1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhật kí tự học

24 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 381,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo bà Hằng, khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội mang trong mình những giá trị nổi bật toàn cầu bởi nơi đây, liên tục trong hơn một thiên niên kỷ là nơi giao thoa các giá trị

Trang 1

Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản thế giới

Kỳ họp thứ 34 của Ủy ban Di sản thế giới đang diễn ra tại Brasilia, thủ đô của Brazil từ 25/7 đến 3/8 39 hồ sơ đề cử được xem xét tại kỳ họp này, trong đó có 8 đề cử di sản thiên nhiên, 29 đề cử di sản văn hóa và 2 đề cử di sản hỗn hợp Ngoài ra, có 9 hồ sơ đề nghị mở rộng phạm vi và giá trị di sản (đã được công nhận trước đó)

Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long -

Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn

hóa lâu dài Ảnh: Chinhphu.vn.

Những nỗ lực của các thành viên đoàn Việt Nam đang có mặt tại Brasilia đã thuyết phục được 18 trong số 21 quốc gia thành viên Ủy ban Di sản thế giới

Theo bà Hằng, khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội mang trong mình những giá trị nổi bật toàn cầu bởi nơi đây, liên tục trong hơn một thiên niên kỷ là nơi giao thoa các giá trị nhân văn, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan hết sức độc đáo

Trang 2

Đây là trung tâm quyền lực nối tiếp nhau của Việt Nam trong hơn một nghìn năm lịch sử

và là minh chứng có một không hai về sự tiến hóa của nền văn minh dân tộc Việt Nam trong lịch sử phát triển của một nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là nơi ghi đậm dấu ấn những giá trị biểu đạt văn hóa và những sự kiện mang tầm vóc ý nghĩa toàn cầu.Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa; Tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực và các tầng di tích di vật phong phú

Rồng đá trên thềm Điện Kính Thiên - trung tâm của Hoàng thành Thăng Long Ảnh: Chinhphu.vn.

Bà Hằng cho biết, Ủy ban di sản thế giới đã công nhận khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long dựa trên 3 tiêu chí Đó là những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phươngTây (thành Vauban)… để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng Những tầng văn hóakhảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhauliên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một nghìn năm Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.Ngoài ra, di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Trang 3

Từ năm 2006, khu trung tõm Hoàng thành Thăng Long đó được bảo vệ, xếp hạng di tớch quốc gia đặc biệt và xõy dựng hồ sơ đề nghị UNESCO cụng nhận là di sản văn húa Thế giới

Hồ sơ được đăng ký từ thỏng 9/2008, đệ trỡnh UNESCO từ thỏng 1/2009, được UNESCO tiến hành cỏc quy trỡnh thẩm định chặt chẽ thụng qua cơ quan tư vấn IOCMO, và đến nay

đó được Ủy ban di sản thế giới cụng nhận di sản văn húa Thế giới

Trước Khu di tớch trung tõm Hoàng thành Thăng Long, Việt Nam đó cú 5 di sản vật thể thếgiới, gồm 3 di sản văn húa: Quần thể di tớch cố đụ Huế - 1993, Phố cổ Hội An và Thỏnh địa Mỹ Sơn - đều năm 1999) và 2 di sản thiờn nhiờn: Vịnh Hạ Long - 1994, được cụng nhận mở rộng vào năm 2000 và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - 2003

***********************************

Những ngời phụ nữ Việt Nam tiêu biểu

Ngày cập nhật: 19 / 10 /10

1.Nữ vơng đầu tiên trong lịch sử

Danh hiệu này dành cho hai chị em Trng Trắc,Trng Nhị.Mùa xuân năm 40,Hai Bà Trng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa,đánh đuổi Thái thú Tô Định,lật nhào ách đô hộ của nhà ĐôngHán và xng vơng,Nắm quyền đợc 3 năm

2.Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử

Lý Chiêu Hoàng(còn gọi là Lý Phật Kim hay Chiêu Thánh) trở thành nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt nam khi tháng11/1224,bà đợc vua cha(Lý Huệ Tông) truyền ngôi cho.Bà lên cầm quyền với niên hiệu Thiên chơng hữu đạo,đến thang 01/1226 thì nhờng lại ngôi cho chồng(Trần Cảnh),lập ra nhà Trần

3.Nữ thi sĩ tài hoa độc đáo và hài hớc nhất

Nhà thơ nữ tài hoa,độc đáo và hài hớc nhất là Hồ Xuân Hơng.Sống vào cuối thời hậu Lê, là tác giả của hơn 50 bài thơ vừa trữ tình vừa sắc sảo,mới lạ,lại đa nghĩa và mang tính hài h-ớc,châm biếm sâu cay.Bà đợc mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”

4.Ngời làm cô giáo của nhiều vua nhất

Rất thông minh và giỏi văn thơ là bà Nguyễn Nhợc Thị Bích(1830 - 1909),quê Thừa Thiên Huế,đợc tiến cử vào cung trở thành cô giáo của 3 vị vua nhà Nguyễn:Phúc Kiến,Hàm Nghi,Đồng Khánh khi còn là thái tử.Dạy Hàm Nghi cả khi đã lên ngôi

5.Nữ tổng biên tập đầu tiên

Danh hiệu này thuộc về Nguyễn Xuân Khuê(1864 - 1921),bút danh là Sơng Nguyệt

ánh,con gái thứ t của nhà thơ yêu nớc Nguyễn Đình Chiểu,quê ở Bến Tre.Nhận lời mời củacác đồng nghiệp đầu năm 1918 bà lên Sài Gòn làm Tổng biên tập tờ nữ giới chung và phụ trách tờ báo này trong suốt thời gian tồn tại của nó

Trang 4

6.Nữ chiến sĩ cộng sản Việt Nam đầu tiên

Nguyễn Thị Minh Khai là nữ chiến sĩ tiền bối của phong trào cộng sản Việt Nam.Bà sinh năm 1910 tại Vinh(Nghệ An),năm 1927 bà gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng Năm 1929

bà thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng ở Việt nam,Trung Quốc…Năm 1935 bà vào học trờng Đại học Phơng Đông tại Liên Xô,cùng với Lê Hồng Phong là đại biểu chính thức của Đảng Cộng Sản Đông Dơng tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản.Năm 1937 bà về n-

ớc hoạt động,bị giặc bắt năm 1940 và kết án tử hình tháng 05/1941

7.Nữ anh hùng lực lợng vũ trang trẻ nhất

Chị Võ Thị Sáu(1933 - 1952) xứng đáng với danh hiệu này.Ngay từ năm 15 tuổi,chị đã hăng hái tham gia cách mạng,lập nhiều chiến công vang dội.Tháng 5/1950 chị bị giặc bắt tra tấn dã man nhng chị vẫn giữ vững khí tiết ngời chiến sĩ cách mạng trung thành.Năm

1952 bị đày ra côn đảo và hành quyết.Năm 1993 Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã trân trọng truy tặng chị huân chơng chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lợng vũ trang

8.Nữ anh hùng đầu tiên của quân đội hiện đại.

Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930,trong kháng chiến chống Pháp đã xây dựng và chỉ huy

đội nữ du kích Tán Thuật(Thái bình).Hoạt động hiệu quả,táo bạo,dũng cảm,nổi tiếng với chiến tích “tay không bắt giặc”,bà đợc tặng nhiều huân,huy chơng chiến công và năm 1952

đợc phong là nữ anh hùng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt nam

9.Nữ sĩ quan tình báo giỏi nhất

Danh hiệu trên đợc dùng cho đại tá,anh hùng lực lợng vũ trang Đinh Thị Vân,ngời tổ chức

và điều hành mạng lới tình báo tại Sài Gòn trong thời kì chống Mỹ

Năm 1954 bà đợc Bộ quốc phòng đặc phái vào miền nam hoạt động.Với sự thông

minh,lanh lợi,kiên trung,xây dựng mạng lới tình báo vững chắc,bà đã cung cấp cho Trung

-ơng Đảng ta nhiều tin tức kịp thời về những cuộc càn quét của Mỹ – Ngụy vào đầu não kháng chiến ở vùng Đông nam bộ.Hệ thống tình báo của bà phục vụ đắc lực cho kế hoạch tấn công của quân đội ta từ tết Mậu Thân 1968 đến khi miền Nam đợc hoàn toàn giải phóngnăm 1975

10.Ngời phụ nữ có nhiều con và cháu là liệt sĩ nhất

Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1909,quê ở xã Điện Thắng huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam có tới 9 con và hai cháu nội là liệt sĩ

11.Cặp mẹ chồng và con dâu có nhiều ngời thân hi sinh vì nớc nhất

Mẹ chồng Huỳnh Thị Khiết và con dâu Lê Thị Phát,quê xã Hoà Thắng huyện Bắc Bình tỉnhBình Thuận.Mẹ Khiết có 4 con là liệt sĩ,chị Phát có chồng và 4 con là liệt sĩ

12.Ngời phụ nữ đầu tiên thời hiện đại giữ chức vụ quan trọng nhất

Đồng chí Nguyễn Thị Định(1920 – 1992),quê ở Bến Tre,tham gia hoạt động cách mạng từnăm 1936,là ngời khởi xớng và lãnh đạo xuất sắc phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960.Bà trải qua nhiều cơng vị chủ chốt trong quân đội,hội liên hiệp phụ nữ,ban chấp hành Trung -

ơng Đảng và năm 1987 trở thành ngời phụ nữ đầu tiên thời hiện đại giữ chức vụ quan trọng nhất:Phó chủ tịch hội đồng nhà nớc

13.Nữ giáo s tiến sĩ toán học đầu tiên

Bà Hoàng Xuân Sính,giáo viên trờng Đại học S Phạm Hà Nội là nữ giáo s,tiến sĩ toán học

đầu tiên của Việt Nam.Năm 1975 tại trờng Đại học Pari(Pháp)bà đã bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ toán học sau đó bà về nớc công tác và đợc phong học hàm giáo s

14.Nữ tiến sĩ toán học trẻ nhất

Trang 5

Danh hiệu này thuộc về nhà toán học Lê Hồng Vân.Đầu tháng 12 năm 1989 khi mới 28 tuổi chị đã bảo vệ thành công tuyệt đối luận án tiến sĩ toán – lý của mình tại Hội đồng báchọc Trờng Đại học Tổng hợp Lomonosov ở Nga(chiếm cả 17 phiếu thuận của hội đồng) *******************************

THU TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Ngày cập nhật: 22/11/2010

Cú thể núi, Cảnh thu là một trong những hỡnh ảnh thiờn nhiờn nổi bật của bức tranh bốn mựa: Xuõn, Hạ, Thu, Đụng trong thơ trung đại Việt Nam Thiờn nhiờn mựa thu vừa là nguồn cảm hứng, vừa là nơi gửi gắm tõm tư, tỡnh cảm của thi nhõn, theo lẽ “tức cảnh sinh tỡnh”, “tả cảnh ngụ tỡnh” Cảnh thu trong thơ trung đại cú khi được miờu tả qua một số cõu thơ trong bài tứ tuyệt, bỏt cỳ Đường luật… hoặc ở rải rỏc trong truyện thơ Nụm, nhưng cũng cú khi cả bài thơ hướng về một đề tài “vịnh thu” (tả cảnh mựa thu) hoàn chỉnh…

Núi về đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam cũng cú nghĩa là tỡm hiểu quỏ trỡnh phỏt triển của nú qua nhiều thế kỷ, nhất là từ Nguyễn Trói, Nguyễn Bỉnh Khiờm đến

Nguyễn Du, và đặc biệt là Nguyễn Khuyến Bởi vỡ, ban đầu cỏc nhà thơ Việt Nam “vịnh thu” cũng giống như tả cảnh mựa xuõn, mựa hạ, mựa đụng- thường thiờn về sử dụng nhữnghỡnh ảnh cú sẵn trong nguồn thơ Đường (Trung Quốc) và mang tớnh ước lệ, tượng trưng Nhưng qua một thời gian dài, đề tài này đó đạt đến độ chớn, vừa dễ hiểu, trong sỏng, vừa gần gũi với thực tế thiờn nhiờn mựa thu Việt Nam

1 Đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam trước thế kỷ XIX

Trong mối quan hệ ảnh hưởng của văn học trung đại Trung Quốc đối với văn học trung đạinước ta, thỡ thơ “vịnh thu” Việt Nam cũng cú sự ảnh hưởng và học hỏi thơ Đường - một trong những đỉnh cao của thơ ca nhõn loại - cũng là điều tất nhiờn Cảnh thu cú trong thơ Trung Quốc, được thể hiện qua hỡnh ảnh: lỏ đỏ, rừng phong, tuyết đưa hơi lạnh, chày đập vải, cõy ngụ đồng đó “du nhập” vào thơ thu Việt Nam, ở cả chữ Hỏn và chữ Nụm

Bắt nguồn cảm hứng từ một đờm thu đất nước, trong bài “Thu dạ dữ Hoàng giang Nguyễn Nhược thuỷ đồng phỳ” (Đờm thu cựng ngõm với Hoàng giang Nguyễn Nhược-thuỷ), Nguyễn Trói viết:

Hồng diệp đụi đỡnh trỳc ủng mụn,

Món giai minh nguyệt quỏ hoàng hụn

Cửu tiờu thanh lộ tam canh thấp,

Tứ bớch hàn cựng triệt dạ huyờn

Thiờn lại ngữ thu kinh thảo mộc,

Trang 6

(Lá đỏ chồng ở sân, trúc ôm lấy cửa,

Đầy thềm trăng sáng quá lúc chạng vạng rồi

Móc trong chín tầng mây thấm ướt ba canh,

Dế lạnh ở bốn vách kêu ran suốt đêm

Tiếng sáo trời báo tin thu khiến cây cỏ kinh động,

Sao Ngọc thằng xuống thấp ở Ngân hà, càn khôn

chuyển vần )(1)

Lá đỏ (hồng diệp) trong câu thơ trên là lá cây phong, thường có ở Trung Quốc, vào giữa tiết thu nên ngả dần thành mầu đỏ tía Còn trúc ôm lấy cửa, đầy thềm trăng sáng, khí thu lạnh nên “móc… thấm ướt ba canh” là những nét hiện thực thường thấy vào dịp cuối thu ở vùng rừng núi miền Bắc nước ta Tiếng dế kêu, tiếng sáo trời, càn khôn chuyển vần là những âm thanh mùa thu có phần yên ả hơn, sau những tháng xáo động mạnh mẽ của sấm sét, mây mưa mùa hè Và những âm thanh ấy được gợi lên từ cảm quan tinh tế, hàm chứa nhiều ý nghĩa nhân sinh của một nhà thơ lớn Chất liệu tạo nên cảnh thu ở đây phần lớn vẫn được lấy từ cảnh vật và thời tiết Việt Nam, nhưng ngay ở câu đầu, chữ đầu của bài thơ vẫn mang tính ước lệ, tượng trưng, vay mượn cảnh thu trong thơ Trung Quốc

Vẫn chưa thoát khỏi công thức, ước lệ, tượng trưng, trong bài Thôn xá thu châm (Tiếng châm mùa thu ở thôn xóm) của Nguyễn Trãi, hình ảnh chính vẫn là hòn đá (châm) để đập vải và giặt, với tiếng chày nện thình thình và nỗi buồn biệt ly của người chinh phụ có chồng ngoài quan ải xa xôi Là vùng thôn dã đang độ thu về mà cảnh thiên nhiên mùa thu chỉ được biết qua vài nét chung chung như khắp sông đâu đấy… Và người chinh phụ oán

vì nỗi biệt ly tình, chẳng rõ ở thời nào, nơi nào? Bài này chỉ có 4 câu, được dịch thành thơ như sau:

Khắp sông đâu đấy nện thình thình,

Đất khách trăng khuya bỗng giật mình

Quan ải mịt mù chinh phụ oán,

Tiếng thu thảy gửi biệt ly tình

Đến Hồng Đức quốc âm thi tập gồm 328 bài thơ Nôm, ra đời cuối thế kỷ XV, khi văn học dân tộc được viết bằng chữ Nôm đã phát triển khá mạnh, thế mà thơ tả cảnh thu (trong mụcThiên địa môn) cũng chưa thực sự gắn với sắc màu cụ thể của thiên nhiên Việt Nam, vẫn còn chung chung, mơ hồ như là tả cảnh vật ở đâu đó Chẳng hạn như bài thơ sau đây:

Lác đác ngô đồng mấy lá bay,

Tin thu hiu hắt lọt hơi may

Ngàn kia cách nước so le địch,

Mái nọ bên đường đủng đỉnh chày

Trang 7

Lau chổng bãi Nam ngàn dặm rợp,

Nhạn về ải Bắc mấy hàng bay

Quí Ưng, Tống Ngọc dường bao nữa,

Khi ấy nhiều người cám cảnh thay

Là người Việt Nam, làm thơ tả cảnh thu tại quê hương mình, được viết bằng tiếng dân tộc mình thì không ít những hình ảnh cụ thể mang mầu sắc Việt Nam có thể dùng, thế mà cứ phải lặp lại những “mô típ” người nước ngoài và nhiều người trong nước đã viết, đến sáo mòn như lá ngô đồng, đủng đỉnh chày, nhạn về ải Bắc, Quý Ưng, Tống Ngọc từ đời nào bên Trung Quốc! Phải chăng trong một thời gian dài, cách dạy và học theo lối giáo điều, khuôn sáo của nhà trường phong kiến đã hạn chế sự linh hoạt, sáng tạo của các nhà thơ trung đại, xuất thân từ các nhà nho?

Nhà thơ - nhà phê bình văn học Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một

nữ sĩ dưới thời Lê Thánh Tông là “một bước tiến của thơ”, “lời văn ở đây đã trong sáng, liền, thoải mái, không vất vả, không gợn, và có nhạc điệu”, đồng thời ông cũng chỉ ra hạn chế có tính cố hữu của các nhà thơ ở giai đoạn này: “Còn thì vẫn các yếu tố ước lệ: Gió vàng, bóng nhạn, giếng ngọc, rừng phong”(2) Bài thơ Nôm có nhan đề Mùa thu thể hiện

rõ chủ ý của Ngô Chi Lan là dành trọn cho việc tả cảnh thu, đã được Xuân Diệu nhận xét ởtrên, gồm bốn câu:

Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ,

Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa

Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm,

Rừng phong lá rụng tiếng như mưa

(Hồng Đức quốc âm thi tập)

Những thế kỷ XVI-XVIII tiếp theo, các nhà thơ trung đại Việt Nam tuy ít sử dụng những hình ảnh mang tính công thức, ước lệ khi tả cảnh thu, nhưng vẫn còn hạn chế ở sự thiếu sáng tạo hình ảnh và chưa thể hiện rõ nét riêng, độc đáo trong mỗi nhà thơ

Bài thơ Thu tứ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có hình ảnh mây, nhạn, trăng:

Vân biên nhạn quá hồn vô số,

Thiên thượng nguyệt minh ứng hữu kỳ

(Tầng mây đàn nhạn bay qua,

Trời quang, trăng sáng như là hẹn nhau)

(Ý thu - bản dịch của Hoàng Việt thi văn tuyển)

Trong Chinh phụ ngâm, khi nói về sự lạnh lẽo, cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến, nhất là ở những đêm thu, tác giả viết:

Trang 8

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,

Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên

Bài thơ Thu dạ I của Nguyễn Du cũng có sao sáng, tiếng dế kêu não nề trong đêm lạnh:Phiền tinh lịch lịch lộ như ngân,

Đông bích hàn trùng bi cánh tân

(Sao vàng lấp lánh ánh sương dầy,

Dế khóc tường đông giọng đắng cay)

(Quách Tấn dịch)

Trong Ngẫu hứng I, Nguyễn Du cũng tả trăng sáng và gió lạnh mùa thu:

Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố,

Tây phong xuy ngã chính thê thê

(Trăng sáng trời cao vằng vặc thế,

Gió tây ta quá lạnh lùng thôi)

(Đào Duy Anh dịch )

Trước Nguyễn Du, nhưng sau Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều viết:

Trải vách quế gió vàng hiu hắt,

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

(Cung oán ngâm khúc)

Đến Thu dạ II, Nguyễn Du vẫn không có gì mới:

Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,

Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân

(Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng,

Đầy trời sắc lạnh quét mây bay)

(Quách Tấn dịch)

Điểm lại một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ trung đại Việt Nam viết về mùa thu, chúng ta thấy rõ những hạn chế trong bút pháp miêu tả, ở cả thơ chữ Hán và chữ Nôm là thiên về sách vở, ước lệ, tượng trưng, chung chung, thiếu tính hiện thực, sinh động, cụ thể

và chưa có được nét riêng biệt, độc đáo ở mỗi nhà thơ Nhưng đến Nguyễn Khuyến 1909), với ba bài thơ thu nổi tiếng, thì những ưu điểm trong bút pháp miêu tả của ông sáng

(1835-rỡ lên như một dấu son tươi mới Theo Bùi Văn Nguyên, đó là “thành công tốt đẹp của quátrình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam , và dân tộc hoá hình thức lờithơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam”(3) của Tam nguyên Yên Đổ

Trang 9

2 Nguyễn Khuyến với chùm thơ Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm

Nguyễn Khuyến, bằng tài năng của mình, đã đưa thơ Việt Nam phát triển lên một bước mới, đặc biệt là đến gần với hiện thực, cụ thể và sinh động hơn trong bút pháp miêu tả Thiên nhiên làng quê trong thơ Yên Đổ đến với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị, thanh sơ

mà vẫn có được những nét hấp dẫn riêng của nó

Trong số rất nhiều bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến, có ba bài thơ đã luôn toả ra thứ ánh sáng êm dịu và trong trẻo, làm say đắm lòng người Thiên nhiên bao la của những ngày thu muộn, có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có đom đóm “lập loè ngõ tối” đã tạo nên ba bức tranh đặc sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Trong cuốn Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Nguyễn Lộc nhận định: ''Nói về thiên nhiên, trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu trong văn học cổ rất hay Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiênnhiên nào đậm đà phong vị của đất nước quê hương đến thế''(4) Xuân Diệu cũng đã từng nhận xét: ''Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm, mà trongthơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh'' Ba bài thơ này được nhân dân ghi nhớ và truyền tụng bởi mùa thu của miền Bắcnước ta được miêu tả rất sinh động, sát thực, chứ không phải mùa thu mượn ở nơi khác Tiêu biểu cho thu Việt Nam phải nói đến Thu điếu Đọc bài thơ, chúng ta có thể tưởng tượng ra trước mắt một bức tranh thuỷ mặc, có bối cảnh xa, gần thật sống động Khung cảnh thu được gói vào trong một không gian hẹp, chiếc ao thu be bé, xinh xắn, chiếc

thuyền câu cũng bé tẻo teo Nguyễn Khuyến dường như hoá thân thành một nhà quay phimtài ba bậc nhất: Tầm nhìn của ông như chiếc máy quay, lúc phóng lên cao, khi vụt xuống thấp, bao quát cả không gian mùa thu Làn nước trong veo làm nổi bật chiếc thuyền câu nhỏ nhắn Cả khung cảnh ấy làm phông duy nhất cho một chiếc lá thu vàng rơi trước gió Chữ vèo gợi tả dáng thanh mảnh của chiếc lá thu bay Tuy nhỏ bé nhưng dường như nó có sức thu cả đất trời vào mình Khí thu làm cho ao thu lạnh, nhưng cái lạnh lẽo ấy không đáng để người ta sợ hãi và chạy trốn Trái lại, nó khơi nguồn hứng khởi cho con người ngắm cảnh thu, yêu thu hơn Bài thơ xinh xắn đã mở ra trước mắt chúng ta cảnh vật thiên nhiên nơi làng quê: Đây là từng gợn lăn tăn của dòng nước xanh biếc; kia là chiếc lá vàng khẽ rơi làm duyên cùng làn gió nhẹ; ngước mắt lên nhìn là bầu trời xanh ngắt, rộng lớn, không hề vẩn tạp, cao vời vợi, sâu thăm thẳm trong không gian đa chiều

Ngõ trúc là một hình ảnh rất đặc trưng cho cảnh làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Yêu thay dáng trúc thẳng thắn với tán lá xanh biếc như bầu trời thu kia Đâu dễ có được hình ảnh thơ thuần Việt tuyệt đối ấy nếu không có một tình yêu quê hương đằm thắm thiết tha đến vô cùng, cộng với ngòi bút tả thực tài hoa của tác giả! Quan sát, miêu tả cảnh thu có chiều sâu, từ gần đến xa, từ xa đến gần trong Thu điếu thật là sinh động và tinh tế! Các từ

Trang 10

láy lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng vừa gợi cảm, gợi hình, rất xác thực, sinh động và gần gũi.

Ngồi trên chiếc thuyền bé tẻo teo ấy, nhà thơ cũng trở nên bé nhỏ, cô đơn trong khoảng không gian giữa mặt nước và bầu trời Trước thời cuộc đảo điên, vận nước đen tối, một ông quan thanh liêm đã về vườn liệu có thể làm gì cho dân cho nước? Chưa thể “đắp tai, cài trốc”, “ngoảnh mặt làm ngơ” vì còn chút lo đời, nhà thơ muốn gửi gắm tâm sự của mình vào cảnh thu để bớt đi nỗi buồn vì bất lực Song, thiên nhiên làng quê mộc mạc, thân thiết ấy lại càng làm cho ông cảm thấy day dứt về trách nhiệm của bản thân Khát vọng phục vụ quê hương không thành cũng giống như việc câu cá không được, ông chưa đủ kiênnhẫn để ngồi chờ, vì không còn cách nào khác để giải toả niềm u uẩn của mình Nỗi trống vắng không cùng khiến nhà thơ nghe được tiếng cá đớp mồi thật nhỏ - âm thanh duy nhất trong khung cảnh thu tĩnh lặng Nhờ có âm thanh ấy, cảnh thu sống động hơn và đủ để đánh thức thi sĩ trở về với thực tại, sau những suy ngẫm mơ màng Có thể nói, sự xuất hiệnbất ngờ của một âm thanh trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, là nét sắc sảo và tinh tế trong nghệ thuật tả cảnh của nhà thơ Nếu tiếng chó nhỏ bên ao cắn tiếng người (Đến chơi nhà bác Đặng - Nguyễn Khuyến) làm cho buổi trưa hè ở làng quê trở nên có sức sống hơn, thì

ở đây cá đâu đớp động dưới chân bèo (Thu điếu) lại chứa đựng một âm thanh đa nghĩa, vừa

cô đơn, vừa bất lực

Cũng trong mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam vào bài Thu vịnh Cái thanh thoát nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trongbầu trời thu xanh ngắt kia Điểm nhấn trên nền trời ấy là cần trúc - Một sự tạo hình trong không gian thật cụ thể Cây trúc còn non trông yếu ớt, mong manh, khi có làn gió thu hiu hiu thổi nhẹ, giống như chiếc cần câu nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước gió

Đường nét cong cong của thân cây, mầu xanh biếc của lá cây như điểm xuyết cho bầu trời thu thêm trong sáng, gợi bao nỗi niềm cho người ngắm cảnh Cần trúc là nét đặc tả hồn thuViệt Nam và trong mối liên hệ hoà hợp với trời thu, ao thu đã tạo nên hình ảnh đặc trưng cho mùa thu đất Việt Chùm hoa xuất hiện trong Thu vịnh đưa hương thơm ngạt ngào từ quá khứ bay đến hiện tại bằng trí tưởng tượng của chính nhà thơ Tiếng ngỗng vọng tưởng kêu vang trong bầu trời như bứt tâm hồn nhà thơ về với thực tại Âm thanh ấy vang xa sao

mà xa lạ thế, bởi đó đâu phải ngỗng quê hương Nỗi đau của người dân mất nước càng thấm thía hơn trong đêm thu vắng vẻ Ở hai câu cuối, Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng mình, ông thấy thẹn thùng với Đào Tiềm - thi sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc đã sớm từ quan về ở ẩn trước cuộc đời ô trọc Ông tiếc rằng mình không từ bỏ quan trường sớm như Đào Uyên Minh xưa kia Cái thẹn trong lời kết ở Thu vịnh càng khiến nhân cách của Nguyễn Khuyếnthêm sáng đẹp Đứng trước thiên nhiên kỳ diệu ấy, tâm hồn con người như được “soi” bằng thứ ánh sáng tinh khiết để nhân cách được bộc lộ dễ dàng hơn Qua cảnh vật mùa thu,Nguyễn Khuyến đến với chúng ta thật hơn, gần gũi hơn nhiều

Đến với Thu ẩm, chúng ta cũng không thấy những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, văn hoa, sang trọng như "rèm châu, lầu ngọc, chén vàng" mà thay vào đó là sự bình dân, thanh sơ và

Trang 11

giản dị, với Năm gian nhà cỏ thấp le te - Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè Hình ảnh ngôi nhà, vừa là tả thực, vừa khái quát tầm vóc của một làng quê vùng đồng chiêm trũng Từ láy le te

đã khắc hoạ hình dáng của ngôi nhà cỏ trong không gian, nó là nơi thu hút, hội tụ sự ấm áp,dung dị của đời sống nông thôn đất Việt Đối lập với những "lầu son, gác tía", "lồng ngọc, rèm châu" xa lạ, ngôi nhà cỏ như đang nâng đỡ trên mình một giá trị văn hoá đáng quý Yêu quê hương, yêu đất nước, yêu cảnh thu, yêu con người, Nguyễn Khuyến với hình ảnh thơ mộc mạc ấy đã đặt mốc cho quá trình phát triển nội dung thơ dân tộc Quả thực, hình ảnh ngôi nhà cỏ đã đem đến cái nhìn khác hẳn so với câu thơ ước lệ về sự phù hoa: Bên hoa triệu ngọc ngồi ngơ ngẩn - Dưới nguyệt rèm châu đứng thẩn thơ (Thu ngâm - Nữ sĩ Ni Tần)

Dù sao, năm gian nhà cỏ ấy mới là thực của ta, đẹp với những gì giản dị, mộc mạc mà ta

có Nhiều ý kiến khẳng định rằng, cảnh thu trong Thu vịnh không chỉ được miêu tả về một thời điểm nhất định, mà là trong nhiều thời điểm, có tính khái quát về mùa thu Việt Nam Hình ảnh đóm lập loè trong đêm sâu, ngõ tối được hiện lên thật dung dị và gần gũi với thônquê thời thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX Cuộc sống hiện đại ngày nay ít thấy xuất hiện loài đom đóm Nhưng bắt gặp hình ảnh con đom đóm nhỏ bé trong thơ Nguyễn Khuyến, mỗi chúng ta lại thấy tràn ngập tâm hồn thứ ánh sáng của đồng nội Tuy yếu ớt, nhưng nó có thể làm sáng tâm hồn con người hơn là thứ ánh sáng rực rỡ của đèn lồng - mộthình ảnh mượn của thơ Trung Quốc Ánh sáng đom đóm đẹp hơn, lung linh hơn nhiều lần khi được Nguyễn Khuyến nâng niu và trân trọng Hình ảnh thơ ở đây không có "lời vàng, ýngọc" nhưng lại đem đến sức rung động mãnh liệt cho con người Đâu phải ngẫu nhiên, quần chúng nhân dân lại yêu thích và thuộc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, như chúng

ta đã biết Hình ảnh mầu khói nhạt, bóng trăng loe gợi lên vẻ đẹp huyền ảo của đêm thu đấtViệt Trong cuộc sống dung dị đời thường, với con mắt tinh tế, Nguyễn Khuyến đã thu vàogóc nhìn của mình cảnh tượng mĩ lệ của thiên nhiên: Ánh trăng trên trời giao hoà với mặt nước dưới đất, khiến trời thu, đất thu hoà nhập vào một

Hơn ai hết, Nguyễn Khuyến hiểu rằng sống thực với thiên nhiên, để tâm đến nó thì thiên nhiên cũng đâu nỡ phụ người Dù thanh sơ, nhưng cảnh thu Việt Nam vẫn có những nét hấp dẫn riêng của nó Và cảnh thu ấy lại gợi lên những nỗi niềm sâu kín của nhà thơ: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt - Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe (Thu ẩm) Phải chăng do uống rượu nhiều nên mắt nhà thơ bị đỏ? Không! Nguyễn Khuyến đã nói: Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy cơ mà! Đúng là cụ Tam nguyên đã khóc! Nỗi thương nước, thương dân luôn thường trực, nhưng chưa làm được gì trong thời buổi ấy, vì bất lực, đó là nỗi lòng của Nguyễn Khuyến Và từ nguồn mạch sâu kín ấy, nước mắt nhà thơ đã trào ra trong một lần uống rượu, trước cảnh thu

Quá trình hàng trăm năm gọt giũa, phát triển, đề tài "vịnh thu" đã thành công khi bắt gặp ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Giá trị của Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm đã chứng minh điều đó Trước khi kết thúc bài viết này, xin nhắc lại nhận định của Xuân Diệu về những tuyệt tác của cụ Tam nguyên Yên Đổ trong tiến

Trang 12

trình thơ trung đại Việt Nam, về đề tài tả cảnh thu: "Ba bài thời thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là nôm;

mà ở đây, dân tộc hoá cũng thống nhất với quần chúng hoá”(5)

********************************

TÍCH HỢP NỘI DUNG

“HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC

HỒ CHÍ MINH”

VÀO DẠY MÔN GDCD THCS

Ngày cập nhật: 12/11/2010

LỚP 6:

Bài 3: Tiết kiệm

• Chủ đề: Tấm gương về tiết kiệm của Bác Hồ

• Mức độ: Liên hệ

• Nội dung tích hợp:

- Bác Hồ luôn sử dụng hợp lí, đúng mức của cải vật chất

- Sự tiết kiệm trong tiêu dùng của Bác thể hiện sự quý trong kết quả lao động của xã hội

• Ghi chú: Chuyện kể về Bác Hồ, NXB Văn Học 2008, trang 49,99 Bác hồ với thiếu nhi và phụ nữ, NXB thanh niên, 2008, trang 30

Bài 5: Tôn trọng kỉ luật

• Chủ đề:Tấm gương tôn trọng kỉ luật của Bác Hồ

Bài 6: Biết ơn

• Chủ đề: Lòng biết ớn của Bác Hồ đối với người có công với nước

• Mức độ: Lồng ghép bộ phận

• Nội dung tích hợp:

- Bác xót xa trước các thương binh, kính cẩn trước vong linh liệt sĩ

- Bác gương mẫu thực hiện và vận động nhân dân biết ơn, giúp đỡ thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ

- Tháng 6-1947 Bác đề nghị chính phủ chon một ngày trong năm là “Ngày thương binh”, chính phủ đẫ lấy ngày 27/07 hàng năm là “ngày thương binh liệt sĩ”

• Ghi chú: chuyện kể về Bác Hồ, NXB Văn Học 2008, trang 154

LỚP 7

Ngày đăng: 22/05/2015, 01:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w