2- Tư tưởng chính của Nguyễn Đình Chiểu qua những tác phẩm.a Lục Vân Tiên Đạo đức, nhân nghĩa.. Trai thời trung hiếu làm đầuGái thời tiết hạnh làm câu trau mình Trong tác phẩm, tác
Trang 1MÔN VĂN
CHÀO MỪNG CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN
VỚI BUỔI THUYẾT TRÌNH.
Tổ 1
Trang 2NGUYEÃN ÑÌNH CHIEÅU
Trang 3I- Tác giả
Trang 4Nguyeãn Ñình
Chieåu
Trang 5 Nguyễn Đình Chiểu tự
Mạch Trạch, hiệu Trọng Phú, Hối Trai (1822 -1888)
Quê quán: Quê mẹ ở
huyện Cần Giuộc tỉnh Gia
Định (nay thuộc TP.HCM),
quê cha ở huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Trang 6 Từ thuở niên thiếu ông đã chứng kiến cảnh loạn lạc lúc bấy giờ.
Cuộc đời
1833 ông được gửi ra Huế để tiếp tục việc học đến năm 19 tuổi.
1843 ông đỗ Tú tài, nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông
Trang 7 1847 ông ra Huế để chờ khoa thi Kỷ Dậu 1849 thì hay tin mẹ mất.
Trên đường về chịu tang mẹ
ông bị bệnh và bị mù cả hai
mắt.
Trong thời gian ở lại Quảng
Nam, ông được một danh y
truyền dạy nghề thuốc
Trang 8 Đui mù, mẹ mất, hôn thê bội ước, gia cảnh sa sút
ông đóng cửa chịu tang mẹ, đến năm 1851 ông mở
trường dạy học và bốc
thuốc.
1854, ông cưới bà Lê Thị
Điền, em gái của một người học trò.
Trang 9 Khi 3 tỉnh miền Đông vào
tay Pháp ông cùng gia đình
đến Vĩnh Long nay là huyện
Ba Tri tỉnh Bến Tre.
1859, Pháp chiếm Gia Định, ông cùng gia đình chạy về quê vợ
3-7-1888, ông mất tại Ba
Tri, Bến Tre
Trang 10II- Sự nghiệp sáng tác
1- Những tác phẩm chính
Trang 11a)Thể hiện tinh thần nhân
nghĩa
Sáng tác khoảng đầu
những năm 50 của thế kỉ XIX, khi tác giả đã bị mù
Được lưu truyền rộng rãi ở
Nam Kì và Nam Trung Kì sau đó lan rộng ra toàn quốc.
Lục Vân Tiên
Trang 13 Nội dung - Nghệ thuật
Truyện Lục Vân Tiên là một
trong những tác phẩm chữ Nôm xuất sắc của Nguyễn Đình Chiểu, được lưu truyền rộng rãi Truyện thể hiện ước mơ hành đạo giúp
đời, mơ ước công lí, nhân nghĩa Ngôn ngữ bình dị, khoáng đạt,
mang đậm phong cách ngôn ngữ Nam Bộ
Trang 14Ngư tiều y thuật vấn đáp
Ra đời vào khoảng thời gian sau khi Nam bộ đã bị Pháp xâm chiếm Qua việc nói chuyện về y học để thổ lộ lòng căm phẫn với thời cuộc, động viên tinh thần đấu
tranh chống xâm lăng, sự quan
tâm tới tính mạng của bệnh
nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi
Trang 15b) Lòng yêu nước thương dân
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
1861, những nghĩa sĩ vốn là
nông dân tập kích tấn công đồn Pháp, hơn 20 người đã hi sinh
Theo yêu cầu của Tuần phủ
Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu
viết bài văn tế để truy điệu
những nghĩa sĩ đã hi sinh.
Trang 16 Nội dung - Nghệ thuật
Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm gồm 60 vế đối biền ngẫu, có vần, đối, ngôn ngữ quen
thuộc kết hợp trữ tình và hiện thực Thể hiện tinh thần bất
khuất, dũng cảm của những
người nông dân kiên cường,
không chịu sống kiếp nô lệ.
Trang 17Chạy giặc
Chạy giặc là bài ca yêu nước mở đầu cho thơ văn yêu nước
của dân tộc từ cuối thế kỉ XIX
Bài thơ được viết bằng ngôn
ngữ bình dị, dân dã đậm sắc Nam Bộ Phép đối, phép đảo ngữ, ẩn
dụ, so sánh được tác giả vận dụng sáng tạo để viết nên những vần
thơ hàm súc biểu cảm
Trang 18
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?
Trang 192- Tư tưởng chính của Nguyễn Đình Chiểu qua những tác phẩm.
a) Lục Vân Tiên
Đạo đức, nhân nghĩa
Bắt đầu từ tư tưởng nhân
nghĩa của Nho giáo
Nêu lên những tấm gương luân lý, đạo đức Nhị thập tứ hiếu
nhằm cải tạo, giáo huấn xã hội
Trang 20Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình
Trong tác phẩm, tác giả đã
nhào nặn lại tư tưởng của đạo
Nho, đặt ra vấn đề trung hiếu, tiết nghĩa nhưng không theo lý thuyết Nho giáo gò bó, cực đoan kiểu phong kiến mà được tiếp
thu một cách sáng tạo phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Trang 21 Tư tưởng trung quân của
Nguyễn Đình Chiểu là trung
quân có điều kiện, trung với lẽ phải, với nước Nhưng đối với những đối với những ông vua xấu, vua ác thì ông sẵn sàng
phê phán.
Những nguyên lí đạo đức
trong truyện.
Trang 22Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Khiến dân luống chịu lầm than
muôn phần
Ghét đời Ngũ Bá phân vân
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Ghét đời thúc quý phân băng
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân
Ghét đời U Lệ đa đoan
Để dân đến nỗi sa sầm sẩy hang
Trang 23 Tác phẩm đề cao trung, hiếu,
tiết, hạnh nhưng không phải
hoàn toàn thuộc quan niệm phong kiến mà có nhiều yếu tố nhân
dân Ví như hành động tự trầm
mình của Kiều Nguyệt Nga đã thể hiện sự phản kháng đối với chữ
trung:
“Nghĩa tình nặng cả hai bên
Lấy mình báo chúa, lấy lòng phụ sư”
Trang 24 Trong tác phẩm Lục Vân
Tiên, Nguyễn Đình Chiểu vừa
ca ngợi chính nghĩa, vừa phê
phán phi nghĩa Những tình
huống được tác giả xử lý rất
gần với quan niệm, ước nguyện của nhân dân:
“Thiện giả thiện báo
Ác giả ác báo”
Trang 25 Ca ngợi những người coi trọng
nghĩa khí, sẵn sàng giúp đỡ người khác, không nghĩ đến thân, quên mình vì nghĩa Hình tượng ông
Ngư trong tác phẩm đã thể hiện
điều đó:
“Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ
Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn
Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”
Trang 26 Tác phẩm thể hiện bản chất
đạo lý nhân dân
Các nhân vật chính diện trong tác phẩm sống rất cởi mở, có tình có nghĩa và rất chân chất
Bản chất nhân dân còn thể hiện qua tính cách nhân vật Khi nghe
tin Vân Tiên mất, Tử Trực một
người trực tính, không màng danh lợi, sống tình nghĩa rất mực yêu
quý bạn bè đã khóc:
Trang 27 Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là
Lục Vân Tiên, chàng là mẫu
người lý tưởng hội đủ các tính
cách mà nhân dân mơ ước: tài ba, dũng cảm trọng nghĩa khinh tài, phò nước giúp đời, đối nhân xử
thế đều theo quan điểm của nhân dân
Nghe qua Tử Trực chạnh lòng Hai hàng nước mắt ròng ròng như mưa
Trang 28 Tác phẩm mang dáng dấp một tự truyện, ước mơ về một xã hội lý tưởng
Nhân vật chính Lục Vân
Tiên đã thể hiện ước mơ của
Đồ Chiểu: người thanh niên bị phụ tình ước mơ về một mối
tình chung thủy, mơ ước trả
được nợ nước non, mơ có thuốc tiên để chữa lành đôi mắt
Trang 29 Lục Vân Tiên là cả một xã hội với đầy đủ loại người, đầy đủ
người tốt, kẻ xấu
Nhà thơ đã xây dựng những
mẫu người lý tưởng, qua những
nhân vật đó, tác giả muốn xây
dựng lên một xứ sở của điều
thiện, lẽ sống công bằng và lòng nhân ái Phê phán những kẻ bất nhân, bất nghĩa
Trang 30 Thể hiện khát vọng của nhân
dân về lẽ công bằng và những
điều tốt đẹp trong cuộc đời thông qua kết thúc có hậu: thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà
Tác phẩm nhằm truyền bá đạo lý làm người, đề cao trung, hiếu, tiết nghĩa, nói lên mơ ước, nguyện vọng nhân dân về một đất nước lý tưởng và những con người mẫu mực.
Trang 31 Nghệ thuật
Lời thơ nôm na, mộc mạc, chất phác, dễ nhớ, dễ truyền miệng
trong dân gian
Sử dụng thành ngữ, ca dao
Xây dựng nhân vật có tính cách đối lập nhau
Lấy những điển cố từ truyện
Tàu, những điển tích quen thuộc với nhân dân
Trang 32b) Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Hình ảnh những người nghĩa sĩ.
Nguồn gốc: Là những người nông dân “cui cút làm ăn”, cần cù lao
động và chất phác hiền lành không quen với việc ra chiến trường
“Việc cuốc, việc cày, việc bừa,
việc cấy, tay vốn quen làm
Tập khiên, tập súng, tập mác,
tập cờ, mắt chưa từng ngó”
Trang 33-Yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng
“Ghét thói mọi như nhà nông
Trang 34 Trang bị:
-Không phải là lính chính quy của Triều Đình: “Chẳng phải
quân cơ, quân vệ”, mà chỉ làø
“dân ấp, dân lân” vì bát cơm manh áo mà đánh giặc.
-Trang bị thô sơ “một manh
áo vải”, một ngọn tầm vông,
một lưỡi ga phay
Trang 35- Kẻ thù của họ là thằng
Tây, là mã tà, ma ní.
Chiến đấu dũng cảm - hi
sinh anh dũng
-Dũng mãnh tiến công như
vũ bão “đạp rào lướt tới”, “kẻ đâm ngang, người chém
ngược”
Trang 36“Nào sợ thằng Tây bắn đạn
nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào,
liều mình như chẳng có”.
-Kêu gọi quyết tâm đánh giặc
đến cùng “Sống cũng đánh giặc, thác cũng đánh giặc linh hồn
theo giúp cơ binh, muôn kiếp
nguyện được trả thù kia ”
-Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lẫm liệt hiên ngang
Trang 37- Họ đã đánh một trận oanh liệt, chiến đấu một cách
ngoan cường và ngã xuống hi sinh trong chiến bại:
-Tạo chiến công oanh liệt
“đốt xong nhà dạy đạo kia”,
“chém rớt đầu quan hai nọ”
Trang 38- Người nghĩa sĩ hi sinh để lại giọt nước mắt của sông nước, cỏ cây, của nhân
dân và nỗi đau không
nguôi của mẹ già, vợ yêu.
“Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm
vội bỏ”
Trang 39- Ca ngợi lòng yêu nước, căm
thù giặc và tinh thần tự nguyện đánh giặc cứu nước của những
người anh hùng thời đại đã
sống, chiến đấu và hi sinh anh dũng.
- Đề cao vị trí và vai trò của
người nông dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trang 40- Khẳng định một quan niệm
“chết vinh còn hơn sống nhục” Không thể “theo quân tà đạo”, đánh thuê, làm bia đỡ đạn,
sống cuộc đời bán nước cầu
vinh Trái lại phải sống anh
dũng, chết vẻ vang
- Tiếc thương những người
nghĩa sĩ đã anh dũng hi sinh
vì độc lập, tự do của Tổ quốc
Trang 41- Tự hào về các nghĩa sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc Tên tuổi họ,
tinh thần họ bất tử: “danh
thơm đồn sáu tỉnh chúng đều
khen”, “tiếng nay trải muôn
đời ai cũng mộ”.
Nghệ thuật
Sử dụng kiểu câu tứ tự, song
quang, cách cú một cách đặc sắc
Trang 42 Ngôn ngữ bình dị như cách
nói, cách nghĩ và cách cảm
nhận của nhân dân.
Chất trữ tình kết hợp chất
anh hùng ca tạo màu sắc bi
Trang 43 Nghệ thuật đối tài tình nêu bật được sự đối lập giữa
những người nghĩa quân và kẻ địch.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một bài ca yêu nước chống
xâm lăng, là kiệt tác trong
kho tàng văn tế cổ kim của
dân tộc.
Trang 44Bài văn tế không chỉ là một bản thiên anh hùng ca đặc sắc mà còn là lời bộc bạch gan ruột của những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang
không chịu làm nô lệ thề đánh giặc đến cùng
Tác phẩm là lời ca ngợi lòng yêu nước, ý chí cứu nước của
tác giả
Trang 45 Toàn bài mang tính chất
trầm hùng, bi thiết, có sức cổ vũ lớn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, là tác phẩm xúc động nhất về
người anh hùng nông dân Nam Bộ Có lẽ ý thức yêu nước mãnh liệt, lòng khâm phục và đau xót với người nghĩa sĩ trận Cần
Giuộc đã tạo ra kiệt tác cho nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
Trang 46 Nguyễn Đình Chiểu có
nhiều đóng góp quan trọng
nhất là thơ văn trữ tình đạo
đức Vẻ đẹp của thơ văn ông không lộ ra bên ngoài mà
tiềm ẩn sâu trong tầng sâu
của cảm xúc, suy ngẫm
III- Nghệ thuật thơ văn
Trang 47 Bút pháp trữ tình xuất phát
từ cõi tâm trong sáng, nhiệt
thành, đầy lòng yêu thương con người của ông luôn nồng đậm
hơi thở cuộc sống tạo nên sức rung động mãnh liệt sâu xa.
Lối thơ thiên về kể trong các truyện của ông mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong
văn học dân gian Nam Bộ
Trang 48Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu còn rất đậm đà sắc thái Nam Bộ Mỗi người dân Nam
Bộ đều có thể bắt gặp mình ở
các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, bình dị đến tâm hồn nồng nhiệt, chất phác, cách cư xử khoáng đạt, hồn
nhiên.
Trang 49“So với các tác giả cùng thời
Nguyễn Đình Chiểu đã có một
thái độ tích cực hơn, vì nước vì
dân hơn Tuy không đứng vào
hàng ngũ cầm khí giới nhưng
ông rất có cảm tình với họ, chia sẻ với họ cái hờn mất nước, lòng căm ghét quân địch và bọn hợp tác ” Phạm Thế Ngũ nhận xét
IV- Nhận xét về tác giả
Trang 50“Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người, ấy
không vì thế mà buông xuôi
theo số phận
Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là
nhân cách cao đẹp của Nguyễn
Đình Chiểu” Nguyễn Văn Châu
nhận xét.
Trang 51“Dù đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không
thờDù đui mà khỏi danh nhơ Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình”
“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
Hay
Trang 52- Nguyễn Đình Chiểu vừa là
nhà thơ của nhân nghĩa vừa là nhà thơ của lòng yêu nước.
- Tình cảm thiết tha với nhân dân lầm than và lòng căm thù bọn giặc cướp nước luôn ngự trị trong tâm hồn ông.
Ông xứng đáng là nhà thơ
lớn của dân tộc.
Trang 54Thơ của Nguyễn Đình Chiểu
có những tư tưởng chính nào?
A- Gắn bó đồng cảm với người phụ nữ
B- Gắn bó với con người, thiên nhiên
C- Nhân nghĩa, yêu nước
D- Yêu nước, yêu thiên nhiên
Trang 55Điền từ vào chỗ trống: ““Sống
cũng đánh giặc, cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp , muôn kiếp nguyện được trả thù kia ”
Trang 56Nguyễn Đình Chiểu mở
trường dạy học và bốc thuốc năm nào?
C- 1851
A- 1847
D- 1853
B- 1850
Trang 57V- Tổng kết
một ngôi sao sáng trong nền văn học Việt Nam
Oâng là nhà thơ của
nhân nghĩa, của lòng
yêu nước.
Trang 58 Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, trong đó
thành công nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm Ngôn ngữ bình dị, giàu
tính nhân dân khiến ngòi bút ông có sức thu hút
mạnh mẽ với người đọc.