Vấn đề 1: Vấn đề cơ bản của triết học I. Vấn đề cơ bản của triết học Trong tác phẩm Lútvích Phoibắc, Ăngghen viết: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại (vật chất ý thức). 1. Vì sao đây là vấn đề cơ bản của triết học ? Đây là vấn đề chung nhất, rộng nhất, là vấn đề tồn tại lâu dài, ổn định, bền vững trong đối tượng nghiên cứu của triết học. Mọi trường phái triết học dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải nghiên cứu vấn đề này. Nếu bỏ việc nghiên cứu mối quan hệ vật chất ý thức thì triết học mất đối tượng nghiên cứu và không tồn tại. Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất ý thức ảnh hưởng quyết định trong giải quyết các vấn đề khác trong triết học như: tồn tại xã hội, ý thức xã hội, khách quan với chủ quan, các nguyên lý, quy luật của phép biện chứng duy vật. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất ý thức là xuất phát điểm thế giới quan, là căn cứ để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. 2. Nội dung vấn đề cơ bản của triết học Một là, trong mối quan hệ vật chất ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào ? Căn cứ vào cách giải quyết khác nhau mà chia thành hai trường phái triết học duy vật và triết học duy tâm. + Chủ nghĩa duy vật: Có duy vật ngây thơ, tầm thường; duy vật siêu hình; duy vật biện chứng; ngoài ra còn có thuyết nhất nguyên luận. + Chủ nghĩa duy tâm: Có duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan. Hai là, Tư duy (ý thức con người) có nhận thức được thế giới hay không ? Căn cứ vào cách giải quyết vấn đề khác nhau mà chia thành hai trường phái: Phái bất khả tri và phái khả tri. + Bất khả tri: Cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới (duy tâm) + Khả tri: Cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới (duy vật). Ngoài ra còn có phái hoài nghi luận nghi ngờ khả năng nhận thức của con người. Trong chủ nghĩa duy tâm có người còn cho rằng: Con người có khả năng nhận thức được thế giới bằng: siêu tự nhiên chứ không phải bằng phương pháp cơ chế, con đường khoa học. b. Hai cấp độ lớn trong vấn đề cơ bản của triết học. Cấp độ thứ nhất: Giải quyết vấn đề mối quan hệ vật chất ý thức Cấp độ thứ hai: Giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại XH và ý thức xã hội c. Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Vấn đề cơ bản của triết học chỉ được giải quyết triệt để, nhất quán khi hai cấp độ chủ yếu của nó nhất trí với nhau: Mác Ăngghen: Đã làm cho CNDV trở thành triệt để và nhất quán bằng cách phát triển quan điểm duy vật về tự nhiên thành quan điểm duy vật hoàn chỉnh, bao hàm cả quan điểm duy vật về xã hội, lịch sử. Đánh giá ý nghĩa của cấp độ thứ hai như một cuộc cách mạng trong triết học: song ở cấp độ thứ hai không phải là lôgíc tự động của cấp độ thứ nhất, mặc dù các ông không thủ tiêu khía cạnh nguồn gốc phát sinh của vấn đề. Tuy nhiên, khi xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, các ông hầu như chỉ quan tâm luận chứng cho quan điểm xét cho cùng thì TTXH quyết định YTXH. Sự phát triển của Lênin. Lênin xem xét vấn đề cơ bản của triết học như một hệ thống vấn đề, ông cụ thể hoá và chính xác hoá tư tưởng của Mác Ăngghen. Trước hết, Lênin chú ý đến hai khía cạnh trong mặt thứ nhất, đó là khía cạnh nguồn gốc và khía cạnh quyết định luận. + Về nguồn gốc phát sinh: Trong quan hệ giữa vật chất và ý thức xét cho cùng cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào ? + Về mặt quyết định luận: Trong quan hệ vật chất ý thức, cái nào quyết cái nào. ở trong 2 cấp độ thì cấp độ thứ nhất (vật chất ý thức) mặt nguồn gốc hình thành là mặt trội, ở cấp độ thứ 2 (TTXHYTXH) thì mặt quyết định luận là mặt trội. Lênin cũng nhấn mạnh, tồn tại xã hội không lệ thuộc vào ý thức xã hội, song điều đó chỉ làm nổi bật mặt quyết định luận trong quan hệ giữa tính thứ nhất với tính thứ hai chứ không thủ tiêu quan hệ nhân quả của vấn đề. Do mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học phân đôi để luận giải, nên mặt thứ 2 được xem xét tương ứng: + Một là, xét cho cùng ý thức là sản phẩm của vật chất, nhưng chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có cấu trúc đặc biệt là não người. ý thức là chức năng của bộ óc con người. + Hai là, ý thức xét cho cùng là lệ thuộc vào vật chất, nó là cái phản ánh vật chất, là cái vật chất được di chuyển vào trong não người và được cải biến ở đó. Lênin chi tiết hoá cách xem xét các vấn đề các cấp độ trong luận giải vấn đề cơ bản của triết học. + ở cấp độ thứ nhất: Quan hệ vật chất ý thức, Lênin chú ý đến mối quan hệ giữa vật lý và tâm lý, sinh lý và tâm lý trong mối quan hệ chung giữa tự nhiên và tinh thần. + ở cấp độ thứ hai: Quan hệ giữa tồn tại xã hội ý thức xã hội Lênin chi tiết hoá thành tồn tại xã hội và ý thức cá nhân. 3. ý nghĩa phương pháp luận: Phải xây dựng lập trường duy vật trong nhận thức xem xét các SVHT của thế giới. Đấu tranh phê phán quan điểm duy tâm (cả duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan) trong nhận thức thế giới xung quanh. II. Các trường phái triết học: Lịch sử phát triển triết học trên thế giới, kể cả triết học phương Đông và triết học phương Tây đều xoay quanh giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đó là quan niệm về triết học giới, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào ? con người có thể nhận thức được thế giới hay không? Tuỳ theo cách giải quyết và mức độ nhận thức khác nhau mà chia ra các trường phái triết học khác nhau. 1. Trường phái duy vật: Duy vật thô sơ, ngây thơ Duy vật siêu hình Duy vật biện chứng. 2. Trường phái duy tâm: Duy tâm khách quan (ý niệm tuyệt đối) Duy tâm chủ quan (ý thức con người là tuyệt đối). Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất I. Phạm trù vật chất 1. Quan điểm của các nhà triết học duy tâm (cả duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan) Tuy họ cũng thừa nhận sự tồn tại của sự vật, hiện tượng của thế giới nhưng lại phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất. Cho rằng mọi sự vật hiện tượng tồn tại lệ
Trang 1Vấn đề 1: Vấn đề cơ bản của triết học
I Vấn đề cơ bản của triết học
Trong tác phẩm Lútvích Phoibắc, Ăngghen viết: "Vấn đề cơ bản lớncủa mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề mối quan hệgiữa tư duy và tồn tại" (vật chất - ý thức)
1 Vì sao đây là vấn đề cơ bản của triết học ?
- Đây là vấn đề chung nhất, rộng nhất, là vấn đề tồn tại lâu dài, ổnđịnh, bền vững trong đối tượng nghiên cứu của triết học
- Mọi trường phái triết học dù trực tiếp hay gián tiếp đều phảinghiên cứu vấn đề này Nếu bỏ việc nghiên cứu mối quan hệ vật chất - ýthức thì triết học mất đối tượng nghiên cứu và không tồn tại
- Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất - ý thức ảnh hưởng
quyết định trong giải quyết các vấn đề khác trong triết học như: tồn tại xã hội, ý thức xã hội, khách quan với chủ quan, các nguyên lý, quy luật của phép biện chứng duy vật.
- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất - ý thức là xuất phátđiểm thế giới quan, là căn cứ để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủnghĩa duy tâm
2 Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
* Một là, trong mối quan hệ vật chất - ý thức cái nào có trước, cái
nào có sau, cái nào quyết định cái nào ?
Căn cứ vào cách giải quyết khác nhau mà chia thành hai trường phái
triết học duy vật và triết học duy tâm.
+ Chủ nghĩa duy vật: Có duy vật ngây thơ, tầm thường; duy vật siêu
Trang 2+ Chủ nghĩa duy tâm: Có duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan.
* Hai là, Tư duy (ý thức con người) có nhận thức được thế giới hay
không ?
Căn cứ vào cách giải quyết vấn đề khác nhau mà chia thành hai
trường phái: Phái bất khả tri và phái khả tri.
+ Bất khả tri: Cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới
(duy tâm)
+ Khả tri: Cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới
(duy vật)
Ngoài ra còn có phái "hoài nghi luận" - nghi ngờ khả năng nhận thức
của con người Trong chủ nghĩa duy tâm có người còn cho rằng: Con
người có khả năng nhận thức được thế giới bằng: "siêu tự nhiên" chứ
không phải bằng phương pháp cơ chế, con đường khoa học
b Hai cấp độ lớn trong vấn đề cơ bản của triết học.
- Cấp độ thứ nhất: Giải quyết vấn đề mối quan hệ vật chất - ý thức
- Cấp độ thứ hai: Giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại XH và ý
thức xã hội
c Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học chỉ được giải quyết triệt để, nhất quánkhi hai cấp độ chủ yếu của nó nhất trí với nhau:
* Mác - Ăngghen:
- Đã làm cho CNDV trở thành triệt để và nhất quán bằng cách pháttriển quan điểm duy vật về tự nhiên thành quan điểm duy vật hoànchỉnh, bao hàm cả quan điểm duy vật về xã hội, lịch sử
- Đánh giá ý nghĩa của cấp độ thứ hai như một cuộc cách mạng
trong triết học: song ở cấp độ thứ hai không phải là lôgíc tự động của
Trang 3cấp độ thứ nhất , mặc dù các ông không thủ tiêu khía cạnh nguồn gốc
phát sinh của vấn đề Tuy nhiên, khi xây dựng quan điểm duy vật về lịchsử, các ông hầu như chỉ quan tâm luận chứng cho quan điểm xét chocùng thì TTXH quyết định YTXH
* Sự phát triển của Lênin.
Lênin xem xét vấn đề cơ bản của triết học như một hệ thống vấn đề,ông cụ thể hoá và chính xác hoá tư tưởng của Mác - Ăngghen
- Trước hết, Lênin chú ý đến hai khía cạnh trong mặt thứ nhất, đó là khía cạnh nguồn gốc và khía cạnh quyết định luận.
+ Về nguồn gốc phát sinh: Trong quan hệ giữa vật chất và ý thức xét
cho cùng cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào ?
+ Về mặt quyết định luận: Trong quan hệ vật chất - ý thức, cái nào
quyết cái nào
- ở trong 2 cấp độ thì cấp độ thứ nhất (vật chất - ý thức) mặt nguồn gốc hình thành là mặt trội, ở cấp độ thứ 2 (TTXH-YTXH) thì mặt quyết
định luận là mặt trội Lênin cũng nhấn mạnh, tồn tại xã hội không lệ
thuộc vào ý thức xã hội, song điều đó chỉ làm nổi bật mặt quyết định luận trong quan hệ giữa tính thứ nhất với tính thứ hai chứ không thủ tiêu
quan hệ nhân quả của vấn đề
- Do mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học phân đôi để luậngiải, nên mặt thứ 2 được xem xét tương ứng:
+ Một là, xét cho cùng ý thức là sản phẩm của vật chất, nhưng chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có cấu trúc đặc biệt là não người ý
thức là chức năng của bộ óc con người
Trang 4+ Hai là, ý thức xét cho cùng là lệ thuộc vào vật chất, nó là cái phản
ánh vật chất, là cái vật chất được di chuyển vào trong não người và đượccải biến ở đó
- Lênin chi tiết hoá cách xem xét các vấn đề các cấp độ trong luậngiải vấn đề cơ bản của triết học
+ ở cấp độ thứ nhất: Quan hệ vật chất - ý thức, Lênin chú ý đến mối quan hệ giữa vật lý và tâm lý, sinh lý và tâm lý trong mối quan hệ chung
giữa tự nhiên và tinh thần
+ ở cấp độ thứ hai: Quan hệ giữa tồn tại xã hội - ý thức xã hội Lênin chi tiết hoá thành tồn tại xã hội và ý thức cá nhân.
3 ý nghĩa phương pháp luận:
Phải xây dựng lập trường duy vật trong nhận thức xem xét cácSVHT của thế giới Đấu tranh phê phán quan điểm duy tâm (cả duy tâmkhách quan và duy tâm chủ quan) trong nhận thức thế giới xung quanh
II Các trường phái triết học:
Lịch sử phát triển triết học trên thế giới, kể cả triết học phươngĐông và triết học phương Tây đều xoay quanh giải quyết vấn đề cơ bản
của triết học Đó là quan niệm về triết học giới, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào ? con người có thể nhận thức được thế giới hay không?
Tuỳ theo cách giải quyết và mức độ nhận thức khác nhau mà chia racác trường phái triết học khác nhau
1 Trường phái duy vật:
- Duy vật thô sơ, ngây thơ
- Duy vật siêu hình
- Duy vật biện chứng.
Trang 52 Trường phái duy tâm:
- Duy tâm khách quan (ý niệm tuyệt đối)
- Duy tâm chủ quan (ý thức con người là tuyệt đối).
Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất
I Phạm trù vật chất
1 Quan điểm của các nhà triết học duy tâm (cả duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan)
Tuy họ cũng thừa nhận sự tồn tại của sự vật, hiện tượng của thế giới nhưng lại phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất Cho rằng mọi sự vật hiện tượng tồn tại lệ thuộc vào chủ quan , tức là một
hình thức tồn tại của ý thức
2 Quan điểm của các nhà triết học duy vật trước Mác.
- Thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng của thế
giới vật chất Coi vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai.
- Đứng vững trên lập trường duy vật, cố gắng giải thích tự nhiênbằng chính tự nhiên, không dựa vào một lực lượng siêu tự nhiên nàokhác Chống được quan điểm duy tâm tôn giáo
- Tuy nhiên, do hạn chế bởi nhận thức, thói quen tư duy do đó rơi vào phương pháp xem xét siêu hình, cụ thể là:
+ Khuynh hướng chung là đi tìm bản nguyên ban đầu của thế giới, tìm nguồn gốc của vật chất từ một vật thể ban đầu có tính chất cảm tính, trực tiếp, coi đó là cái tạo ra SVHT Đó là đi tìm cái có hạn, cái bất biến
trong cái vô hạn thường biến đổi
Trang 6+ Do không tìm được nguồn gốc vật chất dẫn đến coi vật chất là vật thể cụ thể cố định, đồng nhất sự tồn tại của vật chất với sự tồn tại của vật thể, lẫn lộn vật chất với tư cách là một phạm trù nhận thức luận, với
các dạng biểu hiện của nó là đối tượng của khoa học cụ thể
3 Tư tưởng của Mác - Ăng ghen về vật chất.
Mặc dù Mác - Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất nhưng các ông đã chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc để nghiên cứu vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, cụ thể là:
- Đưa ra quan điểm về sự đối lập vật chất với ý thức, vạch rõ bản chất và tính thống nhất của vật chất của thế giới Sự tồn tại của thế giới
là tiền đề cho sự thống nhất của nó
- Lập luận về sự thống nhất và khác biệt giữa vật chất với tư cách làphạm trù triết học với các dạng vật chất cụ thể đang tồn tại trong hiện
thực Vật chất là sản phẩm của tư duy trừu tượng, khái quát rất cao, vật chất không tồn tại một cách cảm tính hữu hình và không thể nhận thức nó bằng con đường cảm tính giản đơn.
4 Định nghĩa của Lênin về vật chất.
Trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán", Lênin đã định nghĩa: " Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
a Vật chất là một phạm trù triết học.
- Phạm trù triết học: là những khái niệm chung nhất, rộng nhất phản
ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biếncủa toàn bộ thế giới hiện thực (TN, XH, TD)
Trang 7- Khẳng định vật chất là một phạm trù triết học là sự xác định gócđộ của việc xem xét, phân biệt dứt khoát vật chất với tư cách là mộtphạm trù triết học với quan niệm của các khoa học tự nhiên nghiên cứuvề cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng, các dạng vậtchất khác nhau.
- Vật chất với tư cách là phạm trù triết học, nó phản ánh và thể hiệnthế giới quan khoa học (mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại), khắc phụchạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình
- Vật chất là một phạm trù rộng nhất nên không thể định nghĩa bằngcách thông thường trong lôgíc học, vật chất chỉ có thể định nghĩa đượcbằng cách đặt nó trong quan hệ đối lập với ý thức xem cái nào có trước,cái nào quyết định cái nào
b Vật chất - cái tồn tại khách quan ý thức và không phụ thuộc vào ý thức con người.
- Vật chất là vô cùng vô tạn, không tự sinh ra và mất đi, nó có vô
vàn các thuộc tính khác nhau rất đa dạng và phong phú Trong đó, thuộc tính "tồn tại khách quan" bên ngoài và độc lập với ý thức con người, là
thuộc tính cơ bản, chung nhất và vĩnh hằng nhất, biến đổi với mọi dạng,mọi đối tượng khác nhau của vật chất
- Thuộc tính "tồn tại khách quan" chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái
gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất, cả trong tự nhiên và trongđời sống xã hội
Ví dụ: các quy luật kinh tế - xã hội tuy không tồn tại dưới dạng vật
thể, nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức, quyết định ý thức.Bởi vậy, nó là vật chất dưới dạng xã hội
Trang 8Thuộc tính "tồn tại khách quan" là tiêu chuẩn để khẳng định thế giới vật
chất tồn tại thật sự, tồn tại do chính nó Đó là cơ sở khoa học để đấu tranhchống lại CN duy tâm dưới mọi hình thức
c Vật chất - cái đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh:
- Vật chất tồn tại khách quan, nhưng không phải tồn tại vô hình,trừu tượng, mà là sự tồn tại hiện thực cụ thể cảm tính Khi vật chất tácđộng lên các giác quan của con người thì gây ra cảm giác ở con người,đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó Vật chất là nguồn gốckhách quan của ý thức, bởi vậy về nguyên tắc đối với thế giới vật chất,chỉ có cái con người chưa nhận thức chứ không thể có cái con người
không thể nhận thức, đây là cơ sở đấu tranh chống thuyết "không thể biết".
- Vật chất "được đem lại cho con người trong cảm giác", nó lànguồn gốc nguyên nhân của cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức vàlà nội dung của ý thức Còn cảm giác (hay ý thức) là sự chép lại, chụplại, phản ánh, nó là cái có sau và bị quyết định bởi vật chất Rõ ràng, vậtchất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai
d ý nghĩa của định nghĩa (tính cách mạng, tính khoa học).
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết đúng đắn, khoa học
vấn đề cơ bản của triết học, khắc phục được tính trực quan siêu hình,máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ Do đó,làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thành chủnghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ sở khoa học trong quan niệm duy vậttrong lĩnh vực xã hội, đó là CNDV LS Đồng thời, cũng tạo cơ sở khoahọc cho sự thống nhất giữa CNDV biện chứng và CNDV LS
Trang 9- Là cơ sở khoa học, vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống CNDT (cả khách quan và chủ quan) và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả,
đảm bảo sự đứng vững của CNDV trước sự phát triển mới của khoa họctự nhiên
- Định nghĩa vật chất của Lênin cũng trang bị thế giới quan, phương
pháp luận khoa học cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vậtchất, động viên cổ vũ họ, tin ở khả năng nhận thức của con người, tiếptục đi sau khám phá những thuộc tính mới của vật chất Do vậy, nó đã cótác dụng đưa khoa học tự nhiên (nhất là vật lý học) thoát ra khỏi khủnghoảng ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 để tiếp tục đi lên
- Cho đến nay, mặc dù khoa học tự nhiên đã tiến những bước rất dài
so với khi định nghĩa vật chất của Lênin ra đời, nhưng định nghĩa đó vẫngiữ nguyên giá trị Sự thừa nhận hay không, nó vẫn là tiêu chuẩn đểphân biệt thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, là cơ sở xácđịnh nguyên tắc tính khách quan trong xem xét SVHT
5 ý nghĩa, phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn.
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụthuộc vào ý thức Do đó, trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới phảixây dựng nguyên tắc khách quan trong xem xét SVHT, phải xuất phát từthực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
- Vật chất là cái gây nên cảm giác của con người, mà cảm giác, tưduy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó Vì vậy, trong hoạtđộng thực tiễn phải phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thứcvà cải tạo thế giới, chống tư tưởng hữu khuynh, duy ý chí, trông chờ, ỷlại vào khách quan
Trang 10- Vật chất là vô cùng vô tận, do vậy trong nhận thức và cải tạoSVHT phải xây dựng phương pháp xem xét biện chứng, chống tư tưởngsiêu hình, định kiến trong xem xét đánh giá con người và SVHT.
II Vật chất vận động, không gian, thời gian.
1 Khái niệm vận động.
Quan niệm duy vật biện chứng khẳng định vật chất và vận động
không tách rời nhau, vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồntại của vật chất
Vận động theo nghĩa chung nhất là mọi sự biến đổi nói chung ,
Ăngghen viết: " vận động hiểu theo nghĩa chung nhất " tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất" thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy"
a Vận động là phương thức tồn tại, là thuộc tính hữu cơ của vật chất.
- Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng vận động, thông qua vận động vậtchất mới biểu hiện được sự tồn tại của mình, mới chỉ rõ mình là cái gìdưới hình thức này hay hình thức khác Vì thế, vật chất không tách rờivận động, bất kỳ dạng vật chất cụ thể nào cũng đều luôn luôn vận động,không bao giờ có vật chất không vận động
- Bất cứ SVHT nào cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận,nhiều mặt nhiều yếu tố khác nhau được sắp xếp theo một kết cấu nhấtđịnh và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có ảnh hưởng và tácđộng qua lại lẫn nhau, tạo nên sự vận động biến đổi không ngừng của
Trang 11SVHT Vật chất vận động là do nguyên nhân nội tại của nó Vì thế, vậnđộng là thuộc tính hữu cơ của vật chất, là tự thân vật chất vận động.
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, do vậy mọi vậnđộng đều là vận động của vật chất Sự vận động của ý thức cũng nhưchính bản thân ý thức chỉ là sự phản ánh kết quả vật chất đang vận động
b Tính mâu thuẫn của vận động.
- Vận động gắn liền với vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất,
do đó bản thân sự vận động cũng không thể tự sáng tạo và tự tiêu diệt điđược Tính bất diệt của vận động đó chính là sự bảo toàn của vận độngcả về số lượng và chất lượng đã được khoa học tự nhiên chứng minh,khẳng định một cách chắc chắn bằng quy luật bảo toàn và chuyển hoá
năng lượng, do đó vận động là tuyệt đối.
- Vật chất tồn tại thông qua sự tồn tại của các SVHT cụ thể cảm
tính, do vậy trong sự tồn tại của vật chất tất yếu phải có sự đứng im, tức
trạng thái tĩnh của mỗi SVHT cụ thể khi nó đang còn là nó, chưa chuyển
sang dạng tồn tại khác Đứng im là trạng thái đặc thù của vận động, là
sự vận động trong trạng thái cân bằng
- Đứng im không mâu thuẫn với vận động, mà còn là tiền đề của sựvận động Bởi vì, sự vận động bản thân nó cũng là một mâu thuẫn biện
chứng Do đó, đứng im chỉ là tương đối tạm thời, vì:
+ Đứng im chỉ xảy ra trong mối quan hệ với một hệ thống tĩnh nhấtđịnh, còn trong mối quan hệ với các hệ thống tĩnh khác thì sự vật vẫnđang vận động
+ Đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động nhất định, còncác hình thức vận động khác có trong sự vật vẫn tiếp tục thực hiện
Trang 12+ Đứng im chỉ là một trạng thái đặc thù của vận động trong sự ổnđịnh tương đối của sự vật, sự vận động đó vẫn còn trong giới hạn nhấtđịnh, vẫn còn cấu trúc hệ thống bảo toàn chất của sự vật.
c Các hình thức vận động của vật chất.
- Vận động cơ học: sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không
gian
- Vận động vật lý: sự vận động của nguyên tử, phân tử, các hạt điện
tử, quá trình nhiệt điện
- Vận động hoá học: vận động của các nguyên tử trong quá trình
hoá hợp phân giải
- Vận động sinh học: trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
- Vận động xã hội: sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các
hình thái kinh tế - xã hội
d ý nghĩa của quan điểm triết học duy vật biện chứng về vận động.
- Phải xem xét sự vật trong trạng thái động, song phải phân tích đểthấy được những yếu tố nào đang biến đổi, những yếu tố nào đang ổnđịnh tạm thời Từ đó có biện pháp thích hợp tác động nhằm phục vụ lợiích con người
+ Sự vận động của cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần(cả mặt phải, mặt trái)
+ Su thế hoà hoãn và đối thoại, hợp tác và đấu tranh
+ Sự biến động của quân đội về tổ chức, tư tưởng trong điều kiệnquốc tế mới, cơ chế kinh tế mới
- Chống quan điểm siêu hình trong xem xét SVHT, chống thànhkiến định kiến trong xem xét tình hình tổ chức, con người…
Trang 13- Trong hoạt động quân sự phải nắm được quy luật hoạt động củađịch, xu hướng khả năng vận động của nó để có đối sách thích hợp.
2 Không gian và thời gian.
CNDVBC đã khẳng định rằng, không gian và thời gian là những hình thức tồn tại khách quan của vật chất, chúng tồn tại độc lập với con người và ý thức con người.
a Khái niệm không gian và thời gian.
- Không gian là hình thức tồn tại của vật chất, vận động xét về mặt
quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau
- Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động, xét về mặt độ
dài, diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình
b Tính chất của không gian và thời gian.
- Tính khách quan
- Tính vĩnh cửu và vô tận
- Tính chất không gian 3 chiều và thời gian một chiều
c Mối quan hệ giữa vận động - không gian - thời gian.
- Vật chất vận động gắn liền với không gian và thời gian, đó lànhững thuộc tính, những hình thức tồn tại khác nhau của vật chất, nhưngchúng không tách rời nhau
- Không gian và thời gian về thực chất là một thể thống nhất khônggian - thời gian
- Không có vật chất nào vận động ngoài không gian và thời gian,ngược lại không có không gian và thời gian nào lại không phải là của vậtchất vận động
3 ý nghĩa phương pháp luận.
Trang 14Trong hoạt động thực tiễn phải có quan điểm lịch sử cụ thể trongxem xét sự vận động và đứng im của SVHT cũng như trong việc xácđịnh không gian và thời gian của SVHT một cách khách quan chính xác.Chống áp đặt chủ quan, tuỳ tiện trong xem xét hoặc tách rời riêng lẻtừng thuộc tính của nó.
Nguồn gốc và bản chất của ý thức
I Quan niệm của triết học duy vật biện chứng về ý thức
1 Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm
CNDT cho rằng ý thức là thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnhviễn và là nguyên nhân sinh ra, chi phối sự tồn tại và biến đổi của thếgiới vật chất
- CNDT khách quan: khẳng định thế giới "ý niệm", hay "ý niệmtuyệt đối" sinh ra tất cả ý thức của con người chỉ là sự "hồi tưởng" hoặc
"tự ý thức" của "ý niệm tuyệt đối"
- CNDT chủ quan: khẳng định ý thức là do cảm giác sinh ra, cảmgiác là cái vốn có tách biệt với thế giới bên ngoài
2 Chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Phủ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, nhưng đi tìm nguồn gốc
của ý thức ngay trong thế giới vật chất và cho rằng: "óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật" Họ coi ý thức cũng là vật chất mà không thấy được sự khác biệt về chất giữa vật chất với ý thức.
3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Cho rằng ý thức là một phạm trù triết học Mác-Lê-nin, dùng để chỉ
một hình thức phản ánh thế giới khách quan, nhưng là dạng phản ánh
Trang 15của vật chất có tổ chức cao nhất là não người ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
- ý thức con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên vàlịch sử xã hội
II Nguồn gốc và bản chất của ý thức.
1 Nguồn gốc của ý thức.
a CNDT: Cho ý thức là lực lượng siêu tự nhiên hoặc thuần tuý do
chủ quan của con người.
b CNDV siêu hình: Cố gắng đi tìm nguồn gốc của ý thức, coi ý
thức là thuộc tính thuần tuý của các cơ quan chức năng con người "óc tiết
ra ý thức như gan tiết ra mật".
c CNDV biện chứng: Khẳng định ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội.
* Nguồn gốc tự nhiên.
Triết học Mác-Lê-nin khẳng định, ý thức là đặc tính riêng của mộtdạng vật chất sống có tổ chức cao nhất, là bộ óc người, là sự phản ánhthế giới khách quan và bộ óc người
- ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người "đó là đặc tính phản ánh" Bộ não con người là cơ quan
vật chất của ý thức Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người trên
cơ sở các quá trình sinh lý thần kinh của não
- Phản ánh là thuộc tính khách quan vốn có của mọi dạng vật chất,cùng với quá trình vận động của vật chất Các hình thức phản ánh cũngngày càng phát triển
Trang 16+ Sự sống ra đời phát triển lên hình thức phản ánh mới về chất, đólà tính kích thích của giới thực vật.
+ Tính thích nghi của động vật chưa có hệ thần kinh
+ Tính cảm ứng năng lực cảm giác của động vật có hệ thần kinh.+ Động vật bậc cao, sự phản ánh được thực hiện dưới sự điều khiểncủa hệ thần kinh Đó là sự phản ánh tâm lý ở động vật với môi trườngchưa phải là phản ánh bằng ý thức của con người
+ Sự vận động tiến hoá của vật chất hình thành bộ óc con người, là
cơ quan phản ánh thế giới vật chất ở trình độ cao nhất, đó là phản ánhbằng ý thức
+ ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người Đó lànăng lực giữ lại, tái hiện thế giới hiện thực bởi bộ óc của con người
- Như vậy, sự hình thành bộ óc con người, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh và sự tác động của thế giới xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
* Nguồn gốc xã hội:
Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xãhội loài người nhờ hoạt động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn
ngữ Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức.
- Lao động là hoạt động đặc thù của con người , nhờ lao động mà
năng lực phản ánh của bộ óc người ngày càng phát triển
+ Quá trình lao động đã từng bước hoàn thiện con người, làm biếnđổi chính bản thân con người, làm cho con người ngày càng nhận thứcsâu sắc hơn về thế giới
Trang 17+ Lao động làm cho bộ não con người ngày càng phát triển và hoànthiện, khả năng tư duy trừu tượng ngày càng cao Hoạt động lao động đãđưa lại cho bộ não người năng lực phản ánh sáng tạo về thế giới.
+ Quá trình lao động sản xuất con người hình thành nhu cầu quan
hệ, trao đổi kinh nghiệm, giao tiếp Do đó, lao động còn là cơ sở hình thành và phát triển ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ là cái "vỏ vật chất" của tư duy , là phương tiện để con
người giao tiếp trong xã hội, là phương tiện vật chất của sự phản ánhkhái quát hoá, trừu tượng hoá sự vật hiện tượng, đó cũng là quá trìnhhình thành ý thức
- Lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích là chủ yếu để biến bộnão con vật thành bộ não con người, biến phản ánh tâm lý động vậtthành phản ánh ý thức
* Mối quan hệ giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức.
- Đây là mối quan hệ biện chứng không tách rời; nếu như nguồn gốctự nhiên là điều kiện cần, thì nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để hìnhthành ý thức con người
Như vậy, ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức, là thực tiễn xã hội ý thức là một hiện
tượng xã hội, đây là cơ sở khoa học để phê phán chủ nghĩa duy tâm, chủnghĩa duy vật siêu hình về ý thức
d ý nghĩa phương pháp luận.
Trang 18- Trong hoạt động thực tiễn, việc xây dựng ý thức con người phảichăm lo cả hai mặt, cả thể lực và tinh thần, phải tạo môi trường xã hộiđưa con người vào hoạt động.
- Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu quan hệ giữa mặt sinh học và mặtxã hội của con người
2 Bản chất của ý thức.
CNDV biện chứng khẳng định, ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế
giới vật chất vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
* ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, được biểu hiện:
- ý thức là hình ảnh của sự vật , là sự phản ánh thế giới khách quan
được thực hiện trong não người, gắn liền với hoạt động khái quát hoá,trừu tượng hoá, có tính định hướng, có lựa chọn nhằm tạo ra những tri
thức về sự vật, hiện tượng của thế giới khác quan, là bản sao hình ảnh thế giới, là tính thứ hai.
- ý thức là hình ảnh chủ quan , tức là hình ảnh tinh thần chứ không
phải là hình ảnh vật lý (soi gương, chụp ảnh) ý thức lấy cái khách quanlàm tiêu đề, nội dung của nó là si thế giới khách quan quy định
- ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nghĩa là sự
phản ánh mang tính sáng tạo, tích cực về thế giới khách quan
+ Phản ánh của ý thức là sáng tạo do nhu cầu thực tiễn quy định Sựsáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh dựa trên cơ sở phản ánh,sự sáng tạo phụ thuộc vào năng lực chủ thể phản ánh
+ Phản ánh ý thức là tích cực sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũngdựa trên hoạt động thực tiễn xã hội và là sản phẩm của các quan hệ xã
Trang 19hội, chịu sự chi phối chủ yếu của các quy luật xã hội do nhu cầu giaotiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định.
Do vậy, ý thức mang bản chất xã hội.
* ý nghĩa phương pháp luận:
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tếkhách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan, chống chủquan duy ý chí, tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều, xa rời thựctiễn
- Để phát triển ý thức con người, cần phải chăm lo bồi dưỡng hệthống phương pháp khoa học, tri thức khoa học, lập trường quan điểmcách mạng, giáo dục đúng các lợi ích và chăm lo đời sống vật chất tinhthần, coi trọng và phát huy vai trò công tác tư tưởng
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất và ý thức.
- Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
- ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất và bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
- Vật chất và ý thức đều là hiện thực, đều tồn tại thực Điểm khác
nhau căn bản là vật chất tồn tại khách quan, là hiện thực khách quan
Trang 20thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi nhận thức luận cơ bản.Ngoài phạm vi đó, sự đối lập ấy chỉ là tương đối.
CNDV biện chứng khẳng định: vật chất và ý thức là hai phạm trù khác nhau về bản chất, nhưng lại có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ biện chứng đó xét đến cùng, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức Song, ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất.
a Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức.
- Vật chất là cái vốn có, tồn tại khách quan độc lập với ý thức, lànguồn gốc sinh ra ý thức, nhờ quá trình vận động tiến hoá trong thế giớivật chất đã sinh ra bộ não con người - cơ quan vật chất của ý thức
- Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào nãongười, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Do đó thếgiới khách quan là nguồn gốc của sự phản ánh của ý thức, nó quyết địnhnội dung của ý thức
- Thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi và phát triển, ý thức cũngluôn luôn vận động, biến đổi và phát triển theo Vì vậy khẳng định vật chấtquyết định sự vận động phát triển của ý thức
b ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất:
Bản chất sự phản ánh của ý thức mang tính sáng tạo tích cực Nó cóthể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của conngười, cải tạo biến đổi hiện thực khách quan
- Nói vai trò tác động của ý thức thực chất là nói tới vai trò của conngười và hoạt động thực tiễn của họ Do đó, điều kiện kiên quyết để ýthức tác động trở lại được vật chất đó là hoạt động thực tiễn
Trang 21- ý thức tác động lại vật chất theo hai chiều, nó có thể thúc đẩy hoặckìm hãm một mức độ nhất định, hoạt động thực tiễn của con người trongquá trình biến đổi một hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và sắc thái, quy mônhịp độ của nó.
- Chiều hướng, mức độ tác động phụ thuộc vào trình độ, nội dung ýthức mà chủ thể phản ánh về thế giới vật chất, mức độ thâm nhập của ýthức vào lực lượng vật chất và việc ý thức chỉ đạo hoạt động thực tiễn(việc nắm bắt quy luật khách quan, xác định mục tiêu phương hướng,quyết tâm, ý chí thực hiện mục tiêu đó)
- Vai trò sáng tạo, tích cực của ý thức con người trong quá trình cảitạo thế giới hiện thực, phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phảidựa trên phản ánh thế giới khách quan
d ý nghĩa phương pháp luận:
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải bảo đảm tính kháchquan chống thái độ chủ quan duy ý chí
- Phát huy tính năng động sáng tạo tích cực của nhân tố con ngườitrong hoạt động thực tiễn
Trang 223 Từ mối quan hệ vật chất ý thức, giải quyết mối quan hệ khách quan - chủ trong quan hệ thực tiễn.
a Vì sao phải giải quyết mối quan hệ khách quan - chủ quan:
- Thực chất mối quan hệ vật chất - ý thức là mối quan hệ giữa conngười và phần còn lại của thế giới khách quan Trong mối quan hệ đócon người là chủ thể tác động vào thế giới để nhận thức và cải tạo nó,còn thế giới vật chất chịu sự tác động, cải tạo của con người là kháchthể
- Con người cải tạo thế giới không phải trực tiếp bằng ý thức màbằng hoạt động vật chất được ý thức chỉ đạo Hoạt động thực tiễn đó làkhâu trung gian giữa nhân tố chủ quan (tri thức, tình cảm, ý chí) của chủthể với nhân tố khách quan (điều kiện, hoàn cảnh, môi trường, quy luậtvận động…) Vì vậy trong hoạt động thực tiễn phải giải quyết mối quanhệ khách quan, chủ quan
b Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về khách quan và chủ quan:
- Khách quan là phạm trù dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại độc lập
không lệ thuộc vào ý thức của chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiệnthực, thường xuyên và trực tiếp quy định mọi hoạt động của chủ thể(điều kiện khách quan, quy luật khách quan, khả năng khách quan)
- Chủ quan là tất cả những yếu tố hợp thành những phẩm chất năng
lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của chủ thể tạo nên tính năng động,sáng tạo của chủ thể trong nhận thức và cải tiến hiện thực khách quan
Như vậy, khách quan không đồng nghĩa với vật chất Trong hoạt
động của con người, phạm vi khách quan có thể xác định được Trong
Trang 23khách quan, không chỉ có hiện tượng vật chất mà còn có hiện tượng tinhthần, những hiện tượng đó không lệ thuộc vào ý thức.
Chủ quan không đồng nhất với ý thức Chủ quan không chỉ là trạng
thái bên trong chủ thể mà còn là năng lực tổ chức thực tiễn của chủ thể
b Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan.
Khách quan và chủ quan là hai mặt không tách rời nhau, trong đó khách quan là tính thứ nhất quyết định chủ quan, chủ quan là tính thứ hai tác động trở lại khách quan.
* Khách quan quyết định chủ quan:
- Xuất phát từ hoạt động của con người đều là sự phản ánh nhữngnhu cầu đã chín muồi của đời xã hội, không phải ảo tưởng tuỳ tiện.Những nhiệm vụ mà do con người phải giải quyết đều do lịch sử đề ravà quy định nội dung, biện pháp giải quyết Hoạt động của con người
chủ yếu để phát hiện và vận dụng những quy luật khách quan… Do đó khách quan là cơ sở, tiền đề, điểm xuất phát là cái quyết định chủ quan.
- Khách quan quyết định sự ra đời của chủ quan (sự nảy sinh ý định
của chủ thể); quyết định nội dung chủ quan (mục đích, kế hoạch, biệnpháp cải tạo khách quan); quyết định giới hạn thành công và sự biến đổicủa chủ quan
* Chủ quan có vai trò to lớn trong biến đổi cải tạo khách quan thông qua hoạt động thực tiễn:
- Vì cái chủ quan mang nội dung khách quan, nhưng tồn tại trongchủ thể, chỉ đạo hoạt động của chủ thể để nhằm thoả mãn nhu cầu củachủ thể Nhu cầu đó bản thân khách quan không thể đáp ứng được, màphải có sự tác động biến đổi của chủ quan (vai trò của con người là chủ
Trang 24- Chủ quan tác động biến cái khách quan thành khách thể, thành đốitượng để nhận thức và cải tạo trong thực tiễn vì mục đích và nhu cầu củachủ thể Chủ quan có thể tác động vào điều kiện khách quan tạo ranhững điều kiện khách quan cần thiết cho hoạt động của mình Trên cơsở nhận thức quy luật khách quan và điều kiện hoạt động của nó chủquan có thể điều chỉnh hình thức hoạt động của quy luật và trong nhữngđiều kiện khách quan nhất định, chủ quan có thể biến những khả năngkhách quan thành hiện thực theo nhu cầu của đời sống xã hội.
4 Từ mối quan hệ khách quan - chủ quan vận dụng trong lĩnh vực quân sự.
- Khách quan trong quân sự bao gồm những hiện tượng, những quátrình và quy luật khách quan của đấu tranh vũ trang của chiến tranh vàmối quan hệ của nó hợp thành một hoàn cảnh hiện thực quy định hoạtđộng của chủ thể quân sự
- Chủ quan trong quân sự là tổng hợp những tri thức, tình cảm, ý chívà năng lực hoạt động thực của chủ thể quân sự trong việc nhận thức vàcải tạo khách quan quân sự
* Trên cơ sở mối quan hệ khách quan… chủ quan trong hoạt động thực tiễn, vận dụng trên lĩnh vực quân sự khẳng định: khách
quan quân sự quyết định chủ quan quân sự, biểu hiện:
- Mối quan hệ giữa chủ thể quân sự (người chỉ các đơn vị thuộc
quyền) với hệ thống các quy luật tác động vào quá trình chuẩn bị và sửdụng công cụ quân sự
- Sự đối địch giữa các bên tham chiến
- Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quân sự với điều kiện hoàncảnh đất nước, quân đội và thực tế chiến trường
Trang 25* Khi vận dụng cần chú ý:
- Nhận thức rõ đặc biệt hoạt động quân sự là hoạt động đặc biệt,tình huống luôn biến đổi, công cụ đặc biệt, tính chất đối kháng quyết liệtgiữa các bên tham chiến
- Luôn quán triệt quy luật chiến tranh mạnh được yếu thua, từ đóphát huy vai trò chủ quan làm biến đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta
- Giải quyết khoa học mối quan hệ con người và vũ khí, giữa côngtác tư tưởng với công tác tổ chức
- Chống tuyệt đối hoá bất cứ mặt nào
Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến
a Vị trí của nguyên lý.
Đây là một trong nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.Nguyên lý này được coi là một đặc trưng cơ bản của phép biện chứngduy vật xem xét thế giới như một chỉnh thể
* Tại sao gọi là Nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật ?
- Nguyên lý cơ bản được hiểu như là cơ sở đầu tiên bao quát nhấtbức tranh tổng quát của hiện thực khách quan; đồng thời là tư tưởng chỉđạo cơ bản, quy tắc cơ bản để xem xét và hành động
- Với nguyên lý này, phép biện chứng duy vật chẳng những đi sâunghiên cứu cái riêng mà còn khả năng phát hiện cái chung của mọiSVHT, chỉ ra bản chất của chúng
Trang 26- Việc nắm vững Nguyên lý này là cơ sở trực tiếp xác định quanđiểm toàn diện, lịch sử, cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn,cải tạo hiện thực khách quan.
b Nội dung của nguyên lý:
Mọi SVHT của thế giới đều tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất,thông qua các mối liên hệ và quan hệ chằng chịt giữa chúng với nhau,ràng buộc và tác động lẫn nhau Không có SVHT nào tồn tại một cách
cô lập, tách rời với các SVHT khác
(Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ phổbiến nhất quy định sự tồn tại và phát triển của các SVHT; không đi vàocác mối liên hệ, quan hệ cụ thể như các khoa học khác)
* Liên hệ là gì?
Liên hệ là một phạm trù triết học chỉ sự nương tựa, phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề cho nhau và quy định lẫn nhau của các SVHT.
- Liên hệ là một đặc trưng của thế giới khách quan Thế giới là mộtchỉnh thể thống nhất ở tính vật chất và tính biện chứng
- Liên hệ là cơ sở tồn tại của sự vật, khi các mối liên hệ thay đổi thìsự vật cũng thay đổi
- Liên hệ không đồng nhất với quan hệ, quan hệ rộng hơn liên hệ
* Đặc trưng của sự liên hệ:
- Tính khách quan của liên hệ: Đó là những mối liên hệ hiện thựccủa bản thân thế giới vật chất, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chấtcủa thế giới và tính thống nhất biện chứng trong thế giới vật chất
Trang 27- Tính phổ biến của liên hệ: Mối liên hệ phổ biến thể hiện trên tất cảcác lĩnh vực (tự nhiên, xã hội, tư duy; trong các SVHT, các quá trìnhphát triển của SVHT; trong các mặt; các yếu tố của mỗi SVHT.
- Tính phong phú về phạm vi, cấp độ, vai trò, tính chất của các mốiliên hệ đối với sự tồn tại và phát triển của SVHT
- Mối liên hệ của các SVHT luôn ở trạng thái vận động và chuyểnhoá lẫn nhau, nhờ đó mà sự phát triển không ngừng
c ý nghĩa phương pháp luận.
- Trong nhận thức và cải tạo thế giới phải xây dựng quan điểmkhách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể trong xem xét SVHT
- Đấu tranh khắc phục quan điểm siêu hình, chủ nghĩa triết trung vàthuật nguỵ biện
* Vận dụng của Đảng ta trong xem xét đánh giá thành tựu công cuộc
đổi mới trong 20 năm
2 Nguyên lý về sự phát triển.
a Vị trí của nguyên lý.
Đây là một trong 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật,nó khẳng định khuynh hướng phát triển tất yếu của SVHT của thế giới.Nguyên lý về sự phát triển nó gắn liền với Nguyên lý về mối liên hệ phổbiến
b Nội dung nguyên lý.
Mọi SVHTđều vận động và biến đổi không ngừng, trong đó phát triển là khuynh hướng chung mang tính tất yếu của mọi SVHT trong thế giới khách quan.
* Phát triển là gì?
Trang 28Phát triển là sự vận động tiến lên (từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày hoàn thiện) cái mới ra đời thay thếcái cũ.
Phát triển và vận động vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt
- Vận động là sự biến đổi nói chung, không rõ tính chất, khuynhhướng
- Phát triển là sự vận động có khuynh hướng tiến lên, sự vận độngmang tính phổ biến, tính tất yếu và gắn liền với sự ra đời của cái mới
* Đặc điểm tính chất của sự phát triển:
- Phát triển là thuộc tính khách quan vốn có của mọi SVHT, làkhuynh hướng chung của thế giới Nó không phải là khuynh hướng duynhất của sự vận động, nhưng là khuynh hướng chủ đạo của toàn bộ sựvận động của SVHT
- Phát triển là khuynh hướng mang tính phổ biến xảy ra trên mọilĩnh vực (tự nhiên, xã hội, tư duy), trong mọi SVHT của thế giới kháchquan Sự phát triển diễn ra theo chiều hướng từ thấp đến cao
- Sự phát triển là sự thay đổi về chất của SVHT, trong đó nguồngốc, động lực của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập trong SVHT Cách thức của sự phát triển là đi từ tích luỹ dần vềlượng đến thay đổi về chất và ngược lại Khuynh hướng của sự pháttriển đi từ thấp lên cao theo đường xoáy ốc quanh co, mang tính kế thừavà cái mới là cái tất thắng ra đời ở trình độ cao hơn cái cũ
c ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hành động phải có quan điểm phát triển Xemxét SVHT phải trong trạng thái vận động, tìm ra các xu hướng biến đổi,
Trang 29xu hướng phát triển của nó (Đặc biệt trong xem xét đánh giá tình hìnhhiện nay).
- Xây dựng quan điểm phát triển đúng đắn mà nội dung của nó là:Phải tìm ra khả năng phát triển trong sự vật, tìm ra cái mới, hướng tớicái mới Bồi dưỡng vun trồng cho cái mới (kiên định ủng hộ CNXH)
- Thấy rõ sự phát triển là một quá trình khó khăn phức tạp, mangtính khuynh hướng Do đó đánh giá sự vật phải có quan điểm lịch sử cụthể Đồng thời phải xây dựng niềm tin tinh thần lạc quan của người cáchmạng vào sự tất thắng của cái mới
- Kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến,bệnh lạc quan tếu không có cơ sở, giản đơn…
- Đây cũng là cơ sở để xem xét, đánh giá, sử dụng con người trongxã hội và trong lực lượng vũ trang
những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
a Vị trí quy luật.
Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Nóvạch rõ nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển của SVHT là hạtnhân của phép biện chứng; là chìa khoá để hiểu sâu sắc các quy luật, cácphạm trù của phép biện chứng duy vật, đi sâu vào bản chất của các sựvật, các quá trình
Khẳng định vai trò của quy luật này nó có ý nghĩa quan trọng vềphương pháp luận, nó khẳng định được tính chỉnh thể, hệ thống hữu cơchặt chẽ của phép biện chứng duy vật
b Nội dung quy luật:
Trang 30Mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều là những chỉnh thể thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối tạm thời, thoáng qua, là điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, là nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển.
Như vậy quy luật này nói lên những tác động qua lại giữa các mặt đốilập và vai trò của những tác động này đối với sự vận động và phát triển củasự vật Nội dung quy luật được làm sáng tỏ thông qua các phạm trù "mặt đốilập", "sự thống nhất" và "đấu tranh giữa các mặt đối lập"
* Mặt đối lập và mâu thuẫn biện chứng.
- Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặcđiểm, những thuộc tính, những quy định có khuynh hướng biến đổi tráingược nhau, tồn tại một cách khách quan, trong sự vật, hiện tượng củatự nhiên, xã hội và tư duy
- Mâu thuẫn biện chứng là phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập, trước hết là hai mặt đối lậpcùng tồn tại trong sự vật, hiện tượng
- Mâu thuẫn biện chứng có tính khách quan, tính phổ biến và tínhphong phú nhiều vẻ
* Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, là điều kiện tồn tại của sự vật hiện tượng.
- Sự thống nhất là sự liên hệ, ràng buộc; quy định lẫn nhau nươngtựa vào nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tạicho mình
- Sự thống nhất còn được hiểu là sự tác động ngang nhau trong tươngquan giữa hai mặt đối lập tạo nên sự cân bằng tạm thời, sự ổn định tương đối
Trang 31của sự vật Mặt khác còn được hiểu như là sự đồng nhất giữa các mặt đối lậptrong một chỉnh thể do chúng có những nhân tố chung giống nhau.
- Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối tạm thời, thoángqua, có điều kiện Song nó là cơ sở tồn tại của sự vật hiện tượng, là điềukiện để các mặt đấu tranh với nhau
* Sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, là nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển của SVHT.
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự liên hệ, tác động qua lại theo
xu hướng bài trừ và phủ định nhau dẫn đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữacác mặt đối lập trong cùng một SVHT
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu như một quá trình,trong đó mâu thuẫn được triển khai nhiều giai đoạn từ thấp lên cao vớitính chất ngày càng phức tạp, gay gắt dẫn tới phá vỡ sự thống nhất, sựvật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, lại có sự thống nhất và đấu tranh mới
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu như là sự tương quan
so sánh giữa các mặt đối lập với nhau, dẫn tới sự chuyển hoá của cácmặt đối lập trong những điều kiện nhất định làm thay đổi về chất củacác mặt đối lập Sở dĩ như vậy là do vai trò không bằng nhau của cácmặt đối lập trong sự phát triển của sự vật
* Mối quan hệ biện chứng giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Sự đấu tranh là nguồn gốc, của sự vật, khi sự vật mới ra đời tạo điềukiện, tiền đề cho thống nhất mới ở trình độ cao hơn
c ý nghĩa phương pháp luận.
- Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật hiện
Trang 32hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan (cải tạo SVHT) phảinhận thức được mâu thuẫn trong SVHT để biết được nguồn gốc của sựphát triển.
- Mỗi SVHT là tổng thể các mâu thuẫn khách quan đa dạng vềnguồn gốc, tính chất và sự vận động biến động Mỗi mâu thuẫn có vaitrò khác nhau trong sự vận động phát triển của sự vật Vì vậy khi phântích mâu thuẫn phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, quá trình phátsinh, phát triển của các mặt đối lập đó, nghiên cứu sự đấu tranh củachúng qua từng giai đoạn, đánh giá đúng tính chất vai trò của từng mặtđối lập và cả mâu thuẫn trong từng giai đoạn, có biện pháp phù hợp khigiải quyết mâu thuẫn của SVHT
- Về nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn phải bằng con đường đấutranh và mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi.Phải có những biện pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn khác nhau phùhợp với tính chất mâu thuẫn Chống tuyệt đối hoá một mặt nào đó củamâu thuẫn để dẫn đến tả khuynh hoặc hữu khuynh
* Vận dụng của Đảng ta:
Đây là cơ sở lý luận để Đảng ta đưa ra chính sách đối ngoại rộngmở, thừa nhận sự cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trịxã hội khác nhau Thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quanhệ Việt Nam là bạn với các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủquyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau (đặc biệt không được can thiệp vào việc lựa chọn con đường đilên), bình đẳng cùng có lợi, cùng đấu tranh cho các mục tiêu của thời đạilà : Hoà bình - độc lập dân tộc - dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 332 Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.
a Vị trí quy luật:
Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nónói lên phương thức của quá trình vận động, phát triển, nó vạch ra cơchế, cách thức, trình tự và trạng thái của sự phát triển thay thế SVHTnày bằng SVHT khác
b Nội dung quy luật.
Bất kỳ SVHT nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dần thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy, chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng, tạo khả năng mới cho sự phát triển về lượng Cứ như vậy SVHT vận động phát triển không ngừng.
* Khái niệm về chất.
"Chất" là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của
sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính của từng sựvật
- Chất được tạo dựng bởi các thuộc tính, là sự tổng hợp với tư cáchlà một thể thống nhất hữu cơ các thuộc tính căn bản
- Chất của sự vật biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật, là cáivốn có không tách rời sự vật, do đó nó tồn tại khách quan không lệ thuộcvào cảm giác chủ quan của con người
* Khái niệm về lượng.
Trang 34"Lượng" là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có
của sự vật được biểu thị số lượng, quy môn, nhịp điệu của sự vận độngvà phát triển của sự vật
- Lượng được xác định bởi số lượng các thuộc tính, tổng hợp các bộphận cấu thành sự vật và các đại lượng đặc trưng cho sự vật đó Lượnglà cái quy định khách quan, vốn có, là cái riêng của sự vật
- Lượng cũng dùng để phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật vềquy mô, nhịp độ, màu sắc
* Mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất:
- Chất và lượng trong một SVHT không tách rời nhau, chúng quan
hệ thống nhất với nhau và tác động lẫn nhau Đó là quan hệ thống nhấtvà đấu tranh giữa hai mặt đối lập giữa cái thường xuyên biến đổi với cáitương đối ổn định
- Từ những thay đổi dần dần về lượng đến mức độ nhất định dẫnđến sự biến đổi về chất Quá trình biến đổi dần dần về lượng cũng chínhlà quá trình tích luỹ trong độ Đó là khuôn khổ mà trong đó sự thay đổivề lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật
+ Khái niệm độ: Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất
giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượngchưa làm thay đổi về chất của sự vật
Điểm mà từ độ này sang độ khác, khi chất cũ mất đi, chất mới ra đờigọi là điểm nút
+ Khái niệm điểm nút: Điểm nút là điểm quá độ từ độ này sang độ
khác (còn gọi là điểm nhảy vọt) là giới hạn mà quá trình biến đổi vềlượng dẫn đến sự thay đổi về chất
Trang 35Sự biến đổi phát triển của sự vật là một quá trình Quá trình đó là sựthống nhất giữa sự biến đổi dần dần về lượng và những bước nhảy vọtvề chất, giữa cái liên tục và cái gián đoạn Quá trình đó diễn ra vô sốđiểm nút, tạo thành "đường nút của độ".
Sự thay đổi về chất của SVHT do những sự thay đổi về lượng trước đógây ra gọi là bước nhảy:
+ Khái niệm bước nhảy: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ giaiđoạn chuyển hoá về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đógây ra (có bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần, bước nhảy toàn cục,cục bộ)
- Sau khi ra đời chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng.+ Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thayđổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật đó
+ Không phải chỉ đến khi chất mới ra đời mới tác động trở lại lượngmới, mà chất, lượng tác động biện chứng với nhau ngay khi sự vật vẫncòn là nó
c ý nghĩa phương pháp luận.
- Trong nhận thức hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan,để có tri thức đầy đủ về sự vật phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chấtcủa nó Để đưa sự vật phát triển phải kiên trì tích lũy về lượng, chốnggiản đơn, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn
- Trong hoạt động thực tiễn cách mạng phải xây dựng tư tưởng cáchmạng tiến công, kiên trì tích luỹ về lượng, biết chuẩn bị đầy đủ mọi điềukiện, tạo thời cơ, nắm chắc thời cơ Khi thời cơ đến phải kiên quyết nhảyvọt về chất, chống do dự mất thời cơ
Trang 36- Hiểu đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượngvà sự thay đổi về chất, trong hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội phải biếtkịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từnhững thay đổi mang tính tiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng.Chống chủ nghĩa cải lương, xét lại, hữu khuynh, cũng như tả khuynh.
* Đảng ta vận dụng trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và
trong công cuộc đổi mới toàn diện, đổi mới trên từng lĩnh vực hiện nay
* Trong quân đội: Xây dựng quân đội cách mạng chính quy tinh
nhuệ, từng bước hiện đại; có sức mạnh tổng hợp sức chiến đấu cao
3 Quy luật phủ định của phủ định.
a Vị trí quy luật.
Là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó vạch rakhuynh hướng của sự vận động, phát triển của SVHT Mối liên hệ giữa cáicũ và cái mới trong quá trình phát triển của SVHT
b Nội dung quy luật.
Khuynh hướng chung của mọi SVHT là phát triển tiến lên theo phương thức cái mới phủ định cái cũ Cái mới vừa gạt bỏ cái cũ, vừa kế thừa hạt nhân trong lòng cái cũ để khẳng định sự tiến lên Con đường tiến lên trong sự phát triển là con đường quanh co, phức tạp, xoáy ốc, cái mới ra đời là cái tất thắng.
* Phủ định biện chứng, mắt, khâu tất yếu của sự phát triển.
- Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân pháttriển, là mắt, khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới tiến bộhơn so với cái bị phủ định
- Phủ định biện chứng có hai đặc trưng cơ bản:
+ Mang tính khách quan, phổ biến, là điều kiện của sự phát triển
Trang 37+ Mang tính kế thừa, là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới.
* Phủ định của phủ định, cơ chế nội tại của sự phát triển:
- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳphát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếptheo
+ Phủ định biện chứng lần thứ nhất chuyển các xuất phát thành cácđối lập với mình (gọi là các trung gian)
+ Phủ định biện chứng lần thứ hai, chuyển cái trung gian thành cáiđối lập của nó Do đó, xuất hiện sự vật dường như lặp lại cái xuất phát,nhưng trên cơ sở mới cao hơn
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sựphát triển Sự phát triển đó không phải diễn ra theo đường thẳng mà theođường "xoáy ốc" Đó chính là hình thức biểu đạt rõ ràng nhất đặc trưng
của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại (nhưng không quay trở lại) và tính chất tiến lên của sự phát triển vô cùng, vô tận từ thấp đến cao.
- Chú ý: + Một chu kỳ phát triển của sự vật phải trải qua hai lần phủ
định cơ bản, song các bước phủ định hết sức phong phú, trong một lầnphủ định có nhiều phủ định trung gian, tuỳ theo tính chất của từngSVHT
+ Con đường phát triển tiến lên dù quanh co phức tạp như thế nào,thì cuối cùng cũng cho sự ra đời của cái mới (cái hợp quy luật phát triểnkhách quan); cái mới là cái tất thắng, mặc dù lúc đầu có thể nó còn nonyếu và bị cái cũ cản trở
c ý nghĩa phương pháp luận.
Trang 38- Trong hoạt động nhận thức, cũng như hoạt động thực tiễn, khi xemxét sự vật phải phân tích kỹ bản chất của nó để tìm ra chu kỳ, chiềuhướng phát triển cơ bản, dự kiến những bước quanh co của sự phát triển,khẳng định cái mới nhất định sẽ ra đời từ cái cũ, nó kế thừa tất cả nhữngmặt tích cực của cái cũ; nó là cái tiến bộ, nhất định sẽ chiến thắng cái cũlạc hậu.
- Trong hoạt động thực tiễn phải biết phát hiện và quý trọng cáimới, hướng tới và ủng hộ cái mới Khi phê phán cái cũ cần biết lọc bỏmặt lạc hậu, kế thừa những nhân tố hợp lý; chống phủ định sạch trơn,hoặc kế thừa nguyên vẹn
- Nghiên cứu quy luật là cơ sở khoa học để xây dựng lòng tin, xâydựng lập trường cách mạng kiên định, vững vàng
* Vận dụng của Đảng ta:
- Xác định con đường đi lên CNXH
- Xác định nguyên tắc chung trong công cuộc đổi mới, chống phủ địnhsạch trơn
* Quân đội phải kế thừa cái gì?
Các cặp phạm trù cơ bản
Trang 39của phép biện chứng duy vật
1 Cái chung và cái riêng.
a Khái niệm.
- Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá
trình riêng lẻ nhất định
- Cái chung là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính chung được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trìnhriêng lẻ
* Cần phân biệt cái riêng với cái đơn nhất.
Cái đơn nhất: Là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt,
những thuộc tính, chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không đượclặp lại ở bất cứ một kết cấu vật chất nào khác
b Mối quan hệ qua lại giữa cái riêng và cái chung.
Cái riêng và cái chung đều tồn tại thực sự giữa chúng có quan hệqua lại với nhau:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Nghĩa
là cái chung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng, chứ khôngtồn tại biệt lập, lơ lửng bên cạnh cái riêng
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ đưa đến cái chung Nghĩa
là bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại thực sự trong một môi trường, mộthoàn cảnh nhất định, đều tham gia vào các mối quan hệ qua lại hết sức
đa dạng với các SVHT xung quanh mình
- Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung là cái bộ phận sâu sắc hơn, bản chất hơn cái riêng Nghĩa là cái riêng là
cái chỉnh thể, nó không gia nhập hết vào cái chung, cái chung là một bộ
Trang 40phận, một khía cạnh hay một bản chất của cái riêng, xuyên suốt trongnhiều cái riêng.
- Trong những điều kiện nhất định, cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá được cho nhau Sự chuyển hoá ở đây là chỉ sự liên hệ thống
nhất quy định lẫn nhau giữa các SVHT, hoặc giữa các mặt, các thuộctính trong cùng SVHT
c ý nghĩa phương pháp luận:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, nên chỉ có thể tìm cái chungtrong cái riêng; xuất phát từ những cái riêng, chứ không thể xuất phát từ ýmuốn chủ quan của con người Do đó trong nhận thức và hoạt động thựctiễn, phải phát hiện cái chung, vận dụng cái chung để cải tạo cái riêng
- Cái chung tồn tại trong cái riêng như một bộ phận của cái riêng,chịu sự tác động của các bộ phận còn lại trong cái riêng, nên bất cứ cáichung nào cũng bị cải biến Do đó khi áp dụng cái chung vào cái riêngphải làm cho cái chung phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cáiriêng
- Trong hoạt động thực tiễn phải tạo điều kiện cho sự chuyển hoácái riêng tiến bộ thành cái chung, cái chung lạc hậu thành cái riêng
* Vận dụng phân tích quan điểm của đảng về trung thành và sáng tạo trong việc xác định đường lối?
* Trong lĩnh vực quân sự: Dựa trên các nguyên tắc, quy luật chiến tranh, sáng tạo trong nghệ thuật quân sự, cách đánh để giành thắng lợi
?
2 Nguyên nhân và kết quả.
a Khái niệm: