1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN THI NGỮ văn đại học

10 368 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 76,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trên cơ sở hiểu biết về Quang Dũng và bài thơ "Tây Tiến", học sinh biết chọn và phân tích những chi tiết tiêu biểu để làm rõ vẻ đẹp của đoạn thơ.. Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dà

Trang 1

ÔN THI NGỮ VĂN ĐẠI HỌC

KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011

Môn thi : NGỮ VĂN - Gíao dục trung học phổ thông

I Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

Câu 2 (3,0 điểm)

Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên

II Phần riêng - Phần tự chọn (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Trang 2

(Ngữ văn 12, Tập một, tr.88, NXB Giáo dục - 2009)

Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ Nhặt của Kim Lân ( phần trích trong Ngữ văn

12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008)

BÀI GIẢI GỢI Ý

I Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, ở đoạn cuối của truyện, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh:

* Màu hồng hồng của ánh sương mai

* Người đàn bà làng chài bước ra khỏi tấm ảnh

Những hình ảnh này mang ý nghĩa :

* Cảnh thiên nhiên đẹp - Hình ảnh con người trong bức tranh nghệ thuật: thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức

hy sinh

* Nghệ thuật gắn bó với cuộc sống

Câu 2 (3,0 điểm)

– Yêu cầu học sinh phải biết kết hợp nhiều thao tác để thực hiện bài nghị luận xã hội về một quan niệm sống

* Đặt vấn đề:

_ Mọi công việc của hiện tại đều hướng tới tương lai

_ Con đường đi đến tương lai có nhiều hướng, nhiều ngả đường, mọi người phải tự chọn cho mình một lối đi đúng để không hối tiếc

* Khai thác vấn đề :

a Giải thích:

– Ngả đường: những ngả rẻ trên đường đi Điều này thể hiện rằng: Có nhiều mục đích,

Trang 3

nghề nghiệp và lý tưởng mà con người cần phải lựa chọn.

- Mỗi người có thể lựa chọn con đường đúng cho mình chứ không phải ai khác Và sau khi chọn lựa, cố gắng đừng hối tiếc, ân hận vì mình đã chọn sai và đừng đổ cho ai khác

b Bình luận:

- Khi đã lựa chọn một con đường mà mình nghĩ là đúng thì cần phải cố gắng hết sức để hoàn thành mục đích của mình Con người có thể thích rất nhiều thứ nhưng nếu thiếu nỗ lực và cố gắng thì không đạt được mục đích và phải bỏ dở dang con đường mình đã chọn

_ Phải cân nhắc thật kĩ trước khi chọn lựa để chắc chắn rằng con đường mình chọn là đúng

_ Phải tin vào bản thân, không dao động trước dư luận

_ Để đến được với thành công, phải trải qua nhiều khó khăn vất vả Và sau khi đã chọn đừng nản chí khi gặp khó

Ví dụ: Có những học sinh bỏ qua năng khiếu riêng tư của mình, nghe lời cha mẹ hoặc bạn

bè chọn cho mình những ngành học không phù hợp với khả năng cũng như sở thích của bản thân

c Phê phán:

_ Những người không biết tự chọn cho mình con đường đúng đắn thường dẫn đến những thất bại, sai lầm trong cuộc đời và nhận lấy nhiều đau khổ

* Liên hệ bản thân – rút ra bài học phấn đấu

_ Ai cũng phải bối rối trước quá nhiều ngả đường để lựa chọn

_ Do đó, việc chính mình chọn một con đường đúng là điều vô cùng quan trọng và có ý nghĩa lớn trong cuộc đời mỗi con người

II Phần riêng - Phần tự chọn (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Yêu cầu về kỹ năng, kiến thức

- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học

- Bố cục và hệ thống ý rõ ràng

- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận, nắm vững cách phân tích thơ trữ tình

- Văn trôi chảy không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp

Trang 4

- Trên cơ sở hiểu biết về Quang Dũng và bài thơ "Tây Tiến", học sinh biết chọn và phân tích những chi tiết tiêu biểu để làm rõ vẻ đẹp của đoạn thơ

- Học sinh khi làm bài cần nêu được những ý cơ bản sau:

Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy, nhà thơ Quang Dũng viết

“Tây Tiến” Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn của chiến sỹ trẻ Việt Nam trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang

“Tây Tiến” là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy:

Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được, đó là nỗi nhớ “chơi vơi” Tiếng gọi

“Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu Từ cảm “ơi!” bắt vần với

từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian

Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng

Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu Các từ láy: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”

Trang 5

Đỉnh núi mù sương cao vút Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà

đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!” Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ

Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời

Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn

Trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng âm thanh ấy, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến

Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới Quang Dũng cũng nói đến sự hy sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”

Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu Xương máu đổ xuống để xây đài tự do Vần thơ nói đến cái mất mát, hy sinh nhưng không chút bi luỵ, thảm thương

Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:

Trang 6

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc” Câu thơ đậm đà tình quân dân Hương vị bản mường với “cơm lên khói”, với

“mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình quân dân, sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu”

“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”

“Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu

Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây Tiến”, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công, là kết hợp hài hoà giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

-Yêu cầu về kỹ năng ,kiến thức:

- Nắm vững phương pháp làm văn nghị luận văn học

- Vận dụng khả năng đọc - hiểu văn bản để phân tích nhân vật trong một tác phẩm tự sự

- Kết cấu bài viết chặt chẽ, diễn đạt suôn sẽ, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

- Trên cơ sở hiểu biết về Kim Lân và truyện ngắn "Vợ nhặt", học sinh biết chọn và phân tích những chi tiết tiêu biểu để làm nổi bật hình tượng nhân vật Tràng

- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được những ý cơ bản sau:

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật

+ Phân tích đặc điểm nhân vật :

Trang 7

Lai lịch : nhà nghốo, dõn ngụ cư, kộo xe bũ thuờ, nạn nhõn của nạn đúi năm 1945.

Ngoại hỡnh : Thụ kệch, cú tật vừa đi vừa lẩm bẩm …

Hoàn cảnh, số phận : Hai lần gặp gỡ vợ nhặt thật tỡnh cờ rất tỡnh cờ, thành vợ thành chồng

Tớnh cỏch : tấm lũng nhõn hậu, khao khỏt mỏi ấm gia đỡnh, mong ước được đổi đời, tin tưởng vào tương lai

Nghệ thuật xõy dựng nhõn vật :

Diễn biến tõm lý nhõn vật đặc sắc

Lựa chọn chi tiết tiờu biểu và ngụn ngữ gắn với đời sống

í nghĩa của hỡnh tượng nhõn vật :

Tiờu biểu cho người lao động nghốo trong nạn đúi (1945)

Phẩm chất nhõn hậu, lạc quan, biết vươn lờn trong cuộc sống

+ Cảm nhận về tỏc giả, tỏc phẩm, nhõn vật để rỳt bài học cho bản thõn

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Võn

Đại học Sài Gũn

Đề thi TN BT THPT năm học 2010 – 2011 Câu 1 (2đ) : Tóm tắt tác phẩm “ Số phận con ngời”

Câu 2 (3đ) : Viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) nói lên suy nghĩ của em về tình

hình tai nạn giao thông trong cả nớc hiện nay

Câu 3 (5đ) : Phân tích hình ảnh ngời đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “chiếc

thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Gợi ý làm bài : Câu 1 (2.0đ) :

Nhaõn vaọt chớnh laứ Andraõy Xoõcoõloỏp Anh coự moọt cuoọc ủụứi ủau khoồ Chieỏn tranh theỏ giụựi laàn thửự hai buứng noồ Xoõcoõloỏp nhaọp nguừ roài bũ thửụng, sau ủoự anh bũ ủaứy ủoùa trong traùi taọp trung cuỷa phaựt xớt Khi thoaựt ủửụùc veà vụựi quaõn ta anh nhaọn ủửụùc tin vụù vaứ hai con gaựi bũ giaởc saựt haùi Ngửụứi con trai duy nhaỏt cuỷa anh cuừng ủaừ nhaọp nguừ vaứ cuứng anh tieỏn ủaựnh Beựclin Nhửng ủuựng vaứo ngaứy chieỏn thaộng con trai anh ủaừ bũ keỷ thuứ baộn cheỏt Nieàm hi voùng cuoỏi cuứng cuỷa anh ủaừ bũ tan vụừ

Trang 8

Keỏt thuực chieỏn tranh Xoõcoõloỏp giaỷi nguừ xin laứm laựi xe cho moọt ủoọi vaọn taỷi, vaứ ngaóu nhieõn anh gaởp chuự beự Vania boỏ meù bũ cheỏt trong chieỏn tranh, chuự soỏng bụ vụ khoõng nụi nửụng tửùa Anh nhaọn Vania laứm con, chuự beự ngaõy thụ tin raống Xoõcoõloỏp chớnh laứ cha ủeỷ cuỷa mỡnh Xoõcoõloỏp yeõu thửụng chaờm soực chuự beự thaọt chu ủaựo, vaứ xem noự nhử moọt nguoàn vui lụựn Tuy vaọy, Xoõcoõloỏp vaón bũ aựm aỷnh bụỷi moọt noói ủau buoàn “nhieàu khi thửực giaỏc thỡ goỏi ủaóm nửụực maột” Vỡ maỏt vụù, maỏt con cho neõn anh thửụứng phaỷi thay ủoồi choồ ụỷ Duứ theỏ, Xoõcoõloỏp luoõn coỏ giaỏu khoõng cho beự Vania khoõng thaỏy noói ủau cuỷa mỡnh

Câu 2 (3.0đ) :

+ Giới thiệu tình trạng giao thông trong cả nớc hiện nay và tình trạng tai nạn giao thông đang ngày càng gia tăng

- TB : a giải thích(0,5đ) :

+ Giao thông là một trong những vấn đề lớn của XH ở mọi thời đại nhằm phục vụ nhu cầu đi lại, giao thơng của con ngời Giao thông càng thông suốt, tiện lợi thì hiệu quả đối với sự phát triển đời sống con ngời càng cao

+ Giao thông có nhiều lĩnh vực khác nhau : đờng bộ, đờng không, đờng sắt, đờng thủy Dù ở lĩnh vực nào thì khi tham gia giao thông con ngời vẫn là đối tợng chủ yếu nhất, quan trọng nhất

b Luận(1,5đ) :

+ Trong XH hiện đại, khi nền công nghiệp phát triển, giao thông không chỉ giản

đơn nh ngày trớc mà có sự tham gia ngày càng nhiều của các phơng tiện hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngời

+ ở nớc ta hiện nay : Để hội nhập với thế giới văn minh, giao thông của chúng ta còn

có nhiều hạn chế : Đờng sá chật hẹp ý thức còn lạc hậu Các loại phơng tiện xa cũ, không an toàn còn nhiều Chính vì thế tai nạn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối toàn XH

+ Nhà nớc đã lập ta UB an toàn giao thông quốc gia để chỉ đạo chính quyền các cấp, tuyên truyền đến tận từng học sinh trong nhà trờng và tìm mọi cách để giảm thiểu tai nạn giao thông

+ Các phơng tiện thông tin đại chúng hàng ngày đều đa tin về các vụ tai nạn giao thông nhằm để cảnh báo với mọi ngời

+ Trong thời đại mới, giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đảng ta xác định

“Điện - Đờng – Trờng – Trạm” là vì thế

c Bình(0,5đ) :

+ Phát triển giao thông là nhằm để phục vụ cho con ngời Tuy nhiên, trớc hết là phải bảo đảm an toàn cho mọi ngời khi tham gia giao thông Đó không chỉ là nhiệm

vụ quan trong của các cấp chính quyền mà trớc hết là trách nhiệm của mỗi ngời chúng ta

+ Để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, mỗi chúng ta cần nhận thức đúng

đắn về luật giao thông, về trách nhiệm của mình khi tham gia giao thông Tuyệt

đối không đợc lơ là, coi thờng tính mạng của mình và trách nhiệm đối với mọi ng-ời

Trang 9

- KB (0,5đ) : Nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia giao thông là một trong những yêu cầu cơ bản nhất để giảm thiểu tai nạn giao thông

ở nớc ta hiện nay Đó không chỉ là biểu hiện của nếp sống văn minh ở mỗi cá nhân mà còn là hành động thiết thực góp phần đa nớc ta tiến kịp với các nớc có nền khoa học kỹ thuật hiện đại, có đời sống văn minh, hạnh phúc trên thế giới

Câu 3 (5.0đ) :

DÂN BÀI : Trong t/p Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Chõu, nhõn vật

để lại ấn tượng sõu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài - người phụ nữ vụ danh với tấm lũng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sỏch lại ta khụng thể nào quờn

Để tạo nờn hỡnh tượng người đàn bà ấy nhà văn đó tạo ra tỡnh huống truyện độc đỏo và

từ tỡnh huống độc đỏo này mà n/v dần hộ lộ số phận:

Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phựng, một người lớnh vừa bước ra

từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mỏt Phựng được dịp trở về chiến trường xưa

để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phũng Tại đõy anh đó phỏt hiện ra một bức tranh cảnh biển cú một khụng hai(dẫn chứng) Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thụ bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đũn thự, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng (dẫn chứng) Phựng từ sung sướng đến ngạc nhiờn, sững sờ sửng sốt Nghịch cảnh ấy khiến lũng anh tan vỡ

Xuyờn suốt toàn bộ cõu chuyện, hầu như người đọc khụng hề được biết đến tờn gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đó gọi một cỏch phiếm định: khi thỡ gọi là người đàn

bà hàng chài, lỳc lại gọi mụ, khi thỡ gọi chị ta Khụng phải nhà văn "nghốo" ngụn ngữ đến độ khụng thể đặt cho chị một cỏi tờn mà là vỡ Chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vựng biển nhỏ bộ này: CHỊ LÀ NGƯỜI Vễ DANH Dường như cuộc sống chẳng cú gỡ đỏng núi nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kỡ diệu khiến người khỏc phải suy nghĩ

- Ngoại hỡnh: trạc ngoài 40, hỡnh dỏng thụ kệch, rỗ mặt, khuụn mặt mệt mỏi sau một đờm

thức trắng kộo lưới, tỏi ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xớ, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đó xấu giờ trở nờn thụ kệch

- Số phận: Bất hạnh Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trỳt cả lờn chị : xấu,

nghốo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyờn chịu những trận đũn roi của người chồng vũ phu, tổn thương, đau xút cho cỏc con phải nhỡn cảnh bố đỏnh mẹ

+ Cỏi xấu đó đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi cũn nhỏ

+ Cú mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng Cuộc sống mưu sinh trờn biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bờnh

+ Gia đỡnh nghốo lại cũn đụng con, thuyền thỡ chật,

+ Bị chồng thường xuyờn đỏnh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng Cứ khi nào lóo thấy khổ quỏ là lại xỏch chị ra đỏnh, như là để trỳt giận, như đỏnh 1

Trang 10

con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ" Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn

mà coi đó là một lẽ đương nhiên Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu

đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con Số phận đầy bi kịch được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ

- Phẩm chất, tính cách:

+ Nhẫn nhục, chịu đựng: chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của

cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy Khi được đề nghị giúp đỡ thì : "Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó" Chị hiểu cơ cực của c/s mưu sinh trên biển không có người đàn ông

+ Yêu thương con tha thiết ("phải sống cho con chứ không thể sống cho mình")

Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con " Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, ko thể sống cho mình được"

Chị thương vô bờ đối với những đứa con, đặc biệt là với thằng Phác, chị gửi nó lên rừng, chị đau xót khi thấy nó vì thương mẹ mà hận bố,

=> Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa

+ Người đàn bà vị tha

Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ( " nhìn con được ăn no, có khi vợ chồng, con cái sống vui vẻ, hoà thuận")

+ Người đàn bà thất học nhưng lại rất sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời

Ý thức được thiên chức của người phụ nữ ("Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn")

Vì hoàn cảnh: trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn

ông khỏe mạnh, biết nghề

Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được

Đắng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương

mê muội, đáng thương Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con

vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh

Qua câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm

1975 mà NMC chính là vị "khai quốc công thần của triều đại văn học mới"

Ngày đăng: 18/05/2015, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w