I. Mục đích của Đề tàiNghiên cứu các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình, để có thể đề xuất giải pháp xử lý và bảo vệ công trình hiệu quả, làm giảm thiệt hại và mức độ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống nhân dân.II. Kết quả dự kiến đạt đượcQua đề tài xác định được các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình trong điều kiện thiên tai trượt lở đất. Bước đầu đề xuất được biện pháp xử lý và bảo vệ nhằm đảm bảo an toàn, ổn định công trình, giảm tiểu thiệt hại, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống nhân dân và đối với một số công trình ở tỉnh Quảng Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
-
NGUYỄN HỮU NĂM
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT Ở TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Trường đại học Thuỷ lợi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Nghiên cứu các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình điều kiện thiên tai trượt lở đất đá ở Quảng Nam” Được hoàn thành tại Khoa Công Trình
và Phòng Đào tạo Đại học & Sau đại học - Trường Đại Học Thuỷ Lợi Hà Nội
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nghiêm Hữu Hạnh đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tác giả hoàn thành luận văn này Xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Công Trình - Trường Đại Học Thuỷ Lợi và Viện Thuỷ Điện & Năng Lượng Tái Tạo - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Việt Nam đã cung cấp tài liệu và số liệu cho luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan đơn vị và các cá nhân nói trên đã chia sẻ những khó khăn, truyền bá kiến thức, tại điều kiện thuận lợi cho tôi học tập
và hoàn thành luận văn này
Tác giả có được kết quả ngày hôm nay chính là nhờ sự chỉ bảo ân cần của các thầy cô giáo, cùng sự động viên cổ vũ nhiệt tình của cơ quan, gia đình và bạn bè đồng nghiệp trong thời gian qua Một lần nữa tác giả xin ghi nhớ tất cả các đóng góp to lớn đó
Với thời gian và trình độ có hạn, luận văn không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp chân tình của Quý Thầy Cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà nội, tháng 12 năm 2010
Tác giả
NGUYỄN HỮU NĂM
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ 9
1.1 THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM9 1.1.1 Tình hình trượt lở đất đá trên thế giới 9
1.1.2 Thiên tai trượt lở đất đá ở nước ta 14
1.1.2.1 Tỉnh Nghệ An 16
1.1.2.2 Tỉnh Hà Tĩnh 17
1.1.2.3 Tỉnh Quảng Bình 18
1.1.2.4 Tỉnh Quảng Trị 20
1.1.2.5 Tỉnh Thừa Thiên - Huế 21
1.1.2.6 Tỉnh Quảng Ngãi 23
1.1.2.7 Tỉnh Bình Định 24
1.1.2.8 Tỉnh Phú Yên 25
1.1.2.9 Tỉnh Khánh Hòa 25
1.1.2.10 Tỉnh Ninh Thuận 26
1.1.2.11 Tỉnh Bình Thuận 26
1.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÒNG CHỐNG TRƯỢT LỞ 27
1.2.1 Công trình cắt, chặn và thoát nước 28
1.2.2 Công trình chống trượt 30
1.2.3 Giảm trọng lượng và công trình phản áp 32
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ TRƯỢT LỞ ĐẤT 33
2.1 Nguyên lý cơ bản công trình quản lý giảm trọng lượng và công trình phản áp 33
2.1.1 Giảm trọng lượng 34
2.1.2 Phản áp 35
2.2 Nguyên lý cơ bản công trình thoát nước 36
2.2.1 Công trình thoát nước mặt 36
2.2.2 Công trình thoát nước ngầm 38
2.3 Nguyên lý cơ bản công trình chống đỡ 42
2.3.1 Tường chắn đất chống trượt 43
2.3.2 Cọc chống trượt 45
Trang 52.3.2.1 Ưu điểm của cọc chống trượt 46
2.3.2.2 Loại hình cọc chống trượt 47
2.3.2.3 Hình thức phá hoại của cọc chống trượt 48
2.3.2.4 Nguyên lý tính toán thiết kế cọc chống trượt 49
2.3.2.5 Nguyên lý cơ bản về thiết kế, tính toán cọc chống trượt cáp neo dự ứng lực và khung giá cáp neo dự ứng lực 51
2.4 Cải tạo đất đá của thể trượt 52
2.4.1 Nổ mìn làm tơi đá 52
2.4.2 Nung đốt ủ đất trong thể trượt 52
2.4.3 Phụt vữa thể trượt 52
2.4.4 Cọc cát đá vôi 53
2.4.5 Cọc phụt vữa xoáy ốc 53
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐỐI VỚI MỘT SỐ CÔNG TRÌNH Ở TỈNH QUẢNG NAM 56
3.1 TRƯỢT LỞ ĐẤT Ở MỘT SỐ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG, GIAO THÔNG, THUỶ LỢI - THUỶ ĐIỆN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NAM 56
3.2 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN TRƯỢT Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU 60
3.2.1 Độ dốc của sườn dốc 62
3.2.2 Giảm độ bền của đất đá 63
3.2.3 Tác động của lực thuỷ tĩnh, thuỷ động 66
3.2.4 Sự thay đổi trạng thái ứng suất ở sườn dốc do giỡ tải 68
3.2.5 Sự gia tải trên sườn dốc 69
3.3 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHO MỘT SỐ KHỐI TRƯỢT ĐIỂN HÌNH Ở VÙNG NÚI TỈNH QUẢNG NAM 71
3.3.1 Một số điểm trượt ở Quảng Nam 71
3.3.2 Kiểm toán ổn định trượt 74
3.3.3 Nghiên cứu đề xuất giải pháp xử lý cho một số điểm cụ thể 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
4.1 KẾT LUẬN 86
4.2 KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Một số thảm họa do trượt xảy ra trong thế kỷ 20 10
Bảng 2.1: Quan hệ giữa áp suất khí quyển với cao độ mực nước biển 42
Bảng 2.2: Bảng giải pháp xử lý trượt mái 53
Bảng 2.3: Phân loại giải pháp phòng chống xử lý trượt mái 55
Bảng 3.1: Sự biến đổi độ ổn định của sườn tuỳ theo độ dốc 62
Bảng 3.2: Chỉ tiêu đất đá tại MC1 71
Bảng 3.3: Các chỉ tiêu cơ lý đất đá MC2 72
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu cơ lý đất đá MC3 72
Bảng 3.5: Các chỉ tiêu cơ lý đất đá MC4 73
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu cơ lý đất đá MC5 73
Bảng 3.7: Các nhóm giải pháp xử lý trượt lở 85
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Trượt ở bờ hồ chứa nước Vaiont (Italia) 13
Hình 1.2 Trượt Reventado, Ecuado, 1987 14
Hình 1.3 Trượt Hurricane Mitch ở Honduras, 1998 14
Hình 1.4 Trượt tại mỏ đá D3, thủy điện Bản Vẽ 16
Hình 1.5 Trượt lở tại núi Dũng Quyết thành phố Vinh 16
Hình 1.6 Trượt lở đường do trận lũ ngày 27/5/2009 tại Nghệ An 17
Hình 1.7 Trượt lở quốc lộ 8A năm 2002 đã được xử lý 18
Hình 1.8 Trượt lở ở mỏ đá Rú Mốc 18
Hình 1.9 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Hương Hóa, Quảng Trạch 19
Hình 1.10 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Lâm Hóa, Quảng Trạch 19
Hình 1.11 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Hóa Thanh, Minh Hóa 19
Hình 1.12 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Hóa Hợp, Minh Hóa 19
Hình 1.13 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Tà Long, Triệu Phong 19
Hình 1.14 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Lâm Hóa, Quảng Trạch 19
Hình 1.15 Trượt lở đường Hồ Chí Minh trong mùa mưa 2008 21
Hình 1.16 Lở đá gần cầu Đắkrông 21
Hình 1.17 Trượt lở nghiêm trọng trên tuyến đường HCM 22
Hình 1.18 Trượt lở nghiêm trọng trên tuyến đường HCM tại huyện A Lưới 22
Hình 1.19 Trượt lở tại K51+200 trên tuyến đường Trà Bồng - Tây Trà (2008) 23
Hình 1.20 Trượt núi tại Km44+450 núi Tây Trà (2007) 23
Hình 1.21 Điểm trượt tại K40+700 ở xã Trà Lâm (2008) 23
Hình 1.22 Đất đá đè lên nhà dân ở huyện Sơn Tây 23
Trang 7Hình 1.23 Người dân thôn Vàng xã Trà Trung sống dưới chân núi Sà Lác 24
Hình 1.24 Vết nứt ở núi Sà Lác 24
Hình 1.25 Xử lý trượt lở trên Đèo Cả 25
Hình 1.26 Trượt lở tại K24+500 đường tỉnh lộ tại Ninh Thuận 26
Hình 1.27 Trượt lở đồi cát ở Bình Thuận 27
Hình 1.28 Gia cố cửa hầm phụ Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam 31
Hình 1.29 Gia cố cửa hầm ra Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam 31
Hình 1.30 Mái đào đập P1 Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam 32
Hình 1.31 Mái đào đập C1 Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam 32
Hình 2.1 Công trình giảm trọng lượng và phản áp 33
Hình 2.2 Công trình phản áp 36
Hình 2.3 Rãnh ngầm cắt nước 38
Hình 2.4 Hầm (cống) ngầm cắt nước 39
Hình 2.5 Sơ đồ thoát nước bằng xi phông 41
Hình 2.6 Tường chắn đất chống trượt 43
Hình 2.7 Công trình tường chắn 45
Hình 2.8 Công trình cọc chống trượt 46
Hình 2.9 Các loại cọc chống trượt 48
Hình 3.1 Trượt lở tại xã Za Hưng huyện Hiên 56
Hình 3.2 Trượt lở tại Khâm Đức, Phước Sơn(A) và Ca Dy , Thạch Mỹ (B) 57
Hình 3.3 Trượt tại núi Đầu Voi xã An Tiên, huyện Tiên Phước 57
Hình 3.4 Trượt mỏng taluy đường tại xã Cà Dy huyện Thạch Mỹ 59
Hình 3.5 Trượt mỏng taluy đường tại xã Ma Cooi huyện Hiên 60
Hình 3.6 Trượt mỏng taluy đường tại xã Khâm Đức huyện Phước Sơn 60
Hình 3.7 Ổn định mái dốc taluy đường khi chưa xử lý MC1 75
Hình 3.8 Giảm tải mái dốc MC1 75
Hình 3.9 Chèn neo thường MC1 76
Hình 3.10 Tường chắn trọng lực: MC1, K=1.401 76
Hình 3.11 MC2 khi chưa có giải pháp xử lý, K=0,975 77
Hình 3.12 MC2 khi có giải pháp xử lý, K=1.408 78
Hình 3.13 MC5 khi chưa có giải pháp xử lý, K=0.935 79
Hình 3.14 MC3 khi có giải pháp xử lý K=1,412 80
Hình 3.15 Giảm tải mái dốc, rải lưới thép kết hợp phun vữa bêt tông và cắm neo K=1,587 81
Hình 3.16 MC5 khi chưa có giải pháp xử lý K=0,973 82
Hình 3.17 MC5 khi có giải pháp xử lý K=1,417 83
Trang 8MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của Đề tài
Vùng duyên hải miền Trung Việt Nam gồm 13 tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, phía đông là Biển Đông, phía Tây là dải Trường Sơn Dải Trường Sơn kéo dài từ thượng nguồn sông Cả đến cực Nam Trung bộ, bao gồm các dãy núi trùng điệp xếp thành hình cung lớn hướng ra phía biển Đông Đèo Hải Vân và núi Bạch
Mã chia dải Trường Sơn thành Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam Dãy Trường Sơn càng về phía Nam càng tiến sát ra bờ biển, tạo nên dạng địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Vùng duyên hải miền Trung có địa hình bị chia cắt mạnh, điều kiện địa chất phức tạp, mạng lưới sông suối dày đặc, điều kiện khí hậu, thủy văn rất phức tạp và diễn biến bất thường
Miền Trung Việt Nam có thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa thường kéo dài với cường độ mưa lớn Hàng năm số lượng cơn bão đổ bộ vào miền Trung chiếm số lượng lớn gây ra mưa lớn kéo dài sau bão Mưa lớn kết hợp với điều kiện địa hình, địa chất không thuận lợi tạo lên những nguyên nhân gây ra hiện tượng trượt lở đất trong khu vực ảnh hưởng đến an toàn các công trình hiện hữu
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có tọa
độ địa lý khoảng 108026’16” đến 108044’04” độ kinh đông và từ 15023’38” đến
15038’43” độ vĩ bắc Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Sêkông của nước CHDCND Lào Và nó cũng chịu ảnh hưởng rất nặng
nề về thiên tai trượt lở đất trong thời gian qua
Ở nước ta, việc nghiên cứu thiên tai trượt lở đất đã bắt đầu được quan tâm một cách đúng mức trong vài năm gần đây Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về trượt lở đất và giải pháp còn chưa nhiều và chưa đáp ứng với tầm vóc của vấn đề
Nghiên cứu các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình trong điều kiện thiên tai trượt lở đất đảm bảo an toàn cho người dân và các điều kiện làm việc của các công
Trang 9trình hiện hữu mang tính thực tiễn và mang tính khoa học cao, đặc biệt là trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay
Do vậy đề tài “Nghiên cứu các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình trong điều kiện thiên tai trượt lở đất ở tỉnh Quảng Nam” mang tính khoa học và thực tế cao
II Mục đích của Đề tài
Nghiên cứu các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình, để có thể đề xuất giải pháp xử lý và bảo vệ công trình hiệu quả, làm giảm thiệt hại và mức độ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống nhân dân
III Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu ứng dụng lý luận với kết quả thực nghiệm Tập trung nghiên cứu
và tính toán cho một số điểm trượt lở đất điển hình ở tỉnh Quảng Nam
IV Kết quả dự kiến đạt được
Qua đề tài xác định được các giải pháp xử lý và bảo vệ công trình trong điều kiện thiên tai trượt lở đất Bước đầu đề xuất được biện pháp xử lý và bảo vệ nhằm đảm bảo an toàn, ổn định công trình, giảm tiểu thiệt hại, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống nhân dân và đối với một số công trình ở tỉnh Quảng Nam
V Nội dung của Luận văn
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ ĐẤT
1.1 Thiên tai trượt lở đất trên thế giới và ở Việt Nam
1.2 Các giải pháp xử lý thiên tai trượt lở đất
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ TRƯỢT LỞ ĐẤT
2.1 Nguyên lý cơ bản công trình quản lý giảm trọng lượng và phản áp 2.2 Nguyên lý cơ bản công trình thoát nước
2.3 Nguyên lý cơ bản công trình chống đỡ
2.4 Nguyên lý cơ bản cải tạo đất đá của thể trượt
Trang 10CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐỐI VỚI MỘT SỐ CÔNG TRÌNH Ở TỈNH QUẢNG NAM
3.1 Trượt lở đất ở một số công trình xây dựng, giao thông, thuỷ lợi – thuỷ điện, dân sinh kinh tế xã hội ở tỉnh Quảng Nam
3.2 Phân tích một số nguyên nhân gây ở Quảng Nam
3.3 Nghiên cứu một số giải pháp xử lý cho một số khối trượt điển hình ở vùng núi tỉnh Quảng Nam
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI TRƯỢT LỞ ĐẤT VÀ CÁC GIẢI
ta vẫn còn thảo luận rất nhiều về cách phân loại các hình thức dịch chuyển đó Điều kiện để phân loại các quá trình dịch chuyển bờ dốc là xét đến kiểu dịch chuyển, thành phần đất đá, tốc độ dịch chuyển, hình thái vùng tích tụ, tuổi, nguyên nhân, mức độ phá hủy của khối trượt, mối liên quan của hình thái trượt với cấu trúc địa chất, sự phát triển khối trượt, vị trí địa lý của các khối trượt điển hình, mức độ hoạt động của nó
Các khối trượt gây ảnh hưởng đáng kể tới các hoạt động kinh tế xã hội Theo thống kê, ở Hoa Kỳ, thiệt hại do thiên tai trượt lở xếp vào loại thư hai sau động đất, trên lũ lụt Hàng năm, tai biến trượt lở gây tác động phá hủy trên cả 50 Bang, thiệt hại 3,5 tỷ đồng, làm chết trung bình 25-50 người Tại Italia, trong thế kỷ 20, lũ và trượt lở đã làm chết và mất tích khoảng 10.000 người, riêng 20 năm cuối của thế kỷ
20 đã có khoảng 300 người chết và mất tích Tại Trung Quốc, hàng năm có khoảng 1.000 vụ trượt lở, gây thiệt hại hàng tỷ Nhân dân tệ, riêng năm 2002, trượt lở đã làm cho 853 người chết, 109 người mất tích, 1797 người bị thương tích, thiệt hại về kinh
tế đến 510 trệu USD
Trong thế kỷ 20, một số thảm hoạ do trượt gây nên được liệt kê, như bảng 1-1
Trang 12Bảng 1.1: Một số thảm họa do trượt xảy ra trong thế kỷ 20
Năm Địa danh
quốc gia
Tên và loại xuất phát
quá trinh
khối lượng trượt
Tổn thất thấp vì dân cư thưa
1919 Indonesia Kalut lahars
(dòng bùn núi lửa)
Phun núi lửa Kalut
185km2 5.110 người chết,
104 làng bị phá huỷ, hư hại
Tháo nước của hồ Crater
là dòng bùn nóng phun trào
675 khối trượt trên đất hoàng thổ, tạo nên hơn
40 hồ
1921 Kazakhtan trượt dòng đá băng tan - 500 người chế Dòng đá ở thung lũng
sông Alma Atinka
1933 Sichuan
(Trung Quốc)
trượt Deixi động đất
Deixi, M=7,5
>150.106 6.800 người chết vì
trượt đất; 2.500 người chết đuối do đập hình thành bởi khối trượt bị vỡ
Động đất tạonên những khối trượt lớn; khối trượt lớn nhất tạonên một đập cao 255m trên sông Min
1939 Hyogo Nhật
Bản
trượt Mount Rokko và dòng bùn
mưa lớn - 505 người chết/mất
tích; 130.000 nhà bị phá huỷ, hư hỏng nặng
gây nên bởi bão lớn; 90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc
50-1949 Tadzhiktan trượt đá Khait Động đất
Khait M=7,5
- 12.000-20.000
người chết hoặc mất tích
Bắt đầu bằng hiệntượng trượt đá; chuyển thành dòng thác lớn đất hoàng thổ và mảnh đá granit
1953 Wakayama,
Nhật bản
trượt và dòng bùn đá sông Arita
mưa lớn - 460 người chết và
mất tích, 4.772 nhà
bị phá huỷ và hư hại nặng
gây nên bới cơn bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc
1953 Kyoto, Nhật
Bản
trượt và dòng bùn đá Minamiy- amashiro
mưa lớn 336 người chết và
mất tích, 5.122 nhà
bị phá huỷ và hư hại nặng
gây nên bới cơn bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc
Trang 131958 Shizuora,
Nhật Bản
trượt và dòng bùn đá Kanogawa
mưa lớn - 1.094 người chết và
mất tích, 19.754 nhà bị phá huỷ và
hư hại nặng
gây nên bới cơn bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc
1962 Ancash, Peru dòng thác đá
Nevados Huascaran
- 13.106 4.000-5.000 người
chết, nhiều làng mạc bị phá huỷ
dòng thác đá rời từ Nevados Huascaran với tốc độ 170km/giờ
1963
Friuli-
venezia-Griulia
trượt đá ở hồ chứa nước Vaiont
- 250.106 2.000 người chết,
thành phố Longarone bị phá huỷ năng; thiệt hai
200 tiệu USD
trượt đá với tốc độ nhanh vào lòng hồ Vaiont gây nếnóng cao 100m vượt qua đập Vaiont
1964 Alaska, Mỹ trượt Alaska
1964
động đất hoàng tử William Sound M=9,4
- thiệt hại được xác
đinh là 280 triệu USD
truwowtj lớn làm hư hại nhiều thành phố như: Anchorage, Valdez, Whittier, Seward
mưa lớn - 1.000 người chết nhiều khối trượt ở Rio
de Janero và vùng xung quanh
1967 Serra das
Ararash,
Brazil
trượt và các dòng thác đá rời
và bùn Serra das Ararash
mưa lớn - 1.700 người chết nhiều khối trượt trong
dãy núi phía Tây Nam Rio de Janero
1970 Ancash, Peru dòng thác đá
Nevados Huascaran
ddoongj đất M=7,7
30-50.106 18.000 người chết;
thị trấn Yungay bị phá huỷ, Ranrahirca hầu như bị phá huỷ hoàn toàn
thác đá từ trên núi đổ về với tốc độ đạt đến 280km/giờ
1974 Huancavelica,
Peru
trượt đá thác
đá rời Mayunmarca
mưa? xói? 1,6.109 làng Mayunmarca
bi phá hỷy, 450 người chết, phá huỷ một đập của vật liệu trượt tạo nên lũ lớn
ở hạ lưu
dòng thác đá rời có tốc
độ tới 140km/giờ, sông Mantaro bị chặn dòng
Trang 141980 Washington,
Mỹ
trượt đá và thác đá rời Mount St
Helens
phun trào của Mount
St Helens
2,8.109 trượt lớn nhất nổi
tiếng trên thế giới;
chỉ có 5-10 người chết nhưng khối lượng lớn xây dựng lại nhà, đường xá;
dòng lũ đá lớn; số người chết ít do đã được sơ tán
anSuwj sơ tán kịp thời
đã cứu dược sự sống; mới đầu chỉ là sự trượt
đá, sau đó xấu đi thành dòng thác đá rời dài 23km với tốc độ trung bình 125km/giờ; bề mặt biến thành dòng đá dài 95km
1983 Utah, Mỹ trượt đá rời
Thistle
tuyết tan và mưa lớn
21.106 phá hỏng đường sắt,
đường bộ, làm hư hại thị trấn Spanish Fork; không có người chết
toonr thaats 600 trieeuj USSD
1983 Gansu, Trung
Quoocs
trượt Selesshan
- 3,5.106 237 người chết,
chôn vùi 4 làng, lấp đầy 2 hồ chứa nước
trượt đất hoàng thổ
1985 Tolima,
Colombia
dòng đá rời Nevado del Ruiz
phun trào núi lửa Nevado del Ruiz
- phá huỷ 4 thị trấn
và làng; dòng trong thung lũng của sông Lagunillaslaays sinh mạng hơn 20.000 người trong thành phố Armero
thiệt hại về người không
kể xiết vì dự báo thiên tai không đến được người dân sở tại
động đất Bairaman M=7,1
200.106 Làng Bairaman bị
phá huỷ vì chiếc đậpdo trượt gây nên
bị thủng, sơ tán đã cứu nạn, có ảnh hưởng lớn tới cảnh quan khu vực
Dòng thác đá rời tạo nên đập cao 210m đập này tạo thành hồ chứa 50 triệu m3 Đạp bị phá huỷ, đập bị phá huỷ tạo nên dòng lũ đá sâu 100m
1987 Napo, Ecuado trượt
Reventador
núi lửa Reventador
55-110.106 1.000 người chết,
nhiều km đường ống dẫn dầu bị phá huỷ, thiệt hại1 tỷ USA
trượt chủ yếu trong đất bão hoà trên sườn dốc đứng, hàng ngàn khối trượt biến thành các dòng đá theo các phụ lưu và kênh rạch
Trang 15di rời chỗ ở
hàng nghìn khối trượt đất đá sót trên sườn dốc dựng đứng đổ xuống thành các dòng đá theo các phụ lưu và kêng rạch
Hurricane Mitch
khoảng 10.000 người chế do lũ và trượt đồng thời với dòng lũ đá do sản phẩm của núi lửa Casitas ở Nicaragua trước đó
ỏtước tiên là gió 180 dăm/giờ ở Honduras, mưa xối xả với lượng mưa 4 inche/giờ, trượt lớn ở Tegucigalpa và khắp nơi
Hình 1.1 Trượt ở bờ hồ chứa nước Vaiont (Italia)
Trang 16Hình 1.2 Trượt Reventado, Ecuado, 1987
Hình 1.3 Trượt Hurricane Mitch ở Honduras, 1998 1.1.2 Thiên tai trượt lở đất đá ở nước ta
Tại Việt Nam, vấn đề trượt lở đã được nghiên cứu từ những năm 60 của Thế
kỷ trước cho đến nay Các vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều là: trượt lở các
bờ dốc ở các mỏ khai thác khoáng sản, trượt lở các đường giao thông, trượt lở bờ sông, bờ biển, bờ hồ, trượt lở đê, đập Đặc biệt, khi lượng mưa lớn ở vùng núi đã
Trang 17tạo nên lở đất và lũ quét nhiều nới, điển hình là Sơn La, Lai Châu, Lao Cai, Điện Biên, các tỉnh Miền Trung như: Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi
Theo các báo cáo của các địa phương và các khảo sát chi tiết của Viện Địa chất, các cơ quan TW, trong một số năm gần đây đây, trượt lở đất đã hơn mười lần xảy ra lớn gây rung động dư luận cả nước:
- Năm 1990: Trượt lở và lũ quét phá huỷ hoàn toàn phần thấp thị xã Lai Châu Thị xã Lai Châu phải di chuyển
- Năm 1991: Trượt lở và lũ quét phá huỷ hoàn toàn phần hạ lưu thị xã Sơn La
- Năm 1992: Trượt lở tong một đêm vùi lấp trên 50 người ở Cao Bằng
- Năm 1994: Trượt lở đất phá huỷ nhiều nhà cửa ở huyện lỵ Mường Lay, 11 người chết, 23 người bị thương
- Năm 1995 - 1999: Trượt lở cướp đi hàng nghìn héc ta đất và nhà cửa dọc sông Cửu Long, Sông Hồng, các sông miền Trung, bờ biển miền Trung Việt Nam Hàng chục nghìn hộ dân cư phải di chuyển
- Năm 1996: Trượt lở đất đá xảy ra trên diện rộng ở các huyện phía Bắc tỉnh Lai Châu, gây kinh hoàng và thảm hoạ cho nhân dân trong khu vực 106 người chết,
26 người bị thương Gần 1 vạn người mất nhà ở Hơn 500 ha ruộng bị đất đá vùi lấp Đường giao thông, mạng thông tin bị phá huỷ hoàn toàn (thiệt hại ước tính 50
tỷ đồng) Huyện lỵ huyện Mường Lay phải di chuyển
- Năm 1999: Mưa lũ lớn ở miền Trung gây trượt lở trên diện rộng ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Nghãi, Bình Định Gần 40 người
bị đất đá vùi lấp Hàng trăm gia đình phải di chuyển Riêng Quảng Ngãi có 3.400ha ruộng bị đất đá cát sỏi có nguồn gốc trượt lở vùi lấp dày trung bình 1m Giao thông Bắc Nam (đường sắt, đường bộ bị trượt lở cắt đứt nhiều ngày
Trong 16 năm, kể từ năm 1990 đến năm 2005 lở đất và lũ quét đã pha huỷ 13.280 ngôi nhà, làm hư hại nặng khoảng 115.000 ngôi nhà, 988 người thiệt mạng và mất tích, 628 người bị thương, 180.000 ha hoa màu bị phá huỷ, nhiều cầu cống, đường
sá, công trình thuỷ lợi bị hư hỏng nặng
Trang 18Một số vụ trượt lở ghi nhận được trong những năm gần đây ở khu vực duyên hải miền trung như sau:
1.1.2.1 Tỉnh Nghệ An
- Trượt lở núi đất đá Ngày 06/5/2007, tại xóm Tân Lập, xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, 3 người chết, 2 người bị thương nặng
- Trượt lở núi Miệu (xã Nam Giang, Nam Đàn) ngày 05/8/2007, một người chết
- Trượt tại mỏ đá D3 thuộc khu vực công trường xây dựng Thủy điện Bản Vẽ (xã Yên Na, huyện Tương Dương), ngày 15/12/2007 Hàng triệu mét khối đất đá bất ngờ đổ sập xuống hai tổ thợ khai thác đá 18 người thiệt mạng
Hình 1.4 Trượt tại mỏ đá D3, thủy
- Trượt lở núi Dũng, thành phố Vinh ngày 15/1/2008, một người chết Ngày
3/11/2008, tại núi này lại xảy ra trượt lở hàng trăm mét khối đất đá đã sập xuống sát cạnh nhà ở của các hộ dân Rất may là vụ sạt lở đất diễn ra vào ban ngày nên không
có thiệt hại về người
- Trượt lở đường nghiêm trọng tại một số tuyến đương thuộc huyện Tương Dương
do một cơn mưa lớn kèm theo lũ quét vào tối 26 tháng 5 năm 2009
Trang 19Hình 1.6 Trượt lở đường do trận lũ ngày 27/5/2009 tại Nghệ An
1.1.2.2 Tỉnh Hà Tĩnh
- Lũ lớn tháng 9/2002, làm hơn 220 km đường giao thông bị sạt lở và chìm sâu trong lũ khiến hệ thống giao thông trong tỉnh, đặc biệt là tại các huyện Hương Sơn, Hương Khê bị tê liệt hoàn toàn
- Tháng 9/2003, tại huyện Hương Sơn mưa to đã gây sạt lở nhiều vị trí trên quốc lộ 8A Đặc biệt tại Km 78 và Km81+500 đất sạt lở mạnh, gây ách tắc giao thông Trong mùa mưa 2003-2004 tại Hương Trạch Hương Khê cũng xảy ra trượt lở một
số vị trí trên đường Hồ Chí Minh
- Trong trận mưa lũ tháng 8 năm 2007, trên địa bàn Hà Tĩnh, quốc lộ 8A đã bị sạt lở mái ta-luy dương tại Km 23-28 và Km 62-85 tổng khối lượng bị sạt lở ước tính trên 1.000 m3, quốc lộ 8B bị sạt lở mái ta-luy và rãnh dọc nhiều đoạn ước tính trên 300 m3; lề đường bị xói trôi sâu từ 20-30 cm, ước tính khoảng trên 2.000 m2, quốc lộ
15 sạt lở mái ta-luy dương tại Km 404 + 978 và Km 405 + 035; khối lượng đất, đá sạt lở ước tính gần 2.000 m3; lề đường bị xói trôi nhiều đoạn sâu từ 40-50 cm
Trang 20Hình 1.7 Trượt lở quốc lộ 8A năm 2002 đã được xử lý
- Trượt ở mỏ đá Rú Mốc (Thạch Lĩnh, Thạch Hà) tháng 12 năm2007, có ít nhất 8 người bị vùi lấp trong khối đá khổng lồ
Hình 1.8 Trượt lở ở mỏ đá Rú Mốc
1.1.2.3 Tỉnh Quảng Bình
- Trong mùa mưa lũ năm 2002-2003, trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại địa bàn các huyện Quảng Trạch, Hương Hóa, Hóa Thanh, Hòa Tiến, Hòa Hợp, Thuận Hóa, Xuân Trạch đã xảy ra nhiều vụ trượt lở, tổng khối lượng trượt lên tới vài chục ngàn mét khối, gây ách tắc hoàn toàn giao thông
Trang 21Hình 1.9 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí
Minh tại xã Hương Hóa, Quảng Trạch
Hình 1.10 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Lâm Hóa, Quảng Trạch
Hình 1.11 Trượt trên tuyến đường Hồ
Chí Minh tại xã Hóa Thanh, Minh Hóa
Hình 1.12 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Hóa Hợp, Minh Hóa
Hình 1.13 Trượt trên tuyến đường Hồ
Chí Minh tại xã Tà Long, Triệu Phong
Hình 1.14 Trượt trên tuyến đường Hồ Chí Minh tại xã Lâm Hóa, Quảng Trạch
Trang 22- Ở khu di sản Phong Nha-Kẻ Bàng, tại khu núi đá thuộc thôn Xuân Tiến, xã Sơn Trạch, Sở Tài nguyên & Môi trường Quảng Bình đã khảo sát, đo đạc để xác định và khoanh vùng khu vực có nguy cơ xảy ra lở đá Kết quả đo đạc cho thấy, ở đang có
13 tảng đá có nguy cơ tách khỏi vách núi Trong đó, có 3 tảng (mỗi tảng chừng 50m3) đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm và có thể rơi xuống bất cứ lúc nào nếu không có biện pháp xử lý khẩn cấp
45 Đoạn đèo Đá Đẽo 45 Tây Gát dài 9km thuộc xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã ghi nhận 04 điểm trượt lở taluy dương quy mô lớn, từ 1.000 đến hơn 100.000m3 tại các vị trí: Km 518, Km 517+300, Km 515+800 và Km 514+600
- Đoạn Bắc đèo U Bò dài 29 km thuộc địa phận xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã ghi nhận 01 điểm trượt tại Km 30 quy mô rất lớn, 2 điểm trượt tại các điểm Km 40+700 và Km 46+100, gần 30 điểm trượt, đổ lở quy mô vừa và nhỏ
- Đoạn đèo Khu Đăng dài 10km thuộc địa phận xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã ghi nhận 03 điểm trượt có quy mô rất lớn, tới 350.000m3, trên đoạn Km 117 - 118 có nguy cơ tiếp tục trượt các khối tương tự
1.1.2.4 Tỉnh Quảng Trị
- Lở đá chắn tại tuyến đường Hồ Chí Minh vào mùa mưa (tháng 10) năm 2004.Một khối đá khổng lồ từ trên núi cao rơi xuống chắn ngang đường, sát ngay mố phía Nam của cầu treo Đắkrông, thuộc xã Đắkrông, huyện Đắkrông Theo Công ty Quản
lý và Sửa chữa đường bộ Quảng Trị, khối lượng đất đá đổ xuống tại điểm trên hơn 1.000 m3, trong đó tảng đá to nhất khoảng 400m3 (hơn 7x7x8 m)
- Sụt lún, lở đất ở huyện Cam Lộ: năm 1993 sụt lún tại Bệnh viện huyện Cam Lộ cũ (sau đó đã phải di dời bệnh viện này); năm 1994 một sụt lún khác diễn ra tại thôn Hậu Viên, huyện Cam Lộ Tháng 2 năm 2006 sụt lún đất ở thôn Tân Hiệp, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ gây ảnh hưởng trên một vùng đất rộng khoảng nửa cây số vuông, trên đó có 122 hộ dân sinh sống Số hố sụp là 16; hàng chục căn nhà bị nứt, sập tường
Trang 23- Trượt lở trầm trọng trên tuyến đường Hồ Chí Minh đên 2004: Đoạn đèo Cổng Trời dài 31km thuộc địa phận các xã Ngân Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình và Hướng Lập, huyện Hương Hoá, tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận 15 điểm trượt quy mô vừa đến lớn tại Cầu Khỉ - Km 152, Km 154+800, Km 161, Bản Mới - Km 170 Đoạn đèo Sa Mùi dài 22km thuộc địa phận các xã Hướng Phùng, huyện Hương Hoá, tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận 13 điểm trượt quy mô nhỏ và vừa, 03 điểm trượt quy mô lớn đến rất lớn tại Km 185+600 và Km 266+200 Tại các điểm này còn có nguy cơ xảy ra hai khối trượt quy mô 60.000 - 80.000m3 và 35.000 - 45.000m3
1.1.2.5 Tỉnh Thừa Thiên - Huế
Trượt lở nghiêm trọng tại đoạn đèo Hai Hầm dài trên 25 km thuộc địa phận xã A Roằng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Đã ghi nhận 28 điểm trượt, trong đó có
24 điểm lớn và rất lớn, cụ thể là:
• Trên đèo A Nam, phía Bắc Đèo Hai Hầm: tại Km 372+400;
• Trên đèo Hai Hầm: tại Km 382, Km 384,55, Km 384+650, Km 384+700, Km
Trang 24385+170, Km 385+470, Km 385+895, Km 386+763, Km 388+300, Km 388+160, Km388+672, Km388+861, Km 390, Km 391, Km 391+664, Km 394+935, Km 395+603, Km 398+100, Km 398+500, Km 399+583, Km 400+640, Km411+800,
Km 402, Km 403+270, Km 403+500, (Km415+850), Km 416+140
Hình 1.17 Trượt lở nghiêm trọng trên tuyến đường HCM
Hình 1.18 Trượt lở nghiêm trọng trên tuyến đường HCM tại huyện A Lưới
Trang 251.1.2.6 Tỉnh Quảng Ngãi
- Hàng nghìn mét khối đất đá đổ ập từ vách núi xuống đường tại km67+ 900 trên đèo Viôlắc, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) gây tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng trên quốc lộ 24A 22/2
- Trượt lở núi Tây Trà tại Km54 tỉnh lộ từ Trà Bồng đi Tây Trà chiều 5/11/2007 Bảy công nhân bưu điện bị vùi lấp Trong các trận mưa kéo dài tháng 10/2008, trượt lở núi nghiêm trọng làm nhiều tuyến đường giao thông bị hư hại nặng Tại km 51+200 thuộc thôn Trà Lãnh (huyện Tây Trà) trên tuyến đường Trà Bồng - Tây Trà
đã bị sạt lở nặng, gây ách tắt giao thông Trượt lở núi cũng xảy ra tại Km67+ 500 trên tuyến tỉnh lộ 623 thuộc địa phận xã Sơn Dung, huyện miền núi Sơn Tây
Hình 1.19 Trượt lở tại K51+200 trên
tuyến đường Trà Bồng - Tây Trà (2008)
Hình 1.20 Trượt núi tại Km44+450 núi Tây Trà (2007)
- Trượt lở núi nghiêm trọng ngày 27/11/2008, tại km 40+700 thuộc địa phận Suối Nước Nâu, xã Trà Lâm, huyện Trà Bồng 3 giáo viên bị vùi lấp
Hình 1.21 Điểm trượt tại K40+700
ở xã Trà Lâm (2008)
Hình 1.22 Đất đá đè lên nhà dân ở
huyện Sơn Tây
Trang 26- Trượt lở, nứt đất núi Sà Lác tại thôn Vàng, xã Trà Trung, huyện Tây Trà 2007 đe dọa 32 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu Các vết nứt càng rộng, nhiều đoạn đất sụt
hẳn xuống gần nửa mét Nứt đất cũng xảy ra tại núi Cà Bót, thôn Trà Lạc, xã Trà
Lâm, Trà Bồng (tháng 10 năm 2008), vết nứt kéo dài hơn 70m, có nơi rộng hơn 1m, Nguy cơ trượt lở núi là rất cao
Hình 1.23 Người dân thôn Vàng xã
Trà Trung sống dưới chân núi Sà Lác
Trang 27Đến trưa 21/12, đoàn xe bị ùn tắc giữa hai đầu của đèo Cả đã kéo dài hơn 30km
1.1.2.9 Tỉnh Khánh Hòa
- Trượt lở núi tại xã Sơn Thái, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa, trên đường Khánh Lê – Lâm Đồng, cách TP Nha Trang khoảng 70 km về phía Tây Tai nạn xảy ra đêm 14, rạng ngày 15/12 /2005 Do mưa lớn, một mảng núi, ước chừng 100.000m3 đã đổ ập xuống phủ kín mặt đường, vùi sâu hơn 7 m một lán trại công nhân, 9 công nhân đã thiệt mạng Hầu hết đoạn đường từ km 43 đến km 53 + 1150 cũng bị đất đá vùi lấp Đến 9h25 ngày 16/12, tại km 48 + 479 của đường này lại xảy ra sạt lở mái ta luy dương Toàn bộ 1 trạm trộn bê tông nhựa, 2 xe rùa, 2 xe lu, 1 máy xúc lật, 2 máy phát điện, 100 tấn nhựa đường, 20 tấn dầu diezen đã bị đất đá phủ lấp Các công nhân ở đây đã kịp sơ tán an toàn
Trang 28- Sạt lở tại Đèo Cả Khoảng 9h15 phút sáng 24/11/2007, tại km 1368 trên Đèo Cả, thuộc địa phận tỉnh Khánh Hoà đã xảy ra ra tình trạng sạt lở, khối lượng đất đá bị sạt lở lên đến 200m3, gây ách tắc giao thông Trong đợt mưa lũ năm 2007, tại vị trí này và trên 10 vị trí khác đã xảy ra sạt lở
1.1.2.10 Tỉnh Ninh Thuận
- Nứt núi tại đỉnh Ma Nai cao khoảng 1000m so với mực nước biển Vết nứt xuất phát từ giữa ngọn núi, kéo xuống gần mép suối Lở, có chiều dài chừng 1000 mét, rộng khoảng 2 mét, sâu độ 2,5 mét Theo dân địa phương, vào tháng 10.1964, tại vùng núi này có một đợt mưa lớn kéo dài 7 ngày, 7 đêm và đã xảy ra hiện tượng lở đất rất lớn, cuốn trôi 2 gia đình
Hình 1.26 Trượt lở tại K24+500 đường tỉnh lộ tại Ninh Thuận
1.1.2.11 Tỉnh Bình Thuận
- Sạt lở đồi cát Đồi cát bị xói hình thành các mương xói Các mương xói khi chảy ra biển thì trở thành con lạch nhỏ rộng khoảng 5m, trong chứa đầy cát bùn nhão màu đỏ dày khoảng 2m, gây nguy hiểm vào mùa mưa khi con người vô tình bước xuống
Theo số liệu báo cáo của UBND thành phố Phan Thiết, mức độ thiệt hại trên toàn xã Tiến Thành một số năm gần đây là:
- Năm 2004: làm 3 người chết, 1 người bị thương, hỏng 1 nhà, cát bồi lấp trên 33 căn nhà và cát làm ngập hơn 400m đường giao thông ĐT716
- Đầu năm 2005: 1 người bị thương, một căn nhà bị hỏng hoàn toàn, 52 căn nhà bị cát bồi lấp, sập một cống hộp qua đường 709 và làm ngập hơn 200m đường giao thông ĐT716 Ước tính thiệt hại ban đầu là hơn 300 triệu đồng
Trang 29Cát đỏ sạt lở từ các phễu chảy xuống tràn cả vào vườn, nhà người dân gây bồi lấp ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân, cản trở giao thông
Hình 1.27 Trượt lở đồi cát ở Bình Thuận Thực tế nêu trên cho thấy mức độ trượt lở ở các tỉnh miền Trung và đặc biệt ở vùng Bắc Trung Bộ là rất nghiêm trọng, cần có những giải pháp xử lý thích hợp
1.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÒNG CHỐNG TRƯỢT LỞ
Từ những thiệt hại do trượt lở gây nên, thấy rằng: Tác hại trượt lở đã liên quan đến các lĩnh vực kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân Do lượng của chúng lớn và phân bố rộng, phát sinh nhiều, tổn thất về kinh tế có thể vượt quá lũ lụt và động đất Chẳng qua chúng không có tính tập trung như lũ lụt và động đất mà thôi
Ngoài vấn đề kinh tế ra, thiệt hại trượt lở lại có ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội như trượt lở đã phá hoại nhà máy và hầm mỏ, không những gây tổn thất về kinh
tế mà còn tồn tại vấn đề sắp xếp, bố trí việc làm cho công nhân và an sinh xã hội Một khi tồn tại nguy cơ trượt lở, dân cư, nhà máy, công xưởng hoặc phải di dời đi nơi khác hoặc phải huỷ bỏ Con người khi không biết lúc nào xảy ra trượt lở thì sẽ gây ra bao nhiêu tác hại và phạm vi bị tác hại, về tâm lý luôn ở trạng thái bất an, lo lắng sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt
Trang 30Vì vậy, việc phòng chống thiên tai trượt lở mang một ý nghĩa chính trị, kinh
tế và ý nghĩa xã hội một cách rõ rệt Có thể nói phòng chống, giảm nhẹ tác hại chính
là sự đảm bảo và đẩy mạnh sự phát triển kinh tế quốc dân
Một số giải pháp xử lý trên thế giới và Việt Nam đã áp dụng được giới thiệu như sau: 1.2.1 Công trình cắt, chặn và thoát nước
- Rãnh ngầm cắt nước và hầm ngầm (cống ngầm) cắt nước
Tại Trung Quốc hầm ngầm cắt nước xây dựng vào thập niên 50 của thế kỷ 20, thân hầm đặt tại mặt trượt động trở xuống Đỉnh hầm gần sát với giải trượt động, khi bọc vỏ hầm phải bóc đến giải trượt động để nước ngầm ở phía trên giải trượt chảy vào hầm và chảy thoát đi, như vậy hiệu quả thoát nước tuy tốt nhưng đá ở cạnh giải trượt bị vỡ vụn, nước ngầm nhiều quá thường xảy ra sạt sập hầm, gây khó khăn cho thi công
Sau thập niên 60, đặt đỉnh hầm ngầm cách giải trượt trở xuống 2~3m trong tầng
đá ổn định, thi công tiện lợi, dùng 2 phương thức cắt nước: một là khoan lỗ xiên dài 10~20m ở 2 biên và đỉnh hầm trở lên, xuyên qua giải trượt động để dẫn nước ngầm vào hầm và thoát ra Đường kính và mức độ bố trí lỗ khoan căn cứ vào tính toán thủy văn để xác định, thường dùng đường kính lỗ khoan 80~100mm, khoảng cách 5~10m Hai là khi chiều dày thể trượt không lớn lắm thì từ mặt đất dọc theo trục hầm khoan calỗ thẳng đứng hình thành quần thể lỗ tạo màng cắt nước, dẫn nước ngầm trong các tầng vào hầm và thoát ra
- Thoát nước liên hợp giữa quần thể lỗ khoan xiên và giếng khoan
Một số nước như Mỹ, Nhật từ thập niên 30~40 thế kỷ 20 đã bắt đầu dùng quần thể lỗ xiên để xử lý trượt, do trên mặt đất dùng máy móc thi công, tốc độ nhanh, giá thành rẻ hơn rãnh ngầm hoặc hầm ngầm, chỉ bằng 1/3~1/4 giá thành công trình rãnh ngầm hoặc hầm ngầm, do đó được ứng dụng rộng rãi Tại Nhật Bản thập niên 80, khối trượt Phú Sơn đã khoan 8400m dài các lỗ khoan xiên Trung Quốc thập niên 60~70 thế kỷ 20, đã bắt đầu ứng dụng kỹ thuật thoát nước bằng lỗ khoan xiên, cùng với sự ra đời máy khoan chiều nằm ngang do trong nước sản xuất, đến thập niên 80~90 được ứng dụng rộng rái trong xử lý trượt đường sắt và đường giao thông, đường cao tốc
Trang 31Hướng lỗ xiên phải song song với hướng trượt chính của mái trượt nhằm tránh bị
xô lệch đứt gẫy khi mái bị trượt, nói chung đường kính lỗ khoan xiên thường là 100~150mm, trong lỗ đặt ống nhựa polime có lỗ lọc nước, đường kính 50~70mm
để thoát nước, chiều sâu khoan 30~40m, nếu quá lớn lỗ khoan bị nghiêng lệch, ống
sẽ bị vênh cong, khó điều chỉnh, hiệu quả thoát nước kém đi Đầu thập niên 90 thế
kỷ 20, tại trượt Mô Lạc tuyến đường sắt Thành Côn đã khoan lỗ xiên sâu 104m, khoảng cách từ 5-10m/hố, lượng thoát nước ngày 68 tấn, hạ thấp mực nước ngầm xuống được 4m Là 1 công trình xử lý trượt vĩnh cửu, vấn đề chính của lỗ xiên là chống tắc nghẽn, kéo dài tuổi thọ Theo kinh nghiệm nước ngoài thì trong đất sét tuổi thọ 5~6 năm, trong các lợi đất khác thường 8~10 năm Muốn duy trì hiệu quả thoát nước sau 1 vài năm phải rửa ống (dùng nước áp lực cao hoặc khí nén) hoặc khoan lỗ khoan khác Khi nước ngầm ở quá sâu trong lòng đất hoặc nước ngầm ở rất nhiều tầng khác nhau, việc dùng quần thể lỗ xiên có khó khăn Tuy nhiên, tại Nhật Bản người ta đã dùng kết hợp giữa giếng tập trung nước với lỗ khoan xiên để nối lại với nhau Tức là, trên thân trượt đào một số giếng đứng đường kính 3,5m, trong giếng khoan lỗ tập trung nước hình rẻ quạt, các giếng dùng lỗ khoan liên kết lại với nhau, để thoát nước ra khỏi lăng thể trượt, giếng sâu khoản 20m, đáy giếng nên ở địa tầng ổn định từ mặt trượt trở xuống Trong trường hợp mái trượt có tốc độ dịch chuyển nhanh, để không cho giếng bị đứt gẫy thì mới đầu đặc đáy giếng ở trên mặt trượt, đợi mặt trượt ổn định, rồi mới tăng thêm chiều sâu sâu vào địa tầng ổn định Năm 2000, tại điểm trượt Giang Du tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc cũng dùng phương pháp thoát nước liên hợp giữa giếng và lỗ khoan để xử lý thành ống
- Bơm nước quần thể giếng và thoát nước lỗ thẳng đứng:
Thập niên 60 thế kỷ 20, khi xây dựng tuyến đường sắt Thành Côn Trung Quốc, căn cứ vào điều kiện địa chất của nhà ga Cam Lạc nằm trên trượt cổ đã vùi lấp dòng sông, để đảm bảo trượt ổn định, sau khi viền mép trước được đào bóc đi một lượng nhỏ, qua thí nghiệm quan trắc đã dùng phương án thoát nước bằng quần thể lỗ đứng tại phía trước của mái trượt và đã hạ thấp mực nước ngầm trong thân mái trượt, nâng cao cường độ đất trong thể và độ ổn định của mái trượt Năm 1967 thi công và hoàn thành cho đến nay đã hơn 30 năm, khối trượt cổ vẫn đảm bảo ổn định
Trang 32- Thoát nước bằng xi phông:
Từ thập niên 80 thế kỷ 20 trở lại đây, nước Pháp đã ứng dụng thoát nước xi phông vào việc xử lý 100 điểm trượt lở Đã từng có sự cố trượt đường giao thông,
do mực nước ngầm chỉ thấp hơn mặt đường 2m, làm nứt mặt đường, nền đường bị biến dạng, trên nền đường đã khoan 30 lỗ đứng tập trung nước, dùng ống xi phông
để thoát nước, hạ thấp mực nước ngầm đến 8m (thấp hơn mặt trượt) do đó đã ổn định mái trượt
Phân viện Tây Bắc thuộc viện nghiên cứu khoa học bộ đường sắt Trung Quốc từ năm 1995~1997 đã nghiên cứu kỹ thuật ứng dụng thoát nước bằng xi phông để hạ thấp mực nước ngầm của mái dốc Và đã ứng dụng thử nghiệm tại điểm trượt Km
93 đường sắt Tương Linh và điểm trượt nền đường sắt Thành Dư tại Km 492 đạt hiệu quả khá tốt
1.2.2 Công trình chống trượt
Công trình chắn chống trượt gồm tường chắn chống trượt, cọc chống trượt, cọc chống có cáp neo dự ứng lực, khung hoặc dầm cáp neo dự ứng lực v v
Tường chắn đất chống trượt thường dùng cho trượt loại vừa và nhỏ, đôi khi dùng
ở trượt loại lớn Với tường chắn đất loại lớn đỉnh tường rộng 4~6m Vì việc đào móng tường khó khăn nên đã từng làm tường chắn chống trượt dạng giếng chìm, cọc chống trượt Ở Nhật Bản người ta đã dùng cọc thép trong lỗ khoan đường kính 40cm đặt ống thép đường kính 38.5cm có chiều dày 2~4cm hoặc trong ống thép đó
có thể đặt thêm thanh thép hình chữ H, sau đó phụt vữa bê tông Khoảng cách cọc
từ 2~2,5m, tại đầu cọc có đài cọc bằng bê tông cốt thép, liên kết thành 1 tổng thể, và chúng được gọi là cọc thép Căn cứ theo yêu cầu cọc thép có thể bố trí 1 hàng dãy, 2 hàng hoặc 3 hàng Do loại cọc này tiết diện nhỏ, năng lực chống uốn kém, chủ yếu
là lợi dụng cường độ cao của vật liệu thép để tăng lực chống cắt của mặt trượt Ở
Mỹ và Liên Xô cũ thường dùng cọc khoan nhồi bằng bê tông cốt thép đường kính Ф0,8~1,2m, đầu cọc cũng dùng đài cọc bằng bê tông cốt thép hoặc dầm bê tông cốt thép liên kết lại với nhau Vào giữa thập niên 60 thế kỷ 20, phân viện Tây Bắc thuộc viện nghiên cứu khoa học Bộ đường sắt cùng các ngành thiết kế đường sắt khác của Trung Quốc đã cùng nhau trong xây dựng đường sắt Thành Côn, nghiên cứu thành
Trang 33công cọc chống trượt bằng bê tông cốt thép trong hố đào tiết diện lớn để xử lý trượt
lở Do chúng có năng lực chống trượt lớn, ảnh hưởng ít đến tính ổn định của mái trượt, thi công an toàn, hiệu quả nhanh nên được ứng dụng rộng rãi Nó không những có thể xử lý được trượt loại vừa và loại lớn, mà còn hầu như thay thế được tường chắn đất chống trượt Tiết diện cọc từ 2m x 3m phát triển đến 3m x 4m, 3.5m
x 5.5m và 3.5m x 7m, cọc dài từ 20~30m phát triển đến 40~50m Ngoài phương pháp chỉ có 1 hàng cọc ra, người ta còn phát triển loại cọc bằng khung sườn, tường cọc dạng ghế tựa và đã nghiên cứu về chịu lực và mô thức biến dạng của các loại cọc Do cọc kiểu công xôn, trạng thái chịu lực không hợp lý, tiết diện lớn, chôn quá sâu, giá thành cao Cùng với sự hình thành và ứng dụng kỹ thuật cáp neo dự ứng lực, thập niên 80 thế kỷ 20 Viện Tây Bắc thuộc viện khoa học bộ đường sắt Trung Quốc nghiên cứu tại đầu cọc lắp thêm 2~4 bó cáp neo dự ứng lực, neo trong tầng ổn định từ mặt trượt trở xuống Như vậy cọc đã có thêm một thành phần chịu lực, đã cải thiện nhiều về trạng thái chịu lực của cọc, giảm mô men uốn và tiết diện cọc, giảm độ chôn sâu của cọc, trong ứng dụng thực tế đã tiết kiệm 30% giá thành công trình Vì vậy cọc ngày càng được ứng dụng rộng rãi, đối với trượt loại vừa và nhỏ cũng đã ứng dụng cáp neo dự ứng lực và đạt kết quả tốt, như việc xử lý trượt tại nhiều công trình thuỷ điện, giao thông, xây dựng …
Ở Việt nam, rất nhiều các công trình xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện dùng giải pháp này
Hình 1.28 Gia cố cửa hầm phụ Công trình
thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam
Hình 1.29 Gia cố cửa hầm ra Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam
Trang 341.2.3 Giảm trọng lượng và công trình phản áp
Năm 1955 tại điểm trượt khu vực kho than thành phẩm của mỏ than Hoài Cát khu tự trị Nội Mông Trung Quốc, do tại viền mép sau của mái trượt cạnh kề có kho than, nên chỉ có thể dùng giải pháp phản áp tại viền mép trước của mái trượt để tăng
ổn định trượt mái Như điểm trượt tại Km K101 đường cao tốc Thẩm Quyến San Đầu và trượt tầng bồi tích cũ, do đào nền đường gây trượt cục bộ do trượt cổ tái phát, lúc đó khe nứt chỉ mở rộng, mái dốc không ổn định, nên bạt mái dốc thoải ra 1:2.5 để đảm bảo ổn định Ở nước ta, giải pháp giảm trọng lượng và xây dựng công trình phản áp được áp dụng rất phổ biến
Hình 1.30 Mái đào đập P1 Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam
Hình 1.31 Mái đào đập C1 Công trình thuỷ điện Sông Côn - Quảng Nam
Trang 35CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ TRƯỢT LỞ ĐẤT
Để xử lý trượt lở đất, người ta thường sử dụng các giải pháp công trình như sau :
- Công trình giảm trọng lượng và công trình phản áp
- Công trình thoát nước mặt và thoát nước ngầm
- Công trình chống đỡ
- Cải tạo đất đá của giải trượt
Các giải pháp công trình trên có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau 2.1 Nguyên lý cơ bản công trình quản lý giảm trọng lượng và công trình phản áp Giảm trọng lượng là đào bỏ 1 bộ phận đất đá thể trượt tại phía trên thể trượt đoạn trượt kéo theo và đoạn trượt chính sản sinh lực trượt xuống còn lại, để giảm bớt trọng lượng thể trượt và giảm lực đẩy của mái trượt
Phản áp là một giải pháp công trình nhằm tăng thêm lực chống trượt bằng cách đắp đất ở bên ngoài viền mép trước của thể trượt và tại đoạn chống trượt như hình 2.1 đã biểu thị, cũng tương tự như việc hệ mái đê nền đường, cũng gọi là “ép chân” Nếu có điều kiện chuyển đất đá đào để giảm trọng lượng phần trên mái trượt đun đắp vào viền mép trước của chúng, làm vật phản áp là giải pháp xử lý kinh tế và hiệu quả nhất Do
có nhiều điều kiện hạn chế, thướng khó thực hiện cùng 1 lúc giải pháp này, như do đào nền đường sắt và đường giao thông dẫn đến trượt có điều kiện giảm trọng lượng nhưng không có chỗ để làm phản áp, ngoại trừ khi buộc phải di dời tuyến đường có mặt bằng
và mái dốc dọc Trượt phát sinh ở thành phố, thị trấn và các nhà xưởng khai thác khoáng sản hầm mỏ, thường từ mép sau trở ra có các công trình quan trọng khó di dời
để làm công trình giảm bớt trọng lượng của mái trượt
Hình 2.1 Công trình giảm trọng lượng và phản áp
1 - là khối đất đá được bóc đi để giảm trọng lượng thể trượt
2 - là khối đất đá được đắp làm phản áp
Trang 362.1.1 Giảm trọng lượng
Giảm trọng lượng là đào bỏ 1 bộ phận đất đá có thể trượt tại phía trên khối trượt đoạn trượt kéo theo và đoạn trượt chính sản sinh lực trượt xuống còn lại, để giảm bớt trọng lượng khối trượt và giảm lực đẩy của mái trượt
Giảm trọng lượng là một trong những giải pháp xử lý được ứng dụng thường xuyên, chúng vừa là giải pháp ứng cứu khẩn cấp vừa là xử lý vĩnh cửu Đối với trượt giai đoạn chèn nén chuyển động chậm, giảm bớt trọng lượng ở phần trên để giảm bớt lực gây trượt, để mái trượt ở trạng thái ổn định tương đối, để tranh thủ thời gian cho khảo sát, thiết kế và thi công xử lý Nếu giảm bớt lực gây trượt, hạ góc dốc của sườn dốc có thể giảm bớt công trình chống đỡ, tiết kiệm đầu tư và tạo điều kiện
an toàn cho thi công Đối với mái trượt, mặt trượt chính có góc nghiêng tương đối dốc (lớn hơn 200) và mái trượt dạng xô lệch, hiệu quả giảm trọng lượng càng cao Kinh nghiệm thực tiễn chứng minh rằng: đối với mái trượt đã trượt động, nếu chỉ dùng giải pháp giảm trọng lượng mà không kết hợp với giải pháp thoát nước ngầm hoặc công trình chống đỡ thì không thể làm cho mái trượt ổn định lâu dài Sau một
số năm hoặc sau hàng chục năm, mái trượt vẫn bị trượt lại Nguyên nhân chính, người ta cho là khi mặt trượt đã hình thành, cường độ đất của mặt trượt đã giảm (
đã giảm đi, C có thể coi là bằng không), nếu không dùng giải pháp thoát nước ngầm, nâng cao cường độ đất giải trượt hoặc xây dựng công trình chống đỡ để tăng lực chống trượt, giảm trọng lượng chỉ có tác dụng giảm được phần nào lực gây trượt
mà không làm tăng được sức kháng cắt của đất đá Do đó khi dùng giải pháp giảm trọng lượng còn phải kết hợp với giải pháp công trình chống đỡ mới làm cho mái trượt ổn định lâu dài Vấn đề cần chú ý là giảm bớt trọng lượng ở phần trên mái trượt khác với việc đào bóc, dọn dẹp tại viền mép trước của mái trượt Giảm trọng lượng sẽ giảm được lực gây trượt, giảm tốc độ trượt, còn đào bóc ở viền mép trước là làm yếu
đi lực chống trượt của mái trượt, thường càng làm cho mái trượt mở rộng ra
Căn cứ vào điều kiện địa hình, địa chất và mục đích cần đạt được để quyết định khối lượng đất đá bóc đi; nghĩa là phải thông qua tính toán ổn định và tính lực gây trượt để quyết định, sao cho hệ số ổn định tổng thể của mái trượt FS lớn hơn 1 Hệ
Trang 37số ổn định được tính theo phương pháp truyền lực đẩy theo từng mảnh như hình 2.1
đã biểu thị:
) cos(
tan ) sin(
tan cos sin
1 1
1 1
n n n
n n n n
n n n n n n n
S
E
E l C W
Wn – trọng lượng thể trượt đoạn chống trượt (KN/m)
αn – góc nghiêng mặt trượt đoạn chống trượt (0)
Φn – góc ma sát trong đất của giải trượt đoạn chống trượt (0)
Cn – lực dính kết của đất giải trượt đoạn chống trượt (KPa_
Ln – chiều dài mặt trượt đoạn chống trượt (m)
En-1 – lực trượt xuống còn lại từ các mảnh trượt của mái trượt truyền đến đoạn chống trượt (KN/m)
αn-1 – góc nghiêng mặt trượt tại đoạn n-1 (0)
Khối lượng và hình dạng mặt cắt thiết kế giảm góc góc dốc của mái phải dựa trên nguyên tắc giữ được ổn định ở phần trên của mái dốc Mặt mái dốc hình thành tại khu vực xử lý cần phải có giải pháp thoát nước và phòng hộ, trồng cây xanh tạo thảm thực vật để chống xói mòn
2.1.2 Phản áp
Phản áp là một giải pháp công trình nhằm tăng thêm lực chống trượt bằng cách đắp đất ở bên ngoài viền mép trước của thể trượt và tại đoạn chống trượt Nguyên lý tác dụng phản áp tương đối đơn giản, tức là tăng lực chống trượt, để ổn định mái trượt Nguyên lý tác dụng phản áp tương đối đơn giản, tức là tăng lực chống trượt, để ổn định mái trượt, thực ra là một loại công trình chống đỡ, chúng có các yêu cầu sau đây: (1) Nếu nền phản áp là đất mềm yếu thì phải bóc bỏ (nếu lớp đất mỏng) hoặc đắp đất mới để chúng ổn định
(2) Tại nền phản áp đắp phải đắp vật liệu lọc ngược như đá dăm hoặc cuội, sỏi vải địa kỹ thuật hoặc xây dựng rãnh ngầm để thoát nước
(3) Đất đắp phải được đầm chặt để tăng độ chặt và khả năng chống trượt
(4) Khi đắp đất tại bờ suối hoặc bờ sông cần phải có giải pháp chống xói, như tường chống xói hoặc gia cố mái để đảm bảo đất đắp ổn định và có đủ năng lực chống nước lũ
Trang 38(5) Chiều cao đắp đất phản áp được xác định, tính toán kiểm tra sao cho tại đỉnh mái trượt không bị cắt trượt
Căn cứ vào điều kiện địa hình viền mép trước của mái trượt công trình phản áp
có nhiều loại hình, như nếu địa hình viền mép trước tương đối rộng, thoáng có thể dùng hình thức “đê kè” như hình 2.2.c Khi viền mép trước là dòng suối thì có thể xây cống hoặc rãnh ngầm, và đắp đất phản áp lên trên để ổn định mái trượt như hình 2.2.a Khi lòng suối tương đối rộng có thể cục bộ cải tạo lại dòng suối và tiến hành đắp phản áp tại viền mép trước của mái trượt như hình 2.2.b Đương nhiên, nếu điều kiện cho phép có thể dịch chuyển cục bộ tuyến đường và mái dốc, có khoảng trống
để tiến hành đắp phản áp cũng là cách thường được áp dụng như hình 2.2.d
Hình 2.2 Công trình phản áp (a) Khi mép trượt là dòng suối nhỏ
(b) Mép trượt thể trượt là dòng suối rộng
(c) Khi thể trượt có địa hình thuận lợi
(d) Rời cục bộ tuyến đường để xử lý phản áp
2.2 Nguyên lý cơ bản công trình thoát nước
Công trình thoát nước gồm công trình thoát nước mặt và công trình thoát nước ngầm 2.2.1 Công trình thoát nước mặt
Thoát nước mặt là cắt, thoát nước từ khu vực trượt trở lên của sườn núi không để nước ngấm vào khu vực trượt (không để thay đổi tính chất cơ lý của đất đá), không
để nước mặt làm xói mòn bề mặt mái dốc (không làm ảnh hưởng về mặt hình học mái dốc), đào rãnh để nước mưa và nước ngầm lộ ra để thoát ra khỏi khu vực trượt
Trang 39(kể cả nước mạch, nước thấm và các nguồn nước khác) giảm thiểu ảnh hưởng đối với ổn định mái trượt
Do nước là nhân tố ảnh hưởng quan trọng của phát sinh và phát triển trượt lở Nên thoát nước mặt là giải pháp dễ thực hiện hiệu quả nhanh mà bất cứ công tác phòng chống xử lý trượt lở nào cũng không thể thiếu công trình thoát nước mặt Chúng vừa là một trong những công trình xử lý vĩnh viễn vừa là 1 bộ phận công trình ứng cứu khẩn cấp
Hệ thống thoát nước mặt bao gồm rãnh cắt nước sườn núi từ khu vực trượt trở ra, rãnh thoát nước có dạng theo răng lược trong khu vực trượt và khơi thông, xây thêm rãnh tự nhiên đã có, hình thành lưới thoát nước thống nhất Rãnh cắt nước sườn núi
từ khu vực trượt trở ra, nên bố trí cách phạm vi mở rộng trượt trở ra là 5m để không cho nước làm hư hỏng rãnh nước, không cho nước tập trung ngấm chảy vào khe nứt
ở viền sau mái trượt làm tăng phạm vi trượt Kích thước rãnh phụ thuộc vào diện tích hội tụ nước, tính chất đất, độ dốc mặt đất, tình hình thảm thực vật, lượng mưa theo năm tại địa phương đó và lượng mưa rào tập trung Độ dốc chiều dọc rãnh thoát nước không nhỏ hơn 2% Tại đoạn có dốc nước nên bố trí theo bậc tam cấp và máng chảy (dốc nước) Rãnh thoát nước dạng xương cá, hướng rãnh chính nên cùng với hướng trục chính như nhau hoặc tận dụng khe rãnh suối nhỏ tự nhiên ở ngoài và bên trong mái trượt, rãnh nhánh cứ 30~40m bố trí 1 rãnh, hướng rãnh nhánh có góc kẹp với hướng trục chính 300~450 để khi có trượt không bị xô lệch và kéo đất, nước chảy vào thân trượt càng làm cho trượt tăng lên Rãnh thoát nước vượt qua khe nứt của mái trượt trước khi ổn định mái trượt nên làm thành dạng cút nối di động kiểu ghép chống lên nhau (bằng gỗ hoặc bằng bê tông cốt thép) hoặc tại đáy rãnh bố trí vải địa kỹ thuật có tính mềm dẻo, đợi cho mái trượt ổn định xong thì làm thành rãnh thoát nước có tính vĩnh cửu Để dẫn và thoát nước mạch, nước thấm, có thể dùng phương thức thoát nước bằng rãnh lộ thiên kết hợp với rãnh ngầm để dẫn vào rãnh thoát nước ở gần đó, các rãnh thiên nhiên là rãnh hình thành tự nhiên lâu đời, cần được tận dụng
Trang 402.2.2 Công trình thoát nước ngầm
Thoát nước ngầm là cắt nguồn nước bổ sung vào thân giải trượt, hạ thấp mực nước ngầm, giảm áp lực khe rỗng, nâng cao cường độ chống cắt, làm tăng tính ổn định mái trượt, do đó có thể giảm thiểu công trình chống đỡ, tiết kiệm chi phí công trình
Công trình thoát nước ngầm là một trong những công trình chủ yếu được sử dụng
để xử lý trượt lở, đặc biệt là đối với các trượt lớn có nước ngầm phát triển Theo kinh nghiệm chi phí cho các loại công trình này ít hơn so với các giải pháp khác, nhưng tác dụng rất lớncó thể hoạt động chủ yếu của chúng là cắt nguồn nước bổ sung vào thân thể trượt, hạ thấp mực nước ngầm, giảm áp lực khe rỗng, nâng cao cường độ chống cắt, làm tăng tính ổn định mái trượt, do đó có thể giảm thiểu công trình chống đỡ, tiết kiệm chi phí công trình
Căn cứ vào tình hình phân bố nước ngầm thường dùng là: rãnh ngầm cắt nước, hầm ngầm cắt nước, thoát nước bằng quần thể lỗ khoan nằm ngang, thoát nước bằng quần thể lỗ khoan đứng, bơm nước, thoát nước ống xi phông, rãnh ngầm chống đỡ v v Dưới đây sẽ giới thiệu điều kiện áp dụng và nguyên lý tác dụng
a Rãnh ngầm cắt nước và hầm ngầm (cống ngầm) cắt nước
Hình 2.3 Rãnh ngầm cắt nước (a)mặt bằng (b) mặt cắt
1 - Hướng nước ngầm chảy; 2 - đường biên trượt 3 – rãnh ngầm
4 - tường cách nước; 5 - ống thoát nước; 6 - giếng kiểm tra
Khi nước ngầm chủ yếu đến từ sườn núi ở phía trên khu vực trượt thì tại sườn núi
từ khu vực trượt trở lên theo chiều vuông góc với hướng nước ngầm, bố trí rãnh