- Bản thân các em cũng thích khám phá những điều mới me õtrong mônhọc này nên các em rất vui vẽ, hăng hái tích cực trong giờ học cũng là độnglực giúp Tôi thêm nghị lực, chịu khó để tìm r
Trang 1Phòng Giáo Dục & Đào Tạo Bến Cát
Trường THCS Lai Hưng
Năm học: 2007 – 2008 Người thực hiện: Võ thị Trang
Trang 23/ Biện pháp giải quyết: 4
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN: 4
1 Chuẩn bị ở đầu năm học: 4
a/ Đối với giáo viên: 4
b/ Đối với học sinh
2 Phương pháp thực hiện:
Phương pháp 1:Thống nhất quan điểm trong giảng
dạy của thầy và trò 6 Phương pháp 2: Sử dụng phương pháp thực hành
thí nghiệm trong giờ học 8 7
Phương pháp 3: Sử dụng phương pháp chơi mà
Phương pháp 4: Hướng dẫn cho học sinh kỹ năng
Trang 3C KẾT QUẢ: 16
A PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Tên đề tài:
Phương pháp dạy hoá học lớp 9 gây hứng thú cho cả 3 đối tượng học sinh (Giỏi- khá, trung bình, yếu-kém)
II/ Lí do chọn đề tài:
Hoá học là một môn học khá phức tạp và trừu tượng đối với nhữnghọc sinh yếu, kém, tiếp thu chậm nhưng lại lý thú đối với những em họcgiỏi, có tính năng động, sáng tạo… Trong một lớp học, dù ít hay nhiều baogiờ cũng phải có một số học sinh xuất sắc, vài học sinh yếu kém Đứngtrước tình hình trình độ tiếp thu của học sinh chênh lệch nhau khá xa nhưvậy cũng không ít gây cho Tôi những khó khăn nhất định trong phươngpháp giảng dạy Làm thế nào để thực hiện một tiết dạy có hiệu quả, lôi cuốn
cả 3 đối tượng học sinh: giỏi- khá, trung bình, yếu - kém là một vấn đề nangiải Sau nhiều năm giảng dạy, Tôi đã sữ dụng nhiều phương pháp nhằm tìmkiếm một phương pháp tối ưu để giảng dạy sao cho học sinh đón nhận tiếthọc của Tôi nhẹ nhàng, thoải mái và sinh động trên tinh thần tự giác học tập
và Tôi cũng đã có một ít kinh nghiệm xin được trình bày, mong rằng sau khi
Trang 4trình bày Tôi được các đồng nghiệp đồng tình và bổ sung để cho phươngpháp dạy học ngày càng sinh động hơn, học sinh học tốt hơn.
- Được sự hỗ trợ hết mình của Ban giám hiệu trường như xếp lịch trựccủa cán bộ phòng thiết bị cùng ngày với giờ học môn hoá, thuận lợi cho việcchuẩn bị đồ dùng dạy học cho một tiết lên lớp
- Được sự giúp đở nhiệt tình của đồng nghiệp trong tổ đã góp ý chântình qua các tiết thao giảng, dự giờ mà Tôi dần dần hạn chế được nhiềukhuyết điểm, rút ra được nhiều kinh nghiệm hay trong phương pháp giảngdạy
- Bản thân các em cũng thích khám phá những điều mới me õtrong mônhọc này nên các em rất vui vẽ, hăng hái tích cực trong giờ học cũng là độnglực giúp Tôi thêm nghị lực, chịu khó để tìm ra nhiều phương pháp giúp chocác tiết dạy của Tôi được tốt nhất, học sinh đón nhận, tích cực học tập và đạtkết quả cao nhất
- Bản thân Tôi cũng được sự giúp đở của gia đình đã đở đần bớt việcnhà cũng như sưu tầm cho Tôi những quyển sách hay có liên quan đếnchuyên môn để Tôi có thời gian nghiên cứu, bổ sung kiến thức và đầu tưcho công việc giảng dạy của Tôi được tốt hơn
2 Khó khăn:
- Tuy được các cấp lảnh đạo của ngành quan tâm, nhưng kinh phí có hạnnên dụng cụ - hoá chất không được bổ sung về trường thường xuyên, một sốhoá chất quan trọng sử dụng thường xuyên đã bị hết, một số thì bị hỏng do
Trang 5lâu ngày như quỳ tím, phenol, dd brom… bị mất màu nên có tiết phải dạychay, hoặc có bài thực hành không thực hiện được.
- Cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu tối thiểu của học sinh trong
1 giờ thực hành lên lớp, cụ thể là thiếu phòng thí ngiệm thực hành làm thờigian thực hành ngắn lại do các em còn phải mất một ít thời gian để mangdụng cụ – hoá chất từ phòng thiết bị về lớp, chưa kể đôi khi cán bộ thiết bịchuẩn bị thiếu hoá chất các em phải đi lên đi xuống nhiều lần làm mất thờigian nên có thí nghiệm chưa kịp làm đã hết thời gian
- Do ảnh hưởng hoàn cảnh gia đình nên trình độ của các em cũng chênhlệch nhau khá xa, một số em được cha mẹ quan tâm đúng mức nên học rấtgiỏi, tiếp thu bài rất nhanh và cũng không ít học sinh do mưu sinh của cuộcsống, ba mẹ thường xuyên đi làm từ sáng sớm đến chiều tối, các em thiếu sựquản lý, quan tâm, chăm sóc của gia đình Bản thân các em chưa ý thức việchọc nên bị hỏng kiến thức ngay từ những lớp dưới, các em thiếu tự tin,không tích cực trong giờ học, tiếp thu bài chậm và thường hay tránh né,thậm chí còn thờ ơ trước những câu hỏi do giáo viên đặt ra và số khác còn tệhơn là ngồi thu mình trong giờ học chỉ quan sát các bạn học tập coi như thểmình chỉ là học dự thính, tất cả các câu hỏi, bài tập đều nằm ngoài khả năngcủa mình nên các em rất thụ động, thờ ơ trong học tập
- Do phân phối chương trình quá ít (2tiết/tuần) so với lượng kiến thức vàbài tập nên không có nhiều thời gian để hướng dẫn giải bài tập, các em thiếu
kỷ năng giải bài tập dẫn đến kết quả đạt được không cao
3 Biện pháp giải quyết:
Đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên Sau nhiều năm giảng dạy Tôicũng góp nhặt cho mình một ít kinh nghiệm để giải quyết những hạn chế saocho việc dạy và học đạt yêu cầu ở học sinh yếu, kém và nâng cao được trình
độ cho học sinh khá giỏi để tiết dạy thêm sinh động, không bị nhàm chán,khô khan và đã đạt kết quả khả quan Với những kinh nghiệm mà Tôi sắp
Trang 6trình bày mong rằng các đồng nghiệp sử dụng được và học sinh cũng tiếpthu bài tốt hơn.
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:
1 Chuẩn bị ở đầu năm học:
a/ Đối với giáo viên:
Để giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện khâu chuẩn
bị bài trước khi lên lớp thật tốt
- Giáo án: Phải có kế hoạch môn, kế hoạch chương rõ ràng
- Phải soạn trước , tối thiểu một tuần khi lên lớp để kịp chuẩn bị đồdùng dạy học
-Trước khi lên lớp, giáo viên phải chuẩn bị: đồ dùng dạy học, xem lạiphương pháp và nội dung bài học và cả phần chuẩn bị, dặn dò cho tiết họcsau
- Lưu ý: Giáo viên phải thường xuyên sử dụng phấn màu để ghi đề mụccủa nội dung bài học làm rõ nội dung bài, sửa sai, bổ sung kiến thức do họcsinh làm giúp cacù em nhìn rõ những sai sót của mình tránh vấp phải ởnhững bài học sau
b/ Đối với học sinh:
Ngay tiết học đầu tiên của năm học Tôi bỏ ra vài phút để yêu cầu các
em trang bị cho mình đồ dùng cần thiết trong môn học và hướng dẫn chocác em ghi bài sao cho nhanh, rõ, chính xác và học bài có hiệu quả Cụ thể:
- Đầu giờ học: Học sinh phải có những dụng cụ sau:
+ Trên bàn: Có bút xanh, bút đỏ, sách giáo khoa, vở để ghi bài học Bút xanh: ghi bài
Bút đỏ: gạch chân những kiến thức quan trọng cần nhớ hoặc ghi chú + Trong học bàn: Một quyễn vở nháp, một quyễn vở ghi bài tập để cóthể lấy ra ngay khi có yêu cầu
- Khi học sinh lên trả bài: Phải mang cả hai quyển vở bài học và bài tập
để giáo viên kiểm tra khâu chuẩn bị bài tập
Trang 7- Đối với một tiết thực hành thí nghiệm:
+ Phân công lớp trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở các bạn trực tổ nhanhchống lên phòng thiết bị để mang dụng cụ - hóa chất xuống lớp, tránh lề mềmất thời gian
+ Các em phải xem trước nội dung bài thực hành và kẻ sẳn mẫu bảngtường trình để sau khi làm thí nghiệm xong quan sát và ghi kết quả thínghiệm ngay
Mục đích:
khi các em hoàn thành tốt khâu chuẩn bị, vào lớp học các em cảm thấy nhẹnhàng hơn, không rơi vào tình trạng chán học
II/ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:
PHƯƠNG PHÁP 1:Thống nhất quan điểm trong giảng dạy của thầy
và trò
Trước hết giáo viên phải nắm bắt trình độ học tập của các em, sau đó tuỳtheo khả năng mà giáo viên có thể yêu cầu cụ thể hay hướng dẫn từ từphương pháp học sau cho có hiệu quả.cụ thể như sau:
a) Đối với những lớp có nhiều học sinh khá- giỏi (lớp học khá- giỏi): Giáo viên yêu cầu học sinh trước khi đến lớp các em phải học bài cũ, làmbài tập, đọc trước bài mới ở nhà để đến lớp hoàn thành bài giảng nhanh, cóthời gian giải một số bài tập cơ bản, còn những học sinh yếu – kémtrong lớp, nếu như các em thực hiện không tốt giáo viên cũng không nêngây áp lực quá lớn khiến các em phải sợ khi vào tiết học mà phải để cho các
em có thời gian củng cố kiến thức , tạo điều kiện cho các em hoà nhập vàovới các bạn học khá giỏi lúc đó tự nhiên các em sẽ thực hiện tốt giống nhưcác bạn
b) Đối với những lớp có nhiều học sinh yếu – kém (lớp yếu –kém):
Giáo viên nhắc nhở các em phải học bài cũ, làm bài tập, đọc bài mớitrước khi đến lớp nhưng không nên quá khắc khe đối với các em, tránhtrường hợp các em do không chuẩn bị tốt dễ có tư tưởng trốn học, bỏ tiết
Trang 8Sau một thời gian cung cấp và củng cố kiến thức các em tiến bộ hơn lúc
đó giáo viên phân tích cho học sinh hiểu rõ công việc chuẫn bị bài trước ởnhà là hết sức cần thiết.Gv phân tích cho các em tầm quan trọng của việcđọc bài mới trước ở nhà nó giúp các em nắm trước kiến thức đồng thời họcsinh cũng định hướng được những kiến thức cũ có liên quan đến kiến thứcmới từ đó các em có thời gian xem lại kiến thức cũ có liên quan và đã tựcủng cố kiến thức cho mình, qua nhiều lần ôn đi ôn lại các em nhớ sâu, nhớlâu hơn và sẽ thích thú hơn khi nghe giáo viên đặt câu hỏi và các em sẽhứng thú hơn với môn học và sẽ có nhiều tiến bộ hơn
Một số ví dụ cụ thể :
Ví dụ 1: Ở chương I Bài 4: Một số axit quan trọng
Để học tốt bài học này giáo viên yêu cầu các em phải nắm được tính chấthoá học của axit:
+ Làm quỳ tím hoá xanh
Axit + kim loại muối + H2
Axit + bazơ muối + nước
Axit + oxit bazơ muối + nước
từ đó các em suy ra được tính chất hoá học của một số axit ( cụ thể là tínhchất hoá học của axit HCl và H2SO4 ) cũng có những tính chất hoá học nhưtrên.Các em định hướng trước giáo viên sẽ đặt câu hỏi:
Câu hỏi 1: Axit có những tính chất hoá học nào?
Câu hỏi 2: Dựa vào tính chất hoá học của axit, em hãy nêu tính chất hoáhọc của HCl và H2SO4 ? từ đó học sinh chuẩn bị trước cho mình một sốcâu hỏi và trả lời Sau vài bài học, học sinh nắm được phương pháp học bài
cũ và chuẩn bị bài mới và các em sẽ thực hiện đối với những bài học sau
Ví dụ 2: Bài 7: Tính chất hoá học của bazơ
- Học sinh học bài cũ: nắm được tính chất hoá học của bazơ
+ Làm quỳ tím hoá xanh, phenolphtalein không màu thành màu đỏ Dung dịch bazơ + oxit axit muối + nước
Trang 9Bazơ + axit muối + nước
Bazơ không tan bị nhiệt phân huỷ oxit tương ứng + nước
- Làm bài tập vận dụng do giáo viên dặn dò
- Từ đó học sinh đọc bài mới có thể tự suy ra Tính chất hoá học củaNaOH, Ca(OH)2
Như vậy sau khi học xong bài 7, học bài 8: một số bazơ quan trọng sẽnhanh hơn, có thời gian để giải bài tập cho học sinh rèn kĩ năng luyện tập
Phương pháp 2: Sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong giờ học.
Muốn học sinh không chán, có hứng thú học tập mỗi tiết học giáo viênnên sử dụng giáo cụ nếu những bài có thực hành thí nghiệm thì phải làm vìthực hành thí nghiệm có những vai trò quan trọng sau:
- Vai trò 1 : Thí nghiệm là một phần của hiện thực khách quan được
thực hiện hoặc tái tạo lại trong những điều kiện đặc biệt, trong đó con người
có thể chủ động điều khiển các yếu tố tác động vào quá trình xảy ra để phục
vụ cho mục đích nhất định Thí nghiệm giúp con người phát hiện ra nhữngquy luật còn ẩn náu trong tự nhiên, giúp con người kiểm chứng, làm sáng tỏnhững giả thuyết khoa học Đúng như Aêng ghen đã nói“ Trong nghiên cứukhoa học tự nhiên cũng như lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có,
từ những hình thái hiện thực khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học
lý luận về tự nhiên, chúng ta không thể cấu tạo ra mối liên hệ để ghép chúngvào sự thật, mà phải từ những sự thật đó, phát hiện ra mối liên hệ ấy, rồiphải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm”
Vai trò 2: Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học hoá học Nó giúp
học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại Khilàm thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với các chất hoá học và trực tiếp nắmbắt các tính chất lý, hoá của chúng Từ đó các em hiểu được các quá trìnhhoá học, nắm vững các khái niệm, định luật, học thuyết của hoá học
Ví dụ cụ thể :
Trang 10Bài 1: Tính chất hoá học của oxit.
Tính chất 1: oxit bazơ tác dụng với nước
- Giáo viên cho học sinh thực hiện 2 thí nghiệm
TN1: Cho BaO + H2O
TN2: Cho CuO + H2O
- Sau khi quan sát học sinh hiện tượng học sinh tự rút ra được kết luận: TN1: BaO tan trong nước tạo ra chất mới ( có phản ứng)
TN2: CuO không tan trong nước ( không phản ứng)
Từ đó giáo viên hình thành cho các em Tính chất hoá học của oxit bazơtác dụng với nước: Một số oxit bazơ tác dụng với nước tạo thành dung dịchbazơ (kiềm)
Lưu ý từ “ một số oxit bazơ” có nghĩa là còn một số oxit bazơ không tácdụng với nước ( oxit nào có bazơ tương ứng không tan thì oxit đó không tácdụng với nước)
- Tính chất 2: Oxit bazơ tác dụng với nước
- Giáo viên cho học sinh thực hiện 2 thí nghiệm
TN1: Cho BaO + HCl
TN2: Cho CuO + HCl
Học sinh quan sát hiện tượng, rút ra kết luận: cả 2 chất đều tác dụng với axit Oxit bazơ tác dụng với axit sinh ra muối và nước.
Đối với tính chất này oxit bazơ nào cũng tác dụng với axit nên khi kết
luận không dùng “ một số oxit bazơ ” nữa mà chỉ dùng từ “oxit bazơ ” từ
đó giáo viên hình thành cho học sinh các khái niệm về ngôn ngữ hoá học đểdiễn đạt đầy đủ những kiến thức hoá học hiện đại, nắm vững các khái niệm
về ngôn ngữ hoá học giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã tiếp thu đượcvào để giải các bài tập hoá và ứng dụng vào thực tế cuộc sống
Vai trò 3: Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tế Nhiều thí
nghiệm rất gần gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ Chính vì vậythí nghiệm giúp học sinh vận dụng các điều đã học vào thực tế cuộc sống
Trang 11Ví dụ cụ thể :
Bài 8 Một số bazơ quan trọng
Trong bài này học sinh vận dụng vào cuộc sống những ứng dụng như: Khửchua đất trồng, khử độc, diệt trùng bằng vôi
Bài 11 Phân bón hoá học
Ứng dụng thực tế:
- chọn đúng phân bón cho từng loại cây trồng
- chọn đúng phân bón cho từng giai đoạn cây cần Cụ thể:
+ Bón phân đạm (N) cho cây lấy thân, lá (rau)
+ Bón phân lân (P) cho cây ăn quả, lấy hạt
+ Bón phân kali (K) cho cây lấy củ
- Bón nhiều đạm cho cây trong giai đoạn cây sinh trưỡng, phát triển
Bài 44 – 45 và 50 Rượu etylic – axit axetic – Glucozơ
Giáo viên hướng dẫn học sinh điều chế rượu từ tinh bột, từ trái cây (nho,
mơ, dâu…), điều chế được giấm ăn Sau mỗi bài, cho học sinh về nhà làmthí nghiệm, thí nghiệm của em nào thành công mang đến lớp chấm điểmnhằm tăng tính hứng thú học tập cho học sinh
Vai trò 4: Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng thực hành, rèn
tính tiết kiệm, cẩn thận,khoa học, kỷ luật
a) Rèn tính tiết kiệm:
- Lấy một tờ giấy A4 có in 5 hình vuông màu đen và 5 hình vuông màutrắng, tờ giấy được dán trên 1 tấm bìa cứng và ép plactic
Trang 12- Trên các ô vuông sẽ thực hiện các thí nghiệm lượng nhỏ đơn giản như:Thí nghiệm tạo chất kết tủa, điện phân dung dịch… Lượng hoá chất sẽ lấyrất ít, chừng vài giọt Các thí nghiệm có chất màu được thực hiện ở ô vuôngmàu trắng, các thí nghiệm tạo kết tủa trắng sẽ được thực hiện ở ô đen.
- Giáo viên có thể phát cho mỗi bàn 1 tờ giấy A4 có in ô vuông đen,trắng ép platic để học sinh tự làm tạo điều kiện cho học sinh hoạt động 1cách tự giác, tích cực Đây cũng là 1 cách đổi mới phương pháp dạy học đểhọc sinh không nhàm chán
Giáo viên yêu cầu học sinh khi tiến hành thí nghiệm:
Phải cẩn thận để thí nghiệm thành công
Không tự ý làm các thí nghiệm ngoài nội dung bài học
Không đi lại lộn xộn, nói chuyện ồn ào, đùa giỡn trong khi thực hành thínghiệm
Phải tiết kiệm hoá chất( Lấy đúng lượng hoá chất ghi trong nội dung bàithực hành
c) Rèn tính khoa học – kỹ luật:
- Có thể thay thế chất này thành chất khác nhưng phải đảm bảo tính chínhxác, khoa học ( Thay NaOH = KOH không thể thay bằng HCl ), Sau khi làmxong để kết quả của mình ra cho mọi người cùng quan sát
- Trong quá trình làm thí nghiệm giáo viên nên cho học sinh thoải mái traođổi giữa các nhóm nhưng tránh ồn ào mất trật tự, phải tuân thủ những kĩ luật