Tên đề tài : “ MỘT SỐ HÌNH THỨC KÍCH THÍCH HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG TIẾT HỌC NGỮ VĂN ”.. Thực trạng ,lí do chọn đề tài : Trước khi chúng ta cải cách sách giáo khoa , học sinh
Trang 1PHÒNG GD&ĐT H ĐÔNG GIANG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THCS KIM ĐỒNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SKKN
Năm học : 2009 - 2010
1 Tên đề tài : “ MỘT SỐ HÌNH THỨC KÍCH THÍCH HỨNG THÚ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRONG TIẾT HỌC NGỮ VĂN ”
2 Họ và tên tác giả : Nguyễn Thị Linh Sương
3 Chức vụ : Giáo viên Tổ : Khoa học Xã hội
4 Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài
a Ưu điểm :
b Khuyết điểm :
5 Đánh giá xếp loại : Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Nhà trường
thống nhất xếp loại :
NHỮNG NGƯỜI THẨM ĐỊNH CHỦ TỊCH HĐKH
ĐÁNH GIÁ - XẾP LOẠI CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT huyện thống nhất xếp loại :
Trang 2NHỮNG NGƯỜI THẨM ĐỊNH CHỦ TỊCH HĐKH
I TÊN ĐỀ TÀI : “ MỘT SỐ HÌNH THỨC KÍCH THÍCH HỨNG THÚ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRONG TIẾT HỌC NGỮ VĂN ”
II ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Tầm quan trọng của vấn đề đang nghiên cứu:
- “ Văn học là nhân học” Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống và trong
sự phát triển tư duy của con người
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội , môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng , tình cảm cho học sinh Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ , môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn khác và ngược lại , các môn khác cũng góp phần học tốt môn văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành , giảm lí thuyết , gắn học với hành , gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú , sinh động của cuộc sống
2 Thực trạng ,lí do chọn đề tài :
Trước khi chúng ta cải cách sách giáo khoa , học sinh dường như chẳng tha thiết
gì đối với một tiết học văn và sau này chương trình được cải cách và đưa vào sử dụng phương pháp mới thì tình hình trên đã được cải thiện nhều Tuy nhiên việc thay đổi những thói quen , những nhận thức của cả người dạy và người học không phải là một viêc dễ dàng Do đó tôi mạnh dạn trình bày những hình thức hổ trợ cho một giờ học văn nhằm tăng sự húng thú của người học với những lí do sau:
Thứ nhất : Những hình thức này dễ vận dụng vào một tiết học Ngữ văn
Thứ hai : Việc chuẩn bị thiết bị thiết bị dạy học cũng khá đơn giản, không tốn nhiều thời gian và tài chính Đồng thời thiết bị ấy có thể sử dụng cho nhiều lớp
Thứ ba : Góp phần thay đổi thói quen soạn giảng của giáo viên đáp ứng tinh thần thay đổi phương pháp dạy học tích cực
Thứ tư : Góp phần thay đổi thói quen học tập thụ động “ là cái bình rót kiến thức của giáo viên” học sinh sẽ mạnh dạn , tự tin hơn
Thứ năm: HIệu quả của những kiến thức này giúp học sinh có ý thức thi đua trong học tập
Thứ sáu : Kích thích hứng thú học tập của học sinh đối với môn Ngữ văn
Từ những lí do trên , với cương vị là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn , tôi mạnh dạn đưa ra “ Một số hình thức kích thích hứng thú học tập của học sinh trong tiết Ngữ văn”
3 Giới hạn đề tài : Các hình thức kích thích hứng thú học tập của học sinh trong
tiết Ngữ văn:
- Sử dụng bảng biểu trong tiết ôn tập
- Sử dụng tranh minh hoạ
Trang 3- Sử dụng trò chơi ô chữ.
4 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 6 , trường THCS Kim Đồng, xã Ba , huyện
Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
III : CƠ SỎ LÝ LUẬN:
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường PT theo Luật Giáo dục
( 1998) là:
_ Phát huy tính tích cực ,tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh
_ Bồi dưỡng phương pháp tự học
_ Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
_ Tác động đến tình cảm , đem lại niềm vui , hứng thú học tập của học sinh
Để học sinh lĩnh hội được tri thức một cách tốt nhất cần hướng học sinh vào
“ hoạt động tích cực” Tức là học sinh phải được trực tiếp khám phá , tìm hiểu vấn
đề Mỗi vấn đề được làm sáng tỏ sẽ mở ra những chân trời mới về sự sáng tạo Bộ môn Ngữ văn 6 đang trên con đường đổi mới cũng phải theo qui luật đó Dạy học theo phương pháp đổi mới phải thực sự lấy “ học sinh làm trung tâm”, coi hoạt động của học là hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhất trong việc dạy học Học sinh được hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên Để lĩnh hội trí thức học sinh có thể đọc , phân tích bài học thông qua hoạt động chỉ đạo của giáo viên Bên cạnh đó học sinh được mở rộng , khắc sâu kiến thức bằng các phương tiện dạy học mà giáo viên
sử dụng : máy chiếu , tranh ảnh , phiếu học tập , bảng biểu … Giữa văn bản , phương tiện dạy học với học sinh có tác động qua lại với nhau tạo mối liên hệ chặt chẽ, hoàn chỉnh , thống nhất ( học sinh là người khám phá , tìm hiểu ; văn bản là cánh cửa ; phương tiện dạy học là chìa khoá)
IV CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Mấy năm trở lại đây ngành Giáo dục chúng ta rất được xã hội quan tâm vì sự cải tổ hệ thống kiến thức cũng như phương pháp dạy học của các cấp học : tiểu học, THCS, THPT…
Cùng với sự thay đổi khá nhiều về nội dung , việc cải cách lần này đã thổi một luồng gió mới về phương pháp dạy học , chính vì vậy hiệu quả của một giờ cũng ngày được nâng cao Nhưng là một giáo viên đứng lớp như tôi cảm nhận rằng phong trào đổi mới phương pháp dạy học khá rầm rộ ở những năm đầu cải cách còn càng về sau việc tiến hành một tiết dạy theo phương pháp mới dường như quá mỏi mệt đối với giáo viên vì họ phải chuẩn bị khá nhiều về phương tiện dạy học , hình thức tổ chức một tiết dạy nên dần dần họ quay lại con đường sử dụng phương pháp
cũ Bên cạnh đó sự hợp tác chưa nhuần nhuyễn về phía học sinh cũng góp phần làm cho giáo viên ít hứng thú hơn khi sủ dụng phương pháp mới
Còn về phía học sinh hầu như các em cũng còn nhiều bỡ ngỡ với những hình thức hoạt động đa dạng của một buổi học được tổ chức theo phương pháp mới nên hiệu quả ban đầu chưa được như mong muốn của giáo viên nên nhiều giáo viên ngại
Trang 4khó nên không sử dụng phương pháp mới trong tiết dạy của mình Chính vì vậy học sinh càng ngại học văn là một lẽ hiển nhiên.
Mặt khác , do đặc thù của bộ môn Ngữ văn là sử dụng chất liệu ngôn từ để khai thác kiến thức nên việc áp dụng các phương pháp mới vào giảng dạy cũng chưa được đa dạng như các bộ môn khác , đạc biệt là các hình thức tổ chức cho học sinh vận động trong một tiết học văn lại càng khó hơn
Theo qua điểm dạy học của nhà giáo dục người Nga Babanxki thì hình thức
sử dụng bảng biểu, sử dụng tranh minh hoạ , trò chơi ô chữ thuộc nhóm các phương pháp kích thích và xây dựng động cơ học tập của học sinh
Việc kích thích hứng thú học tập của học sinh là một điều vô cùng quan trọng Nếu có hứng thú học tập thì học sinh sẽ tiếp thu bài tốt hơn, hiệu quả của một giờ học được nâng cao Bên cạnh đó , hứng thú trong học tập sẽ giúp các em học tập tốt không những môn Ngữ văn mà còn các môn khác , là động lực để các em vươn lên Đặc biệt để tạo động cơ học tập đúng đắn thì giáo viên phải biết gợi cho học sinh nhu cầu tìm hiểu , giúp các em có phương pháp học tập phù đẻ tránh bị thất bại , gây tâm lý chán nản
Từ những vấn đề trên tôi đưa ra một kinh nghiệm nhỏ của mình để góp phần khắc phục phần nào thái độ học tập của học sinh đối với môn Ngữ văn :
Thứ nhất : Học sinh chủ động khám phá những kiến thức qua bức tranh minh hoạ hay khám phá những bí ẩn của từng ô chữ
Thứ hai : Giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức đã học một cách toàn diện ,
cô đọng nhất bằng đồ dùng trực quan
Thứ ba : Rèn luyện năng lực khái quát hoá , tổng hợp hoá kiến thức đã học Thứ tư : Tạo sự sinh động cho một giờ Ngữ văn
Thứ năm : Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Thứ sáu : Giúp giáo viên có động lực , niềm tin, hứng thú hơn để soạn , giảng một giờ Ngữ văn
Thứ bảy : Giúp giáo viên rút ngắn được thời gian , làm chủ tiết dạy
Thứ tám : Thông qua tranh minh hoạ , học sinh có thể phát huy tính tích cực ,
tự giác , mạnh dạn trình bày ý kiến , quan điểm của mình
Thứ chín : Với trò chơi ô chữ góp phần đa dạng hơn hoạt động củng cố sau mỗi bài học hoặc chùm bài học và hoạt động dặn dò bài mới
Thứ mười : Qua các hình thức trên có thể đánh giá được mức độ tiếp thu của học sinh để giáo viên có thể kịp thời điều chỉnh ngay trong tiết học
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
1 Sử dụng tranh minh hoạ trong tiết Ngữ văn:
1.1 Giáo viên phải có sự chuẩn bị:
Để tiết dạy đạt được mục têu giáo dục tư tưởng , tình cảm tốt đẹp cho học sinh đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ càng , chu đáo Đối với việc sử dụng tranh minh hoạ , giáo viên phải biết rõ Bộ Giáo dục- Đào tạo có cấp tranh cho văn bản đó không , trong sách giáo khoa có hình vẽ đó không Nếu có thì giáo viên
Trang 5có thể sử dụng , nếu không thì giáo viên phải thuê hoặc tự vẽ thêm tranh minh hoạ Giả sử phải vẽ thêm tranh minh hoạ cho bài dạy thì yêu cầu bức tranh phải có nội dung phù hợp , có ý nghĩa.Tránh tình trạng tranh không đúng với chủ đề bài giảng , gây tri giác tản mạn ở học sinh trong khi sử dụng hoặc làm cho học sinh khó hiểu Như vậy sự chuẩn bị của giáo viên là rất cần thiết trước khi lên lớp giảng dạy.
1.2 Cần sử dụng tranh đúng thời điểm:
Việc sử dụng tranh cần kết hợp linh hoạt với hệ thống câu hỏi Cũng có thể đưa ngay ra lúc ban đầu để tạo tâm thế hứng thú ở học sinh Trong quá trình phân tích văn bản cần đưa tranh minh họa để bổ sung khắc sâu kiến thức Nhưng cần lưư ý tránh đưa tranh liên tục làm cho học sinh tri thức tản mạn Khi đưa tranh cho học sinh trả lời ý cần khai thác xong cần cất tranh ngay Cũng có thể đưa tranh khi đã phân tích đầy đủ nội dung , ý nghĩa văn bản để học sinh mở rộng , liên hệ kiến thức
1.3 Minh hoạ : Khi dạy tiết 31 bài 8, văn bản :“Cây bút thần’, tôi có thể
phóng to 2 bức tranh trong sách giáo khoa
Khi bước vào phân tích văn bản , tôi cho học quan sát 2 bức tranh để tạo
sự tò mò , hứng thú học tập của học sinh
Trang 7Đến nội dung phân tích“ Mã Lương vẽ cho người nghèo“ Tôi treo bức tranh thứ nhất cho học sinh quan sát rồi nêu câu hỏi
- Giáo viên : Em hãy cho biết Mã Lương đang vẽ những gì cho người nghèo ?
- Học sinh : Vẽ cày , cuốc , đèn , xô múc nước
- Giáo viên : Tại sao Mã Lương không vẽ những vật quý như : vàng, bạc, đá quí ?
- Học sinh: Vì cuốc , cày, là những công cụ lao động tạo ra của cải, vật chất.Đến nội dung thứ 2“ Mã Lương vẽ cho địa chủ“ Tôi cất bức tranh thứ nhất, treo bức tranh thứ 2 để học sinh quan sát
- Giáo viên : Mã Lương đang vẽ những gì ? Cảnh tượng Mã Lương vẽ ra sao ?
- Học sinh : Mã Lương vẽ thuyền biển cho vua đi chơi Trên biển sóng cuồn cuộn làm thuyền của vua bị chao đảo
Trang 8Tiếp theo tôi treo cả 2 bức tranh cho học sinh quan sát nêu yêu cầu học sinh thảo luận
- Giáo viên : Em hãy so sánh và cho biết thái độ của Mã Lương đối với người nghèo, đối với bọn địa chủ ? Qua đó cho ta biết gì về phẩm chất của
Mã Lương?
- Học sinh:
+ Bức tranh thứ nhất: Mã Lương rất vui, hạnh phúc khi vẽ cho người nghèo+ Bức tranh thứ hai : Mã Lương căm giận bọn thống trị , đang ra tay trừng trị bọn chúng
* Phẩm chất của Mã Lương : Mã Lương là người thông minh , yêu quý người nghèo, căm ghét bọn thống trị tham lam, độc ác
- Giáo viên : Em hãy cho biết tình cảm của em đối với Mã lương ?
- Học sinh : Khâm phục , yêu quí
- Giáo viên : Qua nhân vật Mã Lương em rút ra bài học gì cho mình?
- Học sinh : Phải chăm chỉ cố gắng học tập tốt trở thành người công dân tốt của xã hội
2 Sử dụng bảng biểu trong tiết Ngữ văn:
2.1 – Chuẩn bị của giáo viên:
Bước 1: Nghiên cứu kỹ nội dung bài.
Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm
Bước 3: Xây dựng hệ thống bảng biểu.
+ Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị bài giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng dán nội dung vào ô thích hợp, hoặc gắn thẻ
+ Trao đổi nhóm, cá nhân bằng hệ thống câu hỏi ( tái hiện, gợi mở, nêu vấn đề….)
+ Vận dụng hợp lí, hài hòa các phương pháp dạy học tích cực: trò chơi giải ô chữ, nêu vấn đề trong quá trình hình thành bảng
Trang 9+ Trong quá trình hình thành bảng giáo viên có thể lồng ghép phân tích một
số chi tiết nghệ thuật đặc sắc … Hoặc dùng hình thức cho học sinh phát biểu về nhân vật mà em thích…
2.2- Minh họa cụ thể bài ôn tập truyện dân gian – Ngữ văn 6( tập 1):
Để thực hiện đảm bảo yêu cầu phần mục tiêu bài học_ ứng với câu hỏi
1,3,4/SGK/ 134,135 ( Ngữ Văn 6- tập 1) Tôi sử dụng bảng sau:
Nội dung ý nghĩa
chưng bánh giầy
3 Sơn Tinh- Thủy Tinh
4 Thánh Gióng
5 Sự tích Hồ Gươm
- Giải thích:
+ nguồn gốc dân tộc
+ Phong tục tập quán
+ hiện tượng thiên nhiên ước
mơ chinh phục thiên nhiên
- Ca ngợi người anh hùng dân tộc chiến thắng ngoại xâm
- Nhân vật ( thần, thánh, nhân vật lịch sử…)
- Có nhiều chi tiết tưởng tượng kỳ ảo
- Có cơ sở, cốt lõi sự thật lịch sử
- Người kể ( nghe) tin câu chuyện là có thật
- Là loại truyện kể
về các nhân vật và
sự kiện có liên qua đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu
tố tưởng tượng Thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện, nhân vật lịch sử
- Đề cao giá trị chân chính của con người
- Ước mơ, niềm tin về lẽ phải lí tưởng nhân đạo, yêu hòa bình
- Ca ngợi trí thông minh của
- Nhân vật ( con người bất hạnh, dũng
sĩ, thông minh
…)
- Có yếu tố hoang đường
- Là loại truyện kể
về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc (người bất hạnh, dũng sĩ, thông minh…)
thường có yếu tố hoang đường.Thể
Trang 104 Cây bút thần.
5 Ông lão đánh cá và con cá vàng
con người
- Tài năng phục
vụ người nghèo, trừng trị kẻ ác
- Người ở hiền gặp lành, kể tham lam bội bạc bị trừng trị
- Người kể ( nghe) không tin câu chuyện
là có thật
hiện ước mơ, niềm tin về chiến thắng cuối cùng của lẽ phải, của cái thiện
Nội dung ý nghĩa
2 Thầy bói xem voi
3 Đeo nhạc cho mèo
4 Chân, tay,
miện
- Nêu ra những bài học về:
+ sự hiểu biết hạn hẹp
+ cách xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng
+ ý tưởng viển vông, xa rời thực tế
+ vai trò của mỗi người trong tập thể
- Nhân vật
người, bộ phận cơ thể
về loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống
4 Truyện
cười
1 Treo biển
- Chế giễu, phê phán:
+ thói ba phải, không có chính kiến
- Nhân vật ( người có tật xấu….)
- Có yếu tố gây cười
- Là loại truyện kể
về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc
Trang 112 Lợn cưới
áo mới
+ tính hay khoe của
- Nhằm mua vui, phê phán, châm biếm
phê phán thói hư tật xấu trong xã hội
Để hoàn thành đơn vị kiến thức trong bảng trên tôi sử dụng phương pháp sau:
Ở nội dung cột (1) GV dùng phương pháp vấn đáp ( dành cho HS yếu, kém)
Câu hỏi 1: Em hãy cho biết chúng ta đã học mấy thể lọai của truyện dân
gian? Đó là những thể loại nào?.
HS: trả lời ( theo sự chuẩn bị ở nhà).
GV: gắn thẻ theo thứ tự : 1- Truyền thuyết
2- Cổ tích
3- Ngụ ngôn4- Truyện cười
Ở nội dung cột ( 2) – GV: đặt câu hỏi - dành cho HS (yếu, kém, TB)
Câu hỏi 2: Kể tên những truyện dân gian đã học và đọc thêm?
HS: trả lời ( theo sự chuẩn bị ở nhà) - 16 truyện.
Sau khi HS kể tên 16 truyện có thể HS trả lời không theo trình tự của từng thể loại
GV chia lớp thành 2 đội, thực hiện trò chơi gắn thẻ:
+ đội 1 ( tổ 1,2) – 10 thẻ có những tên truyện sau: Truyền thuyết + Cổ tích
+ đội 2( tổ 3,4) – 6 thẻ có những tên truyện sau: Ngụ ngôn + Truyện cười
Hướng dẫn HS thi gắn thẻ:
+ đội 1 - lấy thẻ ở túi đựng thẻ (A) – gắn váo cột ( 3)- Bảng 1
+ đội 2 - lấy thẻ ở túi đựng thẻ (B) – gắn váo cột ( 3)- Bảng 2
Cách thức thực hiện trong vòng 3 phút: