K.Đ:
+ “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
+ “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”
+ “ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
-> Chúng ta thấy ngay trong diện mạo của các câu thơ là câu thành ngữ: “Một nắng hai sương”, câu ca dao:
“Tay nâng đĩa muối chén gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” và bài ca dao nổi tiếng: “Khănthương nhớ ai, khăn rơi xuống đất – Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai…”
- Cĩ những câu thơ rất giản dị nhưng được nhào nặn, tái tạo từ nhiều nguồn chất liệu khác nhau: “ĐN bắt đầuvới miếng trầu bây giờ bà ăn”
+ Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc (tục ăn trầu), gợi lên câu thành ngữ quenthuộc “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, gợi khơng gian tình nghĩa của “Sự tích trầu cau”…
+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” cịn là một biểu tượng thiêng liêng: Mỗi miếng trầu đều gánh trong nĩmột phần ĐN; mỗi miếng trầu bà ăn hơm nay đều đã cĩ 4000 năm tuổi Quá khứ luơn cĩ mặt với hiện tại, lịch
sử vẫn hiện diện với hơm nay
-> ĐN được chắt chiu, gìn giữ trong cả những sự vật nhỏ bé, bình dị
=> Văn hĩa dân gian đã khơi dịng cảm hứng, chảy từ hình tượng đến từng câu chữ của đoạn trích “Đất Nước”
b
Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng của khơng gian, chiều dài thời gian và chiều sâu của lịch sử:
* Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng của khơng gian :
- Đất và Nước là 2 yếu tố chỉ vật chất, 2 yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành 1 khái niệm chỉ giang sơn tổquốc ĐN là khơng gian gần gũi, gắn bĩ giữa anh và em, là khơng gian của tình yêu đơi lứa, tình yêu ĐN và tìnhyêu đơi lứa đã hài hịa làm một:
“ Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
ĐN là nơi ta hị hẹn
ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
- Tư duy của N.K.Đ mở rộng để bao quát sự sinh thành, trưởng thành, mở mang bờ cõi:
“Đất là nơi “con chim phượng hồng bay về hịn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ơng mĩng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng
Trang 20Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
-> Truyền thuyết Tiên – Rồng, Lạc Long Quân – Âu Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Nhắc đếntruyền thuyết này, nhà thơ vừa thể hiện niềm tự hào về nguồn gốc cao quí của dân tộc, vừa gợi được hồn sôngnúi một cách thiêng liêng và trang trọng
- Song song với quá trình hình thành địa bàn cư trú của người Việt suốt mấy ngàn năm là sự sinh sôi của các địadanh Mỗi địa danh không phải là những dòng tên vô nghĩa Đằng sau mỗi tên đất, tên rừng, tên núi, tên sông làmỗi cuộc đời; mỗi cuộc đời là một huyền thoại… Điều đó có nghĩa chính nhân dân đã gây dựng, mở mang, gìngiữ nên đất nước này:
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
* ĐN được cảm nhân theo chiều dài lịch sử và bề dày văn hóa:
- Điểm về lịch sử, N.K.Đ không nhắc đến các triều đại nổi tiếng, những anh hùng đã lưu danh Nhà thơ thấy lịch
sử 4000 năm của dân tộc là một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của hàng ngàn thế hệ Họ là những người vôdanh, là Nhân dân đã hóa thân mình cho “dáng hình xứ sở”:
“Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra ĐN”
- Nhân dân _ những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ hồn Việt qua những việc cụ thể:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để ĐN này là ĐN của Nhân dân
ĐN của Nhân dân, ĐN của ca dao thần thoại”