1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa

34 2K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 304,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả và chất lượng trong dạy học là một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Việc lựa chọn một phương pháp dạy học phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Xu thế toàn cầu hoá đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến mô hình dạy học của nước ta, đặt ngành giáo dục và đào tạo nước ta đứng trước những thử thách và những cơ hội mới, từ đó đã khẳng định dần vai trò của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động giáo dục.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao hiệu quả và chất lượng trong dạy học là một vấn đề được

xã hội đặc biệt quan tâm Việc lựa chọn một phương pháp dạy học phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Xu thế toàn cầu hoá đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến mô hình dạy học của nước ta, đặt ngành giáo dục và đào tạo nước ta đứng trước những thử thách và những cơ hội mới, từ đó đã khẳng định dần vai trò của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động giáo dục

Trong mấy chục năm qua, ngành giáo dục đã thực hiện nhiều cuộc cải cách và chấn hưng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có phẩm chất và trí tuệ phục vụ công cuộc xây dựng đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để đạt được mục tiêu đề ra, cần tập trung đề cập đến việc chỉnh sửa nội dung, chương trình và đặc biệt chú trọng đến phương pháp giảng dạy để người học có thể tiếp thu và lĩnh hội được lượng kiến thức cần thiết phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, của

xã hội cũng như trong khu vực và trên thế giới

Vậy làm thế nào để người học có thể tiếp cận và lĩnh hội nhanh, có hiệu quả được lượng kiến thức trọng tâm trong một kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Đây không chỉ là câu hỏi tự mỗi người học phải đặt ra mà về phía người dạy, phải luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm cách để đưa ra được một phương pháp giảng dạy giúp người học có thể lĩnh hội được một lượng tri thức lớn nhất trong một thời gian nhất định đối với mỗi môn học Đó chính là phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên, nó có quan hệ mật thiết và biện chứng, tác động chi phối đối với chủ thể là người học Có thể nói, cùng một lượng kiến thức như nhau, nhưng phương pháp giảng dạy cũng như cách

Trang 2

cho khả năng tiếp thu, độ nhanh nhạy trong quá trình nhận thức cũng như hiệu quả của một tiết học, bài học, môn học đến với người học là khác nhau.

Trong lý luận dạy học, đã có nhiều phương pháp dạy học được đưa

ra trong đó có các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại, được tất cả các giáo viên trong ngành vận dụng để giảng dạy, xong với nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn, giúp người học có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức buộc mỗi giáo viên phải biết vận dụng những phương pháp đó một cách linh hoạt, sáng tạo đối với từng đối tượng người học, với từng môn học, với từng cấp học và bậc học

Sử dụng phương pháp dạy học thích hợp với từng đối tượng người học không chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức mà phải trang bị cho người học khả năng khám phá và nghiên cứu để phát triển năng lực trí tuệ thông qua hoạt động tự lực của bản thân Một trong những phương pháp dạy học theo quan điểm điều khiển học đang được quan tâm đó là phương pháp dạy học chương trình hoá (programmed teaching method) Phương pháp dạy học chương trình hoá lấy người học làm trung tâm nhưng vẫn

có vai trò trực tiếp của người dạy Bài học chương trình hoá giúp cá biệt hoá hoạt động học theo nhu cầu và khả năng của người học, qua đó phát huy được tính tích cực, tự lực trong học tập của từng sinh viên Sự phân hoá về năng lực của từng sinh viên tạo điều kiện cho sinh viên yếu, trung bình, nắm bắt được nội dung tối thiểu của bài học, còn sinh viên khá, giỏi

có thể nâng cao khả năng tự học hỏi và nghiên cứu sau này

Phương pháp dạy học chương trình hoá được phát triển từ những năm 50 của thế kỷ trước và đã được ứng dụng vào giảng dạy ở nhiều nơi

trên thế giới như Mỹ, Liên Xô, Ấn Độ,… với các loại phương tiện khác

nhau Đặc biệt, với sự phổ cập của máy tính cá nhân, việc tổ chức các bài học chương trình hóa trở nên dễ dàng và ít tốn kém Do vậy, nhiều tổ chức đào tạo trên thế giới đã sử dụng nó trong các bài giảng, nhất là các bài học để tự học

Trang 3

Phương pháp dạy học chương trình hóa có hai ưu điểm chủ yếu là:

− Thể hiện được quan điểm đặt trọng tâm của quá trình dạy học vào người học và cá biệt hóa quá trình dạy học theo trình độ và năng lực của từng sinh viên do vậy phát huy được tính tích cực và chủ động của họ trong học tập

− Điểm thứ hai dễ nhận thấy hơn là từng cá nhân người học có thể tiếp thu kiến thức với lượng thời gian khác nhau, theo các diễn tiến khác nhau tùy vào kiến thức có sẵn, vào khả năng, tốc độ học tập của riêng họ cũng như phương tiện hiện đại mà họ có

Trước đây ở Việt Nam, phương pháp dạy học chương trình hóa được

đề cập khá nhiều và cũng đã có khá nhiều người cố gắng áp dụng nó nhưng có lẽ do số lượng người nắm vững nguyên lý của dạy học chương trình hóa, đồng thời biết kỹ thuật để xây dựng các bài học đạt được các tiêu chí của nó chưa nhiều nên các bài học ở dạng này hầu như chưa được

Trang 4

đại công nghệ tri thức, thời đại mà việc sử dụng máy tính điện tử là rất phổ dụng trong mọi hoạt động học tập.

Ngày nay, một trong những thành công của giáo dục hiện đại là áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình dạy học Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đang là vấn đề có tính thời sự Việc thiết kế bài học chương trình hoá trong dạy học có tác dụng lớn đến sự kích thích hứng thú học tập cho sinh viên, góp phần nâng cao khả năng tự cập nhật, bổ sung kiến thức thường xuyên, liên tục và mang lại hiệu quả đáng kể cho người học

Xuất phát từ những nhận định trên và với mong muốn thử nghiệm sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của máy tính điện tử cùng các phương tiện hiện đại khác nhằm tổ chức bài học chương trình hoá với mục đích cá biệt hoá quá trình học của từng sinh viên, tôi

lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học chương

trình hóa trong các môn Tin học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động nhận thức của sinh viên.”

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy một số bài học của môn Cơ sở lập trình … được xây dựng trên cơ sở phương pháp dạy học CTH

4 Giả thuyết khoa học

Trang 5

Nếu nghiên cứu, vận dụng phù hợp phương pháp dạy học chương trình hoá thì sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực học tập của sinh viên

và qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi xác định các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học CTH và việc phát huy tính tích cực, tự lực học tập của sinh viên

5.2 Nghiên cứu việc xây dựng bài học sử dụng phương pháp chương trình học đối với môn học: Cơ sở lập trình

5.3 Rút ra nhận xét và kết luận trên cơ sở góp ý, đánh giá của Tổ bộ môn và nhà trường Từ đó làm căn cứ cho việc phát triển và vận dụng phương pháp giảng dạy trong tổ bộ môn sau này

6 Phạm vi nghiên cứu

Thiết kế bài học chương trình hoá cho một số bài học của môn học

Cơ sở lập trình

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

7.1 Nghiên cứu lý luận về:

7.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học: Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học

7.1.2 Phương pháp dạy học chương trình hoá

7.2 Vận dụng lý luận để xây dựng một số bài học của môn học: Cơ

sở lập trình

7.3 Kiểm định tại tổ bộ môn để đánh giá tính khả thi của phương pháp dạy học CTH cho các môn Tin học

Trang 6

KẾT LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP CỦA ĐỀ TÀI.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

PHỤ LỤC.

Trang 7

− Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin.

1.1.2 Bản chất của quá trình dạy.

− Dạy là hoạt động tổ chức, hướng dẫn và định hướng hoạt động học theo mục tiêu dạy học, nhằm chỉ đạo, tổ chức việc lĩnh hội nội dung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho người học

− Dạy học là một chức năng xã hội, với mục đích truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm của xã hội thành phẩm chất năng lực của cá nhân

− Dạy học là dạy hành động: hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức Do đó trong dạy học, người dạy cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của sinh viên để qua đó sinh viên chiếm lĩnh được tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách

Trang 8

− Theo quan điểm thông tin, dạy là phát thông tin giúp người học thực hiện quá trình thu nhận thông tin một cách có hiệu quả.

1.1.3 Mối quan hệ của hoạt động dạy và hoạt động học.

− Quá trình dạy học là quá trình thống nhất bao gồm quá trình dạy và quá trình học, là hệ thống tác động lẫn nhau giữa giáo viên và sinh viên Trong hệ thống đó mỗi chủ thể tác động lẫn nhau có chức năng và vai trò của mình

− Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức: mục đích của dạy học là giúp cho người học lĩnh hội được tri thức của nhân loại

− Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý: dạy học phải đi trước, thúc đẩy sự phát triển của các chức năng tâm lý như ý chí, động cơ, thái độ học tập; cơ chế của hoạt động nhận thức; phát triển và hoàn thiện nhân cách

− Quá trình dạy học là một quá trình xã hội: sự tương tác giữa người với người; nội dung dạy học là tri thức của loài người; mục đích học tập do xã hội đề ra

Như vậy, ta có thể hiểu hoạt động dạy - học là sự luân phiên theo những quy luật của hoạt động nhận thức Nó mang tính hai chiều và luôn phải có sự tác động qua lại giữa người dạy và người học; sự tác động qua lại này được diễn ra trong những điều kiện xác định, bao gồm: chương trình, nội dung, tài liệu, giảng dạy, tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ…

Bản chất của hoạt động dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định tới hành vi và quá trình học tập của người học, tạo ra môi trường và điều kiện để duy trì việc học, kiểm soát quá trình và kết quả học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập Dạy học chính là cơ cấu và quy trình tác động đến người học và quá trình học

Trang 9

1.2 Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm là cơ

sở để đổi mới PPDH

Dạy học tập trung vào người học (learner centred teaching) là một tư tưởng, một xu thế, một trào lưu đang được đề cập khá sâu rộng trong lý luận cũng như trong thực tiễn của giáo dục hiện nay ở các nhà trường Việt Nam Cách tiếp cận này hoàn toàn đối lập với cách tiếp cận truyền thống dạy học tập trung vào người dạy

Trong xu thế gần đây, mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm đang trở thành tư tưởng chủ đạo cho sự đổi mới nền giáo dục truyền thống đã lỗi thời và kém hiệu quả, thực chất đó là dạy học vì sinh viên và được thực hiện bởi sinh viên hay nói một cách khác, sinh viên là mục đích và là chủ thể của quá trình dạy học Với cách dạy học lấy người học làm trung tâm sẽ có một kiểu phương pháp dạy học (PPDH) mới được hình thành để khắc phục những hạn chế, yếu kém của PPDH lấy người dạy làm trung tâm

Bản chất của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm:

Về phương diện vĩ mô:

− Con người từ hệ thống giáo dục quốc dân tạo ra sản phẩm phải đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của xã hội

− Phải chú ý đầy đủ lợi ích, đặc điểm của người học để phát triển toàn diện, phải làm cho sinh viên thấy được học tập là niềm vui, là hạnh phúc

Về phương diện vi mô:

− Việc dạy học phải xuất phát từ người học

− Phải để cho sinh viên hoạt động nhiều trong học tập

− Khuyến khích sinh viên tự do trong tư duy

− Để cho sinh viên tự kiểm tra đánh giá

Trang 10

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm là yêu cầu cấp bách trong thời đại ngày nay nhằm phát huy tính tích cực của người học, đề cao vai trò tự học của người học kết hợp với sự hướng dẫn của người dạy Theo quan điểm dạy học này, quá trình giáo dục không chỉ làm thay đổi cách giảng dạy của người thầy, mà còn thay đổi tiến trình tổ chức dạy học Quá trình dạy học ứng dụng công nghệ dạy học, phương tiện kỹ thuật trong dạy học, do đó khắc phục được nhược điểm của các phương pháp cũ, tạo ra chất lượng mới cho giáo dục – đào tạo

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học: theo quan điểm này nhận thức quá trình dạy học gồm hai chủ thể thầy và trò, cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực hoạt động hướng tới tri thức Thầy truyền đạt tri thức, trò chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của chính mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Hoạt động của thầy và trò đều là hoạt động có ý thức, dưới sự chỉ huy của ý thức để đạt được mục tiêu của mình Sự kết hợp hài hoà phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò sẽ cho hiệu quả thực sự của quá trình dạy học

1.2.1 Tính tích cực và những biểu hiện của tính tích cực của sinh viên trong học tập.

− Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có và cần có của con người trong đời sống xã hội

− Việc hình thành và phát triển TTC là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể coi TTC như là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

Đặc điểm của tính tích cực: Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại và phát triển

Trang 11

của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá ở mỗi thời đại Hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem TTC như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách của quá trình giáo dục TTC thể hiện ở hai mặt: tự phát và tự giác

− Tính tích cực tự phát là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của mỗi người Chúng ta cần nuôi dưỡng, coi trọng và phát triển chúng trong quá trình dạy học

− Tính tích cực tự giác là trạng thái tâm lý tích cực, có mục đích và đối tượng rõ rệt, thể hiện ở tính chủ động trong quan sát, nhận xét, phân tích và chiếm lĩnh đối tượng

Tính tích cực trong hoạt động học thể hiện ở:

− Óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học

− Sự độc lập trong việc tiếp nhận và giải quyết các nhiệm vụ học tập

− Tích cực trong hoạt động nhận thức: chủ động trong quá trình phát hiện, tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

− Có khát vọng hiểu biết, nỗ lực trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

− Tính tích cực trong hoạt động học còn thể hiện ở sự hứng thú trong việc nghiên cứu tri thức mới, sẵn sàng của tư duy, sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức

− Tính tích cực nẩy sinh trong quá trình học tập, nhưng nó lại là hậu quả của nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân xuất phát trong quá

Trang 12

trình học tập, có những nguyên nhân được hình thành trong quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách

− Quyết tâm vượt khó trong quá trình học tập, tự giác tham gia vào các hoạt động học, chủ động trao đổi với nhau và với giáo viên, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà thường hay phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích những vấn đề chưa đủ rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn

− Khi đạt tới một trình độ nhất định, việc học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học

Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp đến cao:

− Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của giáo viên

− Tìm tòi: độc lập giải quyết những vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề

− Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu ích

Tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau: hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, tính cách, sức khỏe, môi trường

Để tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên thì hứng thú là vấn

Trang 13

Để kích thích hứng thú học tập của sinh viên điều quan trọng nhất là phải nắm được khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên.

1.2.2 Tính tự lực và những biểu hiện của tính tự lực của sinh viên trong học tập.

Để đào tạo nguồn nhân lực có đủ đức, trí, thể, mỹ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngoài việc rèn luyện cho sinh viên tính tích cực trong học tập còn phải hướng sinh viên đến khả năng tự lực khám phá tri thức Theo quan điểm giáo dục hiện nay, tính tự lực trong học tập được hiểu là:

− Tự học, tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hoá việc học

− Tự mình khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có, chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt

− Người học tự mình trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách nghĩ của mình, từ đó tiếp thu được kiến thức mới, kĩ năng mới, bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

− Ngoài ra, người học còn tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng

Trang 14

CHƯƠNG 2.

2.1 Phương pháp dạy học chương trình hoá và sự phát huy tính tích cực, tự lực học tập của sinh viên.

2.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học CTH:

Vào đầu những năm năm mươi, khi các máy móc điện tử phát triển

và phổ biến rộng rãi trong hầu hết các ngành hoạt động, các nhà giáo học pháp ở Mỹ, rồi ở Liên Xô, Ấn Độ và một số nước khác đã nghiên cứu áp dụng một hệ thống phương pháp dạy học có điều khiển theo những chương trình cài đặt sẵn trong các máy và đặt tên là phương pháp chương trình hóa

Phương pháp dạy học CTH là phương pháp dạy học nhằm điều khiển việc học tập của từng cá nhân sinh viên, đảm bảo việc tự kiểm tra thường xuyên quá trình học tập, trợ giúp khả năng hoạt động độc lập, tích cực của người học

Phương pháp dạy học CTH đặt trọng tâm của quá trình dạy học vào người học và cá biệt hóa quá trình dạy học theo trình độ và năng lực của từng sinh viên Với phương pháp này, từng cá nhân sinh viên có thể tiếp thu kiến thức với lượng thời gian khác nhau cũng như theo các diễn tiến khác nhau tùy vào kiến thức có sẵn và khả năng, tốc độ học tập của riêng mình

Mục tiêu quan trọng nhất của phương pháp dạy học CTH là nhanh chóng phản hồi thông tin về mức độ tiếp thu kiến thức của người học để lấy đó làm cơ sở điều khiển quá trình học một cách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng

2.1.2 Nhìn nhận phương pháp dạy học chương trình hoá theo quan điểm điều khiển học.

Trang 15

Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật đã dẫn tới việc mọi người đang tích cực vận dụng những tư tưởng điều khiển học vào công tác giáo dục Theo quan điểm điều khiển học thì dạy học CTH là một hệ điều khiển mà đối tượng điều khiển chính là con người Hay nói

Cũng theo quan điểm điều khiển học thì phương pháp dạy học cổ truyền có nhược điểm sau: Không điều khiển tốt được quá trình nhận thức của từng cá nhân sinh viên riêng biệt mà phải theo số đông sinh viên, nên không có những điều chỉnh kịp thời và cần thiết nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng sinh viên, đó là một quá trình điều khiển kém cả về hai mặt:

− Không gian: sự kiểm tra và phản ứng của giáo viên không bao quát được đồng thời từng đối tượng sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của từng sinh viên

− Và thời gian: Sự kiểm tra và phản ứng của giáo viên chậm hơn

những thay đổi kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của từng sinh viên

Giáo viên

Lựa chọn

Nội dung

Mục đích dạy học

Mục đích dạy học

Sinh viên trước khi học

Sinh viên trước khi học sau khi họcSinh viên

Sinh viên sau khi học Liên hệ ngược bên ngoài

Trang 16

2.1.3 Bản chất, đặc điểm, nội dung và yêu cầu của phương pháp dạy học chương trình hoá.

trình hóa trong dạy học tương tự như chương trình máy tính: tài liệu nghiên cứu được chuyển tới sinh viên dưới dạng một trình tự lôgic chặt chẽ các yếu tố thông tin Quá trình dạy học được xem như một hệ gồm:

giáo viên, sinh viên và môi trường Dạy học CTH là điều khiển hệ thông

qua sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm thực hiện chức năng truyền thụ kiến thức khoa học của xã hội loài người cho sinh viên Trong

đó quá trình dạy học được tổ chức sao cho:

 Giúp sinh viên tránh được sai lầm

 Sự sai sót của sinh viên trong quá trình học tập phải được sinh viên và giáo viên biết rõ và khắc phục kịp thời

trình hóa là kỹ thuật dạy học được đề xuất đầu tiên bởi nhà tâm lý học hành vi B.F Skinner vào năm 1958 Theo Skinner, mục đích của dạy học CTH là điều khiển người học dưới những điều kiện quản lý [44 - Ellington Henrry, How to Design Programmed Learning Materials] Phương pháp này có một số đặc điểm sau đây:

 Mục đích dạy - học chung và từng phần được xác định rõ ràng, cụ thể Những bước công việc được sắp xếp hợp lí nhất, thuận tiện nhất, theo con đường ngắn nhất để giải quyết từng nhiệm vụ nhằm đạt tới mục đích đề ra

 Nội dung dạy học được chia thành từng liều học Sau mỗi liều, sinh viên phải trả lời các câu hỏi kiểm tra Sau khi trả lời, sinh viên biết được mình trả lời đúng hay sai, tiếp theo mới chuyển sang liều khác (luôn đảm bảo mối liên hệ ngược bên trong)

 Việc học tập theo các liều học tiến hành nhanh hay chậm là tùy theo năng lực của người học (khả năng cá biệt hóa người học)

Trang 17

 Liều học tiếp theo phụ thuộc vào kết quả trả lời câu hỏi trước

đó (luôn đảm bảo mối liên hệ ngược bên ngoài)

 Mối liên hệ hai chiều giữa thầy và trò được xác lập và duy trì thường xuyên đảm bảo cho quá trình dạy học được điều khiển và điều chỉnh sát với mục tiêu của hoạt động theo chương trình

 Sử dụng hệ thống thiết bị dạy - học điện tử

Quá trình dạy học CTH có thể được biểu diễn theo sơ đồ mã hóa như sau:

: Thông báo nguyên tố kiến thức (là phần thông tin hoàn chỉnh về mặt lôgic) cho sinh viên

: Câu hỏi kiểm tra kiến thức vừa thông báo hay kỹ năng có liên

quan, người học (sinh viên) trả lời cho người dạy (có thể là giáo viên,

cũng có thể là tài liệu học tập được biên soạn chuyên biệt hay máy dạy học - máy tính)

: Người dạy nghiên cứu câu trả lời của người học và quyết định quá trình hướng dẫn tiếp theo Người học được thông báo về câu trả lời của mình hoặc được thông báo về sự đúng sai của câu trả lời này (quá trình kiểm tra và tự kiểm tra)

Cứ mỗi lần người học thực hiện xong ba khâu như vậy người ta gọi

Ngày đăng: 27/05/2015, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2.2: Sơ đồ biểu diễn một liều học - Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa
Sơ đồ 1.2.2 Sơ đồ biểu diễn một liều học (Trang 17)
Sơ đồ 1.2.4 biểu diễn cách thức tổ chức và hoạt động của bài học  dạng tuyến tính. ( Hình       biểu diễn 1 liều học, hình       biểu diễn phần  câu hỏi kiểm tra của liều học tương ứng.) - Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa
Sơ đồ 1.2.4 biểu diễn cách thức tổ chức và hoạt động của bài học dạng tuyến tính. ( Hình biểu diễn 1 liều học, hình biểu diễn phần câu hỏi kiểm tra của liều học tương ứng.) (Trang 20)
Sơ đồ này và các sơ đồ tiếp theo nữa các ký hiệu rẽ nhánh được giản lược - Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa
Sơ đồ n ày và các sơ đồ tiếp theo nữa các ký hiệu rẽ nhánh được giản lược (Trang 21)
Sơ đồ 1.2.7. Bài học chương trình hóa tổng quát với các kiểu phân nhánh khác nhau - Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa
Sơ đồ 1.2.7. Bài học chương trình hóa tổng quát với các kiểu phân nhánh khác nhau (Trang 22)
Sơ đồ 1.2.7 trình bày các dạng biến thể khác của quy trình học tập - Phương pháp dạy học Chương Trình Hóa
Sơ đồ 1.2.7 trình bày các dạng biến thể khác của quy trình học tập (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w