Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia,
Trang 1Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiềunước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tưbản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa
có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sựphát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia, nhất là cácquốc gia đang ở trình độ kém phát triển Vì toàn cầu hoá là một xu thế, một quá
trình khách quan cho nên không thể đảo ngược.
1 Lời hứa của các tổ chức toàn cầu:
1.1 Lợi ích của toàn cầu hoá:
Thông qua thương mại quốc tế giúp các quốc gia tăng trưởng nhanh hơn,nhiều người trên thế giới sống lâu hơn và hưởng mức sống cao hơn trước đây, giảm
đi tình trạng cô lập mà các nước đang phát triển thường gặp và tạo ra cơ hội tiếpcận tri thức cho nhiều người ở các nước đang phát triển…
1.2 Tác hại của toàn cầu hoá:
Làm gia tăng tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội, tự do hoáthị trường tài chính nhanh chóng trong khi chưa có các cơ chế cạnh tranh và kiểmsoát đã dẫn tới khủng hoảng tài chính châu Á (1997), việc xoá bỏ các hàng ràothương mại để thị trường tự do cạnh tranh (không có sự điều tiết của chính phủ) đãgây thiệt hại lớn cho các nước đang phát triển bởi hàng hoá của họ sản xuất rakhông thể cạnh tranh được với hàng hoá nước ngoài, việc nới lỏng kểm soát thịtrường vốn ở Mỹ Latinh và châu Á đưa đến sự sụp đổ của hệ thống tỉ giá và sự suyyếu của hệ thống ngân hàng, môi trường bị huỷ hoại, tham nhũng gia tăng…
1.3 Những sai lầm của 3 tổ chức (IMF, WB, WTO) điều phối toàn cầu hoá:
1.3.1 Cơ sở hình thành IMF:
IMF được thành lập trên cơ sở niềm tin thị trường thường là không hoàn hảonhưng nó lại quá tin vào sự hoạt động hiệu quả của thị trường tự do và cần có áp
Trang 2lực quốc tế buộc các nước theo đuổi chính sách kinh tế tiền tệ -tài khoá mở rộngnhằm kích thích nền kinh tế thì IMF lại thường chỉ chấp nhận cho vay nếu các nướcthực hiện chính sách tiền tệ -tài khóa khắc khổ (giảm thâm hụt ngân sách, tăngthuế, tăng lãi suất) dẫn tới sự thu hẹp nền kinh tế Từ 2 nguyên nhân trên mà từ khithành lập đến nay các chính sách của IMF đưa ra thường mang lại tác hại nhiều hơn
là những lợi ích mà nó đem lại cho nền kinh tế toàn cầu
1.3.2 Những sai lầm của IMF:
Thứ nhất, do quá tin vào hiệu quả của tự do hoá mà nó thường xem nhẹ vaitrò của chính phủ (luôn xem chính phủ là nguồn gốc của mọi vấn đề) Thứ hai, mặc
dù IMF và WB – 2 tổ chức được lập ra với những mục đích khác nhau (nhiệm vụcủa IMF là tập trung vào các vấn đề khủng hoảng, nhiệm vụ của WB là giải quyếtcác vấn đề cơ cấu kinh tế các nước) nhưng hoạt động thì ngày càng chồng chéo lênnhau (WB chỉ cho các nước vay khi có sự chấp thuận của IMF Chính vì thế mà nó
đã áp đặt một số điều kiện lên các quốc gia khi các nước này cần sự giúp đỡ củanó) Thứ ba, IMF đã đi quá xa giới hạn và khả năng của nó thay vì tập trung vàoviệc giải quyết những vấn đề kinh tế vĩ mô Nó cho rằng, các vấn đề cơ cấu đều ảnhhưởng đến toàn bộ nền kinh tế và do đó sẽ ảnh hưởng tới ngân sách chính phủ haythâm hụt thương mại Vì vậy, nó cảm thấy mọi vấn đề đều nằm trong quyền quản lícủa mình Thứ 4, IMF là một tổ chức công đại diện cho các nước thì nó phải là một
tổ chức độc lập và minh bạch nhưng trên thực tế các hoạt động của IMF khôngnhững bị chi phối bởi ý chí chung của các nước G7 mà còn bởi giới tư bản thươngmại, tài chính ở nước đó Thứ 5 là sự thiếu minh bạch – dân chủ trong việc thảoluận về các chiến lược giải pháp của tổ chức này cho các quốc gia đang phát triển
Như vậy, trong suốt nửa thế kỉ kể từ khi thành lập đến nay, IMF gần như đãthất bại trong sứ mệnh của nó Lẽ ra, khi các nước gặp khó khăn về kinh tế thì nóphải trợ giúp tài chính cho các nước này phục hồi trạng thái gần toàn dụng lao độngthì nó lại không thực hiện Điều này đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế nổ ra ngày
Trang 3càng nhiều và ngày càng khốc liệt Tồi tệ hơn, những chính sách mà IMF áp đặt,đặc biệt là tự do hoá thị trường tài chính quá sớm đã đưa đến sự bất ổn định toàncầu và khi một nước bị khủng hoảng thì các trợ giúp của các chương trình IMF lạicàng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt là người nghèo.
1.3.3 Thoả thuận Bretton Woods:
Đã kêu gọi thành lập một tổ chức kinh tế quốc tế thứ 3, WTO, để kiểm soátquan hệ thương mại quốc tế không những nhằm hạn chế việc các nước tăng thuếnhập khẩu bảo vệ nền kinh tế nội địa gây ra sự tràn lan của suy thoái kinh tế màcòn thúc đẩy sự lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ và tạo ra một diễn đàn để đảm bảođàm phán thương mại được diễn ra và những thoả thuận được thực hiện Như vậy,những ý tưởng và dự định đằng sau sự hình thành của các tổ chức quốc tế đều là tốtđẹp, nhưng dần qua thời gian đã bị biến dạng thành những thứ khác nhau Nhữngđịnh hướng hoạt động của IMF, nhấn mạnh đến sự thất bại của thị trường và vai tròcủa chính phủ trong việc tạo việc làm đã bị thay thế bởi tư tưởng thị trường tự do
Tư tưởng này, chính là một phần của đồng thuận Washington- một sự đồng thuậngiữa IMF, WB, Bộ tài chính Mỹ về "các chính sách đúng" cho các nước phát triển
1.3.4 Những hạn chế căn bản trong đồng thuận Washington:
Thứ nhất là khá nhiều ý tưởng trong sự đồng thuận mới này được hình thànhtrong quá trình đối phó với những vấn đề của Mỹ Latinh, nơi các chính phủ thườngmất kiểm soát chi tiêu ngân sách trong khi lại thực thi nới lỏng tiền tệ và hậu quả làlạm phát lại được áp dụng cho những nước mà nền kinh tế có cấu trúc, thế mạnh,điểm yếu hoàn toàn khác Thứ hai, những chính sách như tự do hoá thị trường vốnđược đẩy mạnh trên khắp các nước Mỹ Latinh góp phần tạo ra những bất ổn địnhthì những chính sách này vẫn được thúc đẩy ở nơi khác Thứ ba, các chính sáchđược đưa ra không hề phù hợp với những nước trong giai đoạn đầu của quá trìnhphát triển hay chuyển đổi kinh tế như việc bắt một nước đang phát triển mở cửa thịtrường cho hàng hoá nhập khẩu cạnh tranh với sản phẩm của các ngành công
Trang 4nghiệp nội địa còn non nớt và dễ bị tổn thương đã gây ra những hậu quả kinh tế xãhội nghiêm trọng Hay việc yêu cầu các nước phát triển phải thắt chặt chính sáchtiền tệ đẩy lãi suất lên cao trong khi mạng lưới an sinh xã hội chưa hình thành đãdẫn đến những người mất việc bị đẩy vào cảnh nghèo đói túng quẫn Hay việc bắtcác nước đang phát triển với hệ thống ngân hàng vừa chỉ mới phát triển phải đốimặt với những rủi ro khi mở cửa thị trường đã làm cho các nước này không thểkiểm soát được dòng chu chuyển vốn khi mà sự lưu chuyển tiền vào và ra ở cácnước này diễn ra với tần suất quá lớn Thêm vào đó, chính sách thắt lưng buộcbụng đã không làm tăng trưởng kinh tế các nước như đã hứa hẹn mà còn là nguyênnhân cản trở tăng trưởng, gia tăng nghèo đói Tuy nhiên, một số cải cách kiểu thịtrường tự do của IMF cũng có đem lại thành công cho một số nước như Chilechẳng hạn nhưng phần còn lại của lục địa này vẫn còn phải tiếp tục bù lại một thập
kỉ đã mất mát Thậm chí, ngay cả khi những nước này đã đẩy lùi được lạm phát thìtình trạng thất nghiệp cao kinh niên vẫn còn Thêm vào đó, tại các quốc gia cóđược một chút tăng trưởng ta cũng thấy rõ là lợi ích chỉ tập trung vào trong taynhững người giàu và đặc biệt là tầng lớp cực giàu trong khi nghèo đói vẫn hoànhhành
1.3.5 Vấn đề người đại diện trong IMF:
Những người đứng đầu trong IMF và bộ tài chính Mỹ thường xuất thân từcác công ty tài chính và sau khi kết thúc nhiệm kì trong chính phủ họ lại trở về nơi
đó làm việc Điều này đã cho thấy, những cá nhân này đương nhiên sẽ nhìn thế giớibằng con mắt của cộng đồng tài chính và những quyết định của các tổ chức nàyluôn luôn phản ảnh quan điểm và lợi ích của những người ra quyết định
Như vậy có thể nói, toàn cầu hoá bản thân nó không xấu, nó có sức mạnhđem lại vô số những điều tốt Chính vì vậy, việc ban hành các quyết định, chínhsách của IMF nên bớt coi trọng hệ tư tưởng mà hãy nhìn xem thực tế cái gì có hiệuquả Điều quan trọng là làm sao những thành công ở Đông Á cũng đạt được ở
Trang 5những nơi khác Cái giá mà chúng ta phải trả sẽ rất lớn nếu để tiếp diễn bất ổn toàncầu.
2 Những lời hứa bị phá bỏ:
2.1 Ethiopia và cuộc chiến giữa quyền lực chính trị và nghèo đói:
Ethiopia là một trong những nước nghèo nhất thế giới, thu nhập bình quânđầu người chỉ có 100USD/năm và đất nước này đã liên tục phải hứng chịu hạn hán
và mất mùa gây nên cái chết của 2 triệu người Để cải thiện tình hình trên và làmcho đất nước thoát khỏi nghèo đói thủ tướng Meles đã tiến hành quá trình chuyểnđổi kinh tế Cả ông và chính phủ đã cam kết theo đuổi quá trình phi tập trung hoá,đưa chính phủ đến gần người dân và đảm bảo trung tâm đất nước không bị chiatách với các khu vực khác Chính điều này, đã giúp Ethiopia không còn lạm phát vàgiá cả đã giảm xuống Meles đã cho thấy rằng, với những chính sách đúng đắn,ngay cả một quốc gia châu Phi nghèo đói cũng có thể tăng trưởng ổn định NhưngMeles đã gặp phải vấn đề với IMF, IMF đã ngừng chương trình tài trợ cho nướcnày, mặc cho thành quả kinh tế vĩ mô tốt, họ lập luận rằng họ lo ngại về tình hìnhngân sách của Ethiopia
Một xung đột nữa giữa IMF và Ethiopia là vấn đề trả nợ sớm Ethiopia đã sửdụng một phần dự trữ của mình để trả nợ cho các ngân hàng của Mỹ và IMF đãphản đối chuyện này Họ phản đối không phải bởi vì cách làm này sai mà vìEthiopia đã làm điều đó mà không xin phép IMF Nhưng một quốc gia có chủquyền không lẽ không thể tự định đoạt được số phận của mình hay sao? Không chỉdừng lại ở đó, bất đồng này còn tăng lên khi IMF cho rằng các nước nhận tiền việntrợ của nó có trách nhiệm báo cáo tất cả mọi thứ thích hợp, không thực hiện điều đó
sẽ dẫn đến việc đình chỉ các chương trình cho vay, bất kể lí do của việc không báocáo là gì
Một điểm đáng chú ý khác trong quan hệ giữa IMF và Ethiopia liên quan đếnquá trình tự do hoá thị trường tài chính IMF muốn Ethiopia không chỉ mở cửa thị
Trang 6trường tài chính cho cạnh tranh mà còn muốn chia ngân hàng lớn của nước nàythành các đơn vị nhỏ.Trong khí đó, các tập đoàn tài chính lớn như Citibank vàTravelers còn phải hợp nhất để cạnh tranh hiệu quả thì một ngân hàng quốc gianhỏ bé của Ethiopia làm sao có thể cạnh tranh nổi Chính vì thế mà khi các tổ chứctài chính toàn cầu vào một nước, chúng sẽ "hạ gục" mọi đối thủ cạnh tranh trongnước Và khi thu hút được những người gửi tiền từ bỏ các ngân hàng nội địa, chúng
sẽ tập trung hơn và rộng rãi hơn khi cho các tập đoàn đa quốc gia lớn vay hơn làcung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và nông dân Nhưng thực sự IMF đãquá sai lầm, bởi tự do hoá thị trường tài chính là cho phép lãi suất được tự do địnhđoạt trên thị trường và IMF tin rằng thị trường tài chính tự do luôn làm giảm lãisuất và do đó làm cho nguồn vốn dễ tiếp cận hơn Thực tế thì không phải như thế,bởi với một nước mà phần lớn là nông dân như Ethiopia, điều quan trọng là nôngdân có thể tiếp cận tín dụng với điều kiện hợp lý để mua hạt giống và phân bón.Chính vì thế mà lãi suất của Ethiopia chắc chắn phải thấp hơn lãi suất thị trường tự
do và nếu như để tự do hoá thị trường tài chính ngay bây giờ thì người dân nướcnày càng khó có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng Chính vì lẽ đó mà Ethiopia
đã đi ngược lại theo những lời khuyên của IMF
Một vấn đề nữa là IMF đã không tập trung vào sứ mệnh nguyên thuỷ của nó
là hỗ trợ cho sự ổn định toàn cầu hoá, thay vào đó nó lại tham gia vào các vấn đềphát triển của các nước đang phát triển Nó đã không nhận ra rằng, các nước đangphát triển gặp khó khăn nhiều hơn so với các nước phát triển Đó là do, ở các nướcnày nhiều thị trường không tồn tại và khi tồn tại thì hoạt động không hoàn hảo.Thêm vào đó là các vấn đề về thông tin và văn hoá có thể ảnh hưởng đáng kể tớihành vi kinh tế
Hơn thế nữa, những chính sách phù hợp phải được xây dựng bởi các nhàkinh tế hàng đầu, được đào tạo tốt, hiểu biết sâu sắc và làm việc hàng ngày để giảiquyết các vấn đề ở ở nước này Những người bên ngoài có thể đóng vai trò như
Trang 7chia sẻ kinh nghiệm của các nước khác nhưng IMF không muốn chỉ đóng vai trò làmột nhà tư vấn cạnh tranh với các nhà tư vấn khác, nó muốn một vai trò trung tâmtrong định hướng chính sách của Ethiopia IMF đã đi quá xa hơn là chỉ đơn giảnđảm bảo rằng các nước không lạm chi quá năng lực của mình.
2.2 Botswana minh chứng hùng hồn cho những sai lầm của IMF:
Botswana cách Ethiopia 2300 dặm về phía nam, dân số 1.5 triệu người, thunhập bình quân đầu người chỉ có 100 USD/năm (vào thời điểm Botswana độclập1966) và một nền dân chủ ổn định sau ngày giành độc lập Nó là một nước nôngnghiệp nhưng thiếu nước và cơ sở hạ tầng hết sức sơ khai nhưng Botswana lại lànước thành công trong phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân 7.5% (1966-1997) Botswana thuận lợi là có nhiều kim cương, nhưng các nước như Nigeria,Sierra Leone cũng là nước giàu tài nguyên Tuy nhiên ở những nước này, nguồn lợi
từ tài nguyên chỉ càng làm tăng thêm nạn tham nhũng và tranh giành lẫn nhau trongviệc kiểm soát nguồn của cải này Thành công của Botswana dựa trên khả năng duytrì sự ổn định chính trị trên cơ sở đại đoàn kết dân tộc, việc lựa chọn kĩ lưỡng cácnhà tư vấn của những người có trách nhiệm và việc duy trì sự hợp tác tốt giữachính phủ và những nhà tư vấn nước ngoài đến từ nhiều tổ chức Họ đã giúpBotswana xác lập lộ trình cho tương lai của đất nước, họ đã giải thích một cách cởi
mở và chân thành về các chính sách của họ khi họ làm việc với chính phủ nhằm tìmkiếm sự ủng hộ rộng rãi cho những chính sách và chương trình đó Đây là điềukhác biệt hoàn toàn với IMF- nó chỉ làm việc với Bộ tài chính và ngân hàng trungương
Sự đồng thuận sống còn ở Botswana đã từng bị đe doạ khi nước này phải đốimặt với khủng hoảng kinh tế Một trận hạn hán đã đe doạ cuộc sống của người nuôigia súc và các vấn đề trong ngành công nghiệp kim cương đã tác động đến tìnhhình ngân sách của nước này Nhưng thay vì cần phải tài trợ cho thâm hụt nhằmngăn chặn suy thoái kinh tế thì nó lại bắt buộc các nước muốn nhận tài trợ của nó
Trang 8phải tuân thủ chính sách tài khoá thắt lưng buộc bụng Tuy nhiên, nhờ nhận biếtđược sự không ổn định xuất phát từ ngành chăn nuôi và kim cương, Botswana đãthận trọng dành ra một quỹ để đề phòng khủng hoảng Khi nhận thấy nguồn quỹđang giảm dần, họ đã thắt chặt dây lưng, hợp sức với nhau, quyết định chính sáchtrên cơ sở đồng thuận để vuợt qua khủng hoảng mà không hề gây ra sự chia cắt xãhội như những nơi khác trong các chương trình của IMF Như vậy, nhờ việc khôngtuân theo các điều kiện áp đặt của IMF (cũng có nghĩa là việc Botswana khôngnhận được tài trợ từ tổ chức này) Botswana đã đi theo cách riêng đòi hỏi ít sự hisinh hơn và có kết quả tốt hơn.
2.3 Sự thất bại của Kenya do tuân thủ tuyệt đối các chính sách của IMF:
Trái với 2 nước trên Kenya là một quốc gia giàu có và màu mỡ Các vănphòng chính phủ đầy ắp những nhân viên được đào tạo tốt thế nhưng nền kinh tế lại
bi suy sụp do nạn tham nhũng hoành hành và việc tuân thủ theo những lời khuyêncủa IMF đã dẫn tới lãi suất cao, các doanh nghiệp và người nông dân không thểtiếp cận nguồn vốn đã đưa đến sản lượng kinh tế giảm, thất nghiệp và nghèo đói giatăng
2.4 Sự mất cân bằng quyền lực giữa IMF và "khách hàng":
IMF luôn tuyên bố rằng nó không áp đặt mà luôn đàm phán những điềukhoản của bất kì hợp đồng vay nào với một nước đi vay Nhưng đây là một cuộcđàm phán một phía, trong đó tất cả quyền lực đều nằm trong tay IMF, các nước đivay buộc phải tuân theo nếu họ muốn nhận tài trợ và không muốn làm nản lòng cácquỹ đầu tư tư nhân khi IMF nói rằng họ nghi ngờ khả năng hồi phục của nền kinh
tế một nước nào đó Thêm vào đó, những thông báo công khai của IMF rằng cáccuộc đàm phán đã đổ vỡ hay bị hoãn lại sẽ gửi những thông tin không tốt đến thịtrường Những tín hiệu này, trong trường hợp tốt nhất sẽ chỉ làm tăng lãi suất vàtrong trường hợp xấu nhất sẽ dẫn đến việc các quỹ tư nhân chấm dứt toàn bộ cáckhoản đầu tư Điều này con nghiêm trọng hơn với các nước nghèo nhất, nơi rất khó
Trang 9tiếp cận nguồn vốn tư nhân vì các nhà tài trợ khác thường cho vay trên cơ sở chấpthuận của IMF Chính vì thế, khi áp đặt các điều kiện thoả thuận, IMF thực tế đãbóp chết mọi thảo luận về các chính sách kinh tế của chính phủ các nước nhân tàitrợ
Nghiêm trọng hơn là ẩn sau các điều kiện áp đặt thường là các công cụ chínhsách để thúc đẩy lịch trình chính trị của nó Chẳng hạn như, khoản vay của IMFcho Hàn Quốc là đi kèm với điều kiện thay đổi điều lệ ngân hàng, làm cho nó độclập hơn với các tiến trình chính trị mà còn phải tập trung vào chống lạm phát.Nhưng thực tế, nếu ngân hàng trung ương chỉ tập trung vào chống lạm phát thì dễđưa đến suy thoái kinh tế bởi không thể có tăng trưởng kinh tế khi không có sựđánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng
Một sự thiếu công bằng nữa giữa IMF và "khách hàng" là sự thiếu minh bạch
về thông tin Các công dân của các nước không những bị ngăn cản tham gia thảoluận các thoả thuận mà còn thậm chí không được thông báo những thoả thuận đó là
gì Mà như chúng ta đã biết, sự thiếu minh bạch thông tin ở các tổ chức côngthường đem lại những hậu quả tồi tệ Vì thế, sự cần thiết là phải tăng cường tínhminh bạch, cải thiện thông tin để các công dân biết được về những hoạt động củacác tổ chức này, cho phép những ai bị ảnh hưởng bởi các chính sách có tiếng nóihơn trong việc hoạch định chính sách đó Đã đến lúc chúng ta cần phải đánh giáhiệu quả làm việc của các tổ chức kinh tế quốc tế và xem xét một số chương trìnhcủa nó có thực sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo hay không?
3 Quyền tự do lựa chọn?
3.1 Tư nhân hoá:
Theo ý kiến của IMF và WB thì tư nhân hoá phải được tiến hành nhanhchóng nhưng thực tế tư nhân hoá khi chưa có những điều kiện cần thiết và không
có một lịch trình cụ thể thường không mang lại những lợi ích như đã hứa hẹn Một
ví dụ có thể minh chứng cho điều này là ở Bờ Biển Ngà Công ty điện thoại bị tư
Trang 10nhân hoá trước khi có đủ các chế tài cạnh tranh Một hãng của Pháp đã mua lại vàthuyết phục chính phủ cho nó độc quyền không chỉ trong các dịch vụ điện thoạihiện có mà trong cả những dịch vụ điên thoại di động mới Hãng này đã nâng giácao đến mức sinh viên không thể đủ tiền truy cập internet Điều này đã làm gia tăng
"khoảng cách số" vốn đã rất lớn giữa người nghèo và người giàu giờ lại còn lớnhơn
Tư nhân hoá không những gây thiệt hại cho người tiêu dùng như đã nói ởtrên mà còn gây thiệt hại cho người lao động Tư nhân hoá có thể loại bỏ nhữngcông nhân có năng suất thấp nhưng sự cắt giảm lao động khi mà hệ thống bảo hiểmthất nghiệp ở các nước đang phát triển chưa hình thành thường gây ra những thiệthại lớn cho xã hội như rối loạn chính trị, tham nhũng, thất học và các tệ nạn xãhội…
3.2 Tự do hoá và vấn đề xác định nhịp độ mở cửa thị trường:
Tự do hoá hay xoá bỏ can thiệp của chính phủ vào thị trường tài chính, thịtrường vốn và các rào cản thương mại nếu đi quá xa sẽ dễ dẫn tới khủng hoảng tàichính toàn cầu đặc biệt là có thể gây nên sự đổ vỡ ở các nền kinh tế nhỏ mới nổi
Cụ thể:
3.2.1 Tự do hoá thương mại
Được kì vọng sẽ nâng cao thu nhập quốc dân bằng cách đưa nguồn lực từ nơikém hiệu quả đến nơi sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn Nhưng việc chuyển cácnguồn lực từ nơi năng suất thấp sang nơi năng suất "bằng không" chẳng làm cácnước giàu thêm mà thậm chí còn dễ dàng làm mất việc làm khi những ngành côngnghiệp kém hiệu quả bị đóng cửa dưới áp lực của cạnh tranh quốc tế Quan điểmcủa IMF là những việc làm mới có năng suất cao sẽ được tao ra khi những việc làm
cũ không hiệu quả bị xoá bỏ Nhưng thực tế không đơn giản như thế bởi ở các nướcđang phát triển để lập doanh nghiệp mới và tạo việc làm mới cần phải có vốn và óckinh doanh Nhưng cả 2 điều này đều khó thực hiện được ở các nước đang phát
Trang 11triển vì trình độ giáo dục ở các nước này thường không cao và không có tài trợ củangân hàng Ở một số nước, chương trình thắt lưng buộc bụng của IMF thường trởnên xấu hơn do lãi suất cao nên việc gia tăng việc làm trở thành một nhiệm vụ bấtkhả thi.
Những nước đang phát triển thành công nhất như Đông Á cũng mở cửa rathế giới bên ngoài nhưng đã làm từ từ theo một lịch trình cụ thể Những nước này
đã lợi dụng toàn cầu hoá để mở rộng xuất khẩu và kết quả là tăng trưởng nhanhhơn Nhưng họ dỡ bỏ hàng rào bảo hộ một cách thận trong và có hệ thống, chỉ xóa
bỏ chúng khi đã tạo thêm được việc làm mới Thậm chí nhà nước đảm nhiệm cả vaitrò hỗ trợ kinh doanh, thúc đẩy những doanh nghiệp mới
Thực tế, tự do hoá thương mại thường xuyên thất bại trong việc đem lại lợiích hứa hẹn mà thay vào đó là tạo thêm thất nghiệp Các nước phương Tây thúc đẩy
tự do hoá để xuất khẩu sản phẩm của họ nhưng lại tiếp tục bảo hộ những lĩnh vực
mà nó cạnh tranh với các nước đang phát triển Đây chính là một trong những cơ sởcủa sự phản đối của vòng đám phán thương mại tổ chức tại Seatle khi mà lợi íchcủa các nước phát triển được bảo vệ trong khi không hề đề cập tới lợi ích củanhững nước kém phát triển hơn và mới đây tại vòng đàm phán Uruguay (bàn về cácvấn đề thương mại trong dịch vụ) các nước đang phát triển cũng không thể giànhđược một chỗ đứng trong những lĩnh vực mà nó có ưu thế như hàng hải và xâydựng
3.2.2 Tự do hoá thị trường vốn:
Trong khi các nước công nghiệp tiên tiến, với hệ thống thể chế đầy đủ, đãhọc được những bài học đắt giá từ phi điều tiết tài chính thì IMF lại yêu cầu cácnước đang phát triển tự do hoá tài chính thật nhanh đã dẫn tới hậu quả suy thoáikinh tế cùng với khủng hoảng hệ thống ngân hàng đã không làm cho lãi suất giảmnhư nó đã hứa hẹn mà trái lại lãi suất còn gia tăng khiến cho đời sống của nhiềungười ngày càng gặp nhiều khó khăn
Trang 12Tự do hoá thị trường tài chính đòi hỏi dỡ bỏ những quy định dùng để kiểmsoát dòng tiền nóng đã khiến cho đầu tư dài hạn vào các nước đang phát triển trởnên kém hấp dẫn hơn do những rủi ro đi kèm với dòng tiền nóng đã tăng lên Đểkiểm soát những rủi ro đi kèm với dòng vốn đầy biến động này, các nước thườngđược IMF khuyến cáo dành ra một khoản dự trữ tương đương với nợ ngắn bằngngoại tệ Điều này nghĩa là, khi tự do hoá thị trường tài chính, chính các doanhnghiệp là người quyết định nên vay vốn ngắn hạn từ các ngân hàng Mỹ hay không.Nhưng chính chính phủ phải tự điều chỉnh, tăng thêm dự trữ nếu muốn duy trì mức
độ an toàn Thêm vào đó, một sai lầm đáng nghiêm trọng hơn khi IMF lại nghĩ rằng
tự do hoá sẽ đảm bảo sự ổn định bằng cách đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư Nhưvậy các nước khi gặp khó khăn và suy thoái, các nước có thể kêu gọi nhà đầu tưnước ngoài bổ sung cho số vốn bị thiếu hụt trong nước Tuy nhiên, khi suy thoáikinh tế xảy ra, các chủ nợ sẽ nhanh chóng rút vốn ra và như thế càng đẩy suy thoáitrở nên trầm trọng hơn
3.3 Vai trò của đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài không phải là một trong ba trụ cột của Đồng thuậnWashington nhưng lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình toàn cầu hoá TheoĐồng thuận này, thì tăng trưởng xảy ra thông qua tự do hoá thị trường Tư nhânhoá, tự do hoá và sự ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu
tư và đầu tư sẽ là tiền đề cho tăng trưởng Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoàicũng có những mặt trái của nó bởi nếu chưa có luật cạnh tranh hoặc có nhưngkhông được thực thi hiệu quả và chưa xác định được nhịp độ mở cửa ở mức nào thìsau khi các hãng nước ngoài đánh bật sự cạnh tranh của các doanh nghiệp sở tại,chúng sẽ sử dụng sức mạnh độc quyền để tăng giá và như vậy lợi ích của giá hànghoá rẻ sẽ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn Ngay cả trong thị trường tài chính cũngvậy, khi các ngân hàng lớn của nước ngoài vào cung cấp bảo hiểm cao hơn chongười gửi tiền so với các ngân hàng nhỏ địa phương thì luồng vốn trong nước tất
Trang 13nhiên sẽ chảy vào các ngân hàng lớn và nhiều người đã lo ngại rằng tiền sẽ chảy vềcác trung tâm tài chính lớn như New York sẽ làm cạn kiệt nguồn vốn ở nhưng khuvực xa xôi cần vốn Và trường hợp của Argentina đã cho chúng ta thấy rõ nguy cơnày Thêm vào đó, là các ngân hàng nước ngoài được hình thành theo luật của nướcngoài nên khi tham gia vào hoạt động ở một nước nào đó nó thường chỉ chịu tácđộng của luật doanh nghiệp nước đó chứ không chịu tác động nhiều của luật củacác tổ chức tín dụng Chính vì thế, mọi tác động của ngân hàng trung ương thôngqua lãi suất chiết khấu thì thường chỉ có các ngân hàng trong nước chịu ảnh hưởngnhiều.
3.4 Kinh tế học "lọt sang xuống nia":
Muốn giảm nghèo đói trước tiên cần có tăng trưởng kinh tế Nhưng khi việctăng trưởng kinh tế đạt hiệu quả thì cần phải có cơ chế phân chia hợp lí để đảm bảorằng người nghèo được hưởng lợi từ thành quả đó Bởi lẽ, bản thân tăng trưởngkhông thể tự nó thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng
3.5 Những ưu tiên và chiến lược:
Trước tiên, chúng ta cần phải xem xét không chỉ những gì mà IMF đã đưavào lịch trình hành động của nó mà ngay cả những gì đã bị bỏ sót Bởi lẽ, nhiềuđiểm không được đề cập trong đồng thuận Washington lại có thể mang lại cùng lúctăng trưởng cao hơn và bình đẳng hơn Vì vậy, trước hết các nước đang phát triểncần phải tập trung vào những mục tiêu sau: (1) cải cách ruộng đất để người laođộng nghèo không chỉ có đất để sản xuất mà còn có khả năng tiếp cận nguồn tíndụng, (2) kiểm soát các vấn đề về tài chính một cách hiệu quả bởi đây là nguồn gốccủa những cuộc khủng hoảng trên thế giới, (3) cần phải có cấu trúc kiểm soát phùhợp trước khi tự do hoá thị trường tài chính, (4) xem xét và xác định rõ vai trò củachính phủ trong nền kinh tế thị trường bởi hầu hết các thị trường đều hoạt độngkhông hiệu quả và cần có sự can thiệp của chính phủ…và cuối cùng là các tổ chứcquốc tế chỉ nên là người tư vấn và tài trợ nguồn vốn cần thiết cho các nước để họ
Trang 14có thể tự mình thực hiện những chọn lựa của họ dựa trên những hiểu biết về hậuquả và những rủi ro của từng lựa chọn.
4 Cuộc khủng hoảng Đông Á:
4.1 Một vài nguyên nhân tạo nên sự "thần kì Đông Á":
Sự "thần kì Đông Á" được thể hiện rõ trên 2 mặt đó là sự tăng trưởng của thunhập và sự giảm thiểu nghèo đói một cách nhanh chóng Có được điều này là docác chính phủ các nước Đông Á đã có những chính sách hết sức đúng đắn: họ coithương mại là quan trọng nhưng trọng tâm là thúc đẩy xuất khẩu chứ không phảixoá bỏ trở ngại cho nhập khẩu Họ không nóng vội trong việc tự do hoá các thịtrường một cách nhanh chóng mà được thực hiện theo một lịch trình cụ thể Hơnthế nữa, vai trò của chính phủ trong các nước Đông Á là hết sức quan trọng bởi họchính là những người định hướng thị trường và thúc đẩy thị trườDKng phát triển
4.2 Tại sao chính sách của IMF và Bộ tài chính Mỹ lại dẫn đến khủng hoảng:
IMF và Bộ tài chính Mỹ cho rằng, tự do hoá hoàn toàn tài khoản vốn sẽ giúp
khu vực này tăng trưởng nhanh hơn Những nước Đông Á không cần thêm vốn bởi
họ có tỷ lệ tiết kiệm cao Tuy nhiên, họ vẫn bị thúc giục tự do hoá tài khoản vốnvào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 Mà khi tự do hoá tài khoản vốn màchưa có những thể chế đi kèm đã dẫn tới vô số rủi ro trong tài khoản vốn Và một lẽđương nhiên, khi rủi ro tăng thì tâm lý của nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng và việc tháochạy vốn là điều không thể tránh khỏi
IMF cho rằng, kiểm soát thị trường tài chính sẽ giảm hiệu quả kinh tế nhưngtrên thực tế thì đây là một lập luận sai lầm Bởi trước khi tự do hoá, Thái Lan áp đặtnghiêm ngặt trong việc cho vay đầu cơ bất động sản của ngân hàng Họ quy địnhnhững hạn chế này vì họ là một nước nghèo cần có tăng trưởng và họ tin rằng đầu
tư số vốn ít ỏi của mình vào khu vực sản xuất sẽ tạo thêm việc làm và kích thíchtăng trưởng Họ cũng biết rằng cho vay đầu cơ bất động sản là nguồn gốc cơ bản
Trang 15của suy thoái kinh tế và kiểu cho vay này sẽ dẫn đến bong bóng đầu tư, những bongbóng này chắc chắn sẽ vỡ khi nền kinh tế chao đảo Tuy nhiên, sau khi tự do hoá tàichính theo chỉ dẫn của IMF mà chưa có được một lịch trình hợp lý và một chínhsách đầy đủ đã đẩy Thái Lan lâm vào suy thoái ngày càng trầm trọng.
4.3 Những sai lầm của IMF trong khủng hoảng Đông Á (1997):
4.3.1 Sai lầm đầu tiên dẫn tới khủng hoảng là IMF đã chuẩn đoán sai vấn đề
Bởi lẽ, khi xảy ra khủng hoảng, Đông Á đang ở trong tình trạng tương đối ổnđịnh về kinh tế vĩ mô với áp lực lạm phát thấp và ngân sách chính phủ đang cânbằng hoặc thặng dư Điều này có 2 hàm ý Thứ nhất là sự sụp đổ của thị trườngngoại hối và chứng khoán, sự tan vỡ của bong bong nhà đất kèm theo sự sụt giảmđầu tư và tiêu dùng đã đưa Đông Á đến suy thoái Thứ hai là sự sụp đổ kinh tế sẽlàm suy giảm doanh thu thuế và tạo ra mất cân đối ngân sách Như vậy, vấn đề màcác nước Đông Á cần giải quyết trước mắt là thâm hụt thực hơn là thâm hụt cơ cấu(thâm hụt tồn tại ngay cả khi nền kinh tế hoạt động ở mức toàn dụng) Nhưng IMFlại tập trung vào giải quyết thâm hụt cơ cấu
Thứ hai, nguyên nhân suy thoái kinh tế của Đông Á là do thiếu cầu chứkhông phải dư cầu như ở Mỹ Latinh Vì thế, biện pháp tốt nhất để ngăn ngừa khủnghoảng là chính phủ phải tìm cách kích cầu như giảm thuế, tăng chi tiêu hoặc nớilỏng chính sách tiền tệ Nhưng IMF đã không làm thế, nó chỉ cho các nước vay khicác nước này cam kết thực hiện chính sách thắt chặt Nhưng khi thực hiện chínhsách này thì nó không chỉ tác động đến bản thân nền kinh tế nước đó mà còn ảnhhưởng tiêu cực đến những nước láng giềng bởi khi gặp suy thoái các nước đều vựcdậy nền kinh tế bằng cách cắt giảm nhập khẩu và chuyển nhu cầu tiêu dùng sanghàng nội địa Các nước cắt giảm nhập khẩu bằng hàng rào thuế quan và phá giá tiền
tệ, làm cho hàng hoá của mình rẻ hơn trong khi hàng hoá của các nước khác đắthơn Điều này đã làm cho sự lan truyền suy thoái kinh tế từ nước này sang nướckhác trầm trọng hơn
Trang 16Thứ ba là các doanh nghiệp ở Đông Á là các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao vìthế việc áp đặt lãi suất cao đã đẩy nó nhanh chóng lâm vào tình trạng phá sản.Thậm chí nếu không phá sản, giá trị vốn cổ phần của doanh nghiệp cũng sẽ giảmnhanh chóng khi nó phải trả những khoản nợ khổng lồ cho các chủ nợ Để bảo vệcho luận điểm của mình là đúng, IMF đã lập luận rằng nếu lãi suất không được đẩylên cao, tỷ giá sẽ sụp đổ và điều này sẽ gây thiệt hại cho các doanh nghiệp có nợbằng đồng đô la Nhưng thực tế là tăng lãi suất không hề ổn định đồng tiền màthậm chí còn đẩy các doanh nghiệp chẳng liên quan gì phải trả giá cho nhữngdoanh nghiệp vay nợ nước ngoài nhiều Hơn thế nữa, việc giảm lãi suất sau đó đãkhông làm cho các doanh nghiệp phục hồi lại được bởi giá trị của doanh nghiệp đã
bị xoá bỏ hoàn toàn
Thứ tư, trong khi Nhật Bản đề nghị giúp 100 tỉ USD để thành lập Quỹ tiền tệChâu Á, nhằm tài trợ cho những biện pháp kích thích kinh tế cần thiết thì Bộ Tàichính Mỹ và IMF đã phản đối kịch liệt Chỉ đến khi, nó không thể lờ đi được cuộckhủng hoảng thì sự trợ giúp 30 tỷ USD sau đó của Nhật Bản mới được thông qua.Nhưng ngay cả như thế, IMF vẫn cho rằng khoản tiền đó không nên dùng để kíchthích nền kinh tế mà nên dùng để tái cấu trúc doanh nghiệp và hệ thống tài chính(cứu giúp các ngân hàng nước ngoài và các chủ nợ)
4.3.2 Vòng hai của những sai lầm: Lúng túng trong tái cơ cấu
Cái vòng luẩn quẩn trong một cuộc khủng hoảng: Hệ thống tài chính được
coi là bộ não của nền kinh tế nên khi hệ thống tài chính tan vỡ các doanh nghiệp sẽkhông thể vay vốn lưu động để duy trì sản xuất Một cuộc khủng hoảng có thể tạo
ra một vòng luẩn quẩn, trong đó ngân hàng cắt giảm vốn cho vay, doanh nghiệp cắtgiảm sản suất và cuối cùng làm giảm sản lượng và thu nhập Khi sản lượng và thunhập giảm, lợi nhuận sẽ giảm, doanh nghiệp không trụ vững sẽ lâm vào phá sản
Mà khi doanh nghiệp phá sản đồng nghĩa doanh nghiệp đó không trả được nợ, mànhiều doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng cũng có thể phá sản Mà khi
Trang 17một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo việc những người gửi tiền đổ xô đến rút tiền vàđiều này đã làm cho khủng hoảng suy thoái là không thể tránh khỏi Chính vì thế,biện pháp tốt nhất là khi khủng hoảng kinh tế nổ ra là các ngân hàng yếu kém nênđược mua lại hoặc sáp nhập vào các ngân hàng khác nhằm đảm bảo lợi ích củangười gửi tiền tránh tình trạng rút tiền ồ ạt từ họ.
Coi trọng chọn lọc tự nhiên mà xem nhẹ việc giữ lưu thông cho nguồn vốn:
Chiến lược tái cơ cấu tài chính của IMF được tiến hành bằng cách phân các ngânhàng thành 3 loại: những ngân hàng yếu kém cần phải đóng cửa ngay lập tức,những ngân hàng có thể cứu vãn được và những ngân hàng khoẻ mạnh Nhưng để
có thể tồn tại các ngân hàng phải đáp ứng được điều kiện của IMF là tỷ lệ vốn tốithiểu giữa vốn chủ sở hữu và dư nợ tín dụng cùng các tài sản khác Nhưng điều này
có thể là nan giải bởi khi nền kinh tế bị khủng hoảng nghiêm trọng như Đông Á thìrất khó có thể huy động vốn mới Cách còn lại duy nhất để đáp ứng tỉ lệ vốn tốithiểu là giảm dư nợ cho vay nhưng khi các ngân hàng giảm dư nợ cho vay cácdoanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có tỉ lệ nợ vay cao như Đông Á càngkhó khăn hơn Và khi nhu cầu về vốn này không được đáp ứng doanh nghiệp phảicắt giảm sản xuất và điều này chỉ càng làm cho nền kinh tế lâm vào vòng xoáykhủng hoảng sâu hơn
Sở hữu không rõ ràng trong tái cấu trúc doanh nghiệp: Những doanh nghiệp
đối mặt với phá sản thường nằm trong tình trạng không rõ ai là chủ, người chủ hiệntại hay người chủ nợ Vấn đề sở hữu chưa được giải quyết khi các doanh nghiệpnày thoát khỏi tình trạng phá sản Nhưng nếu không có một chủ sở hữu rõ ràng, bộmáy quản lí hiện thời và người chủ cũ có động cơ làm thất thoát tài sản Trongtrường hợp này, chính phủ cần đóng vai trò chủ động đẩy mạnh tái cơ cấu tài chính
để đảm bảo rằng doanh nghiệp có chủ thực sự Tuy nhiên, IMF không nghĩ thế, họcho rằng chính phủ không nên đóng vai trò chủ động trong tái cơ cấu tài chínhnhưng nên thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất, bán tài sản Nhưng điều này chỉ làm cho
Trang 18tình hình kinh tế thêm xấu đi chứ không thể làm cho doanh nghiệp có khả năngphục hồi.
4.3.3 Đánh bạc với rối loạn chính trị: Với những sai lầm của IMF trong
việc thi hành chính sách tài khoá và tiền tệ thu hẹp đã làm cho tình trạng bất ổnchính trị ngày càng tăng lên, đặc biệt với một quốc gia có lịch sử xung đột sắc tộcnhư Indonesia Mà khi bất ổn chính trị xảy ra, thì niềm tin nền kinh tế được phụchồi sẽ trở thành không tưởng Lúc này, luồng vốn sẽ tháo chạy chứ không thu hútđược vốn vào đất nước
Bên cạnh đó, việc cắt giảm mạnh trợ cấp lương thực và nhiên liệu cho ngườinghèo ở Indonesia đã càng làm cho bạo loạn xảy ra gay gắt hơn và nền kinh tế cànglâm vào khó khăn hơn Thậm chí, ngay cả khi trợ cấp được khôi phục lại thì cũngkhó có thể hàn gắn lại được như trước
4.4 Các nước Đông Á đã vượt qua khủng hoảng như thế nào?
4.4.1 Thành công của Malaysia, Trung Quốc
Thành công của Malaysia có được là do: (1) Mặc dù tỷ lệ nợ khó đòi cao
nhưng ngân hàng trung ương đã có những quy định chặt chẽ đảm bảo các ngânhàng trích đủ dự phòng rủi ro Những quy định chặt chẽ này đã giúp các ngân hàngtránh được rủi ro biến động tỷ giá và hạn chế tỉ lệ nợ nước ngoài của các doanhnghiệp mà ngân hàng cho vay (2) Khi khủng hoảng khu vực biến thành khủnghoảng toàn cầu và thị trường tài chính đóng băng, chính phủ Mahathir đã có địnhđồng ringgit (3.8 ringgit=USD), giảm lãi suất và ra sắc lệnh rút tất cả các nguồntiền tệ gửi ở nước ngoài Chính phủ cũng áp đặt giới hạn chặt chẽ trong chuyển vốnđầu tư nước ngoài ra khỏi Malaysia trong vòng 12 tháng Những gải pháp này đượcthông báo là ngắn hạn và được chuẩn bị chu đáo để làm rõ rằng nước này không hềngăn cản đầu tư nước ngoài dài hạn Những ai đã đầu tư tiền vào Malaysia có lợinhuận được chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Điều này, đã giúp họ tránh được nhiềurủi ro do dòng vốn chảy vào hoặc ra đã được kiểm soát Hơn nữa, kiểm soát vốn đã
Trang 19giúp cho họ hạ lãi suất dẫn tới là ít doanh nghiệp bị phá sản, tiền quỹ dùng để cứucác doanh nghiệp cũng ít hơn nên chính phủ cũng ít phải vay nợ hơn.
Thành công của Trung Quốc là do: (1) khi gặp suy thoái kinh tế, chính phủ
đã thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô mở rộng thay vì là thu hẹp như cảnh báo củaIMF Điều này đã giúp họ tăng trưởng kinh tế mạnh hơn và tạo ra nhiều cơ hội lớncho đầu tư công cộng với tỷ suất lợi nhuận cao (2) Trong khi quyết định kinh tế,
họ đã quan tâm tới mối quan hệ ổn định vĩ mô và kinh tế vi mô và tiếp tục tái cơcấu khu vực doanh nghiệp và tài chính, đồng thời xem xét kĩ mối quan hệ giữa kinh
tế với ổn định chính trị xã hội Và những điều trên, cộng hưởng lại đã giúp TrungQuốc vượt qua khủng hoảng một cách nhanh chóng
4.4.2 Bức tranh tương phản giữa Hàn Quốc và Thái Lan:
Trong khi Thái Lan tuân thủ hoàn toàn vào phương thuốc của IMF thì Hàn
Quốc đã đi theo phương thức ngược lại Chính phủ Hàn Quốc cũng như Malaysia
đã đóng vai trò chủ động hơn trong tái cơ cấu doanh nghiệp, họ giữ tỉ giá thấp thay
vì để tăng lên nhằm tích luỹ dự trữ ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và hạn chế nhậpkhẩu Và điều này đã giúp cho Hàn Quốc phục hồi nhanh hơn nhiều so với TháiLan
4.5 Chiến lược thay thế:
Trước tiên, để thoát khỏi khủng hoảng đòi hỏi cần giữ nền kinh tế ở mứctoàn dụng lao động nhất có thể Để đạt được nó cần duy trì chính sách tài khoá vàtiền tệ mở rộng Tiếp theo là phải tái cơ cấu tài chính nhưng với mục tiêu là duy trìdòng vốn, tạm dừng thanh toán các khoản nợ Trong tái cơ cấu doanh nghiệp cầnmột điều khoản phá sản đặc biệt nhằm giải quyết nhanh những khó khăn do biếnđộng kinh tế vĩ mô lớn hơn mức thông thường Bên cạnh đó, chính phủ cần phảican thiệp mạnh mẽ để tập trung tái cơ cấu tài chính, thiết lập quan hệ sở hữu rõràng để làm cho các doanh nghiệp tham gia trở lại thị trường tín dụng, tận dụng cơ