Ngày nay khi đến các Chùa và các Phum – Sóc của người Khmer LongPhú, đặc biệt trong các dịp lễ hội chúng ta luôn bắt gặp những màu sắc sặc sỡvà âm thanh rộn ràng rất đặc trưng của đồng b
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triểncủa mỗi dân tộc, vận động theo dòng lịch sử và trong từng thời điểm nhấtđịnh Văn hoá là một tổng thể giá trị mà con người tạo ra Do vậy, bảo tồnbản sắc văn hoá và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộcphải biết kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc khái quát vàphát triển mỗi sắc thái và giá trị văn hoá nghệ thuật phong phú của nền vănhoá Việc xây dựng mạng lưới thiết chế văn hoá của XHCN, bảo tồn và khaithác các thiết chế văn hoá truyền thống nhằm góp phần xây dựng đời sốngcủa mỗi dân tộc có một ý nghĩa quan trọng trong chiến lược văn hoá củaĐảng và Nhà nước ta
Chương trình xây dựng và nâng cao các hoạt động văn hoá – thông tin
ở cơ sở đối với đồng bào các dân tộc là một chủ trương lớn của Bộ văn hoá –thông tin thể thao và du lịch Nội dung và các mục tiêu của nó định hướng chocác hoạt động văn hoá chủ yếu tập trung cho cơ sở
Ngày nay khi đến các Chùa và các Phum – Sóc của người Khmer LongPhú, đặc biệt trong các dịp lễ hội chúng ta luôn bắt gặp những màu sắc sặc sỡvà âm thanh rộn ràng rất đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer Trong đósôi động và độc đáo bởi âm thanh dàn nhạc ngũ âm (Phiêng – pinpcat) MỗiChùa có một dàn ngũ âm để phục vụ khi đám cầu phước hoặc lễ hội, tiếp đónkhách và liên hoan văn hoá
Ở Chùa trong các theo các tập tục truyền thống dân tộc đều diễn ra cáchoạt động văn nghệ dân gian như: Rom Vong – Lam Lev, Xavavan hoặc múaSarikaker Sinh động hơn là múa trống Chhạ yam, hát Aday đối đáp (nam –nữ) hát Cham riêng cha pay, biểu diễn Ro – Bam hoặc Dù kê trưng bày triểnlãm và các trò chơi dân gian
Người Khmer có cả một kho tàng về loại hình ca múa dân gian truyềnmiệng từ đời này sang đời khác Nếu mỗi chúng ta không quan tâm bảo tồn
Trang 2và phát huy gìn giữ những giá trị văn hoá đã có thì sẽ bị mai một dần theodòng chảy của thời gian Vì hiện nay chưa có trường đào tạo các loại hìnhnghệ thuật như: Dù kê, Sam pong phol, Sam pong tànl,… Đặc biệt là sân khấu(Rôbăm) với ngôn ngữ chính là điệu múa đã góp phần phổ biến rộng rãi trongquần chúng, những điệu thức được chế tác từ những yếu tố vũ đạo, sinh hoạtvui chơi, lệ hội của cộng đồng người Khmer.
Trong quá trình nghiên cứu tiểu luận tập trung giới thiệu, chứng minhvề đặc điểm văn hoá của dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Đồngthời vận dụng những tài liệu nghiên cứu đã có trước đây nhằm phân tích cáchoạt động của lễ hội, phong tục, lễ thức trong thực tiễn đời sống văn hoá củangười Khơmer Long Phú trong quá trình đổi mới của đất nước những năm gầnđây
CHƯƠNG I SINH HOẠT LỄ HỘI CỦA NGƯỜI KHMER LONG PHÚ
-1.1 SINH HOẠT LỄ HỘI TRONG TÔN GIÁO:
Trong năm, người Khơmer có rất nhiều lễ hội được tiến hành theo địnhkỳ vào những ngày nhất định trong tháng Ngày nay còn tồn tại hai ngày tậptrung sinh hoạt chính đó là ngày 15 và ngày 30 gọi là “Canh – sol” tính theolịch Khmer (giống như lịch người Việt nhưng luôn sớm hơn một ngày) Trongnhững ngày sinh hoạt này tất cả các tín đồ đều mang cơm nước, hương đèn,trà bánh,… đến cúng dường Lễ cúng được tiến hành theo nghi thức phật giáodưới sự hướng dẫn của vị Acha
Ngoài những nghi lễ, sinh hoạt tôn giáo theo kinh điển giáo lý quy địnhtại Chùa Tăng đoàn còn phối hợp với Ban tôn giáo theo đúng ngày, tháng màkinh điển, giáo lý đã quy định Trong đó lễ hội phật giáo diễn ra theo thờigian đã định
Trang 31.2 LỄ PHẬT ĐẢN (BOAN MEAK BÂUCHEA):
Người Khmer tổ chức Lễ phật đản vào ngày 15 tháng 5 âm lịch hàngnăm chứ không cùng ngày rằm tháng tư âm lịch như lễ phật đản được tổ chứcbởi phật giáo đại thừa Lễ được tổ chức trong một ngày một đêm tại Chùa.Phật tử đến dâng cơm cùng các vật tế tự để các nhà sư làm lễ tụng kinh mừngĐức phật ra đời
1.3 LỄ NHẬP HẠ (BON CHONL VÂSSA):
Đây là lễ thức tôn giáo để tập trung quản cấm các sư sãi ở trong Chùatrong 3 tháng từ ngày 15 tháng 06 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch Thời gian nàycác vị sư sãi không được đi ra khỏi chùa, theo ý nghĩa của phật giáo Lễ nhậphạ là thời gian để các nhà sư tịnh tâm, học đạo, trao dồi giáo l1 và tự vấn bảnthân trong quá trình tu hành dưới mái chùa Đến ngày 30 tháng 9 âm lịchngười ta tổ chức làm lễ xuất hạ (Bon chênh vâssa), đây là lễ kết thúc 3 thángnhập Hạ Các vị sư Khmer sau lễ này có quyền ra chùa để đi khuất thực hay
đi thăm viếng gia đình
1.4 LỄ DÂNG Y CÀ SA (BON – KATHIN – NĂNTEAN):
Lễ dâng y cà sa được chọn một ngày trong tháng khoảng thời gian 16tháng 9 đến 15 tháng 10 âm lịch Mục đích của lễ dâng cúng áo cà sa cho các
vị sư sãi trong chùa Ngoài áo cà sa là lễ phật chính tín đồ còn dâng bình bát,bánh mứt, trái cây, đồ dùng sinh hoạt cho chùa như: mùng, chiếu, bát đĩa thứcăn Ngoài ra trong dịp này tín đồ còn cúng tiền vào chùa bằng hình thức kếtnhững đồng tiền giấy thành những cây hoa rất đẹp mắt cho nên lễ dâng y cà
sa còn được dân gian gọi là “Lễ dâng bông”
1.5 LỄ HỘI THEO NGHI THỨC DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER:
Trang 4Trong năm, người Khmer có rất nhiều lễ hội tập tục theo truyền thốngcủa dân tộc nhưng ở đây tác giả chỉ nêu lên những lễ hội tập quán mang tínhtiêu biểu đặc trưng nhất của dân tộc Khmer để làm đề tài nghiên cứu như:
LỄ CÚNG ÔNG BÀ (PHI THI SEN ĐÂUN – TA).
LỄ CÚNG TRĂNG (BON OOC OM BOK).
LỄ CƯỚI HỎI (PI THI A – BE – BI – BE).
1.6 LỄ CÚNG ÔNG BÀ (PHI THI SEN ĐÂUN – TA):
Đây là lễ hội lớn thứ hai trong năm của người Khmer Hàng năm khiviệc gieo cấy đã xong, từ ngày 16 đến ngày 30 tháng Phêt – Trô – Bêt (trùngvới tháng 8 âm lịch) đồng bào dân Khmer nam bộ tổ chức Sen Đâun – ta ( Lễcúng ông bà), người Khmer ở Campuchia gọi lễ này là Phi Thi Sen Đâun –
Ta, lễ này được tổ chức liên tục trong suốt thời gian 15 ngày, nhằm nhớ đếncông ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ Gọi là (Up pa ka rah kunl)và những người thân đã khuất đồng thời cầu siêu cho vong hồn họ được mausiêu thoát Lễ cúng ông bà bắt nguồn từ sự tích được rút ra từ kinh điển củaPhật giáo như sau:
Ngày xưa, ở một vương quốc trong một hoàng cung, đêm đêm người tanghe tiếng gào khóc thảm thiết, hoà lẫn tiếng kêu vang của các hồn ma, quỷlàm cho nhà vua không sao chợp mắt được, cả triều đình đều lo lắng Tất cảvua quan đều buồn vì không rõ nguyên nhân của tiếng kêu than đó Thuở ấy,Đức Phật Thích Ca còn tại thế, người đến thuyết pháp, nhà vua hỏi: Vì saotrong hoàng cung đều có tiếng kêu than như vậy?
Đức phật giải thích: “Đó chính là các vong hồn của kẻ cô đơn khôngnơi nương tựa không thân tộc, họ hàng, không có con cháu cúng cơm, cácvong hồn ấy luôn bị đói khát Nếu Bệ hạ muốn dứt tiếng kêu than đó, bệ hạhãy cho người nấu cơm vo thành nhiều nắm tròn, đêm xuống đem để xungquanh hoàng cung và mời các vong hồn đó đến ăn Phải làm như vậy liên tục
Trang 5trong vòng 15 ngày đến ngày thứ 15 tổ chức dâng cơm lên các vị sư sãi vàlàm lễ cầu siêu cho các vong hồn ấy.
Nhà vua thực hiện y lời đức phật Từ đó tiếng kêu than không còn nữa.Dựa vào sự tích này người Khmer nam bộ tổ chức lễ cúng ông bà theo nghithức: Thành lập (Vênh) phân theo Sóc theo Phum có tổ trưởng gọi là (Mêvênh) đi vận động quyên góp gạo, tiền của các hộ trong tổ mình để mua thịt,rau cải, bánh trái, đem làm thức ăn dâng lên các vị sư sãi Buổi tối họ nấucơm vắt thành từng nắm, cùng bánh trái và các thức ăn khác đặt vào mâmmang lên chánh điện để cúng tam bảo và mời các vị sư tụng kinh cầu siêucho các linh hồn, những người trong dòng tộc họ đã qua đời, song đem nhữngnắm cơm vắt ấy để xung quanh chánh điện lót bằng lá chuối Ngoài ra, họcòn mời các vị sư làm lễ thọ giới, mời các vị sư thuyết pháp, các tổ luân phiênnhau tổ chức như thế liên tục suốt 15 ngày gọi là Canh Banh
Lễ cúng ông bà (Pithi sen đâun – ta) còn có ý nghĩa giáo dục truyềnthống cho thế hệ mai sau về công đức sinh thành, nuôi dưỡng của ông bà chamẹ Cho nên mỗi khi đến ngày lễ dù bận trăm công ngàn việc, dù ở xa xôiđến mấy người ta cũng phải về thăm viếng ông bà, cha mẹ và đoàn tụ giađình Dâng lên ông bà cha mẹ như: bánh, trà, trái cây, quần áo, tiền,… Ngoài
ra, sáng sớm họ còn chuẩn bị mâm cơm thật ngon dâng lên ông bà cha mẹ đểtỏ làng hiếu thảo, còn ông bà, cha mẹ chúc phước cho con cháu
Cũng trong ngày này mọi gia đình trong Phum - Sóc không kể giàusang hay nghèo hèn đều nấu mâm cơm mời bạn bè thân thuộc đến cùngchung vui Đây cũng là dịp tổ chức liên hoan, vui chơi gắn bó bạn bè và tạomối đoàn kết giữa láng giềng và người cùng Phum – Sóc
Khi nói đến các lễ hội trong năm của người Khmer Nam bộ người tasao không nhắc đến lễ Ooc Om Boc (Đua ghe ngo), được đông đảo tầng lớpnhân dân tiếp đón không riêng người Khmer mà có cả cộng đồng dân tộcKinh – Hoa,… cùng tham dự
1.7 LỄ CÚNG TRĂNG (BON SÂM PREAH KHE – ÂK AM BOK):
Trang 6Vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm người Khmer nam bộ tổ chứclễ Ooc Om Boc (đua ghe ngo) để tưởng nhớ đến công ơn của vị thần MặtTrăng, coi Mặt Trăng như một vị thần thiêng liêng Vì Mặt Trời tạo ra sựnóng oi bức cho con người, còn vị thần mưa thường gây ra lũ lụt huỷ hoại mùamàng, còn thần gió gây ra bão tố Chính vì vậy chỉ có thần Mặt Trăng mớimang đến cho họ nhiều điều lành, cho nên họ coi đó như là một vị thần điềutiết mùa màng tạo cho mưa thuận gió hoà đã giúp cho họ làm ăn được thuậnlợi Trong năm vào thời điểm này bà con nông dân chuẩn bị vào mùa thuhoạch mới theo tập tục họ ra đồng cắt lúa nếp mới vừa chín tới mang về đểgiã cốm dẹp.
Sau khi mang lúa nếp mới bà con dân tộc đem lúa nếp gang bằng nồiđất cho đến độ lúa dòn vỏ lúa ngoài, nổ vài hạt đem đổ vài cối đứng để giã(công cụ để giã cốm dẹp gồm một cối đứng, hai cây chài, một cây gạt hìnhdẹp do hai người giã cho đến khi thấy lúa nếp dẹp đến độ vừa mới thôi Xongngười ta sàng lấy trấu ra để lượt lấy cốm dẹp, sau đem cốm dẹp trộn cùng vớidừa nạo, đường khoảng chừng 4 – 5 tiếng đồng hồ cho cốm dẹp thấm đường,dừa mới ngon
Đúng ngày rằm tháng 10 âm lịch, khi Mặt Trăng lên khỏi đỉnh cây họmới dọn cốm dẹp ra bàn đã được trang trí sẵn ngoài sân, lễ vật cúng gồm cócác nông sản mà họ sản xuất được trong năm như: khoai, môn, củ lùn, dừa,chuối, bưởi,… Đặc biệt một lễ vật không thể thiếu đó là cốm dẹp Vào đêmrằm Trăng tròn những chàng thanh niên, các cô thiếu nữ thường tìm đến sânnhà cửa vị trưởng Sóc là người lớn tuổi có uy tín nhất (Phum – Sóc) để đượccụ đút cốm dẹp với ý nghĩa được hưởng phúc, thọ từ các cụ Lúc các cụ đútcốm dẹp thường lấy tay đấm nhẹ vào lưng và hỏi: “Oc Oc Chol bal ây?” (Oc
Oc ước được gì?) Do cốm dẹp đầy trong miệng nên họ không thể nói ra lời.Bên cạnh đút cốm dẹp người ta còn tổ chức ca hát bằng nhiều hình thức như:múa rôm vong (múa vòng tròn cái bàn), hát giao duyên, hát aday cho đếnkhuya
Trang 7Trong dịp này các Phum – Sóc cùng với nhà chùa chuẩn bị sơn sửa ghengo và tổ chức tập dợt đội ghe để chuẩn bị đi dự đua với các chùa, các Sóc(ngày nay Nhà nước đứng ra tổ chức) Ngày xưa lễ đua ghe ngo mang đậmsắc thái huyền thoại của tôn giáo như trong thời gian sản xuất gieo trồng lúavà hoa màu, họ tổ chức lễ cầu mưa bằng hình thức mời các vị sư đến tụngkinh cầu mưa và sau đó tổ chức đua ghe Mặt khác dựa vào các sự tích có liênquan đến Đức phật thích ca như: truyền thuyết chiếc răng phật được vua Na
Ga cất giữ, truyền thuyết sự tích liên hệ đến chùa chiền và các vị sư sãi trongtruyền thuyết bà con đóng bè chở các vị sư đi khất thực về chùa khi gặp mưabão
Ghe ngo người Khmer gọi là Tuôc ngo (Tuôc là Nghe, thuyền – Ngo làcong lên), là loại thuyền đua độc mộc rất dài (khoảng 20 – 30 mét), hai đầuuốn cong lên lòng ghe hẹp đủ để cho hai người ngồi chèo, mỗi ghe có thểchứa từ 25 đến 35 cặp tay chèo Ghe ngo được làm từ một thân cây saonguyên vẹn, khoét rỗng ruột và đẽo gọt rất công phu, bên ngoài được sơnphết, trang trí màu sắc sặc sỡ, ghe ngo được xem như một tài sản quý giá, mộtvật thiêng của nhà chùa và người dân trong vùng, ngày xưa người phụ nữkhông được đến gần và đi ngang qua đầu (mũi) ghe
Ghe ngo chỉ được sử dụng vào dịp đua ghe lễ Ooc om boc thời gian cònlại trong năm nó được bảo quản rất chu đáo ở chùa trong một gian nhà gọi là(Rông Tuk Ngo) chỉ lợp mái không có vách bao quanh Người dân tộc Khmertin rằng sự thắng lợi của ghe ngo chùa nhà trong các cuộc đua sẽ đem lại sựbội thu trong sản xuất và nhiều điều may mắn trong bổn sóc trong vùng Vìvậy họ tuân thủ chặt chẽ những điều cấm kỵ, để tránh những xâm phạm cóthể làm tổn hại đến phần thiêng liêng của chiếc ghe ngo Các nghi thức lễliên quan đến ghe ngo cũng được tổ chức trang trọng như lễ hạ thuỷ cũngđược tổ chức rất trang trọng và chu đáo
Ngày nay người Khmer tổ chức đua ghe ngo như một tục lệ, ý nghĩa tôngiáo không còn quan trọng, lễ hội đua ghe ngo cho dù bắt nguồn từ đâu nhưngđến nay nó vẫn mang đậm ý nghĩa nhân văn, tượng trưng cho sức mạnh con
Trang 8người chế ngự thiên nhiên bằng lao động, bằng ý chí và sự đoàn kết của dântộc Khmer Nó còn có tính chất dân gian đậm đà được phổ biến rộng rãi trongcác quần cư có nền nông nghiệp lúa nước.
Người Khmer coi lễ đua ghe ngo là một lễ hội lớn để mọi người vuichơi thưởng thức và cổ vũ cho tay chèo trong cuộc đua và cũng là dịp để họthắt chặt mối đoàn kết phum – sóc Vì vậy có thể nói, hoạt động đua ghe ngotrên sông nước đã thực sự làm cho ngày hội cúng Trăng thêm phần long trọngvà thắt chặt thêm mối dây liên kết giữa các cộng đồng người với nhau, giúpcho con người lạc quan tin tưởng và vui sống, lao động để làm ra nhiều củacải, vật chất cho xã hội
Bên cạnh những lễ hội dân gian được nêu trên, phong tục cưới hỏi củangười Khmer cũng không kém phần quan trọng trong cuộc sống cộng đồngtộc người Khmer ngày nay
1.8 PHONG TỤC LỄ CƯỚI CỦA NGƯỜI KHMER:
A LỄ HỎI (si Sla Kanh Sêag):
Đôi nam nữ muốn trở thành vợ chồng phải trải qua các lễ nghi rất phứctạp, do quan hệ xã hội khá khắt khe, bởi rào càn của nến luân lý, đạo đứcphong kiến Nam nữ không có điều kiện để tìm hiểu nhau mà việc cưới vợ,lấy chồng là do cha mẹ định đoạt
Khi cha mẹ nhà trai thấy cô con gái có tính tình nết na thuỳ mị muốncưới lấy làm dâu, hai vợ chồng đi cậy ông hoặc bà mai mối, người này phảiđược cưới hỏi đàng hoàng, còn đủ vợ chồng, gia đình phải hoà thuận hạnhphúc Sau lần đến dạm ngõ được bên nhà gái đồng ý, ông mai về báo cho nhàtrai chuẩn bị để coi ngày lành tháng tốt hai bên gặp nhau giáp lời gọi là lễ “SiS’ la Kanh – Sêng” có thể xem đây là lễ thức đầu tiên của cuộc hôn nhân
Tiếp đến cha mẹ nhà trai mới đến mời ông Mo Ha cùng qua bên nhàgái gồm các lễ vật: khay trầu cau, hai chai rượu, mâm trái cây,bánh mứt,tấtcả đều đủ cặp không được lẻ Hai bên cho nhau biết ngày, tháng, năm sanhcủa hai đứa trẻ để ông Mo Ha “coi tuổi” Nếu tuổi của hai đứa trẻ hợp nhau
Trang 9thì ông Mo Ha (Bưnh Thonl rônl) mời cha mẹ đôi bên ăn trầu cau gọi là đểkết tình thông gia Lễ thức Si S’ la Kanh – Sêng bắt nguồn từ một truyện tích:
Ngày xưa, có hai người bạn cùng chăn trâu với nhau, vì cảm mến nhaunên kết nghĩa bạn bè, qua dăm câu thăm hỏi gia cảnh, biết người bạn mình cócô con gái, bây giờ người bạn có con trai, mới lấy trầu cau được gói kỹ trongkhăn (Kanh sêng) ra mời người bạn có con gái ăn và trịnh trọng nói: ở nơigiữa đồng trống không có gì đề làm tin, xin mời bạn ăn miếng trầu này gọi làkết nghĩa thông gia, người bạn có con gái bằng lòng, hai người cùng ăn trầucau
Vào ngày lễ xin cưới, bên nhà gái chuẩn bị rất chu đáo, mời bà con họhàng đến dự, có làm mâm cơm cùng tổ tiên và đãi khách Bên trai đưa chú rểsang để ra mắt gia đình nhà gái, bên gái cũng đưa cô dâu ra rót trà chào hỏinhà trai Vào lễ, ông Mo Ha cho dọn mâm cơm, rượu thịt, bánh trái cây(Thonl rônl), nhang đèn, tất cả đều được bày trên chiếc chiếu bông, nhà trai,nhà gái ngồi xung quanh nghe ông A Cha (cũng là ông Mo Ha) khấn vái
Sau lễ xin cưới, chú rể tương lai phải ở lại phục vụ cho nhà gái, làm tấtcả công việc cho đến ngày cưới Trong thời gian này cô dâu chú rể khôngđược tiếp xúc với nhau Nếu chú rể có tỏ thái độ bất kính hay lười biếng, cóthể đám cưới không được tiến hành
B LỄ CƯỚI THEO TRUYỀN THỐNG:
Ngày xưa đám cưới người Khmer dù giàu hay nghèo đều diễn ra trong
ba ngày Ngày đầu gọi là “Th’ngay Chôl Rônl” (ngày nhập gia), sáng sớmnhà gái làm hai mâm cơm cúng tổ tiên xin phép cho con gái đi lấy chồng Đặcbiệt là làm một địa Bal-ptô-lưng (cơm gọi hồn) đó là nấm cơm được gói tronglá chuối như bánh ít có dán giấy đỏ trên đỉnh chóp có cắm một bông vạn thọ,
ba trái chuối và sợi chỉ hồng Khi cúng tổ tiên xong, người ta làm lễ gọi hồncho cô dâu lấy chỉ hồng cột tay cô dâu với ý đừng để hồn ra khỏi thể xác,đồng thời để nàng đủ sáng suốt khi về nhà chồng
Trang 10Vào thời gian này nhà trai tập trung bạn bè qua nhà gái để dựng rạp(Son rônl ka), dựng bàn thờ Oâng Thiên (Rean Tê Vô Đa), trong trang tríphòng cưới chỗ các vị sư tụng kinh với các lễ vật khác nhau, đèn, rượu và mộtlễ vật không thể thiếu đó là cặp “Nom Khnhây” (bánh gừng) kết thành bôngtượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi, chất liệu bằng bột nếp với hột gà.
Cũng trong ngày Chôl ronl, nhà trai đã chuẩn bị tất cả các lễ vật cho lễcưới có một lễ vật không thể thiếu đó là “bông cau” (Pka Sla), đến chiềungười ta tiến hành làm lễ cắt hoa cau Trước khi lên cắt họ làm lễ xin phépthần linh bảo vệ buồng hoa cau, các lễ vật gồm: nhang đèn, con gà luộc, mâmcơm, một cái chung đựng dầu dừa và sợi chỉ hồng Cùng xong người ta dùngdao thật bén để cắt buồng hoa cau, chỉ được một lần cho dứt và chọn buồnghoa cau tốt nhất, nhưng buồng hoa cau không được nở trong quá trình làm lễcưới, người ta lấy chỉ hồng buộc buồng hoa cau lại để sáng hôm sau rước vềnhà gái
C TH’NGAY SI COM – NOT (Ngày cưới thứ hai):
Đonl He Ph’ Le Chhơ (Đưa chú rể sang nhà gái) Sáng sớm nhà traicùng làm hai mâm cơm, một đĩa Bai – prô – lưng để cúng tổ tiên và kêu hồnchú rể và mời các vị sư đến tụng kinh chúc phúc Xong tập hợp thân tộc cùngcác lễ vật sang nhà gái để tổ chức lễ cưới Lễ thức này người Khmer gọi là:
“Đonl He Ph’ Le Chhơ”, nó có nguồn gốc từ trường ca “Ream kê” Lúc prasrean cùng Ha nô mal giết chết “Kro Reap” cứu nàng “Sê Đa”, vợ “Prerasream” được các đạo sĩ là thầy của “Preas Ream” đứng ra tổ chức lễ cưới năm
vị đạo sĩ chúc phúc nên nên mới có tục Đonl He Ph’ Le Chhơ: có nghĩa rướctrái cây cho đến ngày hôm nay Có nơi người ta gọi nghi thức này là “Đonl
He Phka – sla” cũng đúng Vì nó có nguồn gốc từ truyện cổ tích được ghitrong kinh điển của phật giáo Có nơi còn gọi là “Đonl he chây suôs” cũngđúng, vì cũng có trong truyện cổ tích dân gian Khmer
Dù cách gọi “Đonl He Ph’ Le Chhơ”, “Đonl He Phka – sla” hay “Đonl
he chây suôs” cũng là lễ đưa chú rể sang nhà gái làm lễ cưới Đoàn rước có