Đặc biệt trong thời gian gần đây giá thức ăn chăn nuôi leo thang trong khi giá thịt lợn lại giảm, điều này làm tăng mối quan tâm của các nhà khoa học và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuô
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : TS Bùi Thị Thơm
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu đã được sử dụng trong bản luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn
Các thông tin, trích dẫn tài liệu trình bày trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lường Thị Vịnh
Trang 4Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của tập thể
thầy cô giáo hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm, PGS TS Hoàng Toàn Thắng
đã đầu tư nhiều công sức và thời gian hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn
Các cơ sở sản xuất, chế biến dong riềng và một số hộ nông dân tại tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Sở Công thương Bắc Kạn tạo điều kiện giúp đỡ khi tôi thu thập số liệu Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ về mọi mặt, khuyến khích, động viên tôi hoàn thành luận văn khoa học này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Lường Thị Vịnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái quát tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc Việt Nam 4
1.1.2 Thành phần hóa học của bã củ quả nói chung, bã dong riềng nói riêng trong chăn nuôi 9
1.1.3 Các phương pháp xử lý, chế biến, bảo quản thức ăn phế phụ phẩm cho gia súc và cơ sở khoa học của chúng 13
1.1.4 Một số vấn đề liên quan đến giống lợn dùng trong thí nghiệm 19
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp khảo sát tiềm năng nguồn bã thải dong riềng 27
2.3.2 Phương pháp chế biến bã dong riềng 28
Trang 62.3.3 Phương pháp thí nghiệm xác định hiệu quả thử nghiệm của việc sử
dụng bã dong riềng ủ trong khẩu phần ăn nuôi lợn thịt 29
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 32
2.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 32
2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi về thức ăn 32
2 33
2.4.4 Phương pháp xác định thành phần dinh dưỡng, phân tích mẫu 34
2.4.5 Hạch toán hiệu quả kinh tế 35
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất và chế biến dong riềng tại tỉnh Bắc Kạn năm 2013 36
3.2 Kết quả thí nghiệm xác định công thức chế biến bã dong riềng thích hợp 41 3.2.1 Thành phần hóa học của các công thức chế biến bã dong riềng 41
3.2.2 Biến đổi về cảm quan của bã dong riềng ủ 45
3.3 Kết quả về khả năng sinh trưởng của lợn lai F1 (♂ Pietrain x ♀ Móng cái) có sử dụng bã dong trong khẩu phần 48
3.3.1 Sinh trưởng tích lũy 48
3.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối 50
3.3.3 Khả năng thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm 52
3.3.4 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 54
3.3.5 Kết quả mổ khảo sát đánh giá năng suất, chất lượng của lợn thí nghiệm 55
3.4 Hạch toán hiệu quả kinh tế 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NEF : Dẫn suất vô đạm
NLTĐ : Năng lượng trao đổi
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của bã dong riềng 12
Bảng 1.2: Thành phần hóa học bã dong riềng thu tại huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn 13
Bảng 2.1: Công thức chế biến bã dong riềng 28
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm chuồng trại 30
Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của lợn trong giai đoạn thí nghiệm (%/kgTA) 31
Bảng 3.1: Sản lượng củ dong riềng chế biến trên địa bàn tỉnh năm 2013 36
Bảng 3.2: Sản lượng bã dong riềng thải có thể dùng chăn nuôi (tấn) 39
Bảng 3.3: Thành phần hóa học của bã dong riềng sau 1 tuần ủ (%) 42
Bảng 3.4: Thành phần hóa học của bã dong riềng sau 4 tuần ủ (%) 44
Bảng 3.5: Kết quả xác định sự biến đổi các chỉ tiêu cảm quan về mùi, màu sắc, pH của bã dong riềng ở các công thức chế biến theo thời gian 46
Bảng 3.6 Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm (kg/con) (n = 20 con) 48
Bảng 3.7 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 51
Bảng 3.8 Khả năng thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm (kg/con/ ngày) 53
Bảng 3.9 Tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm (Kg) 54
Bảng 3.10: Kết quả mổ khảo sát lợn thịt (n = 3) 56
Bảng 3.11 Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm (%) 57
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm 58
`
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Biểu đồ tình hình sản xuất cây dong riềng tại tỉnh Bắc Kạn
năm 2013 37 Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy ở lợn thí nghiệm 50 Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối ở lợn thí nghiệm 51
Trang 102011, nguyên nhân của việc này là do giá thịt lợn hơi giảm, chi phí về con giống và thức ăn tăng lên do đó người dân không mở rộng quy mô sản xuất Sản lượng thịt lợn hơi năm 2011 là 3,2 triệu tấn, năm 2013 mặc dù tổng đàn
so với năm 2011 có giảm, nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 3,3 triệu tấn tăng 103,12% so với cùng kỳ năm 2011 (Trung tâm Tin học và thống kê,
2011, 2013) [31] Đối với ngành chăn nuôi lợn, thức ăn thường chiếm 65 – 70% giá thành sản xuất 1 kg thịt hơi Nhưng nguồn nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc ở trong nước còn thiếu, hàng năm vẫn phải nhập ngoại với giá cao Đặc biệt trong thời gian gần đây giá thức ăn chăn nuôi leo thang trong khi giá thịt lợn lại giảm, điều này làm tăng mối quan tâm của các nhà khoa học và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi vào việc sử dụng hiệu quả nguồn thay thế khác, trong đó có việc sử dụng phụ phẩm bã thải ra của ngành chế biến tinh bột từ các loại củ (sắn, dong riềng ) được coi như nguồn thức ăn năng lượng có triển vọng
Cây dong riềng là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng
Trang 11được đồng bào nhiều vùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương Riêng đối với tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được chọn là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả Năm 2012, tỉnh Bắc Kạn trồng được 1.840 ha cây dong riềng Năm 2013 toàn tỉnh trồng tới 2.898,66 ha, sản lượng đạt 187.394 tấn củ Để chế biến củ dong riềng toàn tỉnh tính đến tháng 8 năm 2013 đã có 34 cơ sở sản xuất miến dong và 89 cơ sở chế biến tinh bột dong riềng, cứ 100 kg củ dong riềng tươi đưa vào chế biến thì thải ra 72 kg bã dong tươi, như vậy mỗi niên vụ sản xuất một hợp tác xã làng nghề có thể thải ra hàng chục nghìn tấn bã dong tươi Tuy nhiên, lượng bã này chỉ mới được tận thu rất ít làm thức ăn chăn nuôi (lợn, ngan, ngỗng) mặc dù bã thải còn chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng quý mà vật nuôi có thể sử dụng Số còn lại bị bỏ thối làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ô nhiễm mặt đất cũng như bầu không khí làng nghề Trong khi hoạt động chăn nuôi ở khu vực này lại thiếu thức ăn
Từ những lí do trên, cho thấy rằng việc nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn chăn nuôi vừa có thể tận dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi, mặt khác đó sẽ là một giải pháp tích cực để chống ô nhiễm làng nghề do tình trạng
bã dong riềng thối hỏng gây ra Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn cho chăn nuôi lợn thịt”
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho phép đánh giá thành phần hóa học và tiềm năng sử dụng bã dong riềng khi sử dụng làm thức ăn cho lợn, góp phần cung thêm số liệu khoa học cho chuyên ngành thức ăn dinh dưỡng và những thông tin cơ bản về việc sử dụng bã dong riềng trong chăn nuôi lợn
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc Việt Nam
1.1.1.1 Tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc nói chung
Cây dong riềng: là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào nhiều vùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương Bột dong có ít chất đạm hơn so với lúa và các cây có củ khác tuy nhiên hàm lượng chất béo và chất đường bột lại cao hơn hẳn Các phần trên cây dong được tận dụng gần như triệt để: thân, cuống lá cung cấp một phần lớn nguyên liệu cho công nghiệp sợi, lá để làm thức ăn gia súc và củ dùng để chế biến thực phẩm
Trung bình mỗi vụ, cây dong riềng cho năng suất đạt 50-70 tấn củ/ha Nếu lượng củ này đem chế biến thành tinh bột thì với mỗi ha dong riềng sẽ cho thu nhập gấp 4-5 lần so với trồng lúa Dong riềng được trồng chủ yếu phục vụ cho sản xuất tinh bột và làm miến với quy mô mang tính công nghiệp Tại các vùng trồng dong riềng đều có các nhà máy, cơ sở sản xuất và các làng nghề chế biến tinh bột dong, việc chuyên chở củ dong đi xa là không thực tế do cước vận chuyển cao làm tăng giá thành sản xuất tinh bột
Ở tỉnh Hà Giang dong riềng được trồng nhiều ở huyện Hoàng Su Phì Năm 2010, toàn huyện đã trồng được 130 ha cây dong riềng cao sản tại 6 xã:
Pố Lồ, Thàng Tín, Chiến Phố, Tụ Nhân, Đản Vân và Thán Chu Phìn với năng suất đạt 50 -55 tấn/ha, sản lượng đạt 6.500 tấn Lúc đó, giá thu mua dong
Trang 14riềng tại các xã là 800 đồng/kg, vận chuyển đến trung tâm huyện là 1000 đồng/kg, như vậy 1 ha dong riềng cho thu nhập khoảng 50 triệu đồng Năm
2012, huyện Hoàng Su Phì đã mở rộng vùng trồng dong riềng cao sản lên
1100 ha, trong đó quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá 800 ha tại xã Pố Lồ, Chiến Phố, Thàng Tín, Tụ Nhân, Thán Chu Phìn, Đản Vân, Sán Sả Hồ và Pờ
Ly Ngài Bên cạnh đó, huyện đó kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bột dong riềng tư nhân để bao tiêu toàn bộ sản phẩm củ dong do người dân các vùng bán ra Việc triển khai áp dụng tiến bộ khoa học trong việc đưa những giống cây trồng mới cho năng suất, hiệu quả cao như cây dong riềng lần đầu tiên được trồng tại huyện vùng cao Hoàng Su Phì đã thành công, mở
ra hướng làm ăn mới, giúp cho bà con các dân tộc có thu nhập cao, ổn định và bền vững
Nhận thấy cây dong riềng dễ trồng và ít tốn công chăm sóc hơn so với trồng sắn, ngô, lại có giá trị kinh tế cao, những năm 2000, người dân một số bản vùng cao ở xã Mường Phăng (huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên) như: bản Noọng Luông, Noọng Nghịu, bản Khỏ, Na Háy, bản Cang bắt đầu trồng để làm lương thực dự trữ thay cho ngô, sắn Một vài năm gần đây, các xưởng chế biến tinh bột dong riềng được xây dựng ngay tại chỗ, thu mua sản phẩm cho người dân nên diện tích cây dong riềng được mở rộng Được sự hướng dẫn của cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên), nông dân ở Mường Phăng đã đầu tư giống, phân bón trồng loại cây này Theo một số hộ dân, dong riềng là loại cây dễ trồng, tốn ít công chăm sóc, ít bị sâu bệnh không đòi hỏi mức đầu tư lớn, cho năng suất và thu nhập cao hơn trồng ngô, sắn Nhờ trồng cây dong riềng nên nhiều gia đình ở Mường Phăng đã thoát nghèo và có tích lũy Trung bình mỗi héc ta dong riềng cho năng suất khoảng 65 tấn/ha Với mức giá bình quân tại địa phương từ 1.100đ – 1.500đ/kg thì mỗi héc ta sẽ đem lại khoảng 80 triệu đồng cho người trồng dong riềng Xác định cây dong riềng là thế mạnh trên
Trang 15đất Mường Phăng nên ngay từ năm 2007, Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Điện Biên Đông đã hỗ trợ mỗi hộ chế biến tinh bột dong riềng 4 triệu đồng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải tránh gây ô nhiễm môi trường cho người dân xung quanh khu vực và cũng là tạo điều kiện để các hộ chế biến thu mua kịp thời sản phẩm cho nông dân Không chỉ ở các huyện sản xuất dong riềng truyền thống như Điện Biên, TP.Điện Biên Phủ, mà giờ đây cây trồng này còn phát triển mạnh ở những huyện khác như Điện Biên Đông, Mường Chà, Nậm Pồ… với diện tích hàng ngàn ha Mặc dù năm 2013, giá sản phẩm này có xuống thấp nhất so với mấy năm trước thì thu nhập vẫn ở mức khá hơn cây ngô Hàng chục cơ sở thu mua, chế biến củ dong cũng đã ra đời, tạo nhiều việc làm cho bà con dân tộc thiểu số Từ đó đã khuyến khích được người dân phát triển loại cây này Việc sản xuất, chế biến tinh bột dong
và làm miến dong đó cải thiện đáng kể cho cuộc sống của người dân, giải quyết nhu cầu việc làm cho đại bộ phận lao động nhàn rỗi
Tuy nhiên sự phát triển này cũng kéo theo các hệ lụy về môi trường Tại xã Mường Phăng, mỗi ngày có hàng trăm tấn củ dong được nghiền xát thành bột thải xuống suối hàng nghìn khối nước không qua xử lý, tạo ra một dòng nước đen bốc mùi thối gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nguồn nước thải chảy qua một số bản sau đó đổ dồn về đầu nguồn hồ Pa Khoang khiến nhiều cá bị chết Nguy cơ nước hồ Pa Khoang bị ô nhiễm trên phạm vi rộng là đáng lo ngại
Ở tỉnh Tuyên Quang dong riềng trồng tập trung ở Yên Sơn, Chiêm Hóa, Lâm Bình Năm 2012 diện tích dong riềng của tỉnh lên tới 950 ha, riêng ở Yên Sơn đã trồng 600 ha, năng suất củ 66 tấn/ha Năm 2013 diện tích dong riềng của tỉnh Tuyên Quang là gần 1.100 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Yên Sơn 650
ha, Chiêm Hóa 350 ha, Lâm Bình 70 ha….,một số cơ sở làng nghề chế biến tinh bột dong và làm miến đang đối mặt với ô nhiễm môi trường vì gặp nhiều khó khăn trong xử lý chất thải
Trang 16Một số địa phương của tỉnh Cao Bằng như Nguyên Bình, Hòa An… cũng là những khu vực trồng và chế biến tinh bột dong riềng làm miến dong rất nổi tiếng Năm 2012, ở 2 vùng này diện tích dong riềng ước đạt 1.200 ha, năng suất 60 tấn/ha, sản lượng 60.000 tấn củ tươi, nếu chế biến hết sẽ thải ra môi trường tới 45 -50.000 tấn bã thải, là một nguồn thức ăn phụ phẩm rất có ý nghĩa để phát triển chăn nuôi tại chỗ, hoặc là nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Ngoài ra các tỉnh như Sơn La, Hòa bình cũng có diện tích dong riềng tăng nhanh trong mấy năm vừa qua
Các cơ sở chế biến tinh bột dong riềng có nhu cầu cao về nguyên liệu củ tươi nhưng cũng thải rất nhiều bã thải còn chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng quý mà vật nuôi có thể sử dụng nhưng trong thực tế nguồn bã thải này còn ít được dùng để chăn nuôi do những hạn chế của bã thải là độ ẩm quá cao và dễ phân hủy nên không thể dự trữ
Tại làng nghề ở Dương Liễu - Hoài Đức – Hà Nội, trung bình mỗi ngày, các hộ làm nghề thải ra từ 300- 500 tấn bã, hơn 15.000 m3
nước thải, hàng trăm tấn thải rắn, chứa các chất tẩy rửa hóa học, mang tính axít, kiềm, qua quá trình phân hủy tạo ra những mùi hôi thối nồng nặc Toàn bộ nguồn nước mặt tại các kênh mương bị ô nhiễm nặng Nước thải không qua xử lý, xả trực tiếp vào hệ thống mương tiêu thoát, đổ thẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy
Sự phân hủy bã dong riềng đang và tiếp tục làm nghiêm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chế biến trong đó có các làng nghề trong khi hoạt động chăn nuôi ở khu vực này lại thiếu thức ăn Việc nghiên cứu sử dụng các loại bã trên làm thức ăn vật nuôi là một mũi tên bắn trúng 2 đích: tận dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
Trang 171.1.1.2 Tình hình sản xuất, chế biến dong riềng tại Bắc Kạn năm 2013
Tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được chọn là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả Từ chỗ cây dong riềng chỉ được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xã Côn Minh (huyện Na Rì), thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây dong riềng vào canh tác Năm 2013, diện tích trồng dong riềng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là 2.898,66
ha Trong đó, huyện Na Rì đạt diện tích lớn nhất là 1.113,30 ha, tiếp theo là huyện Ba Bể với 770,06 ha diện tích đất trồng, huyện Bạch Thông là 260,00
ha, Chợ Đồn 256,90 ha, Pác Nặm 219,50 ha đứng cuối cùng là những huyện: Ngân Sơn với 95,00 ha diện tích đất trồng, thị xã Bắc Kạn 87,00 ha, Chợ Mới 76,90 ha
Với diện tích dong riềng trồng được như vậy thì cả năm 2013 toàn tỉnh đạt 187.394 tấn dong củ Nếu như số lượng củ này được đưa vào chế biến thành tinh bột và miến dong thì lượng bã thải ra môi trường là rất lớn vì bình quân cứ 1kg miến dong sản xuất được lại thải ra 9 – 10kg bã dong tươi Và theo báo cáo của Sở Công thương (2013) [16] cho thấy cứ 100kg củ dong tươi đưa vào chế biến thì thải ra 72 kg bã tươi Điều này có nghĩa là sản lượng bã tươi thải ra ước tính được là 134.933 tấn nếu như đưa 187.394 tấn dong củ vào chế biến Mà theo như kết quả phân tích thành phần hóa học bã dong riềng chúng tôi thu được thì trong 1kg bã dong tươi thải ra có chứa 5,79% tinh bột Như vậy, sản lượng tinh bột ước tính có trong 134.933 tấn bã thải ra mà
ta có thể thu được là 7.890 tấn Hàm lượng tinh bột này tương đương với 26.000 tấn sắn tươi hoặc hơn 16.000 tấn ngô Nếu như số bã thải này được đưa vào chăn nuôi khoảng 30 – 40% thôi thì cũng góp phần tạo ra sản lượng
Trang 18thịt hơi hàng ngàn tấn cho địa phương Đồng thời với đó là giảm thiểu đáng kể vẫn đề ô nhiễm môi trường xung quanh cơ sở chế biến dong riềng Tuy nhiên thực trạng sử dụng bã thải tươi cho chăn nuôi hiện nay ở địa phương còn rất kém, chỉ một số ít các hộ dân dùng để chăn nuôi với số lượng rất nhỏ, mỗi ngày chỉ từ vài kg đến hơn chục kg cho một gia đình Trong khi đó lượng bã thải ra trong ngày lên từ vài tấn tới vài chục tấn tùy công suất chế biến ở các
cơ sở khác nhau Điều này gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Khi đi qua các làng nghề chế biến dong riềng thì có một mùi đặc trưng không lẫn đâu được là mùi thum thủm của bã dong bị phân hủy và nước của ao, hồ, sông suối thì đổi màu đen và nổi bọt, không còn bóng dáng của một con cá, tôm nào cả
1.1.2 Thành phần hóa học của bã củ quả nói chung, bã dong riềng nói riêng trong chăn nuôi
* Bã sắn
Bã sắn là phụ phẩm của nghề chế biến bột sắn, sau khi nghiền lọc lấy đi tinh bột từ củ sắn thì còn lại bã sắn Bã sắn có thể dùng ở dạng tươi hoặc dạng khô cho gia súc đều được Khoảng 6kg bã sắn có giá trị tương đương năng lượng của 1kg thức ăn tinh nhưng hàm lượng lại thấp hơn Khi sử dụng bã sắn nên cho ăn thêm với urê, rỉ mật và khoáng để dinh dưỡng được cân đối, có thể dùng như thế với mức 15-20kg/1 bò sữa/ngày
Nên sử dụng bã sắn với bã đậu tương để bổ sung dinh dưỡng cho cân đối Nếu kết hợp 6 kg bã sắn với 7 kg bã đậu tương thì hỗn hợp 13 kg này có giá trị năng lượng tương đương với 2kg thức ăn tinh Nếu thêm vào hỗn hợp trên bột sò, bột xương, bột đầu tôm thì có thể dùng hỗn hợp đó thay thế tới 1/3 hoặc ½ lượng thức ăn tinh trong khẩu phần ăn của lợn
Trang 19Theo Bùi Quang Tuấn (2005) [32], trong bã sắn chứa khoảng 8% tinh bột, 15 -20% xơ thô Theo Nguyễn Hữu Văn và cs (2008) [34] khi phân tích hàm lượng các chất trong bã sắn tươi tính theo hàm lượng vật chất khô như sau: Tỷ lệ protein thô 3,6%, lipid thô 0,3%, năng lượng thô 4198 Kcal/kg Hàm lượng HCN là 240mg/kg và pH là 4,21 Nguyễn Xuân Trạch, (2003) [30] cho biết bã sắn khô có hàm lượng protein rất thấp (2-3%), hàm lượng tinh bột 5-8%, hàm lượng xơ thô cao 16 - 20%, chứa độc tố HCN ở mức 0,009 %, dễ gây ngộ độc cho vật nuôi
* Phụ phẩm dứa
Quả dứa ngoài việc dùng để chế biến xuất khẩu, thì những phụ phẩm còn lại như: chồi ngọn, bả dứa…thậm chí những lá dứa đầy gai cũng có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại như trâu bò Nguồn thức ăn chăn nuôi này hiện ít được chú ý sử dụng, còn
để lãng phí rất lớn
Phụ phẩm dứa bao gồm chồi, ngọn của quả dứa, vỏ cứng ngoài, những vụn nát trong quá trình chế biến dứa, bã dứa ép và toàn bộ lá của cây dứa Hàng năm loại phụ phẩm này ở các nông trường dứa và các cơ sở chế biến dứa rất lớn Ước tính 1ha dứa phá đi để trồng lại sau 2 vụ thu quả sẽ để lại 50 tấn lá dứa; 1 tấn dứa đưa vào chế biến theo quy trình chế biến dứa đông lạnh cho 0,25 tấn chính phẩm và 0,75 tấn phụ phẩm, tức là cứ 4kg dứa nguyên liệu cho 1kg thành phẩm; 1 tấn dứa đưa vào chế biến theo quy trình đóng hộp được 0,35 tấn chính phẩm và 0,65 tấn phụ phẩm
Phụ phẩm dứa có hàm lượng chất xơ cao, nghèo protein nên có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò với tỷ lệ thích hợp Bên cạnh đó, phụ phẩm dứa có hàm lượng đường dễ tan cao, thuận lợi cho quá trình lên men, nên có thể ủ chua làm thức ăn để thay thế một phần thức ăn thô xanh trong khẩu phần ăn của gia súc
Trang 20* Bã bia, bã rượu
Bã bia, bã rượu là phụ phẩm của các nhà máy rượu, nước giải khát có ga là loại thức ăn rất tốt cho gia súc vì chứa lượng protein thô tới 20%, bột đường 49-53%, canxi 0,65%, kali 1,38-1,58%, giàu sinh tố B, C
Theo nghiên cứu của Dư Thanh Hằng và cs (2012) [8] thì trong bã bia
có 25,20% protein, 6,48% lipid, 14,5% xơ thô và 4,29% khoáng tổng số
Tuy nhiên, bã bia, bã rượu tươi dù thơm ngon nhưng không để được lâu, dự trữ tự nhiên trong chum, vại sạch chỉ được khoảng 1 tuần là xảy ra quá trình lên men và làm mất chất dinh dưỡng, tăng độ chua Vì vậy, để kéo dài thời gian bảo quản bã bia, rượu người chăn nuôi cần bảo quản bằng cách cho thêm muối ăn với tỷ lệ 11,5kg muối ăn với 1 tấn bã bia hoặc bã rượu Mặt khác người ta có thể làm thành bã bia khô (chứa khoảng 10% nước) để thuận tiện cho bảo quản và sử dụng
Bã bia, bã rượu chỉ nên cho ăn với liều lượng không quá ½ lượng thức
ăn trong khẩu phần của bò sữa, lợn Cứ 4,5kg bã bia hoặc bã rượu tương đương với 1kg thức ăn tinh Khi sử dụng loại phụ phẩm này thì giảm lượng thức ăn tinh để khẩu phần của gia súc không dư thừa chất đạm gây lãng phí Khi cho ăn nên trộn bã bia hoặc bã rượu với thức ăn tinh cho ăn làm nhiều bữa trong ngày Nói chung, khi cho ăn tươi thì có thể cho ăn tới 60-65% khẩu phần đối với lợn rừng Để bảo quản được lâu loại thức ăn này, người ta sử dụng ở dạng khô dùng dần
* Bã đậu tương
Bã đậu tương là phụ phẩm của nghề chế biến đậu phụ hoặc sữa đậu nành Bã đậu tương không những là thức ăn giàu dinh dưỡng mà còn có mùi thơm ngon, vị ngọt nên gia súc rất thích ăn Khoảng 7 kg bã đậu tương có giá trị năng lượng tương đương với 1 kg thức ăn tinh hỗn hợp mà hàm lượng protein thô lại cao hơn nhiều Vì vậy, bã đậu tương được coi là nguồn thức ăn giàu đạm cho mọi loại gia súc
Trang 21Tuy nhiên, trong bã đậu tương sống có men phân giải ure nên nếu cho gia súc ăn quá nhiều bã đậu tương sẽ tạo ra số lượng lớn amoniac (NH3) có thể gây ngộ độc cho gia súc Vì vậy, chia nhỏ bã đậu tương sống ra thành các bữa nhỏ để đảm bảo an toàn cho gia súc
ở bã dong tươi; 2,7% là tỷ lệ xơ trong bã ướt, còn bã khô là 8,28% Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Dung (2011) [5] về thành phần hóa học của bã dong thu tại một số địa điểm được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của bã dong riềng Stt Địa điểm VCK Protein Lipid Xơ Khoáng DXKĐ
Trang 22Kết quả phân tích này cho thấy rõ rệt sự khác nhau về hàm lượng các chất giữa các mẫu bã lấy từ các địa phương khác nhau Hàm lượng xơ ở các mẫu này cũng cao hơn hẳn so với mẫu phân tích của Viện Chăn nuôi
Theo phân tích của chúng tôi tại phòng Phân tích hóa học - Viện Khoa học sự sống Thái Nguyên về mẫu bã dong riềng lấy tại huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn thì cho kết quả như sau:
Bảng 1.2: Thành phần hóa học bã dong riềng thu tại huyện Ngân Sơn
- tỉnh Bắc Kạn Dạng
mẫu VCK Protein
Tinh bột
Xơ thô Lipid DXKĐ Khoáng
Xử lý bằng phương pháp hóa học để cải thiện giá trị dinh dưỡng của thức
ăn phế phụ phẩm được bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19 và hiện nay đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Trang 23Phương pháp xử lý vật lý
Phương pháp này có nhiều cách xử lý khác nhau như: Xử lý bằng cơ học,
xử lý bằng hơi nước trong điều kiện áp suất cao, xử lý bằng bức xạ… Nhưng được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp xử lý bằng cơ học Là dùng phương pháp cơ giới để băm, chặt, nghiền nhỏ làm giảm kích thước của thức
ăn thô Ưu điểm của phương pháp này là giúp gia súc đỡ tốn năng lượng khi thu nhận thức ăn và tạo kích thước thức ăn thuận lợi cho quá trình tiêu hóa Phương pháp xử lý vật lý chủ yếu được kết hợp chủ yếu với các phương pháp hóa học và phương pháp vi sinh vật vì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn Phương pháp này thường được áp dụng chủ yếu với phụ phẩm của ngành trồng trọt
Với bã đậu tương có thể được dự trữ lâu dài bằng phương pháp sau: lọc
bỏ tạp chất như bùn đất, côn trùng rơi bám vào, rác ; sau đó phơi khô; rang, sấy; nghiền thành bột nhỏ, mịn, đóng vào bao nilon, dán kín để bảo quản
Bã bia, bã rượu có thể xử lý như sau: Trước tiên gạn hết nước, sau đó rải bã bia, bã rượu ra sân xi măng hoặc gạch sạch phơi 1 – 2 ngày nắng; tiếp đến cho bã bia/ bã rượu khô vào chảo hoặc tấm tôn sấy đảo nhiều lần cho khô đều; cuối cùng để nguội trong mát, cho vào bao nilon hoặc chum, vại để bảo quản dùng dần Sử dụng bã bia hoặc bã rượu khô với tỷ lệ 10 – 15% trong khẩu phần
Chế biến bã sắn dạng bột khô để dự trữ và bảo quản được lâu dài bằng phương pháp sau: bã sắn hòa với nước để làm loãng và tơi bã; lọc bằng sàng
để tách bỏ phần xơ, các tạp chất; phần lọc được cho vào bể để tinh bột lắng và kết tinh; ép làm khô tinh bột đã lắng đọng (độ ẩm chỉ còn 58-62%); phơi hoặc sấy khô đến khi đạt ẩm độ 13-14%; đánh tơi bã khô thu được; đóng vào bao nilon hoặc bao xác rắn hoặc thùng tôn, kim loại không rỉ để bảo quản
Trang 24Phương pháp xử lý hóa học
Cơ sở của phương pháp này là tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn thô và phế phụ phẩm, sử dụng tác nhân hóa học để phá vỡ các mối liên kết hóa học vững chắc giữa lignin với các thành phần cấu trúc tế bào nhằm khai thác nguồn năng lượng tiềm ẩn trong các thành phần này Là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới, các tác nhân hóa học thường được sử dụng là tác nhân oxy hóa, acid hay kiềm Trong các phương pháp này thì phương pháp đường hóa và kiềm hóa được sử dụng rộng rãi nhất
Phương pháp lên men vi sinh vật
Trong tất cả các phương pháp xử lý bằng VSV thì phương pháp ủ chua là phương pháp đơn giản nhất, được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia súc
Ủ chua thức ăn là một quá trình lên men, thông qua đó để bảo quản thức ăn trong một thời gian dài mà giá trị dinh dưỡng của thức ăn ít bị thay đổi Trong ủ chua các VSV sản sinh ra các acid hữu cơ, các acid hữu cơ này có tác dụng bảo tồn thức ăn (Phạm Quang Hùng và cs, 2006) [11]
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [30]: Ủ chua thực chất là công việc xếp chặt thức ăn vào hố ủ kín không có không khí Trong quá trình ủ đó, các vi khuẩn biến đổi các đường dễ hòa tan như: Sacaroza, glucoza, fructoza, pentoza thành acid lactic, acid acetic và các acid hữu cơ khác Chính các acid này làm hạ thấp độ pH của môi trường thức ăn ủ chua xuống ở mức 3,8 - 4,5
Ở độ pH này, hầu hết các loại vi khuẩn và các enzyme của thực vật đều bị ức chế sự hoạt động Do vậy ủ chua thức ăn có thể bảo quản thức ăn trong một thời gian dài
Ủ chua là phương pháp đã được nhiều tác giả nghiên cứu để chế biến và bảo quản bã sắn cho gia súc nhai lại Theo Nguyễn Hữu Văn và cs (2008) [33], khi nghiên cứu ủ chua bã sắn để làm thức ăn cho gia súc nhai lại thì ủ với công thức 0,5% muối + 3% rỉ mật đường, hoặc 0,5% muối + 3% cám gạo
Trang 25có thể bảo quản bã sắn và làm giảm đáng kể hàm lượng HCN sau 21 ngày ủ, nên có thể sử dụng một lượng lớn bã sắn ủ trong khẩu phần mà không gây độc Theo Mai Thị Thơm và cs (2006) [21] khi sử dụng khẩu phần có 10kg bã sắn ủ chua và 0,75kg cám đỗ xanh để vỗ béo bò thịt đã cho tăng trọng tương đối cao 656,0 - 682,2g/con/ngày so với lô đối chứng là 728,9g/con/ngày với khẩu phần thí nghiệm có thức ăn tinh Nguyễn Hải Quân và cs (2008) [22] có cho biết: Khi nghiên cứu về mức bổ sung bã sắn ủ chua với khẩu phần giàu
xơ, nghèo dinh dưỡng là rơm lúa thì mức bổ sung không nên vượt quá 40% so với tổng chẩt khô trong khẩu phần và việc bổ sung các loại thức ăn giàu protein trong khẩu phần là cần thiết để đảm bảo khả năng tiêu hóa thức ăn và môi trường trong dạ cỏ
Đối với bã dong riềng Lê Duy (2010) [6] đã thử nghiệm giải pháp ủ với 1% muối ăn và 4% ure để bổ sung cho bê sinh trưởng và bò già cho kết luận: Đối với bê sinh trưởng thì khả năng thu nhận bã dong riềng ủ ure trung bình 3,06kg/con/ngày và con số này ở bò già là 5,13kg/con/ngày Tăng trọng bình quân toàn kỳ của bê sinh trưởng đạt 14,79kg/con, cao hơn lô đối chứng là 5,6kg/con; đối với bò già thì mức tăng trọng toàn kỳ đạt 17,17kg/con, cao hơn 5,48kg so với lô đối chứng
Phụ phẩm dứa có hàm lượng đường cao, dễ tan cao, thuận lợi cho quá trình lên men, nên khi ủ chua chỉ cần sử dụng 0,5% muối ăn trộn đều ép vào túi ni lông hoặc vào các hố đều phải buộc hoặc phủ kín để đảm bảo môi trường yếm khí Sản phẩm này có thể để lâu được, 4 tháng vẫn ngon, chất lượng bã tăng nhờ tăng hàm lượng các a xít hữu cơ thích hợp với tiêu hóa men gia súc nhai lại Hàng ngày cho gia súc ăn 10kg bã dứa ủ/con
Trang 261.1.3.2 Cơ sở khoa học của việc lên men vi sinh vật thức ăn cho gia súc
Về nguyên lý quá trình ủ chua thức ăn thô xanh là quá trình lên men trong điều kiện yếm khí để chuyển các đường dễ tan chứa trong nguyên liệu đem ủ thành các acid béo dễ bay hơi Khi lượng acid này được tích luỹ đến khối lượng nhất định thì pH môi trường có tác dụng ức chế hầu hết các hoạt động của vi khuẩn, nhờ đó thức ăn được bảo quản không hư hỏng
Ưu điểm của phương pháp ủ chua
Giá thành rẻ hơn phương pháp phơi sấy, ít hao hụt các chất dinh dưỡng, thích hợp với nhiều nước đang phát triển ở nhiệt đới vì không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Các phụ phẩm nhiều nước, giàu protein, thu hoạch vào mùa mưa vẫn có thể chế biến dữ trữ được bằng phương pháp ủ chua
Thức ăn ủ chua tổn thất dinh dưỡng tương đối ít, lại giữ được hoạt tính sinh tố A, thường đạt được 1/3 so với dạng tươi
Ủ chua thức ăn không đòi hỏi thiết bị tốn kém nên giá thành sản phẩm
hạ, dễ áp dụng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ và trang trại nhỏ
Ủ chua thức ăn thường nâng cao được tỷ lệ tiêu hoá thức ăn
Nhược điểm của phương pháp ủ chua
Giai đoạn đầu của quá trình ủ chua, chất bột đường bị tổn thất một phần, do
hô hấp tế bào thực vật tạo thành nhiệt năng, nước và CO2 Đối với protein thì ít
bị tổn thất, nhưng dễ bị biến dạng làm giảm giá trị sinh học của protein trong thức ăn đối với gia súc dạ dày đơn và gia cầm
Hàm lượng sinh tố D trong thức ăn ủ chua của cùng một loại cỏ, sau khi
ủ chua thường thấp hơn so với làm khô
Nếu ủ chua không đúng quy cách dễ dẫn đến thức ăn bị hư hỏng, không thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc
Trang 27Kỹ thuật ủ chua thức ăn cho gia súc
Ủ chua là kỹ thuật ủ yếm khí thức ăn xanh thô có hàm lượng nước cao (75-80%), nhờ hệ vi sinh vật lên men tạo ra acid lactic và một lượng nhất định các acid hữu cơ khác Do đó nhanh chóng đưa độ pH của thức ăn ủ hạ xuống
4 - 4,5; ở độ pH này hầu hết các loại vi sinh vật và các men (enzym) chứa trong thực vật đều bị ức chế Nhờ vậy thức ăn ủ chua có thể bảo quản được hàng năm Quá trình lên men thức ăn xanh xảy ra nhờ chính nhóm vi khuẩn lactic và nhóm vi khuẩn khác vốn có sẵn trên bề mặt cây cỏ Hầu hết các cây
cỏ làm thức ăn gia súc đều có thể ủ xanh được; nhưng thường sử dụng là cỏ hoà thảo, một số cây họ đậu, các cây ngũ cốc (chủ yếu là cây ngô ở thời kỳ ngậm sữa) Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng những loại thức ăn xanh có hàm lượng nước quá cao (trên 85%) như rau muống, dây lang, rong, rau, bèo rất khó ủ chua
Các nhóm vi sinh vật quan trọng lên men thức ăn xanh bao gồm vi khuẩn lactic, nhóm vi khuẩn Clostridia, nhóm vi khuẩn dạng Coli Vi khuẩn lactic là nhóm vi sinh vật có lợi, chúng lên men hydratcacbon dễ hoà tan và tạo ra acid lactic và một phần nhỏ acid hữu cơ khác, do đó chúng nhanh chóng làm hạ thấp pH xuống 4-4,5 Ngược lại nhóm vi khuẩn Clostridia lại phát triển mạnh trong môi trường có tỷ lệ nước cao (cao hơn 85%), đồng thời chúng phân huỷ mạnh mẽ protein tạo ra amoniac, acid axetic, acid butyric làm hao hụt protein của thức ăn ủ chua Do đó nhóm vi khuẩn này là không có lợi cho quá trình dự trữ thức ăn
Hàm lượng hydratcacbon hoà tan dễ được lên men của cây cỏ có vai trò rất quan trọng Nếu hàm lượng này quá thấp thì quá trình lên men kém, thức
ăn sẽ khó ủ chua Nhưng hầu hếu các cây thức ăn hòa thảo có hàm lượng hydratcacbon dễ tan khá cao, chúng biến động từ 40-300 g/1kg chất khô của
Trang 28cây thức ăn Ở cây họ đậu chỉ tiêu này thường thấp hơn ở cây hòa thảo; do đó
ủ chua cây họ đậu thường khó khăn hơn; mặt khác cây họ đậu lại giàu protein
dễ bị phân huỷ thành amoniac tạo ra môi trường kiềm, do đó khi ủ chua cây
họ đậu cần phải chú ý đặc điểm này
* Đánh giá chất lượng thức ăn ủ chua
Người ta dựa vào độ pH, hàm lượng các acid hữu cơ, hàm lượng amoniac, hàm lượng nước để đánh giá chất lượng ủ chua Thức ăn ủ chua có độ pH trong khoảng 4 - 4,5 được coi là chất lượng tốt Nhưng nếu pH cao hơn 4,5 thì chất lượng ủ chua giảm đi Hàm lượng acid lactic càng cao chất lượng ủ chua càng tốt Tỷ lệ tiêu hóa thức ăn ủ chua tương tự như cỏ xanh cùng loại, nhưng khả năng ăn được của gia súc thường thấp hơn Thức ăn ủ chua có chất lượng tốt thường có màu vàng nâu, không bị thối nhũn, đồng thời có mùi đặc trưng của acid lactic Ngược lại nếu thức ăn ủ chua có màu sẫm đen, thức ăn nhũn nát, mùi khó chịu của acid butyric tức là chất lượng thức ăn ủ chua kém
Thức ăn ủ chua có thể sử dụng như nguồn thức ăn xanh cho gia súc Do
đó người ta có thể cho gia súc ăn tự do cùng phối hợp với một số loại thức ăn khác (rơm chế biến urê, cỏ khô, thức ăn tinh )
1.1.4 Một số vấn đề liên quan đến giống lợn dùng trong thí nghiệm
Lợn Móng Cái là giống lợn nội đang được nuôi ở nhiều nông hộ thuôc các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta Móng cái là giống lợn mắn đẻ, tăng trọng khá, số con đẻ ra/ lứa nhiều, khéo nuôi con, thích nghi với khí hậu địa phương Là giống lợn được lựa chọn nhiều để phối giống với lợn đực ngoại nhằm tạo con lai nuôi thịt đạt năng suất và tỷ lệ nạc cao, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn so với lợn nội Các con lai này chủ yếu được sử dụng để nuôi trong nông hộ Ở Bắc Kạn hiện nay đang triển khai dự án đưa con nái Móng Cái về với người dân chăn nuôi trên toàn địa bàn tỉnh, cho nên việc sử dụng con nái Móng Cái đáp ứng được nhu cầu của địa phương
Trang 29Lợn Pietrain có nguồn gốc từ Bỉ là một giống lợn nổi tiếng thế giới về
tỷ lệ nạc cao và hiện đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất thịt lợn ở nhiều nước Sử dụng lợn đực Pietrain để phối giống với lợn nái Móng Cái có tác dụng nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế
Con lai F1 (♂ Pietrain x ♀ Móng Cái) theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và cs (2004) [16] thì có được các\ kết quả như sau: Số con đẻ ra/ổ
là 11,78 con; số con để nuôi/ổ là 10,13 con; số con cai sữa/ổ là 9,48 con; khối lượng sơ sinh là 0,8 kg/con; khối lượng cai sữa là 8,02 kg/con Kết quả này thấp hơn so với công bố của Nguyễn Văn Đức và cs (2010) [3], cụ thể như sau: Số con sơ sinh còn sống/ ổ là 12,52 con; số con cai sữa/ổ là 10,19 con; khối lượng sơ sinh là 1,15 kg/con; khối lượng cai sữa là 11,19 kg/con
Về vấn đề tăng khối lượng của con lai F1 (♂ Pietrain x ♀ Móng Cái) thì theo kết quả của cả Nguyễn Văn Đức và cs (2010) [3], Nguyễn Văn Thắng
và cs (2004) [17] đều cho biết khối lượng lợn tăng trung bình là tương đương nhau: 519,89g/con/ngày và 519,69g/con/ngày Còn theo Lê Thanh Hải (2001) [7] cho thấy kết quả con lai F1(Pietrain x Móng Cái) có mức tăng trọng 509,00g/con/ngày trong thời gian nuôi thịt từ 90 đến 202 ngày tuổi Nguyễn Quang Hộ (2004) [9] đưa ra kết quả tăng khối lượng là 554g/con/ngày Kết quả mà Nguyễn Văn Thắng và cs (2004) [17] thu được sau 4 tháng nuôi con lai F1 là từ 11,99 kg tăng lên 74,23 kg Nguyễn Quang Hộ (2004) [9] cho biết khối lượng bắt đầu nuôi con lai F1 này là 15,82kg, sau 135 ngày nuôi đạt khối lượng là 90,62kg
Mức tiêu tốn thức ăn của con lai F1 (Pietrain x Móng Cái) theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức và cs (2010) [3] là 3,60 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nhưng cao hơn so với kết quả 3,42 kg thức ăn/ kg tăng trọng ở nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs (2002) [2], đồng thời cũng cao hơn kết quả 3,27
kg thức ăn/ kg tăng khối lượng của Nguyễn Văn Thắng và cs (2004) [17]
Trang 30Tỷ lệ nạc trong kết quả công bố của Nguyễn Văn Thắng và cs (2004) [16] là 49,73%, kết quả này cao hơn so với các kết quả 42,95% của Đặng Vũ Bình và cs (2002) [2], 47,38% của Nguyễn Văn Đức và cs (2010) [3] và 44,9% của Nguyễn Văn Đức và cs (2001) [4] cùng nghiên cứu trên lợn lai F1 (Pietrain x Móng Cái)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc xử lý các loại bã thải của chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp nói chung, phế phụ phẩm chế biến các loại củ nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm từ lâu Trong đó bã sắn là đối tượng được tập trung
nghiên cứu nhiều hơn
Bã sắn có những hạn chế cơ bản đã được chỉ ra qua nghiên cứu của các nhà khoa học Nguyễn Xuân Trạch (2003) [30] cho biết bã sắn khô có hàm lượng protein rất thấp (2-3%), hàm lượng tinh bột 5-8%, hàm lượng xơ thô cao 16 -
Tuy nhiên bã sắn còn có tinh bột, dễ bị lên men chua nên có thể cho trâu bò ăn với lượng 10-15kg/con/ngày
Bã sắn tươi chứa tới 88 - 90% nước, khi ủ đống tự nhiên sẽ tự lên men chua rất mạnh do sự chuyển hóa tinh bột thành axit hữu cơ, nên có thể tự bảo quản được một khoảng thời gian nhất định Ở một số cơ sở người ta đưa bã sắn tươi xuống hố để tránh mất nước, duy trì độ chua bảo quản Khi bị mất nước hoặc phơi khô không đảm bảo điều kiện thì bã sắn dễ nhiễm nhiều mốc tạp và bị phân hủy gây thối Để sử dụng bã sắn làm thức ăn và góp phần giải quyết bài toán môi trường, từ lâu các nhà khoa học trong nước đã tập chung
Trang 31nghiên cứu sử dụng bã sắn làm thức ăn chăn nuôi trâu bò thông qua các kỹ thuật ủ men vi sinh (Hoàng Thanh Vân, 2002 [33]); kỹ thuật ủ chua (Bùi Quang Tuấn, 2005) [32], (Ba N.X và cs, 2006) [37], (Mai Thị Thơm và cs, 2006) [21], (Nguyễn Hữu Văn và cs, 2008) [34], (Nguyễn Xuân Bả và cs, 2008) [1], (Nguyễn Hải Quân và cs, 2009) [15], kỹ thuật cho ăn tươi (Trương Tấn Khanh, 2012) [12] Các nghiên cứu đã rút ra kết luận về khả năng và mức độ sử dụng bã sắn để nuôi trâu bò có hiệu quả Nhiều tác giả cũng tập trung nghiên cứu sử dụng bã sắn nuôi lợn (Len và cs, 2009) [43]
Bã dong riềng cũng có các đặc tính giống bã sắn, nhưng tỷ lệ xơ cao hơn Các nghiên cứu về sử dụng bã dong riềng làm thức ăn hầu như chưa được đề cập tới, ngoại trừ một vài nghiên cứu gần đây Hoàng Toàn Thắng và cs (2011) [18] ở Viện Khoa học sự sống (KHSS)- Đại học Thái Nguyên, đã thử nghiệm 4 công thức chế biến bã dong riềng ủ Ure + NaCl Qua nghiên cứu đã rút ra được 2 công thức ủ có giá trị tốt để bảo quản và duy trì các thành phần dinh dưỡng trong khối ủ Trần Trang Nhung và cs (2011) [13] đã nghiên cứu hiệu quả bổ sung bã dong riềng ủ ure tới sinh trưởng bò thịt và cho biết bò ăn thêm được 3-5 kg bã ủ/con/ngày, tăng khối lượng toàn kỳ đạt 14,8 kg/con trong khi đối chứng chỉ đạt 9,2kg/con Ngoài ra, Viện KHSS cũng đã thử nghiệm 4 công thức ủ VSV với bã dong riềng tươi để đánh giá các chỉ tiêu biến đổi thành phần khối ủ và khả năng kéo dài bảo quản mà vẫn bảo tồn các thành phần dinh dưỡng
Các kết quả nghiên cứu trên góp phần khẳng định giá trị làm thức ăn chăn nuôi của bã thải và cũng là mong muốn góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do sự phân hủy nguồn bã thải này gây ra Tuy nhiên, mức độ sử dụng làm thức ăn và ý nghĩa cải thiện môi trường của các giải pháp trên còn rất nhỏ bé, khiêm tốn nên ít được vận dụng do tốn nhiều lao động và chi phí cao
Trang 32Để tận dụng nguồn bã dong, sắn làm thức ăn chăn nuôi và chống ô nhiễm môi trường, ở nhiều cơ sở chế biến tinh bột quy mô nhỏ và vừa, người ta tiến hành phơi bã trên sân dưới nắng mặt trời Giải pháp này tiết kiệm năng lượng sấy nhưng rất tốn lao động thủ công đang ngày một khan hiếm, tốn nhiều diện tích sân phơi, mặt khác bã dong, sắn phơi nắng khô không đều, dễ bị nhiễm mốc tạp nên không bảo đảm vệ sinh khi dùng làm thức ăn, giá trị sản phẩm thấp Việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật để xử lý bã dong riềng làm thức ăn chăn nuôi cần phải đặt ra đúng mức để có thể đưa nguồn phụ phẩm này trở thành thức ăn hữu ích cho vật nuôi miền núi, góp phần khai thác các ưu thế tại chỗ và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường do bã dong phân hủy gây nên
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Giá cả của nguồn thức ăn truyền thống cho vật nuôi tăng liên tục trong thời gian qua làm tăng mối quan tâm của các nhà khoa học và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi vào việc sử dụng hiệu quả nguồn thay thế khác, trong
đó có việc sử dụng phụ phẩm bã thải ra của ngành chế biến tinh bột từ các loại củ (sắn, dong riềng ) được coi như nguồn thức ăn năng lượng có triển vọng để bổ sung vào nguồn nguyên liệu thức ăn nói chung
Bã sắn là phụ phẩm của việc chế biến tinh bột từ củ sắn, đây là cây trồng cung cấp lương thực đứng thứ 3 sau lúa, ngô được khoảng trên 100 quốc gia ở vùng trung Phi, Nam Mỹ và một số nước châu Á như Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc canh tác trên tổng diện tích khoảng 18,5 triệu ha Sản lượng sắn của toàn thế giới trong năm 2010 theo báo cáo của FAOSTAT, (2012)
là 229,5 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở châu Á, châu Phi
Ngoài phần sử dụng làm lương thực thì phần lớn củ sắn được sử dụng
để sản xuất tinh bột sắn dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, dược phẩm, nhiên liệu sinh học etanol Trong hàng trăm triệu tấn bã sắn thải ra, chỉ một lượng nhỏ được sử dụng để chăn nuôi, một phần được sử dụng vào các mục đích khác, phần lớn bị phân hủy làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu sử dụng bã sắn cho
Trang 33chăn nuôi Sau đây xin điểm qua các kết quả nghiên cứu bã sắn làm thức ăn cho gia súc với tư cách là nguồn năng lượng có thể tái tạo
Nghiên cứu của Kanto và cs (2005) [39] khi sử dụng bã sắn khô cho lợn nái chửa và nuôi con giống Landrace x Yorkshire, kết quả cho thấy có thể sử dụng 30% bã sắn khô trong khẩu phần ăn của lợn nái chửa và nuôi con mà không có sự ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
Ramos và cs (2000) [45] đã sử dụng bã sắn để thay thế cho ngô trong khẩu phần của bò sinh trưởng Tác giả đã thay thế lần lượt ở các mức 0; 33; 66 và 99 % ngô bằng bã sắn Kết quả cho thấy lượng VCK, OM và CP thu nhận tối đa lần lượt là 88,53; 82,34 và 10,61 g/kg0,75 Thay thế tỷ lệ bã sắn cao trong khẩu phần đã làm giảm lượng thu nhận và giảm khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng
Theo kết quả nghiên cứu của Abraham và cs (2006) [36] thì vỗ béo bò bằng khẩu phần có bã sắn khô (phụ phẩm ngành chế biến tinh bột sắn công nghiệp) cho năng suất tương tự như bò vỗ béo bằng khẩu phần ăn truyền thống Bã sắn khô có thể thay thế tới 32%bột ngô (tính theo VCK) trong khẩu phần mà không ảnh hưởng đến năng suất thịt của bò vỗ béo
Dias A.M và cs (2008) [38] đã nghiên cứu sử dụng bã sắn trong khẩu phần của bò sữa và cho biết: Khi thay thế 0, 7, 14, và 21 % bã sắn vào trong khẩu phần của bò sữa và tác giả đánh giá lượng các chất dinh dưỡng thu nhận, mức tăng khối lượng hằng ngày, hệ số chuyển đổi thức ăn… thì thấy mức bã sắn sử dụng tốt nhất trong khẩu phần là 14%
Theo Kosugi và cs (2009) [42] thì tại Thái Lan, bã sắn được sản xuất ra khoảng 340.000 tấn và có xu hướng tăng dần qua các năm Bã sắn là sản phẩm phụ của ngành chế biến tinh bột, có chứa từ 50 đến 70 % tinh bột trong VCK
và 20 % xơ (cellulose, hemicellulose và lignin) Bã sắn chủ yếu được sử dụng
để sản xuất ethanol Để tăng hàm lượng ethanol thì bã sắn được xử lý để loại
Trang 34bỏ lignin và hemicellulose, giảm tinh thể cellulose và tăng độ xốp của các vật liệu lignocellulose
Theo Rojan (2009) [46] thì tiềm năng sinh học của bã sắn là rất lớn Đây
là nguồn năng lượng tái tạo tốt Mặc dù chúng giàu carbohydrate, nhưng sử dụng trực tiếp chúng cho động vật là rất ít vì có hàm lượng protein thấp và tiêu hóa kém Tuy nhiên, sử lý sinh học bằng các chất nền sẽ giải quyết ô nhiễm môi trường, hay sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng như các axit hữu
cơ, ethanol, hương thơm, nấm
Một nghiên cứu khác cho thấy khẩu phần chứa 10% bã sắn đã có tác động tiêu cực đến tăng trọng hàng ngày và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của lợn con sau cai sữa, mặc dù nó không ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào (Taksinanan và cs, 2010) [47] Tuy nhiên, với mức 15% bã sắn trong khẩu phần đã không gây ảnh hưởng bất lợi cho lợn con (Kosoom và cs, 2009) [41] Pipat L et al (2011) [44] đã tiến hành chế biến thức ăn ủ chua, sử dụng
vỏ sắn làm nguồn năng lượng trong khẩu phẩn ăn của bò sữa Thí nghiệm với các tỷ lệ 0, 10, 20, 30 và 40% vỏ sắn tươi Kết quả cho thấy sau 14, 21 và 28 ngày ủ hàm lượng HCN giảm tới mức hoàn toàn an toàn cho động vật, pH đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế Sự phân hủy VCK tăng lên khi mức bổ sung bột sắn trong thức ăn ủ chua tăng lên Hàm lượng axit lactic đạt cao nhất lúc
Trang 35Từ sự tổng hợp các thông tin về nghiên cứu xử lý và sử dụng bã các loại
củ sau khi đã thu sản phẩm chính là tinh bột đưa vào chăn nuôi thấy rằng: + Đây là nhóm nguyên liệu thức ăn có tiềm năng cao và được chú trọng nghiên cứu sử dụng
+ Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các giải pháp vi sinh, vào cả dạng bã tươi và bã khô, trên đối tượng bã sắn và cho các vật nuôi chính là bò
và lợn Các nghiên cứu còn tản mạn, chưa đi vào nghiên cứu có tính hệ thống
để đưa bã thải vào chăn nuôi vừa có ưu thế kỹ thuật lại vừa có hiệu quả kinh
tế cao Đây là hạn chế lớn nhất làm cho bã thải còn bị bỏ phí rất nhiều trong thực tế sản xuất
+ Bã dong riềng là sản phẩm phụ của chế biến có sự gia tăng đột biến về sản lượng trong vài năm gần đây do nhu cầu miến dong trên thị trường tăng cao Bã dong còn ít được nghiên cứu để sử dụng làm thức ăn trong khi bà con nông dân ở địa phương đã có ý thức thu gom và tận dụng một lượng bã nhất định để nuôi gia súc gia cầm trong gia đình Các cơ quan khoa học cần phải tổng kết thực tiễn và đi đầu nghiên cứu để đưa ra các giải pháp kỹ thuật phù hợp về xử lý và sử dụng bã dong riềng cho chăn nuôi nói chung và lợn địa phương nói riêng
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bã dong riềng sản phẩm phụ của chế biến tinh bột dong riềng
- Lợn lai F1 ( ♂ Pietrain x ♀ Móng cái)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu phòng thí nghiệm: Thực hiện tại Viện khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên
- Bố trí thí nghiệm chuồng trại: Các hộ gia đình chăn nuôi lợn ở vùng cơ
sở sản xuất miến dong tại tỉnh Bắc Kạn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
11/2013 – 10/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sản xuất, chế biến củ dong riềng trong các khu vực
làng nghề của tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu phương pháp chế biến bã dong riềng
- Thử nghiệm công thức chế biến bã dong riềng trong chăn nuôi lợn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp khảo sát tiềm năng nguồn bã thải dong riềng
- Thực hiện các khảo sát trực tiếp ở khu vực làng nghề để xác định tỷ lệ
và số lượng bã dong riềng thải ra trong khi chế biến củ dong
- Dựa vào số liệu khảo sát tỷ lệ bã dong thải/ nguyên liệu chính khảo sát được ở cơ sở để tính toán sản lượng bã dong tươi và sản lượng dinh dưỡng từ
bã dong tươi
- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua báo cáo tình hình sản xuất, chế biến dong riềng năm 2013 của sở Công thương
Trang 372.3.2 Phương pháp chế biến bã dong riềng
2.3.2.1 Phương pháp chế biến bã dong riềng để làm thức ăn chăn nuôi lợn bằng các công thức ủ khác nhau
- Áp dụng phương pháp thí nghiệm trong phòng để thử nghiệm 3 công thức ủ bã dong riềng bằng kỹ thuật lên men vi sinh
Bảng 2.1: Công thức chế biến bã dong riềng
STT
Công thức Nguyên liệu Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
* Ghi chú: Sử dụng chế phẩm VSV Bio- lactic do Viện KHSS sản xuất
- Kỹ thuật ủ: Bã dong tươi được giảm độ ẩm bằng ép cơ giới tới độ ẩm khoảng 70% và phối trộn với nguyên liệu theo tỷ lệ đã đưa ra trong mỗi công thức, hỗn hợp từng công thức được đưa vào túi nilon 2 lớp (mỗi túi 2 kg) rồi lèn chặt để ủ yếm khí trong điều kiện nhiệt độ phòng Mỗi công thức được nhắc lại 3 lần đồng thời vào vụ xuân
- Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
+ Thành phần hóa học bã dong và các nguyên liệu trước khi ủ vi sinh; + Thành phần hóa học của các công thức ủ vi sinh bã dong riềng;
Sau một tuần ủ, lấy 3 mẫu từ mỗi công thức rồi trộn đều để lấy mẫu chung rồi đánh giá các chỉ tiêu:
+ Đánh giá cảm quan về biến đổi màu, mùi các công thức ủ theo thời gian + Xác định sự biến đổi pH khối ủ sau 1 tuần và 4 tuần
Trang 38+ Xác định sự biến đổi các thành phần hóa học của khối ủ sau 1 tuần và
4 tuần ủ về các chỉ tiêu lượng vật chất khô, protein thô, mỡ thô, xơ thô, khoáng thô, dẫn suất vô đạm (DXVĐ)
2.3.2.2 Phương pháp chế biến bã dong riềng quy mô hộ gia đình
Từ kết quả thử nghiệm ủ vi sinh bã dong riềng phòng thí nghiệm, chúng tôi
sử dụng 3 công thức ủ để tiến hành ủ với khối lượng lớn
Chúng tôi tiến hành giảm độ ẩm bằng cách ép cơ giới, cụ thể như sau: dùng các bao thủng để đựng bã dong riềng tươi rồi chồng các bao lên nhau, phía trên chúng tôi đè thêm các vật nặng, để khoảng 24 tiếng, sau đó đem phơi nắng cho đến khi đạt độ ẩm khoảng 70%
Trộn ngô với bã dong riềng theo phương pháp “vết dầu loang” Sau khí phối trộn xong, chúng tôi nén chặt vào thùng nhựa cỡ lớn (180l, 220l) đầy rồi đậy kín nắp lại
Đợi khoảng 1 tuần là bắt đầu cho lợn ăn, dựa vào lượng ăn của đàn lợn
mà tiến hành ủ gối liên tiếp sao cho lợn ăn hết lại có bã mới
2.3.3 Phương pháp thí nghiệm xác định hiệu quả thử nghiệm của việc sử dụng bã dong riềng ủ trong khẩu phần ăn nuôi lợn thịt
Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, đồng đều
về số lượng, giống, tuổi, tính biệt, khối lượng và điều kiện chăm sóc
Mỗi thí nghiệm tiến hành trên 10 lợn nuôi thịt/một lần nhắc lại, với khối lượng ban đầu khoảng 20 kg/con Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lô khác nhau sử dụng bã dong riềng ủ ở các công thức khác nhau, thí nghiệm được làm 2 lần lặp lại Tổng số lợn của 1 thí nghiệm là 20 con cho
2 lần nhắc lại đồng thời
Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Bảng 2.2) được trình bày ở trang tiếp theo
Trang 39Thức ăn cho mỗi lô được phối hợp đảm bảo yêu cầu của thí nghiệm Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm giữa các lô giống nhau về năng lượng, protein, vitamin, khoáng chỉ khác nhau yếu tố thí nghiệm là bã dong riềng ủ với các công thức khác nhau
Tiến hành thí nghiệm: Qua 2 giai đoạn
Giai đoạn tiền thí nghiệm: Kéo dài trong thời gian 7 ngày Trong giai
đoạn này tiến hành phân lợn vào các lô, nuôi thử nghiệm thích nghi thức ăn mới, tiêm phòng, tẩy ký sinh trùng và điều chỉnh sự đồng đều giữa các lô
Giai đoạn thí nghiệm chính thức: lợn ăn khẩu phần thí nghiệm dự kiến
theo các lô tương ứng, tiến hành lấy kết quả các chỉ tiêu định kỳ
Chăm sóc theo quy trình nuôi lợn thịt giống lai F1
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm chuồng trại
1 Đối tượng - Lợn lai F1 (♂ Pietrain x ♀ Móng cái)
80%
KPTAT + 20% Bã dong ủ theo
CT 1
80%
KPTAT + 20% Bã dong ủ theo
CT 2
80% KPTAT + 20% Bã dong ủ theo
CT 3
8 Chế độ cho
(Viết tắt: KPTAT: Khẩu phần thức ăn tinh)
Trang 40Công thức thức ăn thí nghiệm được xây dựng trên cơ sở thức ăn nguyên liệu đã được xác định thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng Đồng thời khẩu phần dựa trên tiêu chuẩn thức ăn cho lợn nội của Trần Văn Phùng và cs (2012) [14]
Công thức thức ăn được xây dựng bằng Chương trình xây dựng khẩu phần tối ưu trong chăn nuôi lợn
Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của lợn trong giai đoạn thí nghiệm (%/kgTA) Loại
nguyên
liệu
Giai đoạn 20 – 50 kg Giai đoạn 50 – xuất chuồng
ĐC Lô 1 Lô 2 Lô 3 ĐC Lô 1 Lô 2 Lô 3
20%
Khẩu phần
20%
Khẩu phần
20%
Khẩu phần
20%
Khẩu phần
20%
Khẩu phần
20% Khẩu phần Giá trị dinh dưỡng của 1 kg thức ăn
NLTĐ
(Kcal) 2968 2968 2968 2968 2916 2916 2916 2916 Protein
(%) 15,15 15,15 15,15 15,15 12,02 12,02 12,02 12,02
Xơ (%) 6,43 6,43 6,43 6,43 7,03 7,03 7,03 7,03
Ca (%) 0,58 0,58 0,58 0,58 0,37 0,37 0,37 0,37 Phốt pho
(%) 0,44 0,44 0,44 0,44 0,45 0,45 0,45 0,45 Lyzin (%) 4,29 4,29 4,29 4,29 2,77 2,77 2,77 2,77 Methionine
(%) 1,10 1,10 1,10 1,10 0,74 0,74 0,74 0,74