LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan Luận văn với đề tài: "Mối quan hệ giữa chu kỳ kinh doanh, chính sách tài khóa, và vai trò của yếu tố nợ công trong việc thực hiện chính sách tài khóa" l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ KIỀU MY
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHU KỲ KINH TẾ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, VÀ
VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ NỢ CÔNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GVHD: TS Phạm Quốc Hùng
TP Hồ Chí Minh, Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn với đề tài: "Mối quan hệ giữa chu kỳ kinh doanh, chính sách tài khóa, và vai trò của yếu tố nợ công trong việc thực hiện chính sách tài khóa" là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tác giả, các tài liệu tham
khảo, số liệu thống kê, dữ liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC PHỤ LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Đóng góp của luận văn 5
1.5 Hạn chế của luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 7
2.1 Chính sách tài khóa 7
2.2 Chu kỳ kinh tế 11
2.3 Cơ sở lý thuyết về mối tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế 12
2.3.1 Kinh tế học vi mô 12
2.3.2 Tư tưởng của John Maynard Keynes 15
2.3.3 Các trường phái sau Keynes 21
2.4 Tác động của yếu tố nợ công đến việc thực hiện chính sách tài khóa 26
2.5 Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 27
2 6 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 29
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 33
3.1 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 36
3.3 Phạm vi thu thập dữ liệu 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
Trang 54.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 43
4.2 Các quốc gia thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ hay thuận chu kỳ 43
4.3 Có phải lúc nào các quốc gia cũng thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ kinh tế, vai trò của yếu tố nợ công 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Khuyến nghị, hàm ý chính sách 55
5.3 Hạn chế của đề tài 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CAB Cân bằng tài khoản vãng lai
INT Lãi suât cho vay thực
M2 Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền
OG Chêch lệch so với sản lượng tiềm năng PDB Cân bằng tài khóa cơ bản
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: kiểm định nghiệm đơn vị của Maddala-Wu 1991 và Pesaran 2007 Kiểm định giả thiết H0: bảng dữ liệu có nghiệm đơn vị
Bảng 4.2 Kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế (OG
là biến đại diện cho biến chu kỳ kinh doanh được ước lượng bằng bộ lọc HP) (ước lượng theo phương pháp two step GMM)
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế (tỷ lệ tăng trưởng GDP là biến đại diện cho biến chu kỳ kinh doanh) (ước lượng theo phương pháp two step GMM)
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế cho các nước phát triển và đang phát triển (ước lượng theo phương pháp two step GMM) Bảng 4.5 Kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế (OG
là biến đại diện cho biến chu kỳ kinh doanh được ước lượng bằng bộ lọc HP) cho hai giai đoạn tăng trưởng nóng và suy thoái (ước lượng theo phương pháp two step GMM) Bảng 4.6 Kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế (tỷ lệ tăng trưởng GDP là biến đại diện cho yếu tố chu kỳ kinh doanh) cho hai giai đoạn tăng trưởng và suy thoái (ước lượng theo phương pháp two step GMM)
Bảng 4.7 kết quả ước lượng tương quan giữa chính sách tài khóa, chu kỳ kinh tế (OG là biến đại diện được ước lượng bằng bộ lọc HP) và yếu tố nợ công trong giai đoạn suy thoái (ước lượng theo mô hình System GMM)
Trang 10CHU KỲ KINH TẾ, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, VÀ VAI TRÒ YẾU TỐ NỢ CÔNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đối mặt với nhiều rủi ro đến từ việc quản lý chi tiêu công yếu kém dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu, thị trường tài chính phát triển quá nóng với các sự bùng nổ công cụ cho vay dưới chuẩn bắt nguồn sâu
xa từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu tại Mỹ, hay sự leo thang trong cuộc
chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu,
Chính phủ ở các quốc gia và các Ngân hàng trung ương có một số công cụ chính sách quan trọng được sử dụng trong điều hành kinh tế vĩ mô gồm có chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ Nếu các chính sách này được áp dụng thích hợp thì cả hai đều có thể tạo nên tác động tương tự nhau nhằm kích thích kinh tế phát triển và góp phần kìm hãm khi nền kinh tế đang trong chu kỳ tăng trưởng nóng Sử dụng chính sách tài khóa chính là việc các chính phủ áp dụng các công cụ như chi tiêu công và số thu từ thuế với mục tiêu tác động lên nền kinh tế Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ việc sử dụng chính sách tài khóa có thể tác động đến chi tiêu của các hộ gia đình, đầu tư tư nhân của các doanh nghiệp, tỷ giá, các mức thâm hụt ngân sách nhà nước và có khi là cả các mức lãi suất Chính sách tài khóa gắn liền với trường phái Keynes, tên một nhà kinh tế học ở nước Anh là John Maynard Keynes Nhiều nghiên cứu của ông như “Lý thuyết tổng quát
về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã tác động đến các tư tưởng mới nhằm lý giải về cách thức mà nền kinh tế đang vận hành và vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu mãi cho đến hiện nay Phần lớn lý thuyết này của ông được ra đời trong thời kỳ Đại khủng hoảng Nhưng cho đến nay lý thuyết của Keynes đã được vận dụng đúng cũng như bị sử dụng sai nhiều lần, bởi vì nó khá là phổ biến và chỉ nên được áp dụng trong những trường hợp đặc thù để giảm tác động bởi suy thoái kinh tế
Trang 11Nói một cách đơn giản hóa, các học thuyết kinh tế theo trường phái của Keynes đều dựa trên lý luận rằng sự chủ động can thiệp của chính phủ là cách tốt nhất lèo lái kinh tế Điều này cho thấy rằng các chính phủ nên tận dụng các công cụ để gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế bằng cách gia tăng chi tiêu công và tạo nên môi trường để tiền tệ lưu thông dễ dàng, nhằm kích thích kinh tế, tạo ra nhiều công ăn và việc làm đến cuối cùng làm gia tăng của cải xã hội Các trường phái dựa trên lý thuyết Keynes cũng cho rằng bản thân chính sách tiền tệ cũng có những hạn chế và khiếm khuyết khi trong quá trình giải quyết tình trạng khủng hoảng trên thị trường tài chính, do đó đã tạo nên những tranh luận gay gắt trong cộng đồng các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes và các nhà kinh tế ủng hộ cho chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa cái mà đã được sử dụng thành công trong suốt trong và sau thời kỳ Đại khủng hoảng nhưng các học thuyết Keynes đã tiếp tục
bị hoài nghi ở sau những năm 80 sau một khoảng thời gian dài được ưa thích
Cũng như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa được dùng để điều chỉnh sự gia tăng hoặc suy giảm GDP, một chỉ số thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh tế Một khi các chính phủ sử dụng quyền hạn như điều chỉnh giảm thuế hay lựa chọn gia tăng chi tiêu công có nghĩa là chính phủ đang tiến hành mới lỏng chính sách tài khóa Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, bắt đầu từ những nỗ lực nới lỏng của các chính phủ có thể chỉ đem lại tác động tích cực thông qua việc kích thích kinh tế nhưng những hiệu ứng domino tiêu cực kèm theo lại có thể lớn hơn rất nhiều Một khi tốc độ gia tăng chi tiêu công của chính phủ lớn hơn tốc độ gia tăng nguồn thu từ thuế, nợ công sẽ bị tích lũy nhiều dẫn đên gia tăng
nợ công của quốc gia
Ngoài ra khi các chính phủ tăng cường áp dụng biện pháp vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu để thực hiện chính sách nới lỏng tài khóa, việc phát hành trái phiếu chính phủ sẽ phải cạnh tranh với khu vực tư nhân Hiệu ứng này được gọi tên là hiệu ứng “chèn lấn” (crowding out) có thể đưa đến tác động xấu làm gia tăng các mức lãi suất gián tiếp trên thị trường vì chính phủ phải gia tăng cạnh tranh để có được nguồn tài chính Trong trường hợp khả thi các biện pháp kích thích kinh tế như gia tăng chi tiêu công mới đầu có thể tạo nên một số tác động tích cực ngắn hạn, một phần không nhỏ của yếu tố tăng trưởng này có thể sẽ mất đi do chi phí vay nợ gia tăng lên với các trái chủ trong đó gồm
Trang 12có cả chính phủ Hơn nữa, các biện pháp khích thích tài khóa cũng đồng thời chịu tác động do tồn tại độ trễ hoặc do cần phải được thông qua ở nhiều khâu phê duyệt ở nhiều cấp khác nhau
Hiện nay, nợ công đã vượt quá mức giới hạn an toàn ở một số nền kinh tế phát triển cao, và đang phát triển, nó đang trở thành một chủ đề nóng hổi được quan tâm hiện nay bởi vì nó có thể là yếu tố gây ra nguy cơ đe dọa đến sự hồi phục yếu ớt của nền kinh tế toàn cầu, làm cho các nhà lập chính sách phải lo ngại đến một kịch bản kinh tế lại tiếp tục rơi vòng xoáy suy thoái kéo dài Nợ công đồng thời có nhiều ảnh hưởng tích cực nhưng cũng còn không ít ảnh hưởng tiêu cực Để nhận ra những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực để tăng cường phát huy các mặt tích cực, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực
là điều quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách vĩ mô Một trong số các tác động tích cực mà nợ công đem lại gồm có: Nợ công có thể làm gia tăng nguồn lực cho chính phủ, để từ đó góp phần tăng cường vốn để đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt ở các nước đang phát triển Mặt khác, huy động trái phiếu chính phủ để sử dụng được các nguồn tiền nhàn rỗi trong khu vực xã hội Thông qua vay
nợ mà các khoản tiền tiết kiệm nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, có thể mang lại hiệu quả cho cả khu vực công và khu vực tư nhân
Khi tình trạng nợ công gia tăng cao, vượt qua những giới hạn an toàn, thì nền kinh
tế trở nên dễ bị tổn thương và phải gánh chịu các sức ép từ bên trong và cả bên ngoài Hiện này, nợ công không chỉ là vấn đề mà các nước chậm và đang phát triển phải đối mặt Khi so sánh các khoản nợ công so với GDP, gánh nặng nợ công lớn nhất là ở các nước phát triển, đặc biệt khu vực đồng tiền chung Châu Âu đang phải đứng trước những thách thức to lớn khi Hy Lạp phải sử dụng đến gói cứu trợ của EU và IMF nhằm tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ
Bên cạnh đó, một khi tỷ lệ nợ công quá cao, sẽ dẫn đến tình trạng thắt chặt chi tiêu công, buộc các chính phủ phải thực hiện các chính sách nhằm "thắt lưng buộc bụng" với mục tiêu giảm thâm hụt là điều kiện bắt buộc để nhận được hỗ trợ tín dụng từ những tổ chức quốc tế, tuy nhiên, "thắt lưng buộc bụng" lại có thể dẫn tới hàng loạt các cuộc biểu tình nhằm phản đối của các cử tri, tạo nên tình trạng căng thẳng kéo dài, kèm theo những
Trang 13bất ổn trong hệ thống chính trị và xã hội, vì các người nghèo và người yếu thế là những các đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chính sách cắt giảm phúc lợi xã hội, giảm chi tiêu công của chính phủ
Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu vừa mới thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, mới bắt đầu có một số dấu hiệu hồi phục là kết quả của việc sử dụng các gói kích thích kinh tế mà các chính phủ đã tung ra trong thời gian trước đây, nên việc cắt giảm chi tiêu công, và gia tăng thuế sẽ làm suy giảm đầu tư công, lại kìm hãm sự hồi phục kinh tế, dẫn đến tăng trưởng với tốc độ chậm lại, thậm chí còn có thể đưa nền kinh tế vào tình trạng "khủng hoảng kép" Trầm trọng hơn, việc thông qua các gói kích thích kinh tế là nguyên nhân làm gia tăng nợ công nhanh chóng, vì vậy trong trường hợp khủng hoảng lại tiếp tục diễn
ra thì các chính phủ liệu có còn đủ khả năng để xoay xở, và cứu vãn nền kinh hay không? Khi nợ công tăng cao liên tục, nền kinh tế sẽ bị hạ bậc tín nhiệm dẫn đến suy giảm niềm tin của các cử tri và các nhà đầu tư phần nào cũng bị lung lay, đây là lúc mà nền kinh tế có nguy cơ trở thành một mục tiêu để tấn công của giới đầu cơ quốc tế Khi chính phủ muốn duy trì việc huy động bằng trái phiếu trên thị trường tài chính đồng nghĩa với việc chấp nhận các mức chi phí sử dụng vốn cao hơn và sau đó lại tiếp tục rơi vào vòng xoáy: lại tiếp tục bị hạ bậc tín nhiệm
Đo đó nghiên cứu này nhằm nghiên cứu việc thực thi chính sách tài khóa trên thực
tế của chính phủ ở các quốc gia Các chính phủ có thực hiện chính sách tài khóa phản chu
kỳ kinh tế nhằm đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng hay ngược lại thực hiện chính sách tài khóa thuận chu kỳ kinh tế để bàn tay thị trường tự điều tiết Trong điều kiện nợ công gia tăng cao ở một số quốc gia do chính phủ gia tăng để tài trợ cho chi tiêu công đầu tư phát triển và chi thường xuyên, việc phát hành trái phiếu chính phủ không còn thuận lợi có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện chính sách tài khóa của các quốc gia
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này trả lời 2 câu hỏi sau:
Câu hỏi thứ 1: trên thực tế các chính phủ ở các quốc gia duy trình chính sách tài khóa phản chu kỳ kinh tế hay thuận chu kỳ kinh tế?
Trang 14Câu hỏi thứ 2: Tác động của yếu tố nợ công đến việc duy trình chính sách tài khóa như thế nào?
Nói cách khác, nghiên cứu này tiến hành kiểm định dự báo lý thuyết kinh tế vĩ mô của John Maynard Keynes: thị trường tồn tại những yếu tố không hoàn hảo, chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Do đó, chính phủ cần chủ động can thiệp vào thị trường bằng các công cụ của chính sách tài khóa gồm có chi tiêu công và/hoặc các công cụ chính sách thuế nhằm tác động lên tổng cầu để kéo thị trường về lại thái cân bằng ở mức sản lượng toàn dụng Ảnh hưởng của yếu tố nợ công lên việc điều hành chính sách tài khóa ở các quốc gia được nghiên cứu trong giai đoạn 1991 – 2016 Nợ công có góp phần tích cực vào việc tận dụng các nguồn lực nhàn rỗi trong nước và nước ngoài đem lại nguồn tài chính cho các nhà điều hành thực thi các công cụ của chính sách tài khóa hay không? Khi tỷ lệ nợ công tăng cao có tác động như thế nào đến tính chủ động trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ Hơn nữa, khi các chính phủ gia tăng vay nợ nhằm bù đắp thâm hụt đến từ việc cắt giảm nguồn thu từ thuế mà chi tiêu vẫn không thay đổi thì sẽ có tác động tích cực đến hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình Cụ thể, nó làm gia tăng các mức tiêu dùng, dẫn đến làm gia tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, góp phần gia tăng sản lượng, và việc làm trong ngắn hạn Nhưng trong dài hạn điều này lại có thể làm cho tiết kiệm của quốc gia suy giảm và đi kèm với đó là những hệ lụy nghiêm trọng khác
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chính sách tài khóa với biến chu kỳ kinh tế, tác động của yếu tố nợ công đến việc thực hiện chính sách tài khóa ở
51 quốc gia phát triển, đang phát triển và một số quốc gia có thu nhập thấp trong giai
đoạn 1991 đến 2016
1.4 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu cho thấy chính phủ các quốc gia thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ kinh tế trong gia đoạn nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái bằng cách tung
ra các gói kích thích kinh tế để gia tăng chi tiêu công, và/hoặc giảm thuế để thúc đẩy kinh
Trang 15tế phát triển, chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy chính phủ thực thi chính sách tài khóa phản chu kỳ trong giai đoạn nền kinh tế đang tăng trưởng nóng
Tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa biến chính sách tài khóa và chu kỳ kinh tế ở trong giai đoạn suy thoái kinh tế Trong thời kỳ này hệ số tương tác giữa biến chu kỳ kinh
tế và tỷ lệ nợ công mang dấu âm có ý nghĩa thống kê cho thấy ở các quốc gia có tỷ lệ nợ công tăng cao làm giảm khả năng vay nợ của chính phủ khi thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế
1.5 Hạn chế của luận văn
Mặc dù nghiên cứu việc các chính phủ thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ hay thuận chu kỳ nhưng nhiên cứu này vẫn chưa xét xét chi tiết về việc chính phủ sử dụng công cụ chính sách tài khóa nào để điều tiết kinh tế vĩ mô công cụ thuế hay chi tiêu đầu tư
Nghiên cứu này chỉ mới kiểm định biến hệ số tương quan giữa biến chu kỳ kinh tế
và nợ công, tuy nhiên nghiên cứu này chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể nợ công có tác động như thế nào đến việc điều hành chính sách tài khóa, trên thực tế có tồn tại ngưỡng
nợ công mà ở đó chính phủ thay đổi từ việc điều hành chính sách tài khóa phản chu kỳ sáng thuận chu kỳ
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa: Theo giáo trình Chính sách công và Quản lý Fulbright, bài
giảng kinh tế vĩ môn niên khóa 2018-2020, chính sách tài khóa có thể được hiểu là các biện pháp nhằm can thiệp vào thị trường của chính phủ bằng các hệ thống thuế cùng với chi tiêu công của chính phủ để đạt đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô như thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo nên nhiều công ăn việc làm hoặc ổn định tỷ lệ lạm phát và giá cả Do đó, việc duy trì chính sách tài được chính phủ thực thi có liên quan đến những thay đổi trong chính sách thuế hoặc/và chi tiêu công của chính phủ Chú ý rằng, chỉ có chính quyền trung ương/ lien bang (chính phủ) mới có đủ quyền hạn và chức năng
để điều hành chính sách tài khóa, ở các cấp chính quyền địa phương không có chức năng này Chính điều này là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt giữa chính sách tài khóa với chính sách chi tiêu thuộc thẫm quyền của các cấp ngân sách theo luật của từng quốc gia
Để thực hiện chính sách tài khóa thì các chính phủ sẽ cần phải sử dụng một số công
cụ Các công cụ này của chính sách tài khóa gồm: chính sách thuế, và chi tiêu công, và công cụ vay nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách Có nhiều sắc thuế khác nhau: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế đánh lên tài sản, v.v nhưng tóm lại có thể phân chia ra thành hai loại thuế: trực thu (direct taxes) và gián thu (indirect taxes) Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên giá trị tài sản và/hoặc thu nhập của người nộp thuế, ngược lại thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng hóa,và dịch vụ trong quá trình lưu thông thông qua hành vi sản xuất, và tiêu dùng trong nền kinh tế Như vậy, chính sách chi tiêu công rất đa dạng nhưng ta có thể phân chia thành hai nhóm chính bao gồm chi thường xuyên (ví dụ như chi lương cho cán
bộ công chức, chi thường xuyên cho các hoạt động giáo dục, an ninh – quốc phòng, y tế, khoa học-công nghệ…) và chi tiêu cho đầu tư phát triển (ví dụ chi xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế) Chính sách thuế (T) nhìn chung (không chỉ gồm có thuế mà còn có các khoản thu khác cho ngân sách ngoài thuế và không tính đến các khoản nợ vay Hơn nữa,
Trang 17trợ cấp cũng được xem như một loại thuế âm) và chi tiêu chính phủ (G) (chi mua sắm hàng hóa cũng như dịch vụ của khu vực công) Bên cạnh công cụ thuế và chi tiêu công, các công cụ nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay vay nợ của chính phủ (tạm gọi là nợ công) cũng được xem như là một phần của chính sách tài khóa
Vì vậy, tồn tại ba trạng thái của cán cân ngân sách của chính phủ (T – G):
Nếu T > G: ngân sách trong trạng thái thặng dư
Nếu T < G: ngân sách trong trạng thái thâm hụt
Nếu T = G: cân bằng ngân sách
Nguyên tác tài khóa: Khi ngân sách chính phủ trong trạng thái thặng dư (hay T > G)
cho thấy chính phủ có một khoản tiết kiệm dương Chính phủ có thể sử dụng khoản tiền tiết kiệm này để chi trả nợ công (do thâm hụt lũy kế trong những năm tài khóa trước đây) hoặc cho nền kinh tế trong nước hay các quốc gia khác vay Trái lại, nếu ngân sách trong trại thái thâm hụt thì chính phủ sẽ cần phải đi vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách đó
Có một số cách mà chính sách có thể sử dụng để tài trợ thâm hụt ngân sách, ví dụ như phát hành tín phiếu/trái phiếu (hay đi vay thị trường trong nước hoặc các nhà đầu tư nước ngoài), bán bớt tài sản của quốc gia (ví dụ như bán tài nguyên quốc gia hay bán đi cổ phần của chính phủ trong các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ) hoặc thậm chí chính phủ có thể in tiền Tuy nhiên chính phủ sẽ cần phải cân nhắc các sự lựa chọn vì mỗi sự lựa chọn đều có lợi ích cùng với chi phí kinh tế Trong trường hợp chính phủ vay nợ sẽ phải chi trả lãi suất, nếu vay từ nước ngoài (vay ngoại tệ) sẽ còn gánh chịu rủi ro đến từ biến động tỷ giá hối đoái Nếu chính phủ chọn phương án bán tài sản quốc gia thì có thể làm suy giảm đi nguồn lực của các thế hệ trong tương lai, hay thậm chí in tiền sẽ gây áp lực lớn lên lạm phát và là mầm móng cho những bất ổn vĩ mô ) Ngoài việc phải lựa chọn kênh để tài trợ thâm hụt, việc chính phủ sử dụng các nguồn tài trợ như thế nào cũng
là một bài toán khó giải Một trong những nguyên tắc tài trợ để thâm hụt đó là chính phủ không nên đi vay nợ để chi tiêu mà nên dùng khoản vay này chi cho đầu tư phát triển Nguyên tắc này được gọi nguyên tắc tài khóa vàng Hàm ý là việc sử dụng nợ vay để chi
Trang 18tiêu không thể tạo nên các nguồn lực để trả nợ ở tương lai, tác động xấu đến sự an toàn của nợ công Trái lại, việc đi vay tài trợ cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi vốn, trường hợp xấu nhất cũng tạo nên năng lực sản xuất trong nền kinh tế
Chính sách tài khóa trung lập, mở rộng, hay thu hẹp: Khi nói đến việc điều hành
chính sách tài khóa, người ta thường đề cập đến các loại như chính sách tài khóa trung lập, chính sách tài khóa mở rộng, và chính sách tài khóa thu hẹp Chính sách tài khóa trung lập được hiểu là chính sách nhằm đạt trạng thái cân bằng ngân sách, hay tất cả chi tiêu chính phủ đến hoàn toàn từ nguồn thu ngân sách của chính phủ đo đó chính sách tài khóa trung lập thông thường chỉ có tác động trung tính lên các mức độ hoạt động của nền kinh tế Trái lại, chính sách tài khóa thu hẹp nhằm cắt giảm chi tiêu hoặc/và gia tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ Chính sách tài khóa mở rộng là chi sách nhằm gia tăng chi tiêu chính phủ (G > T) bằng cách gia tăng chi tiêu và/hoặc cắt giảm nguồn thu thuế
Chính sách tài khóa thuận chu kỳ và nghịch chu kỳ: Nếu nền kinh tế trong trạng
thái suy thoái, chính phủ ở các quốc gia có thể sẽ thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng
và trái lại khi kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nóng thì chính phủ nên thực hiện chính sách thắt chặt tài khóa Việc thực thi chính sách tài khóa như hướng này còn được gọi là chính sách tài khóa phản chu kỳ Bên cạnh đó cũng tồn tại một số quốc gia chọn lựa thực hiện sách tài khóa thuận chu kỳ, hay trong trường hợp nền kinh tế đang bị suy thoái thì tiến hành thu hẹp tài khóa, khi nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nóng thì lại nới lỏng tài khóa Một số nghiên cứu thực tế cho thấy rằng, các nước phát triển thông thường thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ, còn ở các nước đang phát triển/ có thu nhập thấp thì thực thi chính sách tài khóa thuận chu kỳ
Độ trễ của chính sách: Một khi nói đến tính hiệu quả của chính sách tài khóa, là nói
đến vai trò độ trễ chính sách Độ trễ của chính sách bao gồm độ trễ trong và độ trễ ngoài
Độ trễ trong là khoảng thời gian từ khi những vấn đề trục trặc của nền kinh tế vĩ mô được phát hiện ra cho đến khi chính sách tài khóa can thiệp được đưa ra và được cơ quan nhà
Trang 19nước có thẩm quyền thông qua Độ trễ ngoài là khoảng thời gian mà từ khi chính sách tài khóa được thông qua cho đến khi được triển khai và phát huy tác dụng Độ trễ chính sách
là một trong những nguyên nhân làm suy giảm tính hiệu quả của chính sách tài khóa Nguyên nhân đến từ khi phát hiện được những trục trặc trong nền kinh tế cho đến khi chính sách tài khóa được thiết kế, phê duyệt và triển khai đã có quá nhiều yếu tố thay đổi làm cho tình hình kính tế chuyển biến khác Mặc dù các chính sách có được thiết kế tốt nhưng lại có thể không còn phù hợp với bối cảnh hiện tại và các trục trặc vừa mới nảy sinh
Chính sách tự động bình ổn và chính sách tùy nghi: Khi đề cập yếu tố chủ động
trong việc điều hành chính sách tài khóa, người ta thường chia làm hai loại bao gồm chính sách tự động bình ổn và chính sách tài khóa tùy nghi Chính sách tài khóa được xem là bình ổn tự động khi chính phủ xây dựng chính sách thuế và chi tiêu công phụ thuộc vào sự thay đổi của yếu tố chu kỳ kinh doanh Chúng ta có thể nhận biết được điều này khi nền kinh tế ở chu kỳ tăng trưởng hay suy thoái Ví dụ, khi nền kinh tế trong chu
kỳ tăng trưởng thì số thuế thu được cũng sẽ tăng lên trong khi nhu cầu chi tiêu công hay quy mô của các gói trợ cấp giảm đi Tuy nhiên, khi nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái thì nguồn thu thuế của ngân sách cũng sẽ bị giảm và các nhu cầu trợ cấp cho các chủ thể kinh tế của chính phủ cũng sẽ gia tăng lên Ngược lại, chính sách tài khóa là tùy nghi khi chính phủ sẽ chủ động hành động thay đổi trong chính sách thuế và các khoản chi tiêu công không phụ thuộc vào các biến số chu kỳ kinh tế
Số nhân tài khóa: chính sách tài khóa nới lỏng (tăng G và/ hoặc giảm T) giúp gia
tăng hay đẩy đường tổng cầu trong nền kinh tế sang bên phải Mặt khác, một chính sách tài khóa thắt chặt (giảm G và/ hoặc tăng T) làm giảm hay đẩy đường tổng cầu về phía bên trái Với các nhà hoạch định cần phải biết thêm thông tin với chính sách tài khóa nới lỏng hay thắt chặt nhất định làm cho đường tổng cầu dịch chuyển như thế nào, bao nhiêu hơn
là hướng dịch chuyển sang bên phải hay sang bên trái Nhằm tính toán điều đó các nhà khoa học đưa khái niệm về số nhân tài khóa Số nhân tài khóa được định nghĩa là tỷ số của sự thay đổi trong GDP thực do tính tự định trong chi tiêu công hoặc chính sách thuế
Trang 20của chính phủ thay đổi Hiệu ứng này có thể được giải thích như sau Nếu chính phủ gia tăng chi tiêu công sẽ góp phần tạo ra doanh thu cho các doanh nghiệp mà sản xuất cung ứng hàng hóa, và dịch vụ cho khu vực công Nguồn thu này sẽ được dịch chuyển vào cho các gia đình ở hình thức tiền công, tiền lãi, hay lợi nhuận… Việc tăng thu nhập khả dụng tiếp tục đưa đến gia tăng chi tiêu cho tiêu dùng Cứ như thế tiếp tục, tiêu dùng gia tăng sẽ lại làm cho doanh nghiệp gia tăng sản lượng sản xuất, doanh thu và lợi nhuận, tiếp tục dẫn đến một vòng mới tăng thu nhập khả dụng và chi tiêu Đến cuối cùng ảnh hưởng của chính sách gia tăng chi tiêu công của chính phủ tác động làm tổng thu nhập trong nền kinh tế gia tăng thêm một lượng có thể còn lớn hơn lượng chi tiêu gia tăng thêm mà chính phủ tăng lên ban đầu Đây được gọi là hiệu ứng số nhân tài khóa
2.2 Chu kỳ kinh tế
Theo giáo trình Chính sách công và Quản lý Fulbright, bài giảng kinh tế vĩ môn niên khóa 2018-2020, chu kỳ kinh tế nói cách khác là chu kỳ kinh doanh thường được định nghĩa là sự thay đổi của GDP thực theo ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Tuy nhiên, cũng có quan điểm lại cho rằng pha phục hồi chỉ là thứ yếu cho nên chu kỳ kinh tế chỉ gồm hai pha chính là hưng thịnh và suy thoái
Trong đó, suy thoái: pha mà trong đó GDP thực giảm sút Ở Nhật Bản và Mỹ, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực mang dấu âm trong vòng hai quý liên tiếp mới được gọi là suy thoái
Phục hồi: pha mà trong đó GDP thực tăng lên trở lại bằng với mức ngay trước pha suy thoái
Hưng thịnh: Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang trọng trạng thái hưng thịnh Điểm ngoặt chuyển đổi từ pha hưng thịnh chuyển sang pha suy thoái được gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế
Trên thực tế nhiều nhà kinh tế học cố gắng nhận biết các dấu hiệu của pha suy thoái
vì nó có nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên mọi mặt của nền kinh tế, xã hội Một số những đặc điểm thường gặp của giai đoạn suy thoái: tiêu dùng sụt giảm mạnh, số lượng hàng tồn
Trang 21kho hàng hóa lâu bền trong các công ty tăng lên vượt mức so với dự kiến Điều này đưa đến việc các nhà sản xuất tiến hành điều chỉnh giảm sản lượng đi cùng với đó đầu tư thiết
bị, quy trình sản xuất, nhà xưởng giảm và hậu quả là GDP thực suy giảm Nhu cầu về số lượng lao động giảm khá mạnh, bước đầu là số lượng ngày làm việc bị điều chỉnh giảm xuống kế tiếp là hiện tượng giảm đồng loạt số lượng nhân công kéo theo tỷ lệ thất nghiệp cao Nếu sản lượng thực suy giảm thì lạm phát sẽ gia tăng chậm vì chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất giảm bởi cầu suy giảm Tuy mức giá dịch vụ tuy khó giảm, cũng không thể tăng nhanh trong thời kì suy thoái kinh tế Lợi nhuận của các công ty giảm mạnh và đến khi các nhà đầu tư bắt đầu cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh thì nhu cầu về vốn cũng suy giảm làm cho lãi suất giảm xuống trong giai đoạn suy thoái
Tác động của chu kỳ kinh doanh: chu kỳ kinh doanh là những biến động của nền kinh tế mà không mang bất kì tính quy luật nào Không có hai chu kỳ kinh tế giống nhau hoàn toàn và cũng chưa từng có bất kỳ cách thức hay công cụ nào có thể dự báo đúng thời điểm các chu kỳ kinh tế diễn ra Do đó chu kỳ kinh doanh nhất là trong giai đoạn suy thoái làm cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực công gặp rất nhiều khó khăn Kinh tế suy thoái, GDP thực tế giảm sút, thấp nghiệp gia tăng cao, thị trường hàng hóa và dịch vụ lẫn thị trường vốn đều thu hẹp đưa đến những tác động tiêu cực cho nền kinh tế, xã hội
2.3 Cơ sở lý thuyết về mối tương quan giữa chính sách tài khóa và chu kỳ kinh
tế
2.3.1 Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô (microeconomic) là một trong những phân ngành quan trọng trong kinh tế học, môn này chuyên nghiên cứu hành vi cũng như động cơ mà các chủ thể trong kinh tế (bao gồm người tiêu dùng và nhà sản xuất) cũng như cách thức mà các chủ thể này có thể tương tác qua lại với nhau
Một trong các mục tiêu nghiên cứu quan trọng của kinh tế vi mô là làm sao phân tích được cơ chế của thị trường nhằm xác định ra mức giá cả tương đối của các loại hàng
Trang 22hóa và dịch vụ cùng với việc phân phối hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị giới hạn khi có nhiều lựa chọn khác nhau Hơn nữa, kinh tế vi mô cũng phân tích những thất bại của thị trường, một khi thị trường vận hành khong hiệu quả, đồng thời đưa ra các điều kiện cần để thị trường cạnh tranh hoàn hảo Một trong những phân nhánh quan trọng nhất của kinh tế vi mô gồm có lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết về sự chọn lựa cùng với sự không chắc chắn và các việc áp dụng các lý thuyết trò trơi trong kinh tế
Cụ thể, kinh tế học vi mô nghiên cứu:
Các luận điểm cơ bản trong kinh tế: cung, cầu, giá cả, và thị trường
Một số lý thuyết cơ bản về hành vi của người tiêu dùng
Các lý thuyết hành vi của nhà sản xuất
Lý thuyết cấu trúc thị trường
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh độc quyền
Thị trường cho các yếu tố sản xuất gồm: lao động - vốn – và tài nguyên
Vai trò của các chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Các quan điểm về thất bại thị trường
Cụ thể, ở thế kỉ thứ XVIII, khi Châu Âu trong gia đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ 1 Các chuyển biến trong phương thức sản xuất kiến cho các học thuyết về kinh tế của chủ nghĩa trọng thương trở nên không phù hợp, Đây là thời điểm mà lý thuyết kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh được ra đời Lý thuyết này xây dựng những nền tảng trên phương diện khoa học cơ bản của nền kinh tế thị trường ngày nay Nhà kinh tế học tiên phong trong quá trình xây dựng hệ thống chính là Adam Smith
Trong một tác phẩm quan trọng của Adam Smith, "The theory of moral setiments",được xuất bản đầu tiên vào năm 1759 Trong sách này Smith đưa ra quan điểm
về nhận thức của con người như một sinh vật tư lợi tuy có khả năng đánh giá những luân suy xét cân nhắc cùng với bản chất ích kỷ Ông cũng cho rằng việc đánh giá các luân lý được diễn ra bằng cách duy trì tư lợi cùng với sự vâng lời và tự đặt chính mình vào quan điểm của người thứ ba
Trang 23Luận điểm nổi tiếng nhất của ông là lý thuyết “Bàn tay vô hình” Bàn tay vô hình một phép ẩn dụ, tư tưởng kinh tế lỗi lạc mà Adam Smith xây dựng vào những năm 1776 Trong ấn phẩm có tên Nguồn gốc của cải của các dân tộc (the Wealth of Nations) và một
số bài viết khác, ông cho rằng, trong một nền kinh tế thị trường tự do, mỗi một cá nhân đều theo đuổi mối quan tâm cùng với lợi ích riêng cho bản thân mình, và cũng chính các hành động của họ lại có tác động thúc đẩy lớn hơn, cũng cố lợi ích tốt hơn cho toàn xã hội thông qua một "bàn tay vô hình" Ông cho rằng, mỗi cá nhân đều mong muốn thu được lợi lớn nhất cho bản thân nên sẽ làm tối ưu hóa lợi ích cả dân tộc, điều này cũng giống như việc cộng dồn toàn bộ lợi ích của từng cá nhân lại
Theo ông, chính phủ ở các quốc gia không cần phải can thiệp vào thị trường vào cá nhân và các nhà sản xuất, cứ để cho thị trường do vận hành kinh doanh; Smith kết luận:
“Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh”
Theo quan điểm này, thì hành động của các chủ thể trong xã hội đều nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích cá nhân của riêng mình; do đó họ không có chủ đích củng cố lợi ích cho công đồng và cũng không ý thức được mình đang củng cố cho lợi ích này Nhưng khi đó, thị trường với cơ chế giá cả sẽ tự hoạt động vì lợi ích cho tất cả mọi người và như thể tồn tại một bàn tay vô hình có thể điều khiển toàn cả trình sản xuất của xã hội và cơ chế này còn có phát huy hiệu quả tốt hơn cả khi chính phủ có ý định tự thực hiện việc này
Lý thuyết của Adam Smith ngược lại với tư tưởng của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương (cần có sự bàn tay can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế), đây là nền tảng cho
sự tự do kinh doanh, lý thuyết này thích hợp cho chủ nghĩa tư bản một thời gian dài Nhưng sau này, thực tế đã chứng minh còn một số điểm chưa hoàn toàn phù hợp, và các nền kinh tế vẫn phải sử dụng đến chủ thể nhà nước là "bàn tay hữu hình" thông qua chính sách pháp luật, thuế và các công cụ kinh tế nhằm điều chỉnh nền chu kỳ của kinh tế xã hội song song với cơ chế tự điều chỉnh của thị trường theo lý thuyết bàn tay vô hình nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển và ổn định của quốc gia
Lý thuyết của Adam Smith có nhiều ý nghĩa trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường:
Trang 24 Phát triển nền kinh tế thị trường phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan;
Tăng trưởng kinh tế cần dựa trên nền tảng tôn trọng tự do hoạt động kinh doanh (sản xuất, kinh doanh, thị trường tự do, tự do cạnh tranh );
Nhà nước chỉ cần điều tiết ở tầm vĩ mô cho nền kinh tế
2.3.2 Tư tưởng của John Maynard Keynes
John Maynard Keynes (1883-1946) là một nhà kinh tế học người Anh; ông học kinh
tế học tại trường Đại học Cambridge
* Những tư tưởng cơ bản theo lý thuyết Keynes là:
Bác bỏ các lập luận cổ điển về cơ chế tự điều chỉnh trong nền kinh tế, và không đồng tình với quan điểm của phái cổ điển và trường phái cổ điển mới về trạng thái cân bằng của nền kinh tế dựa trên cơ sở sự tự điều tiết thị trường Một cách cụ thể : Nhà nước cần phải can thiệp vào nền kinh tế Nguyên nhân là do khủng hoảng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp cao là do các chính sách kinh tế đã lỗi thời, mang tính bảo thủ, và thiếu đi sự can thiệp cần thiết của Nhà nước
Bên cạnh việc ủng hộ quan điểm thị trường tự do, lý thuyết vĩ mô theo trường phái Keynes lập luận vai trò ổn định nền kinh tế của các chính phủ ở các quốc gia là không thể thiếu vì thị trường luôn tồn tại những bất cập không hoàn hảo: yếu tố độc quyền, lợi thế kinh tế theo quy mô, rào cản gia nhập ngành Các nhà kinh tế ở trường phái Keynes lập luận rằng tổng cầu trong một nền kinh tế chịu tác động từ hàng loạt quyết định của cả khu
Trang 25vực tư nhân và nhà nước - và hay thiếu tính ổn định Hơn nữa, trường phái Keynes còn cho rằng những biến động trong tổng cầu có ảnh hưởng lớn tới thu nhập (GDP) thực
tế cũng như việc làm trong ngắn hạn Nên khi thay đổi chi tiêu tiêu dùng, chi đầu tư hoặc chi tiêu công của chính phủ sẽ dẫn đến tổng cầu thay đổi Do đó, Chính sách tài khóa (gồm thuế và chi tiêu công) tác động đáng kể nhằm khắc phục sự tính thiếu ổn định trong tổng cầu của nền kinh tế
Cụ thể lý thuyết Keynes đã đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế: Mối quan hệ vòng tròn giữa chi tiêu và thu nhập (tổng cầu), tiết kiệm, tỷ lệ thất nghiệp Cụ thể như sau:
Tổng cầu: Tổng cầu là tổng lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh
tế và thường được cho là tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của một nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể GDP gồm bốn nhân tố chính cấu thành:
Tiêu dùng (bởi người tiêu dùng sử dụng hàng hóa và dịch vụ) - C
Đầu tư ( bởi những doanh nghiệp nhằm tạo ra càng nhiều hàng hóa và dịch vụ phục
vụ nền kinh tế) - I
Chi tiêu của chính phủ - G
Xuất khẩu ròng (Trị giá xuất khẩu trừ đi trị giá nhập khẩu) - NX
Cùng với nhau, các thành phần này trở thành C + I + G + NX, công thức cho tổng cầu
Nếu một trong những yếu tố trên giảm, các yếu tố còn lại sẽ phải tăng tương ứng để giữ GDP tại một mức nhất định
Tiết kiệm và đầu tư: Trường phái Keynes cho rằng tiết kiệm có tác động tiêu cực
đến nền kinh tế, đặc biệt trong trường hợp tỉ lệ tiết kiệm quá cao và thừa thãi Vì yếu tố chính trong tổng cầu là chi tiêu của hộ gia đình, nếu hộ gia đình tiết kiệm quá nhiều thay
vì chi tiêu mua sắp hàng hóa, dịch vụ, sẽ dần đến GDP sụt giảm Hơn nữa, một sự giảm sút tiêu dùng sẽ kéo theo việc các doanh nghiệp sẽ ít sản xuất hơn, thuê mướn ít nhân công hơn, làm làm gia tăng thất nghiệp Khi các doanh nghiệp không thực hiện quyết định đầu tư vào các nhà máy dây chuyền sản xuất mới
Trang 26Một trong những luận điểm quan trọng trong lý thuyết của Keynes là việc nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa đầu tư và tiết kiệm “Những người cho rằng hành động tiết kiệm của một chủ thể sẽ đồng thời dẫn đến một hành động đầu tư đã bị lừa… Họ giả định sai lầm rằng tồn tại một sợi dây ràng buộc chặt chẽ và liên kết việc đưa ra các quyết định nhằm tránh khỏi chi tiêu ở thời điểm hiện tại với quyết định chi tiêu tương lai; vì vậy động lực để xác định tiêu dùng trong tương lai không có liên kết dưới bất kỳ hình thức đơn giản nào với động lực cho việc xác định tiêu dùng ở hiện tại”
Một khía cạnh khác của sự phân biệt này đó là sự khác nhau của các quỹ bên trong các doanh nghiệp, và các quỹ thuộc quyền kiểm soát của các hộ gia đình Giả định thị trường vốn hoàn hảo, sẽ không có sự khác biệt đặc biệt nào trong việc sử dụng các quỹ của hộ gia đình hay các công ty
Tỷ lệ thất nghiệp: Đột phá trong lý thuyết Keynes là cách giải quyết tỷ lệ thất
nghiệp cao Kinh tế học cổ điển nhấn mạnh vào quan điểm thị trường chỉ ổn định khi có đầy đủ việc làm Mặt khác, Keynes đưa ra giả thuyết cho rằng tiền lương cũng như giá cả mang tính chất linh hoạt Điều này hàm ý là nền kinh tế luôn tồn tại trạng thái cân bằng ở mức lương người lao động muốn được nhận và mức lương người sử dụng lao động sẵn sàng chi trả (lý thuyết mô hình cung cầu cơ bản) Khi tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm sẽ có rất
ít công nhân đi tìm việc, vì vậy các doanh nghiệp gặp càng nhiều khó khăn khi thuê thêm nhân công để mở rộng sản xuất kinh doanh, yếu tố khan hiếm lao động sẽ đẩy giá cả lao động tăng lên cao Ở mức này, doanh nghiệp không thể chi trả mức lương mà người lao động đòi hỏi, cho nên họ quyết định dừng việc tuyển thêm nhân công
Tiền lương ở đây có thể được hiểu theo khía cạnh “thực tế” và “danh nghĩa” Lương thực tế phải tính đến tác động của yếu tố lạm phát, ngược lại lương danh nghĩa không có tính đến yếu tố này Theo Keynes, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi thương lượng với người lao động để điều chỉnh giảm mức lương thực tế, điều này chỉ xảy
ra khi có sự suy giảm khi tiền lương toàn bộ nền kinh tế nói cách khác xuất hiện hiện hiện tượng giảm phát khiến cho người lao động chấp nhận việc điều chỉnh giảm tiền lương thực tế Để giảm tỷ lệ thất nghiệp, tiền lương thực tế (có điều chỉnh theo lạm phát) cần phải điều chỉnh giảm theo Nhưng điều này cũng có thể đưa đến suy thoái kinh tế nghiêm
Trang 27trọng hơn, tình trạng hoảng loạn và sự suy giảm mạnh trong tổng cầu của nền kinh tế Bênh cạnh đó, Keynes đồng thời đưa ra giả thuyết tiền lương và giá cả có phản ứng chậm với những thay đổi cung và cầu Một trong những giải pháp đó là chính phủ can thiệp vào thị trường
Tính dai dẳng của thất nghiệp: Lý thuyết Keynes đã cho rằng tình trạng thất
nghiệp dai dẳng đến từ những thất bại khi điều chỉnh tốc độ hợp lý của tiền lương để điều tiết thị trường cung cầu lao động Trên thực tế thì, các kết luận của trường phái kinh tế học Keynes không bắt buộc yêu cầu sự cứng nhắc trong tỷ lệ lương - tiền Điều quan
trọng là các mức lương không thể bị hạ xuống các mức bù trừ trong thị trường
Vai trò chính phủ: Chính phủ là một trong số những chủ thể quan trọng nhất của
một nền kinh tế Chủ thể này có thể tác động đến sự phát triển kinh tế bằng cách thông qua các công cụ như kiểm soát cung tiền, điều chỉnh lãi suất hoặc sử dụng các công cụ trên thị trường mở: mua hay bán trái phiếu chính phủ, thay đổi chính sách thuế hoặc thay đổi mức chi tiêu công Trong lý thuyết của Keynes, các chính phủ nên có vai trò can thiệp, không phải chờ đợi cho đến khi các lực lượng trong thị trường để cải thiện GDP và
tỷ lệ thất nghiệp Điều này đưa đến việc thâm hụt ngân sách chủ động
Chi tiêu chính phủ là một nhân tố quan trọng trong tổng cầu, chính phủ có thể gia tăng nhu cầu hàng hóa dịch vụ trong trường hợp các hộ gia đình không sẵn sàng chi tiêu
và các công ty không sẵn sàng tăng chi tiêu đầu tư Chi tiêu của chính phủ nhằm tận dụng những năng lực sản xuất dư thừa nhằm bù đắp sự sụt giảm cầu của các hộ gia đình Trường phái Keynes đưa ra giả thuyết: tác động chung của chi tiêu công sẽ được nhân lên trong trường hợp các doanh nghiệp tiếp tục thuê thêm nhân công và người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn
Điều quan trọng là: vai trò của chính phủ trong một nền kinh tế không chỉ đơn giản là làm giảm tác động của các cuộc suy thoái hay đưa quốc gia ra khỏi tình trạng khủng hoảng - chính phủ cũng cần phải giữ để kinh tế không rơi vào trạng thái phát triển quá nóng Trường phái Keynes cho rằng giữa chi tiêu công của chính phủ và tổng thế nền kinh tế có mối tương quan theo các chiều hướng ngược lại với chiều hướng của chu kỳ kinh doanh: Chính phủ cần gia tăng chi tiêu công trong thời kì suy thoái kinh tế, giảm chi
Trang 28tiêu công trong thời kì kinh tế tăng trưởng nóng Nếu sự kinh tế tăng trưởng nhanh chóng
có thể gây tỷ lệ lạm phát cao thì các chính phủ nên giảm chi tiêu công và gia tăng thuế nhằm điều chỉnh giảm tổng cầu Đây được gọi là chính sách tài khóa phản chu kỳ kinh tế
Đến đây có một câu hỏi được đưa ra là liệu việc tài trợ thâm hụt ngân sách có tốt hay không? Câu trả lời chắc chắn còn nhiều tranh cãi Một số người cho rằng việc chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách có thể phát tín hiệu về một tương lai tương sáng Điều này rất quan trọng trong thời kỳ nền kinh tế chìm trong suy thoái và niềm tin của họ gia đình cũng như doanh nghiệp bị suy giảm Chính sách tăng chi tiêu và chấp nhận thâm hụt ngân sách của chính phủ sẽ không chỉ tạo ra tác động lan tỏa tích cực (thông qua cơ chế của số nhân tài khóa) mà còn tạo dựng niềm tin cho các công dân và cộng đồng doanh nghiệp Các lý thuyết kinh tế vĩ mô (đặc biệt là học thuyết của Keynes) cũng đã chứng minh rằng việc gia tăng chi tiêu công của chính phủ cũng sẽ có tác động gia tăng sản lượng trong nền kinh tế, tránh được tình trạng tỷ lệ thất nghiệp tăng cao
Chỉ trích lý thuyết Keynes: Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học khác lại lo ngại
rằng thâm hụt ngân sách kéo dài thường là mầm móng cho sự trỗi dậy của lạm phát Thâm hụt ngân sách và việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách cũng tạo ra tác động chèn lấn (crowding out) đầu tư và tiêu dùng của khu vực tư nhân Khi chính phủ phát hành trái phiếu để tài trợ thâm hụt ngân sách sẽ làm gia tăng cầu vay vốn ở thị trường tài chính Giả định trong một nền kinh tế đóng, với giả định cung cho vay bị giới hạn, khi chính phủ tăng vay nợ để tài trợ cho đầu tư công làm tăng lãi suất trong nền kinh tế Một khi lãi suất gia tăng lên sẽ làm giảm cầu vay vốn đầu tư ở khu vực tư nhân cũng như cầu vay cho chi tiêu hàng hóa dịch vụ của các hộ gia đình Đây được gọi là tác động chèn lấn của việc tài trợ thâm hụt ngân sách của chính phủ Tương tự việc chính phủ tăng chi tiêu công
cũng tạo nên hiệu ứng chèn lấn với cơ chế như tài trợ thâm hụt ngân sách
Còn khá nhiều hoài nghi, bên cạnh tác động chèn lấn khu vực tư nhân, chính phủ tăng chi tiêu công và tài trợ thâm hụt ngân sách cũng chưa hẳn giúp gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế Một số nhà kinh tế học cho rằng, chính phủ gia tăng vay mượn ở thời điểm hiện tại thì hải tìm cách gia tăng nguồn thu trong tương lai bằng cách tăng thuế để trả nợ Chính sách gia tăng thuế ở tương lai sẽ tác động đến thu nhập khả dụng của các hộ
Trang 29gia đình và như vậy đồng thời sẽ tác động đến khả năng chi tiêu cho hàng hóa dịch vụ của họ Tuy nhiên, nếu các hộ gia đình nghĩ như vậy ở thời điểm hiện tại họ sẽ phải giảm chi tiêu đi kèm với gia tăng tiết kiệm để có tiền nộp thuế cho nhà nước trong tương lai và
bù đắp một phần phần chi tiêu có thể sẽ sụt giảm đi trong tương lai đó Khi trường hợp này xảy ra thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của khu vực các hộ gia đình và khu vực tư nhân của các doanh nghiệp sẽ giảm ngay ở thời điểm hiện tại Đến cuối cùng, khoản gia tăng chi tiêu công chính phủ sẽ bị bù đắp bởi những khoản suy giảm trong khoản chi tiêu đến từ khu vực hộ gia đình cũng như đầu tư của khu vực tư nhân
- Năng lực của nhà nước trong quá trình vận hành và quản lý kinh tế thường thì không chắn chắn, có độ trễ, và các chính sách thường có ít tác dụng nhất là trong việc cải thiện kéo nền kinh tế khỏi vòng xoáy suy thoái đi kèm với thất nghiệp cao
- Các mô hình chuẩn trong lý thuyết Keynes thường đánh giá quá cao vai trò đóng góp của chính sách tài khoá mà xem nhẹ đi vai trò điều tiết của chính sách tiền tệ
Chính phủ nên thực hiện chính sách tài khóa như thế nào: Khi nói đến điều
hành chính sách tài khóa, người ta thường nói đến các loại như chính sách tài khóa trung lập, chính sách tài khóa mở rộng,và chính sách tài khóa thu hẹp Trong đó chính sách tài khóa trung lập là chính sách nhằm đạt đến trạng thái cân bằng ngân sách, tức chi tiêu công của chính phủ được tài trợ hoàn toàn từ nguồn thu của quốc gia và nhìn chung chính sách tài khóa trung lập có tác động trung lập lên các hoạt động của nền kinh tế Còn chính sách tài khóa mở rộng là chi sách gia tăng chi tiêu công của các chính phủ (khi G > T) bằng cách tăng cường chi tiêu và/hoặc cải cách chính sách thuế nhằm cắt giảm nguồn thu
về thuế Và chính sách tài khóa thu hẹp (thắt chặt) là chính sách tài khóa nhằm cắt giảm chi tiêu hoặc/và gia tăng nguồn thu cho ngân sách của chính phủ Trên thực tế, việc lựa chọn thực thi chính sách tài khóa đi theo hướng nào còn tùy thuộc hoàn toàn vào quan điểm điều hành của từng chính phủ với các bổi cảnh tình hình kinh tế vĩ mô Có một số chính phủ lựa chọn điều hành chính sách tài khóa theo hướng trung lập, đồng thời cũng
có chính phủ chọn lựa thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng hoặc thắt chặt trong tình
hình cụ thể của kinh tế vĩ mô
Trang 30Chính sách tài khóa phản chu kỳ là khi nền kinh tế ở trong trại thái suy thoái thì chính phủ điều hành theo hướng chính sách tài khóa mở rộng và trái lại khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng nóng thì các chính phủ thực thi thắt chặt chính sách tài khóa Việc điều hành chính sách tài khóa theo khuynh hướng này còn được gọi là chính sách tài khóa nghịch chu kỳ kinh tế (counter-cyclical fiscal policy) Tuy nhiên, trên thực
tế cũng có những chính phủ thực thi chính sách tài khóa theo chiều hướng thuận chu kỳ kinh tế (pro-cyclical fiscal policy), hàm ý khi kinh tế trong tình trạng suy thoái thì tiến hành thu hẹp tài khóa, khi kinh tế ở trạng thái tăng trưởng nóng thì tiếp tục tiến hành mở rộng tài khóa
2.3.3 Các trường phái sau Keynes
Trường phái Hậu Keynes (Post Keynesian)
Một trong những sự phát triển đáng kể của trường phái Hậu Keynes gần đây phải nói đến sự nghiệp của nhà kinh tế học Minsky, ông đào sâu nghiên cứu phát triển mô hình sự bất ổn tài chính (financial instability) dựa trên ý tưởng của trường phái Keynes cùng với hệ thống tài chính, tình trạng đầu cơ và “tâm lý bầy đàn” của giới đầu tư Theo ông, hệ thống thị trường tài chính luôn có xu hướng phát triển ngày càng nhanh và càng ngày càng phức tạp so với hệ thống kinh tế truyền thống, thêm vào đó quá trình này bị khuyếch đại lên nhiều lần bởi tâm lý bầy đàn, làm cho hệ thống thị trường tài chính thường xuyên là nguyên nhân dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế lớn
Trường phái Tân cổ điển-Keynes (Neo-Keynesianism)
Đóng góp chủ yếu của trường phái này là của Hicks, một trong những nhà kinh tế học Tân cổ điển tại Cambridge, nhưng ông đã nhanh chóng nghiêng về phía Keynes Từ những năm 1937, ông đã đưa ra cách diễn giải đơn giản dễ hiểu ý tưởng mà Keynes xây dựng dưới dạng đồ thị IS-LM Alvin Hansen (1949, 1953) sau đó tiếp tục phát triển dựa trên những ý tưởng của Hick, mô hình thường được gọi là mô hình IS – LM
Mô hình IS – LM dựa trên nền tảng tư tưởng của Keynes nhiều hơn so với mô hình số nhân chi tiêu vì nó xem xét đến thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ và xem đầu tư là một biến nội sinh
Trang 31Cách thiết lập đường IS và xác định độ dốc của đường IS: Khi thị trường hàng hoá
ở trong trạng thái cân bằng thì tổng cầu bằng với thu nhập tương ứng tại một mức lãi suất xác định cho trước Khi các mức lãi suất điều chỉnh sẽ kéo theo đường tổng cầu di chuyển đến mức thu nhập mới Do đó, khi tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất trong điều kiện thị trường hàng hoá cân bằng sẽ có được một đường IS Vì vậy, định nghĩa cân bằng trên thị trường hàng hóa hoàn toàn không giống với các khái niệm thông thường trong kinh tế vi mô về sự giao điểm của hai đường cung và cầu Nếu giả định đơn nhằm giản hóa chi tiêu công Chính phủ cũng như các khoản thu thuế đều độc lập tương đối so với thu nhập, thì vị trí đường IS phụ thuộc vào các mức chi tiêu công của chính phủ và yếu tố về thuế Sự gia tăng (hay sụt giảm) của G sẽ tác động đẩy đường
IS về phía bên phải so với đường gốc, bởi vì nó làm gia tăng (hay suy giảm) các khoản
dự kiến chuyển thành cầu tại bất cứ mức lãi suất nào và đòi hỏi một mức thu nhập cao hơn (thấp hơn) nhằm duy trì sự trạng thái cân bằng giữa các khoản tiết kiệm rút ra dự kiến được chuyển thành nhu cầu đầu tư Đường IS là đường có độ dốc xuống Khi thị trường hàng hoá cân bằng, lãi suất lớn hơn sẽ dẫn đến mức thu nhập bị thấp đi Độ dốc của đường IS hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhạy cảm của nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng với sự thay đổi của lãi suất Nghiên cứu độ dốc của đường IS cho sẽ biết mức độ ảnh hưởng của chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ đến các yếu tố như lãi suất, thu nhập, thất nghiệp, lạm phát, của nền kinh tế Vì thế, đường IS là tập hợp của các kết hợp giữa của các mức sản lượng Y tương ứng với mức lãi suất r, mà tại bất kỳ điểm nào thì thị trường hàng hóa đều cân bằng
Đường IS dịch chuyển : với mục đích đường để minh hoạ ảnh hưởng của của riêng yếu tố lãi suất khi tổng cầu dịch chuyển và sự thay đổi các mức thu nhập ở trạng thái cân bằng Khi bất kì nhân tố nào tác động làm dịch chuyển đường tổng cầu thì cũng sẽ làm dịch chuyển đường IS Tương ứng với một mức lãi suất xác định cho trước, việc tăng sự lạc quan của nhà sản xuất về các khoản lợi nhuận ở tương lai sẽ làm chuyển dịch đường cầu đầu tư lên trên, làm gia tăng cầu đầu tư tự định; việc gia tăng trong thu nhập của hộ gia đình ước tính ở tương lai sẽ làm chuyển dịch hàm tiêu dùng lên phía bên trên, làm gia tăng cầu chi tiêu tự định; hoặc sự gia tăng chi tiêu công của chính phủ Với bất kỳ sự gia
Trang 32tăng nào cũng sẽ làm chuyển dịch đường tổng cầu về phía bên trên tại mức lãi suất cho trước Vì thế khoản thu nhập ở trạng thái cân bằng sẽ tăng lên ở bất kỳ mức lãi suất nào
Cách xây dựng đường LM và xác định độ dốc của đường LM: LM được định nghĩa là đường bao gồm tập hợp tất cả các điểm thể hiện mối quan hệ giữa biến lãi suất với thu nhập mà thị trường tiền tệ trong trạng thái cân bằng Điều này hàm ý là, khi độ nhạy cảm của cầu tiền với sự thay đổi của biến lãi suất càng nhiều thì đường LM càng thoải và ngược lại; khi độ nhạy cảm của cầu tiền với thu nhập càng nhiều thì đường LM càng dốc và ngược lại Khi nghiên cứu độ dốc của đường LM sẽ biết mức độ ảnh hưởng của chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ đến các yếu tố như: lãi suất, thu nhập, lạm phát, thất nghiệp của nền kinh tế
Cân bằng đạt được đồng thời ở cả hai thị trường tiền tệ và hàng hoá: Đường IS thể hiện các trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hoá cùng với các mức tổ hợp giữa lãi suất cùng với thu nhập Đường LM thể hiện các sự cân bằng trên thị trường tiền tệ vời cùng những yếu tố này Tác động tương tác qua lại giữa hai thị trường sẽ xác định mức lãi suất, thu nhập cân bằng cho cả hai thị trường
Xem xét tác động của chính sách tài khóa trong mô hình IS-LM: Khi chính phủ gia tăng chi tiêu công G sẽ làm IS dịch chuyển từ đường IS(G1) sang đường IS(G2), sản lượng tăng từ Y1 đến Y2 và lãi suất cũng tăng từ r1 lên r2
Trang 33Hình 2.1 Tác động của chính sách tài khóa lên thị trường hàng hóa và tiện tệ trong
mô hình IS-LM
Trường phái Keynes Mới
Trường phái này không quan tâm về mặt lý luận rộng như trường phái Keynes cũng như những người Hậu Keynes, họ tập trung nhiều vào cách giải quyết các vấn đề có liên quan đến giả thuyết giá cả mang tính cứng nhắc của trương phái Keynes Phái này tập trung xây dựng nên tảng lý thuyết vi mô cho những giả thuyết trên Ngoài việc chấp nhận đa số những khái niệm cơ bản của trường phái Tân cổ điển, trường phái Keynes Mới có xu hướng hấp thu những giả thuyết kỳ vọng có tính chất duy lý của các nhà kinh
tế Cổ điển Mới Với mục tiêu giải quyết vấn đề giá cả mang tính cứng nhắc, trường phái Keynes Mới đã áp dụng một số thành tựu trong kinh tế học vi mô ví dụ như lý thuyết thị trường không hoàn hảo, thông tin bất cân xứng hoặc một số đặc điểm trong thể chế trong thị trường lao động như tác động của các tổ chức công đoàn.Về quan điểm chính sách, với niềm tin giá cả mang tính cứng nhắc, trường phái Keynes mới ủng hộ sử dụng chính sách tiền tệ nhiều hơn là chính sách tài khóa
Lý thuyết trọng cung (supply-side)
Trường phái Trọng Cung (supply-side) trong lý thuyết kinh tế học vĩ mô tập trung chủ yếu nhằm hỗ trợ sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh bằng các chính sách nhằm tác động đến khu vực cộng đồng doanh nghiệp, tập trung dựa vào giảm thuế suất
Một điểm đặc điểm thú vị trong trường phái trọng cung là việc đề xuất sự kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ hoàn toàn trái ngược với trường phái truyền thống của Keynes Nhà kinh tế học có đóng góp đáng kể nhất cho việc tạo lập nền tảng của lý thuyết này là nhà kinh tế học Robert Mundell cùng với các công trình nghiên cứu vào những năm 1960 Tiếp tục vào năm 1971, ông đề xuất một sự kết hợp tạo nên một chính sách đặc biệt: thực hiện nới lỏng chính sách tài khóa để thúc đẩy sản xuất đi kèm với với thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát Cho đến nay đề xuất này của ông vẫn còn là một chủ đề gây khá nhiều tranh cãi
Về phương diện nới lỏng chính sách tài khóa, trường phái kinh tế học Trọng Cung ủng hộ việc cắt giảm thuế nhằm kích thích quá trình sản xuất Bên cạnh chính sách thuế
Trang 34trong khu vực sản xuất, trường phái này còn ủng hộ việc cắt giảm thuế trực thu như thu nhập cá nhân, đặc biệt với người thu nhập cao, nhằm tạo động lực để họ làm việc, tích lũy của cải cho xã hội
Bản chất của các chính sách kinh tế vĩ mô
Việc đánh giá lại sơ lược lý thuyết kinh tế vĩ mô chính tồn tại từ sau Keynes đều cho thấy sự quan tâm đến các công cụ có thể được sử dụng thay đổi theo thời gian, tuy nhiên một cách cơ bản vẫn nhằm để giải quyết các biến động trong ngắn hạn trong nền kinh tế bằng các thang đo vĩ mô quan trọng như: lạm phát, thất nghiệp, tăng trưởng kinh
tế, v.v…) Những biến động này có nguyên nhân từ nhiều nguồn, nhưng phương pháp có thể can thiệp kinh tế thường chỉ bao gồm các công cụ về tài khóa và tiền tệ, hơn nữa chúng là những công cụ chủ yếu mà các chính phủ có thể áp dụng trong phạm vi quyền lực của mình, trong một khoảng thời gian đủ dài ngằm ứng phó với các yếu tố bất lợi đang diễn ra
Khi xem xét cuộc tranh luận của các nhà kinh tế học trong việc thực thi các chính sách vĩ mô trong gần một thế kỷ, có thể thấy gồm hai nhánh nội dung chủ yếu sau
Đầu tiên: vai trò của nhà nước và ý nghĩa của việc thực hiện các chính sách, tiếp đến là việc sử dụng các công cụ chính sách đó Ví dụ, người theo trường phái Keynes tin tưởng mãnh liệt vào việc sự kết hợp cả hai chính sách tài khóa và tiền tệ với mục tiêu điều tiết kinh tế vĩ mô, tuy nhiên những nhà kinh tế học theo phái trọng tiền cho rằng chỉ
có chính sách tiền tệ phát huy nhiều tác dụng, và phần lớn sự can thiệp của nhà nước mang tính sai lầm hoặc có độ trễ, điều này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Vấn đề thứ hai có liên quan đến các kỹ thuật trong điều hành chính sách công Đóng góp quan trọng mà phái Cổ điển Mới ở việc kéo các chính sách kinh tế về với vị trí khiêm tốn hơn, đồng thời đưa ra cảnh báo rằng các chính sách kinh tế chỉ có ảnh hưởng trong ngắn hạn chứ không có ảnh hưởng trong dài hạn Trước đây, những người theo trường phái Keynes lạc quan cho rằng một thời đại của chính sách kinh tế đã ra đời, mà ở
đó những bất ổn trong nền kinh tế đều có thể được giải quyết bằng sự can thiệp từ phía nhà nước
Trang 35Tuy nhiên, khi nhìn vào những điểm mấu chốt, ta vẫn có thể thấy một số vấn đề quan trọng nhất, bao quát nhất mà chính sách kinh tế vĩ mô của Keynes đưa ra Đóng góp quan trọng của ông về sự khác nhau trong tính chất hành vi của các yếu tố cấu thành tổng nhu cầu, sự quan trọng của lý thuyết kỳ vọng trong tương lai, đều kiến thức quý giá giúp cho việc điều hành các chính sách vĩ mô
2.4 Tác động của yếu tố nợ công đến việc thực hiện chính sách tài khóa
Nợ công là tình trạng phổ biến ở nhiều các quốc gia do chi tiêu chính phủ vượt quá nguồn thu từ thuế và các khoản phí, lệ phí trong nền kinh tế
Bản chất của nợ công là quan hệ vay mượn của chính phủ với các nhà đầu tư trong thị trường tài chính nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu đầu tư vốn - đây chính là các mối
hệ cung cầu tài chính trong nền kinh tế và vì vậy, nó tác động trực tiếp tới sự ổn định của thị trường tài chính
Nợ công nếu được duy trì ở mức hợp lý sẽ góp phần làm gia tăng các nguồn lực của chính phủ Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, muốn đẩy mạnh việc xây dựng và đồng
bộ cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Với chính sách duy trì tỷ lệ nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn đầu tư của chính phủ sẽ được giải quyết để chi tiêu cho đầu tư cơ sở hạ tầng, nhằm gia tăng nguồn lực sản xuất cho toàn nền kinh tế Phát hành trái phiếu chính phủ, huy động nợ công có thể sử dụng được nguồn lực tài chính đang nhàn rỗi trong xã hội, có thể đem lại hiệu quả tích cực về kinh tế cho khu vực công và khu vực tư nhân Ngoài ra, nếu chính phủ đi vay nợ nhằm bù đắp cho thâm hụt do viêc cắt giảm thuế trong khi vẫn giữ mức chi tiêu không đổi thì sẽ có tác động đến tích cực đến hành vi tiêu dùng hộ gia đình Cụ thể, nó làm gia tăng mức tiêu dùng, dẫn đến làm gia tăng tổng cầu hàng hóa và dịch vụ, góp phần gia tăng sản lượng, và việc làm trong ngắn hạn Nhưng trong dài hạn điều này lại có thể làm cho tiết kiệm quốc gia suy giảm và đi kèm theo đó là những hệ lụy khác Mặc dù có khả năng thuyết phục, nhưng những hạn chế trong lý thuyết của mô hình Keynes là việc dựa trên giả định rằng các nhà đầu tư sẽ trở nên lạc quan hơn về nền kinh tế một khi chính phủ tăng chi tiêu
Trái ngược với các quan điểm của trường phái kinh tế học truyền thống về yếu tố nợ công, các nhà kinh tế học theo quan điểm của trường phái Ricardo (hình thành từ thập
Trang 36niên 1970), Robert Barro (1989) lại cho rằng, các biện pháp cắt giảm thuế ở được bù đắp bằng các nợ chính phủ không kích thích gia tăng chi tiêu trong ngắn hạn, vì điều này không làm gia tăng thu nhập thường xuyên của các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ thời điểm hiện tại sang trong tương lai Chính sách điều chỉnh giảm thuế bằng cách tài trợ bằng nợ vay sẽ không tạo nên những ảnh hưởng thật sự cho với nền kinh tế Việc các chính phủ chấp nhận tình trạng thâm hụt bằng cách giảm thu trong thời
kỳ suy thoái, và tăng thu ngân sách trong thời kỳ hưng thịnh và sử dụng công cụ vay nợ
là một cách “lưu thông thuế” nhằm thiểu những tác động của chính phủ Mức thuế được cắt giảm bằng cách bù đắp bằng nợ công của chính phủ sẽ không có ảnh hưởng đến tiêu dùng như quan điểm truyền thống về nợ, kể cả trong ngắn hạn Trái lại, nó sẽ tác động làm gia tăng các khoản tiết kiệm tư nhân bởi cư dân đang chuẩn bị cho chính sách với mức thuế cao trong tương lai cho mục đích chi trả lãi vay và các khoản gốc của các khoản nợ vay ở thời điểm hiện tại Trên thực tế, hai quan điểm trên luôn tồn tại song hành
Ngoài ra khi tỷ lệ nợ công tăng cao sẽ gây áp lực lớn lên nhu cầu vốn của nền kinh
tế, là gia tăng lãi suẩt trái phiếu chính phủ gây nên nhiều khó khăn khi chính phủ để tài trợ thâm hụt ngân sách để thực hiện chính sách tài khóa chủ động
Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ công còn ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện chính sách tài khóa Tác động ảnh hưởng động của chính sách tài khóa được đo lường thông qua số nhân tài khóa, tỷ lệ nợ công càng cao hàm ý số nhân tài khóa càng nhỏ và chính sách tài khóa ít phát huy tác dụng Tỷ lệ nợ công cao đặc biệt trong tình trạng nền kinh tế suy thoái, hạn mức tín nhiệm bị hạ thấp và phần bù rủi ro gia tăng đẫn đến việc các nhà đầu tư, hiệu ứng lãi suất này sẽ lan tỏa qua khu vực làm gia tăng lãi suất của khu vực tư nhân do đó làm giảm đầu tư và chi tiêu của khu vực tư nhân
2.5 Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Theo ThS Khuất Duy Tuấn (2010), chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp thành hệ thống chính sách quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, các công cụ của hai chính sách này vừa có tính độc lập, nhưng vừa có tính tương tác, hỗ trợ nhau trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Sự phối hợp tốt, nhịp nhàng hoạt động của hai