Chính sách an toàn thông tin (Information security policy) Tổ chức an toàn thông tin (Organization of information security): tổ chức biện pháp an toàn và qui trình quản lý. Quản lý tài sản (Asset management): trách nhiệm và phân loại giá trị thông tin An toàn tài nguyên con người (Human resource security) : bảo đảm an toàn An toàn vật lý và môi trường (Physical and environmental security) Quản lý vận hành và trao đổi thông tin (Communications and operations management) Kiểm soát truy cập (Access control) Thu nhận, phát triển và bảo quản các hệ thống thông tin (Information systems acquisition, development and maintenance) Quản lý sự cố mất an toàn thông tin (Information security incident management) Quản lý duy trì khả năng tồn tại của doanh nghiệp (Business continuity management) Tuân thủ các quy định pháp luật (Compliance
Trang 1Chương I
GIỚI THIỆU MÔ HÌNH KẾ TOÁN KINH TẾ
I. Ý NGHĨA VÀ KHÁI NIỆM CỦA MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ TRONG NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH KINH TẾ
1. Ý nghĩa của phương pháp mô hình
Đã từ lâu khi con người muốn tìm hiểu, khám phá những hiện tượng trong tự nhiên, họ đãbiết quan sát, theo dõi và ghi nhận các hiện tượng này Kết quả theo dõi được đúc kết thànhkinh nhiệm và lưu truyền qua các thế hệ Đó là phương pháp trực tiếp quan sát trong nghiêncứu Đối với các sự vật hiện tượng phức tạp hơn hoặc khi chúng ta không những muốn tìmhiểu về các hiện tượng mà còn muốn lợi dụng chúng phục vụ cho hoạt động quan sát củamình thì phương pháp quan sát là chưa đủ và khi nghiên cứu các hiện tượng, vấn đề kinh tế-
xã hội, các phương pháp trên thường không đem lại kết quả như mong muốn, bởi vì:
- Những vấn đề kinh tế vốn dĩ là những vấn đề hết sức phức tạp - đặc biệt là nhữngvấn đề đương đại - trong đó có nhiều mối liên hệ đan xen, thậm chí tiềm ẩn màchúng ta không thể chỉ bằng quan sát là có thể giải thích được
- Quy mô- phạm vi liên quan đến những vấn đề kinh tế-xã hội nhiều khi rất rộng và đadạng, vì vậy khi dùng phương pháp thử nghiệm sẽ đòi hỏi chi phí rất lớn về thời giantiền bạc và đôi khi cả sự sai sót trong quá trình thử nghiệm sẽ gây ra hậu quả khôngthể lường trước được
- Ngay cả trong trường hợp có đủ điều kiện tiến hành các thử nghiệm trong nghiên cứukinh tế thì kết quả thu được cũng kém tin cậy vì các hiện tượng kinh tế - xã hội đềugắn với hoạt động của con người Khi điều kiện thực tế khác biệt với điều kiện thựcnghiệm, con người có phản ứng khác hẳn nhau
Để nghiên cứu các hiện tượng, vấn đề kinh tế chúng ta phải sử dụng phương pháp mô hình.Nội dung cơ bản của phương pháp mô hình bao gồm:
- Xây dựng, xác định mô hình của đối tượng Quá trình này gọi là mô hình hóa đốitượng
- Dùng mô hình làm công cụ suy luận phục vụ yêu cầu nghiên cứu Quá trình này gọi
là phân tích mô hình.
Trang 2Để có thể sử dụng có hiệu quả phương pháp mô hình hóa trong nghiên cứu kinh tế vấn đềcốt lõi là xác lập được mô hình của đối tượng nghiên cứu Để hiểu rõ quá trình này chúng tacần đề cập tới một số khái niệm cơ bản có liên quan.
2. Khái niệm Mô hình kinh tế và Mô hình toán kinh tế
a. Mô hình, mô hình kinh tế
Mô hình của một đối tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan của đối tượng, sự hìnhdung, tưởng tượng đối tượng đó bằng ý nghĩ của người nghiên cứu và việc trình bày, thểhiện, diễn đạt ý đó bằng lời văn, chữ viết, hồ sơ, hình vẽ… hoặc một ngôn ngữ chuyênngành
Như vậy, mỗi mô hình bao gồm nội dung của mô hình và hình thức thể hiện nội dung Môhình của các đối tượng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế gọi là mô hình kinh tế
b. Mô hình toán kinh tế
Mô hình toán kinh tế là mô hình kinh tế được trình bày bằng ngôn ngữ toán học
Việc sử dụng ngôn ngữ toán học tạo khả năng áp dụng các phương pháp suy luận, phân tíchtoán học và kế thừa các thành tựu trong lĩnh vực này cũng như trong các lĩnh vực khoa học
có liên quan Đối với các vấn đề khoa học phức tạp có nhiều mối liên hệ đan xen đòi hỏiphân tích chẳng những về mặt định tính mà cả mặt định lượng thì phương pháp suy luậnthông thường, phân tích giản đơn không đủ hiệu lực để giải quyết Chúng ta cần đến phươngpháp suy luận toán học Đây chính là điểm mạnh của các mô hình toán học Chúng ta có thểthấy rõ hơn thông qua ví dụ sau:
Ví dụ 1.1: Giả sử chúng ta muốn nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành giá cả của một
loại hàng hóa A trên thị trường và giả định các yếu tố khác như điều kiện sản xuất hàng hóa
A, thu nhập, sở thích của người tiêu dùng… đã cho trước và không thay đổi
Đối tượng liên quan tới vấn đề nghiên cứu của chúng ta là thị trường hàng hóa A và sự vậnhành của nó Chúng ta cần mô hình hóa đối tượng này
Mô hình bằng lời: Xét thị trường hàng hóa A, nơi đó người bán, người mua gặp nhau và
xuất hiện mức giá ban đầu, với mức giá đó, lượng hàng hóa người bán muốn bán gọi là mứccung và lượng hàng hóa người mua gọi là mức cầu Nếu cung lớn hơn cầu, do người bánmuốn bán được nhiều hàng hơn nên phải giảm giá vì vậy hình thành mức giá mới thấp hơn.Nếu cầu lớn hơn cung thì người mua sẵn sàng trả giá cao hơn để mua được hàng do vậy,
Trang 3một mức giá cao hơn được hình thành Với mức giá mới, xuất hiện mức cung cầu mới Quátrình tiếp diễn đến khi cung bằng cầu ở một mức giá gọi là giá cân bằng
Mô hình toán kinh tế:
Gọi S, D là đường cung, đường cầu tương ứng
Đường cung có phương trình: S = S(p)
Do người bán sẵn sàng bán với mức giá cao hơn nên S là hàm tăng theo p, tức là
S’(p) =
dS
dp > 0;
Đường cầu có phương trình: D = D(p)
Do người mua sẽ mua ít hơn nếu giá cao hơn nên D là hàm giảm theo p tức là
D’(p) =
dD
dp < 0Tình huống cân bằng thị trường, (mức cung bằng mức cầu) sẽ xảy ra khi S = D
Viết gọn lại ta sẽ có mô hình cân bằng thị trường, ký hiệu là MHIA dưới đây:
Khi muốn đề cập đến tác động của thu nhập (M), thuế (T)… tới quá trình hình thành giá, ta
có thể mở rộng mô hình bằng cách đưa các yếu tố này tham gia vào các mối liên hệ với cácyếu tố sẵn có trong mô hình phù hợp với các quy luật trong lý thuyết kinh tế, chẳng hạn:
Trang 4II. CẤU TRÚC MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ
Mô hình ở Ví dụ 1.1 chứa một số yếu tố mang tính định lượng (S, D, p, S’, D’) và các hệthức toán học liên hệ giữa chúng (các phương trình và bất phương trình) Người ta quanniệm mô hình toán kinh tế là một tập gồm các biến số và các hệ thức toán học liên hệ giữachúng nhằm diễn tả đối tượng liên quan đến sự kiện hiện tượng kinh tế
1. Các biến số của mô hình
Để mô tả đối tượng và phân tích định lượng các hiện tượng và vấn đề kinh tế liên quan đếnđối tượng, chúng ta cần phải xem xét và lựa chọn một số yếu tố cơ bản đặc trưng cho đốitượng và lượng hóa chúng Các yếu tố này gọi là các biến số kinh tế của mô hình Nhờ đượclượng hóa nên ta có thể đo lường và thực hiện tính toán giữa các biến số này, tùy thuộc vàobản chất của các biến, mục đích nghiên cứu, phân tích cũng như khả năng về nguồn dữ liệuliên quan, các biến số kinh tế trong một mô hình được phân loại thành:
Biến nội sinh (biến được giải thích): là các biến mà về bản chất chúng phản ánh, thể hiện
trực tiếp sự kiện, hiện tượng kinh tế và giá trị của chúng phụ thuộc vào giá trị của các biếnkhác trong mô hình Nếu biết giá trị của các biến khác trong mô hình ta có thể xác định giátrị cụ thể bằng số của các biến nội sinh
Ở mô hình MHIA, ta thường coi S, D, p là các biến nội sinh
Biến ngoại sinh (biến giải thích): là các biến có một mức độ độc lập nhất định đối với các
biến khác trong mô hình, giá trị của chúng được xem là tồn tại bên ngoài mô hình
Trong mô hình MHIB, các biến M, D có giá trị không phụ thuộc vào các biến khác, do đóchúng được gọi là các biến ngoại sinh
Xét theo đặc điểm cấu trúc toán học, một mô hình có tất cả các biến đều là biến nội sinh gọi
là mô hình đóng; mô hình có biến nội sinh và ngoại sinh gọi là mô hình mở
Tham số (thông số): Là các biến số mà trong phạm vi nghiên cứu đối tượng, chúng thể hiện
các đặc trưng tương đối ổn định, ít biến động hoặc có thể giả thiết là ổn định
Các tham số của mô hình phản ánh xu hướng, mức độ ảnh hưởng của các biến tới biến nộisinh Nếu trong mô hình MHIB ta có S = αp Tβ γ , khi đó các biến α β γ, , là các tham số của
Trang 5mô hình vì giá trị của chúng quyết định mức độ tác động của biến ngoại sinh T tới biến nộisinh S, D, p(S’, D’).
Lưu ý rằng cùng một biến số trong các mô hình khác nhau có thể đóng vai trò khác nhau;thậm chí trong cùng một mô hình nó cũng có thể có vai trò khác nhau do mục đích sử dụng
mô hình khác nhau
2. Mối liên hệ giữa các biến số
Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, giữacác khu vực, bộ phận của nền kinh tế, và giữa các nền kinh tế của các quốc gia… tạo raquan hệ giữa các biến số liên quan Chúng ta có thể dùng các biểu thức, các hệ thức toánhọc một cách thích hợp từ đơn giản đến phức tạp để thể hiện mối quan hệ giữa các biếntrong một mô hình Hệ thức thường được sử dụng phổ biến là phương trình với các dạngnhư phương trình đại số, phương trình vi phân hoặc phương trình sai phân…
Tùy thuộc vào ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ giữa các biến có trong phương trình,chúng ta có thể phân loại các phương trình có trong mô hình như sau:
a Phương trình định nghĩa (đồng nhất thức): phương trình thể hiện quan hệ định nghĩa
giữa các biến số hoặc giữa 2 biểu thức ở 2 vế của phương trình
Ví dụ 1.2: Lợi nhuận (π) được định nghĩa là phần hiệu số giữa tổng doanh thu (TR) và tổngchi phí (TC); ta có thể viết π = TR – TC
Ví dụ 1.3: Xuất khẩu ròng của một quốc gia (NX) là khoản tiền chênh lệch giữa xuất khẩu
(EX) và nhập khẩu (IM) của quốc gia đó Thông thường xuất, nhập khẩu phụ thuộc vào thunhập (Y), mức giá cả (P), tỷ giá hối đoái (ER)… do đó theo định nghĩa của xuất khẩu ròng
ta có thể viết:
NX = EX(Y, P, ER) – IM(Y, P, ER)
Ví dụ 1.4 : Trong mô hình MHIA, các phương trình : S’(P) = dS dp, D’(p) = dD dplà cácphương trình định nghĩa
b Phương trình hành vi : phương trình mô tả quan hệ giữa các biến do tác động của các
quy luật hoặc do giả đinh
Từ phương trình hành vi, ta có thể biết sự biến động của biến nội sinh khi các biến số khácthay đổi
Ví dụ 1.5 : Trong mô hình MHIA các phương trình S = S(p) ; D = D(p) là các phương trình
hành vi vì chúng thể hiện sự phản ứng của người sản xuất và người tiêu dùng trước sự thayđổi của giá cả
c Phương trình điều kiện : phương trình mô tả quan hệ giữa các biến số trong các tình
huống có điều kiện và mô hình đề cập
Ví dụ 1.6 : Trong mô hình MHIA, phương trình S = D là phương trình điều kiện vì nó thể
hiện điều kiện cân bằng thị trường
Trang 6III. PHÂN LOẠI MÔ HÌNH KINH TẾ
Chúng ta có thể phân loại các mô hình theo các căn cứ khác nhau phụ thuộc vào nội dung,hình thức, quy mô, phạm vi, công dụng hay mục đích của chúng
1. Phân loại mô hình theo đặc điểm cấu trúc và công cụ toán học sử dụng
a Mô hình tối ưu hóa : mô hình phản ánh sự lựa chọn cách thức hoạt động nhằm tối ưu
hóa một hoặc một số chỉ tiêu định trước
Khi phân tích các mô hình tối ưu, công cụ chính được sử dụng là các phương pháp tối ưutrong toán học Chúng ta có thể gặp mô hình tối ưu ở các dạng bài toán quy hoạch và bàitoán điều khiển tối ưu
b Mô hình cân bằng :là lớp mô hình xác định sự tồn tại của trạng thái cân bằng nếu có và
phân tích sự biến động của trạng thái này khi các biến ngoại sinh hay các tham số thay đổi
Mô hình thể hiện đối tượng trọng trạng thái đặc biệt này được gọi là trạng thái cân bằng Công cụ thường được sử dụng để phân tích mô hình là các phương pháp giải hệ phươngtrình và tìm điểm bất động Chúng ta có thể gặp mô hình cân bằng ở các bài toán cân bằngthị trường, mô hình cân đối
c Mô hình tất định, mô hình ngẫu nhiên: mô hình với các biến là tất định (phi ngẫu
nhiên) gọi là mô hình tất định, nếu có chứa biến ngẫu nhiên gọi là mô hình ngẫu nhiên
d Mô hình toán kinh tế và mô hình kinh tế lượng : Với các mô hình toán kinh tế, các
tham số của mô hình hoặc là cho trước, hoặc là được giả định rằng đã biết và khi phân tích
ta sử dụng các phương pháp toán học thuần túy Trong khi đó, đối với mô hình kinh tếlượng, các tham số lại chính là các ẩn số, giá trị của chúng được xác định nhờ các phươngpháp suy đoán thống kê căn cứ vào giá trị quá khứ của các biến khác trong mô hình
e Mô hình tĩnh (theo thời gian), mô hình động : mô hình có các biến mô tả các hiện
tượng kinh tế tồn tại ở một thời điểm hay một khoảng thời gian đã xác đinh (thời gian cốđịnh) gọi là mô hình tĩnh Mô hình mô tả các hiện tượng kinh tế trong đó có các biến phụthuộc vào thời gian gọi là mô hình động
2. Phân loại mô hình theo quy mô, phạm vi, thời hạn.
Theo quy mô của các yếu tố ta có các mô hình :
a Mô hình vĩ mô : mô hình mô tả các hiện tượng kinh tế liên quan đên một nền kinh tế,
một khu vực kinh tế gồm một số nước
b Mô hình vi mô : mô hình mô tả các hiện tượng kinh tế một thực thể kinh tế nhỏ, hoặc
những hiện tượng kinh tế với các yếu tố ảnh hưởng trong phạm vi hẹp và ở mức độ chi tiết
Theo thời hạn mà mô hình đề cập ta có : mô hình ngắn hạn và mô hình dài hạn.
IV. NỘI DUNG CỦA PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TRONG NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KINH TẾ
Trang 71. Nôi dung cơ bản của phương pháp mô hình
Để áp dụng phương pháp mô hình, trong đó sử dụng mô hình toán kinh tế làm công cụnghiên cứu, phân tích các vấn đề, các hiện tượng kinh tế ta cần tiến hành các bước sau :
a. Đặt vấn đề
Chúng ta cần diễn đạt rõ vấn đề, hiện tượng nào trong hoạt động kinh tế cần quan tâm, mụcđích là gì, các nguồn lực có thể huy động để tham gia nghiên cứu (con người, tài chính,thông tin, thời gian )
b. Mô hình hóa
Sau khi xác định được mục đích, yêu cầu cần nghiên cứu, chúng ta sẽ tiến hành quá trình
mô hình hóa các đối tượng liên quan đến vấn đề Về cơ bản quá trình gồm các công việc :
- Xác định các yếu tố, sự kiện cần xem xét cùng các mối liên hệ trực tiếp giữa chúng mà ta
có thể cảm nhận bằng trực quan hoặc căn cứ vào cơ sở lý luận đã chọn
- Lượng hóa các yếu tố này, coi chúng là các biến của mô hình Trong thực tế vốn dĩ cónhiều yếu tố mang tính chất định lượng vì vậy vấn đề chỉ là xác định đơn vị đo lường thíchhợp; tuy nhiên có thể có những yếu tố định tính mà nhiều khi ta cần sử dụng phương phápthống kê, kinh tế lượng để lượng hóa chúng
- Xem xét vai trò của các biến số và thiết lập các hệ thức toán học – chủ yếu là các phươngtrình – mô tả quan hệ giữa các biến Đây thường là phần quan trọng và cần dựa vào cơ sở lýluận đủ mạnh và đáng tin cậy về cả phượng diện kinh tế lẫn toán học Kết thúc công việcnày ta sẽ có được mô hình ban đầu
c. Phân tích mô hình
Sử dụng phương pháp phân tích mô hình để phân tích Kết quả phân tích có thể dùng đểhiệu chỉnh mô hình (thay đổi vai trò của biến, thêm, bớt biến, thay đổi định dạng phươngtrình…) cho phù hợp với thực tiễn
d. Giải thích kết quả
Dựa vào kết quả phân tích mô hình ta sẽ đưa ra giải đáp cho các vấn đề nghiên cứu Nếu tathay đổi vấn đề hoặc mục đích nghiên cứu nhưng đối tượng liên quan không thay đổi thì tavẫn có thể sử dụng mô hình sẵn có
2. Ví dụ minh họa
Ví dụ dưới đây nhằm minh họa cho quá trình xác lập và sử dụng mô hình toán kinh tế trongphân tích kinh tế
Ví dụ 1.7 : Khi điều chỉnh một loại thế đánh vào việc sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa
A (như tăng thuế suất) Nhà nước quan tâm đến phản ứng của thị trường tới việc điều chỉnhnày – thể hiện bởi sự thay đổi giá cả cũng như lượng hàng hóa lưu thông – và muốn dự
Trang 8kiến trước được phản ứng này đặc biệt là vấn đề định lượng Từ đó có căn cứ tính toán mứcđiều chỉnh thích hợp tránh tình trạng bất ổn của thị trường.
Đặt vấn đề : Chúng ta cần phân tích tác động trực tiếp (ngắn hạn) của thuế đối với việc sản
suất và tiêu thụ loại hàng hóa A trên thị trường
Mô hình hóa : đối tượng liên quan đến vấn đề cần phân tích là thị trường hàng hóa A cùng
sự hoạt động của nó trong trường hợp xuất hiện yếu tố thuế, chúng ta sẽ mô hình hóa đốitượng này
Theo lý thuyết kinh tế vi mô, chúng ta biết rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc sản xuất(mức cung), tiêu thụ (mức cầu) và giá cả hàng hóa trên thị trường và nó chịu sự chi phối bởiquy luật cung cầu, hơn nữa, thuế ảnh hưởng tới giá cả và do đó tác động tới mức cung vàmức cầu Mặt khác thực tiễn diễn biến của thị trường cũng cho thấy là các thị trường trongquá trình hoạt động có xu thế hướng về trạng thái cân bằng Các biến số ta cần xem xét làmức cung (S), mức cầu (D), giá cả (p) và thuế (T) Bằng cách lập luận tương tự như trong ví
dụ 1.1, ta có mô hình
S = S(p, T) (S’ = ∂S/∂p > 0)
D = D(p,T) (D’ = ∂D/∂p < 0)
S=D
Trong đó S, D, p là các biến nội sinh, T là các biến ngoại sinh
Để định dạng cụ thể cho các hàm trong mô hình ta có thể sử dụng các phương pháp trongkinh tế lượng
Phân tích : giải phương trình cân bằng, giả sử được nghiệm là p rõ ràngp sẽ phụ thuộc
vào T nên ta có thể viết p = p(T) Thay p vào các hàm cung cầu ta tính được lượng cânbằng :
Q= S (p (T), T) = D (p(T), T)Với các giả thiết thích hợp về mặt toán học, ta có thể tính được các biểu thức : ,
d p dQ
chúng phản ánh tác động của thuế T tới giá và lượng cân bằng
Giải thích kết quả : để phân tích tác động của thuế T tới giá cả và lượng hàng hóa lưu
thông trên thị trường, về mặt định tính ta chỉ cần xét dấu của các biểu thức ,
d p dQ
dt dt Nếumuốn đánh giá về lượng ta cần có thông tin, dữ liệu cụ thể của các biến số để có thể địnhdạng chi tiết và ước lượng dạng số mô hình
Trang 9V. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MÔ HÌNH – PHÂN TÍCH SO SÁNH TĨNH
Sau khi đã xây dựng và hiệu chỉnh mô hình phù hợp với hiện tượng và quá trình kinh tế, ta
có thể sử dụng mô hình vào các mục đích khác nhau Trước tiên ta cần thực hiện công việc
gọi là giải mô hình Một cách tổng quát, giải mô hình là việc sử dụng các phương pháp toán
học để giải các hệ thức của mô hình – có thể là giải phương trình (đại số hoặc vi, sai phân),giải bài toán quy hoạch… nhằm xác định quan hệ trực tiếp giữa biến ngoại sinh và biến nộisinh cùng tham số, tức là ta phải biểu diễn dưới dạng các hệ thức toán học giữa từng biếnnội sinh theo biến ngoại sinh, tham số và có thể theo từng biến nội sinh khác Cách biểu
diễn này gọi là nghiệm của mô hình Rõ ràng là nghiệm của mô hình sẽ phụ thuộc các biến
ngoại sinh và tham số Điều mà chúng ta quan tâm phân tích là khi biến ngoại sinh thay đổigiá trị sẽ tác động như thế nào tới nghiệm Phân tích này gọi là phân tích so sánh tĩnh
1. Đo lường sự thay đổi của biến nội sinh theo biến ngoại sinh.
Phân tích so sánh tĩnh đòi hỏi phải đo lường sự phản ứng, sự biến động (tức thời) cả về xuhướng và độ lớn của biến nội sinh khi có một biến ngoại sinh thay đổi nhỏ còn các biếnngoại sinh khác không đổi hoặc khi tất cả các biến ngoại sinh cùng thay đổi Chúng ta cóthể dùng đạo hàm và vi phân để đo lường sự thay đổi này
Xét hàm Y= F(X1, X2,…Xn), tại X = X0
a. Đo lường sự thay đổi tuyệt đối
Gọi khi Xi thay đổi một lượng nhỏ VXi thì Y thay đổi một lượng là : VY i
Trang 10MC (Q) = TC’ (Q)
MC(Q) = 3Q2 – 122,5Q + 1528,5Tại Q = 10, MC = 603,5 cho biết tại mức sản lượng Q = 10, khi tăng sản lượng lên một đơn
vị thì tổng chi phí tăng 603,5 đơn vị
- Trong trường hợp tất cả các biến ngoại sinh đều thay đổi với các lượng khá nhỏ ký hiệu là
VX1, VX2, …, VXn thì để tính sự thay đổi của biến nội sinh Y ta dùng công thức xấp xỉ :
V , tức sản lượng tăng xấp xỉ 17,75 đơn vị
b Khi tăng vốn lên 2 đơn vị và giảm lao động đi 6 đơn vị thì sản lượng thay đổi:1,8.( 2) 1, 25.6 3,9
- Nếu Xi lại là một biến nội sinh phụ thuộc vào một hay nhiều biến khác thì để đo lường sựthay đổi của biến Y theo sự thay đổi của Xi ta sử dụng công thức tính đạo hàm của hàm hợp
Ví dụ 1.10: Giả sử Y = F(X1, X2), X2 = G(X1), và Y, X2 là biến nội sinh, X1 là biến ngoạisinh, ta có thể minh họa quan hệ giữa các biến qua sơ đồ kênh liên hệ:
Trang 11X1 X2 Y
FKhi đó ta có
X dX
∂
∂ + 1
F X
∂
- Trong trường hợp quan hệ giữa biến nội sinh và biến ngoại sinh không thể hiện tườngminh mà dưới dạng hàm ẩn thì để tính sự thay đổi tuyệt đối ta cần áp dụng công thức tínhđạo hàm của hàm ẩn
Nếu biến nội sinh Y liên hệ với các biến ngoại sinh X1, X2,… Xn dưới dạng
F(Y, X1, X2,…, Xn) = 0 thì để tính đạo hàm của Y theo Xi ta dùng công thức :
Ví dụ 1.11: Giả sử Y, X1 và X2 có liên hệ với nhau theo biểu thức : Y2 = X12+X22
Rõ ràng giữa Y, X1 và X2 có mối liên hệ hàm số nhưng dưới dạng hàm ẩn
b. Đo lường sự thay đổi tương đối: hệ số co giãn
Để đo tỷ lệ phần trăm sự thay đổi của biến nội sinh tương ứng với một biến ngoại sinh thayđổi 1% và các biến số khác không đổi, ta dùng hệ số co giãn riêng
Hệ số co giãn của Y theo Xi tại X = X0, ký hiệu là i( 0)
0
( )
( )
i i
Trang 12Ý nghĩa của hệ số co giãn rêng: tại X = X0, khi biến Xi thay đổi 1%, các biến số khác khôngđổi thì Y thay đổi i( 0)
Nếu muốn đo lường sự thay đổi của Y khi tất cả các biến ngoại sinh X1 , X2 , …, Xn đềuthay đổi 1% thì ta dùng hệ số co giãn toàn phần:
i=α
∑
Ví dụ 1.12: với Q là mức sản lượng, K là vốn và L là khối lượng lao động được sử dụng, giả
sử có mô hình hàm suất sản xuất có dạng:
Q = aK Lα βvới α, β > 0
Ta có εQ K =α ε, L Q =β và εQ =α + β
2. Tính hệ số tăng trưởng (nhịp tăng trưởng)
Nếu trong trường hợp mô hình có biến ngoại sinh là biến thời gian thì sự biến động của biếnnội sinh theo thời gian được đo bằng hệ số tăng trưởng (nhịp tăng trưởng) Hệ số tăngtrưởng của một biến đo tỉ lệ biến động của biến đó trong một đơn vị thời gian
Trang 13Giả sử Y = F(X1, X2,…Xn, t), với t là biến thời gian Hệ số tăng trưởng của Y – ký hiệu là ry– được tính theo công thức :
Y
Y t r Y
5 .0, 23
0, 235
Vậy hàng năm, dân số tăng 23%
Tổng quát hơn, nếu biến nội sinh phụ thuộc thời gian một cách gián tiếp thông qua sự phụthuộc thời gian của các biến khác, tức là hàm số có dạng Y = F(X1(t), X2(t),…Xn(t)) Khi đó
hệ số tăng trưởng của Y có thể tính dựa vào hệ số tăng trưởng của các biến Xi theo côngthức :
n Y
ε là hệ số co giãn của Y theo X
i và r X ilà hệ số tăng trưởng của Xi.Chứng minh :
n Y
Trang 14Ví dụ 1.14 : Cho hàm sản xuất Y t( ) 0, 2= K L0,4 0,8trong đó K =120 0,1 ; + t L=200 0,3+ t.
Tính hệ số tăng trưởng của Y tại thời điểm t = 10
3. Tính hệ số thay thế (bổ sung, chuyển đổi)
Giả sử Y = F(X1, X2,…Xn), tại X = X0 giá trị tương ứng của Y là Y0
Nếu ta cho hai biến ngoại sinh thay đổi và cố định các biến khác sao cho Y không đổi, tức
là Y = Y0, thì sự thay đổi 2 biến này phải theo tỷ lệ nào? Tùy thuộc vào ý nghĩa thực tiễncủa 2 biến, tỉ lệ này có thể gọi là tỉ lệ (hệ số) thay thế (như thay thế giữa vốn và lao động),
tỷ lệ bổ sung (như bổ sung giữa 2 mặt hàng), tỉ lệ chuyển đổi (như chuyển đổi giữa tiêudùng hiện tại và tiêu dùng tương lai)
Theo công thức vi phân toàn phần ta có : 1 1
X X
∆
Tỉ lệ này cho biết khi tăng Xj một đơn vị thì phải giảm Xi đi
i j
X X
∆
∆ đơn vị để giữ nguyên
mức của Y