Trên cơ sở thực tế của Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Hải Phòng để đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành tại Trung tâm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước,
nền kinh tế Việt Nam đã thu được những thành công đáng kể
Đứng dưới góc độ của ngành Du lịch, việc "mở cửa" đã tạo ra cơ hội lớn cho
sự phát triển của ngành, du lịch trở thành một nhu cầu tất yếu không thể thiếu trongcuộc sống của con người Ngành du lịch trở thành một ngành kinh doanh dịch vụphát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Ở nhiều quốc gia phát triển, ngành du lịchchiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân Mỗi năm trên thế giới có hàng trămtriệu người đi du lịch và số người đi du lịch ngày càng gia tăng
Ở Việt Nam, du lịch là ngành kinh tế còn non trẻ nhưng tầm quan trọng của
nó đã được đánh giá đúng mức, Đảng và Nhà nước ta đã coi: “Phát triển du lịch trởthành nền kinh tế mũi nhọn của đất nước” Vì vậy mà trong những năm gần đâyNhà nước ta đã đầu tư nhiều công trình cơ sở hạ tầng, tôn tạo các điểm du lịch đểphục vụ cho ngành du lịch và đưa ra những chính sách phù hợp, thông thoáng hơn,
ưu tiên cho ngành du lịch phát triển
Với những chính sách đổi mới và phát triển ngày càng nhiều công ty lữ hànhđược thành lập, hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh lữ hành Điều này buộc cácdoanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh gay gắt và khốc liệt Để duytrì và tăng trưởng thực tế đòi hỏi các nhà kinh doanh lữ hành phải nghiên cứu kỹlưỡng đối tượng khách và phạm vi hoạt động của mình, từ đó đề ra các biện phápthích hợp nhằm thu hút và thoả mãn tối đa nhu cầu của các đối tượng khách này Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng thuộc công
ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng là một đơn vị hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh lữ hành từ khá sớm so với các công ty khác cùng hoạt độngtrong lĩnh vực này của thành phố Hải Phòng Chi nhánh công ty đã hoàn thành tốtnhững nhiệm vụ được giao và hoạt động kinh doanh cũng thu được kết quả đángkhích lệ, góp phần không nhỏ làm thay đổi bộ mặt du lịch của thành phố
Trang 2Để khảo sát và đánh giá hoạt động kinh doanh lữ hành với việc nâng cao
chất lượng và hiệu quả kinh doanh, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành tại Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng” và chọn làm đề tài tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
Mục đích:
Trên cơ sở thực tế của Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ HảiPhòng để đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữhành tại Trung tâm
Phạm vi:
Hoạt động kinh doanh lữ hành của Trung tâm trong thời gian 3 năm gần đây
và hướng phát triển trong 3 năm tới
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
- Phương pháp tiếp cận và phân tích, hệ thống
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp liên hệ, đối chiếu, so sánh, điều tra vàđánh giá
4 Bố cục của luận văn:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về lữ hành, kinh doanh lữ hành và hiệu quả hoạt
động kinh doanh lữ hành
Chương 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành tại Chi nhánh công ty Cổ
phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ
hành tại Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỮ HÀNH, KINH DOANH
LỮ HÀNH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1.2 Kinh doanh lữ hành.
- Theo nghĩa rộng: "Kinh doanh lữ hành là việc đầu tư để thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công việc trong quá trình chuyển giao sản phẩm thực hiện giá trị sửdụng hoặc làm gia tăng giá trị của nó để chuyển giao sang lĩnh vực tiêu dùng du lịchvới mục đích lợi nhuận" Kinh doanh lữ hành được thực hiện bởi các doanh nghiệp
- Theo nghĩa hẹp, Luật du lịch Việt Nam định nghĩa: "Lữ hành là việc xâydựng, bán, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi" Như vậy theo khái niệm này, kinh doanh lữ hành tại Việt Nam được hiểu theonghĩa hẹp và được xác định một cách rõ ràng về sản phẩm là chương trình du lịch
- Theo định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam thì “Kinh doanh lữ hành
là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình dulịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán chương trình này trực tiếp hay giántiếp thông qua trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình
Trang 4và hướng dẫn du lịch” Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chứccác mạng lưới lữ hành.
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam phân loại thì kinh doanh lữ hành bao gồmhai loại là: kinh doanh lữ hành quốc tế và kinh doanh lữ hành nội địa
- Kinh doanh lữ hành quốc tế: Là việc tổ chức đưa khách ra nước ngoài hoặcđưa khách nước ngoài vào nước sở tại
- Kinh doanh lữ hành nội địa: Là việc tổ chức cho khách là công dân mộtnước, những người cư trú tại một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó
Theo Luật du lịch Việt Nam điều 34 quy định:
- "Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trútại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”
- “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ởnước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thườngtrú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
* Đặc điểm của kinh doanh lữ hành:
Khác với các ngành kinh doanh hàng hoá, ngành kinh doanh lữ hành mangnhững đặc điểm sau:
- Phụ thuộc vào tài nguyên du lịch ở các điểm du lịch, có thể xem giá trị tàinguyên du lịch ở các điểm du lịch quyết định độ phong phú của chương trình du lịch
- Kinh doanh lữ hành phải có vốn tương đối lớn, do các chương trình du lịchkhi thực hiện cần phải đặt trước một khoản cho nhà cung cấp dịch vụ
- Yêu cầu khắt khe về chất lượng, không có trường hợp làm thử Do đó cần
có sự đầu tư và chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi thực hiện
- Do tính thời vụ trong kinh doanh lữ hành là rất lớn nên khi hoạt động cầntính đến phương án ngoài thời vụ
- Kinh doanh lữ hành cần một lượng lao động trực tiếp Sản phẩm lữ hànhmang tính chất phục vụ nhiều nên đòi hỏi sự khéo léo, lịch sự mà không một loạimáy móc nào thay thế được Thời gian lao động phụ thuộc vào thời gian mà kháchtham gia chương trình Đồng thời do chịu áp lực tâm lý lớn từ phía khách hàng nên
Trang 5cường độ lao động không đồng đều và rất căng thẳng Như vậy công tác nhân lựctrong kinh doanh lữ hành đòi hỏi rất cao và phải tuyển chọn kỹ lưỡng Điều nàygiúp kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn.
1.1.3 Phân loại kinh doanh lữ hành.
Khái niệm doanh nghiệp lữ hành: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tênriêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Bất cứ doanhnghiệp nào được pháp luật cho phép và có thực hiện kinh doanh lữ hành đều đượcgọi là doanh nghiệp lữ hành
Tùy vào quy mô, phạm vi hoạt động và tính chất của tài sản, hình thức tổchức, tư cách pháp nhân mà doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có các tên gọi khácnhau: công ty lữ hành, đại lý lữ hành, công ty lữ hành quốc tế, công ty lữ hành nộiđịa Riêng ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp có kinh doanh lữ hành có cáchgọi phổ biến là các trung tâm lữ hành quốc tế, nội địa nằm trong các công ty dulịch Nhìn chung, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khác nhau chủ yếu trên cácphương diện:
+ Quy mô và địa bàn hoạt động
+ Đối tượng khách
+ Mức độ tiếp xúc với khách du lịch
+ Mức độ tiếp xúc với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch
1.1.3.1 Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm.
Có các loại: kinh doanh đại lý lữ hành, kinh doanh du lịch lữ hành, kinh
doanh tổng hợp
- Kinh doanh đại lý lữ hành: Hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ trung giantiêu thụ và bán sản phẩm một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất du lịch đểhưởng hoa hồng theo mức phần trăm giá bán, không làm gia tăng giá trị của sảnphẩm trong quá trình chuyển giao từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng dulịch Loại hình kinh doanh du lịch này thực hiện nhiệm vụ như là: "Chuyên gia chothuê" không phải chịu rủi ro Các yếu tố quan trọng bậc nhất đối với hoạt động
Trang 6kinh doanh này là vị trí, hệ thống đăng ký và kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giaotiếp và kỹ năng bán hàng của đội ngũ nhân viên Các doanh nghiệp thuần túy thựchiện loại hình du lịch này được gọi là các đại lý lữ hành bán lẻ.
- Kinh doanh du lịch lữ hành: Là hoạt động bán buôn, hoạt động "sản xuất"làm gia tăng giá trị của các sản phẩm đơn lẻ của các nhà cung cấp để bán chokhách Với hoạt động kinh doanh này chủ thể của nó phải gánh chịu rủi ro, san sẻrủi ro trong quan hệ với các nhà cung cấp Cơ sở hoạt động là liên kết các sảnphẩm mang tính đơn lẻ của các nhà cung cấp độc lập thành sản phẩm mang tínhnguyên chiếc bán với giá gộp cho khách, đồng thời làm gia tăng giá trị của sảnphẩm cho người tiêu dùng thông qua sự liên kết tạo ra tính trội trong hệ thống(1+1>2) và thông qua sức lao động của các chuyên gia marketing, điều hànhhướng dẫn
- Kinh doanh lữ hành tổng hợp: Bao gồm tất cả các kinh doanh du lịch đóngvai trò vừa sản xuất trực tiếp từng loại dịch vụ (người cung cấp) vừa liên kết cácdịch vụ thành sản phẩm mang tính nguyên chiếc, vừa thực hiện bán buôn, bán lẻvừa thực hiện chương trình du lịch đã bán Đây là kết quả trong quá trình phát triển
và thực hiện liên kết dọc, liên kết ngang của các chủ thể kinh doanh lữ hành trongngành du lịch Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành tổng hợp được gọi
là các công ty du lịch
1.1.3.2 Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động.
Có các loại: kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận khách,kinh doanh lữ hành kết hợp
- Kinh doanh lữ hành gửi khách: Bao gồm cả gửi khách quốc tế, gửi kháchnội địa, là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó tổ chức thu hút du lịchmột cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch nổi tiếng Các doanh nghiệp thựchiện hoạt động kinh doanh lữ hành gửi khách gọi là công ty lữ hành gửi khách
- Kinh doanh lữ hành nhận khách: Bao gồm cả nhận khách quốc tế và nộiđịa, là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây dựng các chươngtrình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho khách thông qua các
Trang 7công ty lữ hành gửi khách Loại hình kinh doanh này thích hợp với những nơi cótài nguyên du lịch nổi tiếng Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh lữhành nhận khách gọi là công ty lữ hành nhận khách.
- Kinh doanh lữ hành kết hợp: Có nghĩa là sự kết hợp giữa kinh doanh lữhành gửi khách và kinh doanh lữ hành nhận khách Loại kinh doanh này thích hợpvới quy mô lớn, có đủ nguồn lực để thực hiện các hoạt động gửi khách và nhậnkhách Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh lữ hành kết hợp được gọi
là các công ty du lịch tổng hợp hoặc các tập đoàn du lịch
1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp lữ hành.
- Hơn thế nữa các công ty lữ hành giúp đảm bảo thuận tiện mặt tài chính, sự
an toàn cho du khách trong quá trình đi, đơn giản hóa quá trình chọn và mua sảnphẩm Công ty lữ hành giúp cho khách du lịch cảm nhận được phần nào sản phẩmtrước khi họ quyết định mua và thực sự tiêu dùng nó Các ấn phẩm quảng cáo, lờigiới thiệu của nhân viên bán hàng sẽ là ấn tượng ban đầu về sản phẩm du lịch.Khách du lịch vừa có quyền lựa chọn vừa cảm thấy yên tâm và hài lòng với lựachọn của mình
- Khi mua các chương trình du lịch tại các công ty lữ hành khách du lịch sẽđược hưởng giá rẻ, mặt khác họ đã tiết kiệm được cả thời gian và chi phí cho việctìm kiếm thông tin, tổ chức sắp xếp bố trí cho chuyến du lịch của họ
1.1.4.2 Đối với các nhà cung ứng sản phẩm du lịch.
- Các công ty lữ hành sẽ là nguồn cung cấp lượng khách lớn, ổn định và có
kế hoạch Mặt khác trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa các bên, các nhà cung cấp đãchuyển một phần rủi ro có thể xảy ra sang các công ty lữ hành
Trang 8- Việc tiêu dùng sản phẩm của các nhà cung cấp của các công ty lữ hành sẽgiúp quảng cáo, khuyếch trương cho tên tuổi danh tiếng của nhà cung cấp đó Đặcbiệt đối với các nước phát triển, khi khả năng tài chính còn hạn hẹp thì mối quan
hệ với các công ty lữ hành lớn trên thế giới là phương hướng quảng cáo hữu hiệuđối với thị trường du lịch quốc tế
1.1.5 Chức năng nhiệm vụ của công ty lữ hành.
- Thực hiện hoạt động trung gian bán sản phẩm nhà cung cấp, rút ngắnkhoảng cánh cung cầu
- Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói: tập hợp các sản phẩm riêng lẻcủa các nhà cung cấp thành một sản phẩm tổng hợp để đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch
- Các công ty lữ hành lớn với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú,đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuốicùng Những tập đoàn đa quốc gia sẽ góp phần quyết định xu hướng tiêu dùng dulịch trên thị trường hiện tại và trong tương lai
1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lữ hành.
1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
Kinh doanh là những hoạt động sinh lời và kiếm lợi của con người Muốn kiếmlời và sinh lợi, con người phải luôn xem xét, cân nhắc tính toán sao cho có thể lựachọn được những phương án kinh doanh tối ưu nhất Người kinh doanh phải thườngxuyên đánh giá kết quả công việc của mình, rút ra những kinh nghiệm, từ đó xử lý để
có những biện pháp kịp thời không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh
Khái niệm: Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh
doanh Ở đây chỉ đưa ra một quan điểm cơ bản: "Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp (nhân lực và vật lực) để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất".
Đây là một vấn đề phức tạp có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trìnhkinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) nên doanh nghiệp chỉ
Trang 9có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinhdoanh có hiệu quả.
Về cơ bản, hiệu quả kinh doanh được phản ánh trên hai mặt: hiệu quả kinh
tế và hiệu quả xã hội
- Hiệu quả kinh tế: Phản ánh trình độ sử dụng lao động xã hội để đạt hiệuquả kinh tế cao với chi phí lao động xã hội thấp nhất
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được đến
xã hội và môi trường
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là hai mặt vừa thống nhất vừa đối lập,chúng có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau Do đó, khi tiến hành hoạt độngkinh doanh, doanh nghiệp cần phải chú trọng đến hai mặt này
Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh phản ánh tổng quát hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp là:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra
Các yếu tố đầu vào
Ý nghĩa: Cho ta biết một đồng yếu tố đầu vào trong kỳ phân tích sẽ thu đượcbao nhiêu đồng yếu tố đầu ra
Yếu tố đầu ra đo bằng các chỉ tiêu như tổng doanh thu, lợi nhuận thuần, lợitức thuần, lợi tức gộp Còn yếu tố đầu vào bao gồm tư liệu lao động, lao động, đốitượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay
Hiệu quả kinh doanh lữ hành: Thể hiện khả năng, mức độ sử dụng các yếu
tố đầu vào và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng sản phẩmdịch vụ cao trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch đạt doanh thu cao nhất, thu được lợi nhuận tối đa, với chi phí là nhỏ nhất và
có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường Trong đó bao gồm các yếu tố đầuvào là cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn sản xuất kinh doanh, tài nguyên du lịch tự nhiên
và tài nguyên du lịch nhân tạo và cuối cùng là chi phí cho đối tượng lao động, tưliệu lao động và lao động thuần túy
Trang 101.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành.
Từ giác độ quá trình kinh doanh, hiệu quả kinh doanh được hiểu là mộtphạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạtđược kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Đểđánh giá trình độ quản lý của doanh nghiệp cần phải dựa vào hệ thống các chỉ tiêuhoạt động kinh doanh Đối với doanh nghiệp hệ thống chỉ tiêu này bao gồm chỉtiêu hiệu quả tổng quát, chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu, chi phí, tỷ xuất lợi nhuận, chỉtiêu sử dụng lao động
Khi kinh doanh lữ hành, doanh nghiệp lữ hành không chỉ đơn giản đóng vaitrò là nhà phân phối sản phẩm trong du lịch mà còn là nhà sản xuất trong du lịch.Việc xây dựng các chỉ tiêu định lượng rất cần thiết, để giúp các nhà quản lý có một
cơ sở chính xác và khoa học đánh giá một cách toàn diện hoạt động kinh doanh lữhành và từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong kinh doanh loại sảnphẩm này Việc phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích nhậnthức, đánh giá đúng đắn hiệu quả kinh tế trong quá trình kinh doanh của doanhnghiệp Qua đó thấy được trình độ quản lý kinh doanh cũng như đánh giá đượcchất lượng các phương án kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra Đồng thời khẳngđịnh vị thế, so sánh đẳng cấp với các đối thủ cạnh tranh trên thương trường
Có các khái niệm:
- Doanh số bán: Tiền thu được về bán hàng hóa và dịch vụ
- Vốn sản xuất: Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Đất đai, nhà xưởng, bíquyết kỹ thuật, sáng kiến phát hiện nhu cầu, thiết bị, vật tư, hàng hóa v.v bao gồmgiá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình, tài sản cố định, tài sản lưu động, tiềnmặt dùng cho sản xuất
Theo tính chất luân chuyển, vốn sản xuất chia ra vốn cố định và vốn lưu động
- Tổng chi phí gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi
- Lãi gộp: là phần còn lại của doanh số bán sau khi trừ đi chi phí biến đổi
- Lợi nhuận trước thuế: Bằng lãi gộp trừ đi chi phí cố định
Trang 11- Lợi nhuận sau thuế: hay còn gọi là lợi nhuận thuần túy (lãi ròng) bằng lợinhuận trước thuế trừ đi các khoản thuế.
1.2.2.1 Chỉ tiêu kết quả kinh doanh tổng hợp.
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát kết quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sửdụng các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này rấtcần thiết trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh vì có tình trạng hiệu quả củamặt này tăng nhưng hiệu quả mặt khác của quá trình kinh doanh lại giảm xuống
Do đó cần có chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp để giúp cho doanh nghiệpđánh giá đúng đắn và chính xác hơn
+ Chỉ tiêu phản ánh số lượng: Tổng doanh thu (DT), tổng lợi nhuận (LN)
+ Chỉ tiêu phản ánh chất lượng: - Tỷ suất doanh thu trên chi phí = DTCP
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí = CPLN
1.2.2.2 Chỉ tiêu tổng doanh thu từ kinh doanh lữ hành.
Đây là chỉ tiêu chung nhất phản ánh hoạt động kinh doanh của một doanhnghiệp Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh kết quả kinh doanh lữ hành của doanhnghiệp mà còn để xem xét từng loại chương trình du lịch của doanh nghiệp đang ởgiai đoạn nào trong chu kỳ sống của sản phẩm
Mặt khác nó còn làm cơ sở tính toán chỉ tiêu lợi nhuận thuần và các chỉ tiêutương đối để đánh giá vị thế, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thucòn là nguồn quan trọng để bảo đảm trang trải các khoản chi phí cho hoạt độngkinh doanh và chi phí khác Doanh thu càng cao càng chứng tỏ hoạt động kinhdoanh càng lớn Để đạt được doanh thu cao, doanh nghiệp cần phải cố gắng phấnđấu từ mội góc độ như tăng giá bán, tăng lượt khách, tăng khả năng chi tiêu củakhách, kéo dài thời gian tham gia chương trình của khách
Chỉ tiêu tổng doanh thu được xác định bằng công thức:
DT = P*Q – C – G – B
Trang 12DT: Tổng doanh thu.
P: Giá bán của một tour
Q: Số lượng các tour bán ra trong kỳ phân tích
C: Khoản hoa hồng mà doanh nghiệp thưởng lại cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng mua với số lượng lớn, thanh toán tiền trước thời hạn
B: Khoản bồi thường cho khách trong trường hợp huỷ bỏ hợp đồng vớikhách do các yếu tố phát sinh ngoài khả năng của doanh nghiệp
1.2.2.3 Chỉ tiêu lợi nhuận
Đây là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuấtkinh doanh, nó phản ánh đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanhnghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như: laođộng, nguồn vốn, tài sản Nó biểu hiện bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thặng dư
do kết quả của người lao động mang lại
Công thức: LN = DT– CP
Trong đó:
LN: Lợi nhuận
DT: Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh lữ hành
CP: Tổng chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện chuyến du lịch.Chỉ tiêu này phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng của các chương trình dulịch trong kỳ phân tích, đồng thời chỉ tiêu này còn dùng để so sánh giữa các kỳ
Lợi nhuận phụ thuộc vào doanh thu và chi phí Muốn tăng lợi nhuận thì phảităng doanh thu và giảm chi phí
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
TSLNdt =
DT LN
Trong đó:
TSLNdt: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
DT: Tổng doanh thu
LN: Tổng lợi nhuận
Trang 13Chỉ tiêu này cho biết cứ trong một đồng doanh thu sẽ có được bao nhiêuđồng lợi nhuận Tỷ lệ này càng lớn càng có hiệu quả.
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí:
TSLNcp = LNCPTrong đó:
TSLNcp: Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí
LN: Lợi nhuận sau thuế
CP: Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu lại được bao nhiêuđồng lợi nhuận
1.2.2.4 Chỉ tiêu tổng chi phí kinh doanh lữ hành.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư của doanh nghiệp trong kỳ phân tích.Chỉ tiêu này được tính như sau:
CP=
n 1 i
CiTrong đó:
CP: Tổng chi phí cho các chương trình du lịch trong kỳ
Ci: Chi phí dùng để thực hiện chương trình du lịch thứ i
n: Số chương trình du lịch thực hiện
Chi phí trong kỳ bằng tổng chi phí của chương trình du lịch được thực hiệntrong kỳ Chi phí để thực hiện chương trình du lịch thứ i là tất cả các chi phí cầnthiết để thực hiện chương trình du lịch như vé tham quan, hướng dẫn viên, ăn ngủ
và các dịch vụ khác
Nếu chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra cho một chương trình dịch vụ dulịch càng thấp thì nó sẽ làm giảm được giá thành sản phẩm, hạ giá bán, làm giảmbớt sự cạnh tranh giữa các đối thủ
Trong kinh doanh tiết kiệm chi phí là mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nàocũng phấn đấu, có nghĩa là phải giảm thiểu tối đa những gì có thể, ngoài việc chiphí mua bán các dịch vụ thì việc giảm chi phí cho tuyển dụng lao động, chi phí
Trang 14giao dịch tiếp khách là rất cần thiết Việc chi tiêu của công ty cũng cần phải đượclập kế hoạch rõ ràng.
- Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí có thể áp dụng công thức:
1.2.2.5 Chỉ tiêu số lượng khách.
- Chỉ tiêu tổng số lượt khách:
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách mà công ty đã đón được trong kỳphân tích Chỉ tiêu này phản ánh một cách tổng quát hiệu quả kinh doanh lữ hànhcủa doanh nghiệp
Công thức:
TSLK =
n 1 i
QiTrong đó:
TSLK: Tổng số lượt khách trong kỳ
Qi: Số lượng khách trong chương trình du lịch thứ i
n: Số chương trình du lịch đã thực hiện
- Chỉ tiêu thời gian trung bình một chuyến đi:
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó liên quan đến nhiều chỉ tiêu khác Một chuyến
đi dài ngày với lượng khách lớn là điều mà doanh nghiệp nào cũng muốn có vì nógiảm được nhiều chi phí và tăng doanh thu cho doanh nghiệp Thời gian trung bìnhcủa một khách trong chuyến du lịch còn đánh giá được kinh nghiệm kinh doanhcủa công ty và tính hấp dẫn của chương trình du lịch Để tổ chức được những
Trang 15chuyến du lịch dài ngày cần phải có công tác điều hành, hướng dẫn viên tốt khôngxảy ra sự cố trong quá trình thực hiện chương trình.
Công thức:
TG = TSNKTSLKTrong đó:
TG: Thời gian trung bình ngày trên một khách
TSNK: Tổng số ngày khách thực hiện
TSLK: Tổng số lượt khách
- Chỉ tiêu tổng số ngày khách thực hiện:
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp thôngqua số lượng ngày khách
Công thức:
TNK =
n 1 i
QitiTrong đó:
TNK: Tổng số ngày khách trong kỳ phân tích
ti: Độ dài của chương trình du lịch thứ i (đơn vị ngày)
Qi: Số khách tham gia chương trình du lịch thứ i (đơn vị khách)
Chỉ tiêu này rất quan trọng có thể dùng để tính cho từng loại chương trình dulịch, so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các chuyến du lịch, các thị trường khách,giữa doanh nghiệp với đối thủ Một chương trình du lịch có số lượng khách ítnhưng thời gian của chuyến đi dài thì làm cho số ngày khách tăng và ngược lại
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiệnchức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ chobiết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào, mà còn cho phép nhà quản trị phân tíchtìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăngkết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 16Nâng cao hiệu quả kinh doanh chứng tỏ doanh nghiệp đã tìm cho mình mộtgiải pháp hữu hiệu, đó là đầu tư đúng đắn mà không hề gây ra sự lãng phí nào về vốn.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh thể hiện nghệ thuật kinh doanh tài tình củađội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp, đó là biết vận dụng triệt để và có hiệuquả các nguồn lực sẵn có, biết tổ chức sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy làm việc mộtcách linh hoạt
Nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là doanh nghiệp đã khẳng định được một
vị trí vững chắc trong nền kinh tế Như vậy doanh nghiệp tạo cho mình danh tiếng
và tăng thêm sức cạnh tranh trên thương trường
Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp lữ hành có ý nghĩa rất tolớn đối với việc mang lại nguồn thu đáng kể cho ngành du lịch nói riêng và nềnkinh tế nói chung
Với những lý do trên nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề hàng đầuđược các doanh nghiệp quan tâm Nó trở thành điều kiện sống còn để doanhnghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lữ hành.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lữ hành, chủ yếurơi vào hai nhóm nhân tố là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
1.3.1 Nhân tố khách quan.
Bao gồm các nhân tố: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, chính sách của nhànước, tính thời vụ, sự phát triển của ngành kinh thế khác, môi trường tự nhiên, môitrường kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội
- Khách hàng: Đối với doanh nghiệp lữ hành khách hàng thực chất là thịtrường Thị trường của một doanh nghiệp lữ hành là tập hợp khách du lịch có nhucầu mua và tiêu dùng sản phẩm du lịch, dịch vụ của công ty và có khả năng thanhtoán Kết quả kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào tình hình đón khách của công ty.Nếu thị trường khách rộng, nhu cầu du lịch cao, quỹ thời gian rỗi nhiều, khả năngthanh toán của khách du lịch cao thì sẽ tạo điều kiện tốt cho công ty trong việc khaithác khách Theo triết lý kinh doanh thì khách hàng là thượng đế và điều này cũng
Trang 17có ý nghĩa với các doanh nghiệp lữ hành, khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến uytín và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối thủ cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh của các đối thủ cùng ngành cũngnhư các ngành dịch vụ khác là rất lớn Thể hiện ở cạnh tranh về giá, các chiến dịchkhuyếch trương, tiếp thị, thay đổi mẫu mã sản phẩm và độ phong phú của cácchương trình Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường khách cũng nhưhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Các chính sách, luật lệ và chủ trương của Nhà nước: Chủ trương, chínhsách, luật pháp của nhà nước có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh tế của cácdoanh nghiệp nói chung đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, thôngqua các yếu tố như: thuế, tín dụng, thủ tục xuất nhập cảnh có tác động đến cảngười kinh doanh và khách du lịch
Với đặc trưng của ngành kinh doanh lữ hành, lượng khách du lịch quốc tếđóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy kinh doanh lữhành phụ thuộc rất nhiều vào chính sách mở cửa để đón nhận đầu tư nước ngoài vàkhách du lịch quốc tế Đối với trong nước, chính sách khuyến khích tiêu dùng hơn
là tích luỹ sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch
- Tính thời vụ: Đây là nhân tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảkinh doanh lữ hành Tính thời vụ trong kinh doanh lữ hành gắn liền với các yếu tốnhư thời tiết, khí hậu, thời gian rảnh rỗi của du khách Trong du lịch tính chất này
đã tạo nên sự không đồng đều trong hoạt động kinh doanh Khi ở thời điểm ngoàimùa vụ du lịch thì lượng khách đi du lịch là rất ít, lao động dư thừa, các phươngtiện vận chuyển chuyên phục vụ du lịch gần như ngừng hoạt động ảnh hưởng trựctiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành của các công ty Trong thời gianchính vụ du lịch, lượng khách lại có thể quá lớn đòi hỏi nhân viên phải làm việcvới tần suất cao và liên tục, điều này rất dễ gây ảnh hưởng đến chất lượng làm việccủa nhân viên
- Sự phát triển của các ngành kinh tế khác: Lữ hành và du lịch là ngành cần
có sự hỗ trợ của nhiều ngành kinh tế như: bưu chính viễn thông, giao thông vận tải,
Trang 18hàng không, ngân hàng, khách sạn sự phát triển của doanh nghiệp lữ hành làkhông thể độc lập, nó thực sự có hiệu quả cao khi các ngành kinh tế lớn mạnh, đủđáp ứng nhu cầu tổng hợp của toàn xã hội Như để phục vụ khách hàng càng tốthơn thì phải có sự kết hợp của ngành bưu chính viễn thông giúp khách hàng thoảmãn thông tin liên lạc, sự thuận tiện của ngành giao thông vận tải sẽ đảm bảo chonhu cầu đi lại, đảm bảo về thời gian để làm được như vậy các ngành kinh tếkhác phải có sự phát triển.
- Môi trường tự nhiên: Du lịch vốn là ngành có sự định hướng tài nguyên rất
rõ rệt, tài nguyên là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch Du khách ở các đôthị lớn, các khu công nghiệp có nhu cầu thoát về các địa phương có môi trườngtrong lành hơn như: các vùng biển, các vùng nông thôn, hay vùng núi Với nhu cầuđược hòa mình với thiên nhiên như vậy thì một môi trường trong sạch, nên thơ sẽhấp dẫn, thu hút du khách Do đó những người làm du lịch cần phải nắm bắt đượcnhu cầu này của khách để từ đó có thể xây dựng nên các chương trình du lịch cóthể đáp ứng được nhu cầu của khách Đây chính là nhân tố để những người làm dulịch có thể khai thác tạo dựng nên các chương trình du lịch hấp dẫn, phù hợp
- Môi trường văn hóa: Các đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịchđặc biệt Tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn du khách bởi tính phong phú, đadạng, độc đáo và có tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Mặt khác,nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách
- Môi trường kinh tế: Một đất nước có nền kinh tế ổn định, người dân có củacải dư thừa, đời sống được cải thiện và nâng cao, thời gian rỗi gia tăng do số ngày
và số giờ làm việc ngày càng giảm, do tiến bộ của khoa học công nghệ và sự phâncông chuyên môn hóa lao động trong xã hội thì nhu cầu của người dân được nângcao tất yếu sẽ xuất hiện những nhu cầu hưởng thụ, thư giãn, thoải mái Đi du lịch
sẽ là cái đích để họ thõa mãn nhu cầu của mình Hơn nữa, kinh tế phát triển tạomôi trường thuận lợi cho việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ cũng như mở ra cơhội đầu tư lớn cho du lịch, cho các điểm du lịch
Trang 19- Môi trường chính trị: Bất cứ một sự xáo động về chính trị - xã hội nào dùlớn hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch Ổn định và antoàn là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với du khách và cơ quan cung ứng dịch vụ dulịch Những thông tin bất ổn về chính trị, xã hội xảy ra tại điểm du lịch nào đó thíkhó có thể thuyết phục được du khách mua các chương trình đến đó, thậm chí sẽkhông ít khách hàng hủy bỏ hoặc thay đổi lịch trình các chương trình đã mua Nhưvậy, một môi trường chính trị ổn định luôn là điều kiện tiền đề cho việc phát triển
du lịch, đầu tư và phát triển các hoạt động khác
- Môi trường xã hội: Hiện nay đi du lịch đã trở thành nhu cầu phổ biến củanhiều người trên thế giới Việc đi du lịch không chỉ là việc thỏa mãn mục đích nhucầu đặt ra cho chuyến đi mà còn phần nào thỏa mãn nhu cầu thể hiện mình của conngười Do đó việc nhận thức của một cộng đồng xã hội có ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động du lịch, nó sẽ quyết định đến việc tiêu thụ các sản phẩm du lịch của ngườidân như thế nào, từ đó sẽ quyết định đến thị trường khách Điều này ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc thu hút khách của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
bị máy móc để tạo ra kết quả kinh doanh cùng với ý thức và tinh thần của mình.Trong dịch vụ du lịch thì lực lượng lao động là người trực tiếp tạo ra sản phẩm củamình thông qua năng lực và trình độ của bản thân mà không qua một công cụ sảnxuất nào cả và sản phẩm du lịch không có phế phẩm Bởi vậy trong kinh doanh dulịch và dịch vụ yếu tố con người là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất
Đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao sẽ mang lại thành công chochương trình du lịch, chính vì vậy chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng và nângcao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của
Trang 20nhiều doanh nghiệp Hiện nay và thực tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trênthương trường thế giới là những doanh nghiệp có đội ngũ lao động với trình độchuyên môn cao, có tác phong làm việc khoa học và có kỷ luật.
- Vốn kinh doanh: Để có thể tồn tại và phát triển không chỉ có các doanhnghiệp lữ hành mà các doanh nghịêp hoạt động trên lĩnh vực khác nói chung đềucần có vốn Nếu thiếu vốn thì mọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặckém hiệu quả Vì vậy vốn rất quan trọng, tuy nhiên muốn kinh doanh có hiệu quảthì cần biết sử dụng đồng vốn mang lại lợi nhuận cao nhất
- Vấn đề tổ chức quản trị doanh nghiệp: Quản trị doanh nghiệp hiện đại làluôn chú trọng đến việc xác định đúng các chiến lược kinh doanh và phát triểndoanh nghiệp Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở đầu tiênđem lại hiệu quả, kết quả hoặc phi hiệu quả, thất bại của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường Do dó người quản lý phải là người biết xây dựng đúng đắn cácchiến lược kinh doanh, biết tìm thời cơ, biết đưa ra các quyết định đúng đắn cùngvới phương pháp quản lý chi tiêu hợp lý
Cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp phải chú trọng đến các nhiệm vụ:
+ Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lượng cao.+ Tổ chức, điều hành công việc dựa vào khả năng và nguồn lực của mình
+ Xác định mục tiêu, phương hướng kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp + Dìu dắt tập thể dưới quyền hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc
và ổn định
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Là phương tiện lao động, trang bị và sử dụng cơ sởvật chất hợp lý sẽ tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp Mặc dù vậy cơ sở vấtchất kỹ thuật cũng cần phải được đầu tư nâng cấp liên tục phù hợp với sự phát triểnchung của toàn xã hội và quan trọng hơn là phục vụ tốt nhất cho quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chất lượng tour: Chất lượng tour chính là mức độ phù hợp khả năng đápứng của doanh nghiệp với sự mong đợi của khách Chất lượng tour phụ thuộc vào:tính khả thi của chương trình (lịch bay của hãng hàng không, lịch tàu chạy, cơ sở
Trang 21hạ tầng, tình hình giao thông), tốc độ hợp lý của chương trình (khoảng cách giữacác điểm du lịch, thời gian tìm hiểu điểm du lịch, điểm tham quan, thời gian trống
để du khách nghỉ ngơi) Khi xây dựng chương trình du lịch cần phải nghiên cứuchú ý đến số km di chuyển trong thời gian du lịch, thời gian nghỉ ngơi, thời gianhoạt động tự do của du khách để cho phù hợp với khả năng chịu đựng về tâm sinh
lý của du khách
- Giá cả: Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh củacông ty Nếu mức giá của công ty đưa ra quá cao so với mức chi phí thì tiền lãi từmột tour sẽ cao nhưng nó lại có thể ảnh hưởng tới lượng tour bán ra, còn nếu mứcgiá bán của công ty đưa ra chỉ cao hơn giá thành rất nhỏ thì mức lãi không cao, cóthể bán được nhiều tour nhưng hiệu quả kinh doanh vẫn có thể là thấp Vì vậy công
ty cần đưa ra mức giá hợp lý
- Các chính sách của công ty: Tùy theo mục đích của công ty mà công ty đề
ra những chiến lược kinh doanh khác nhau Nếu để cạnh tranh với các công ty kháctrên thị trường công ty có thể hạ thấp giá bán, đưa ra các chương trình khuyếnmại điều này làm cho lợi nhuận tức thời của công ty giảm xuống nhưng có thểlàm cho hiệu quả kinh doanh của công ty về lâu dài là tăng lên
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
LỮ HÀNH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH
vị liên doanh giữa Liên hiệp công ty Du lịch Dịch vụ Hải Phòng và công ty Du lịch Dầu khí Việt Nam
-Công ty Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng ra đời trong thời kì đã có Luật đầu
tư và cho phép công ty nước ngoài đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí ở ViệtNam Chỉ thị của bộ trưởng lúc bấy giờ nêu rõ, trước mắt cần tập trung xây dựng đểhình thành ba trung tâm dịch vụ dầu khí tại Việt Nam là Vũng Tàu - Côn Đảo, HảiPhòng - Hà Nội, Đà Nẵng - Huế Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Thườngtrực thành ủy Hải Phòng tại cuộc họp ngày mồng 3 tháng 1 năm 1989 đã chủ trương
mở rộng dịch vụ của thành phố phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí tại đất liền và vịnhBắc bộ Chủ trương này được triển khai thực hiện, một số hãng dầu khí nước ngoài kíkết với phía Việt Nam văn bản về việc thăm dò, khai thác dầu khí ở đất liền và vịnhBắc bộ
Thực hiện chủ trương của Trung ương và thành phố, Liên hiệp công ty Du lịch Dịch vụ Hải Phòng được phép liên doanh với công ty Du lịch - Dịch vụ Dầu khí ViệtNam Cuộc "kết duyên" này đã sinh ra công ty Liên doanh dịch vụ dầu khí Hải Phòng,đặt dưới sự quản lý của Ủy ban Nhân dân thành phố Công ty liên doanh có 1 hộiđồng quản trị gồm 4 đồng chí Đồng chí Vân Nam (chủ tịch hội đồng quản trị), đồngchí Phạm Thiệp (phó chủ tịch hội đồng quản trị), đồng chí Bùi Văn Đoàn và đồng chíHoàng Gia Cung (ủy viên hội đồng quản trị) Đồng chí Vân Nam - giám đốc Liên
Trang 23-hiệp công ty Du lịch - Dịch vụ Hải Phòng làm giám đốc công ty liên doanh, đồng chíHoàng Gia Cung - phó giám đốc công ty Du lịch Hải Phòng làm phó giám đốc.
Được sự quan tâm của Liên hiệp công ty Du lịch - Dịch vụ Hải Phòng và công
ty Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Việt Nam, công ty Liên doanh dịch vụ Dầu khí HảiPhòng từng bước ổn định và trưởng thành Từ công ty liên doanh với một đơn vịtrong nước công ty trở thành đơn vị độc lập với tên gọi công ty Du lịch - Dịch vụ Dầukhí Hải Phòng ngày nay
Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới trong tình hình nền kinh tế đã chuyển mình
từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng Xã hộichủ nghĩa, ngày 12 tháng 4 năm 2005 công ty tiến hành cổ phần hóa thành công vàđổi tên thành công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng
2.1.2 Tên, địa chỉ giao dịch của công ty.
Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng
Địa chỉ giao dịch: Số 40A - Trần Quang Khải - Hồng Bàng - Hải Phòng Điện thoại : 031.3823552
Fax: 031.3810532
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty.
Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty :
- Kinh doanh lữ hành (quốc tế và nội địa), văn phòng cho thuê
- Kinh doanh vận chuyển hành khách công cộng và du lịch, sửa chữa ô tô vàdịch vụ
- Kinh doanh thương mại tổng hợp và xuất nhập khẩu trực tiếp
- Kinh doanh dịch vụ dầu khí
- Tư vấn đầu tư
- Đào tạo và cung ứng lao động nước ngoài
- Dịch vụ hộ chiếu, visa, đặt chỗ và mua vé máy bay
- Thông tin quảng cáo
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty.
Trang 24Sơ đồ số 1: Cơ cấu tổ chức của công ty
Phòng kế hoạch
tổng hợp
Chi nhánh tạiLào Cai
Chi nhánh tạithành phố HCM
Chi nhánh tạiMalaisia
Chi nhánh tạiViên Chăn (Lào)
Trang 25Là công ty cổ phần nên cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty cũng giốngnhư mọi công ty cổ phần khác Hội đồng quản trị là cấp cao nhất trực tiếp quản lýtoàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty.
Hội đồng quản trị của công ty gồm có 3 người: Chủ tịch và 2 thành viên.Ban giám đốc của công ty gồm có 2 người : Tổng giám đốc và Phó giám đốc.Văn phòng công ty gồm :
+ Chi nhánh Lào Cai
+ Chi nhánh Lạng Sơn : tạm thời chưa hoạt động
2.2 Giới thiệu sơ lược về Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng (Trung tâm du lịch OSC Hải Phòng).
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm.
Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng là mộttrong các đơn vị trực thuộc của công ty Cổ phần Du lịch và Dịch vụ Dầu khí HảiPhòng, được giao nhiệm vụ kinh doanh lữ hành
Tên chi nhánh: Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng.Địa chỉ : Số 40A - Trần Quang Khải - Phường Hoàng Văn Thụ - Quận HồngBàng - Thành phố Hải Phòng
Điện thoại: 031.3823552; 3841146
Fax: (031) 3810532
Email: oschp@hn.vnn.vn
Trang 26Giấy chứng nhận đăng kí hoạt động chi nhánh: Số 0213 001739
Đăng kí ngày 19 tháng 9 năm 2005
Lí do thành lập chi nhánh: Do nhu cầu du lịch của thành phố ngày càng tăngđòi hỏi công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng chính thức thành lậpChi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng, tên thường gọi
là Trung tâm du lịch OSC Hải Phòng trên cơ sở phòng du lịch của công ty Chinhánh ra đời là một đơn vị kinh doanh hạch toán độc lập trực thuộc công ty có condấu riêng, tài khoản và cơ cấu nhân sự riêng
Hiện nay Chi nhánh công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòngđược coi là đại diện chính thức của công ty Cổ phần Du lịch và Dịch vụ Dầu khíHải Phòng trên lĩnh vực kinh doanh lữ hành, vì vậy Trung tâm có đủ quyền hạn vàchức năng của một đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế
2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm.
Sơ đồ số 2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm
(Nguồn: Trung tâm OSC Hải Phòng)
kế toán
Bộ phận hướng dẫn
Trang 27* Chức năng của từng bộ phận:
- Giám đốc: Chịu trách nhiệm chung cho hoạt động của toàn Trung tâm,thực hiện giám sát, đôn đốc trực tiếp các bộ phận khác làm việc Đưa ra các chiếnlược kinh doanh cho toàn Trung tâm
- Phó giám đốc: Giúp việc cho giám đốc quản lý trực tiếp các bộ phận trongTrung tâm, thực hiện báo cáo kết quả kinh doanh cho giám đốc
- Bộ phận thị trường:
+ Tổ chức và thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường và sản phẩm dulịch trong nước và quốc tế Bên cạnh đó còn tham mưu cho giám đốc các chiếnlược thị trường và sản phẩm, định hướng để phát triển và mở rộng thị trường củaTrung tâm
+ Tiến hành hoạt động tuyên truyền quảng cáo thu hút các nguồn khách đếnTrung tâm Tiến hành ký hợp đồng với các công ty lữ hành trong và ngoài nước.Duy trì các mối quan hệ của Trung tâm với khách hàng và các nhà cung cấp, đảmbảo hoạt động thông tin giữa Trung tâm với khách hàng Thông báo với các bộphận có liên quan về nội dung của hợp đồng, xây dựng chiến lược marketing đểkhai thác và thu hút khách hàng
- Bộ phận kế toán:
+ Tổ chức thực hiện các công việc về tài chính kế toán, theo dõi ghi chép chitiêu của Trung tâm Dự trữ, dự trù và ứng trước một khoản tiền cho hướng dẫnviên khi thực hiện một chương trình du lịch Kiểm tra các khoản phải thanh toánvới các bên cung ứng sản phẩm dịch vụ, thực hiện thanh quyết toán với hướng dẫnviên sau mỗi chương trình du lịch
+ Theo dõi các khoản thu chi trong tháng và lập báo cáo tổng kết theo tháng,quý, năm Kịp thời phản ánh những thay đổi về tài chính của Trung tâm cho giámđốc kể kịp thời có biện pháp xử lý
- Đội ngũ hướng dẫn viên: Có trách nhiệm chính trong hoạt động hướng dẫn
du lịch của Trung tâm, thực hiện các chương trình du lịch đã được ký kết Báo cáo
Trang 28kết quả cho Trung tâm khi kết thúc chương trình, thực hiện thanh quyết toán với bộphận kế toán sau mỗi chuyến đi.
- Ngoài ra Trung tâm còn có đội ngũ cộng tác viên đông đảo giúp đỡ choTrung tâm vào thời gian đông khách, đội ngũ cộng tác viên thường làm việc theomùa vụ hoặc quảng cáo bán chương trình cho Trung tâm tại địa phương Đây cũng
là một đội ngũ đắc lực ngoài việc giúp đỡ hướng dẫn viên trong các lần dẫn khách
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm.
2.2.3.1 Chức năng:
- Nghiên cứu thị trường du lịch, tuyên truyền quảng bá du lịch trong và ngoàinước Xây dựng các chương trình du lịch, tổ chức thực hiện các chương trình dulịch cho người nước ngoài đi tham quan, du lịch tại Việt Nam cũng như người ViệtNam đi du lịch nước ngoài và trong nước
- Trực tiếp giao dịch, ký kết với các hãng du lịch trong và ngoài nước
- Kinh doanh các dịch vụ khác: vận chuyển, xuất nhập cảnh, đặt phòng kháchsạn, đặt chỗ và mua vé máy bay, dịch vụ hộ chiếu, visa…
- Ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh du lịch
- Nghiên cứu và thực hiện bộ máy kinh doanh cho từng thời kỳ
- Tổ chức các chương trình du lịch, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng
- Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức cho người lao động
2.2.4 Đặc điểm kinh doanh của Trung tâm.
Trung tâm là đại diện chính thức của công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầukhí Hải Phòng trên lĩnh vực kinh doanh lữ hành Nên hoạt động kinh doanh chủyếu của Trung tâm là:
- Kinh doanh lữ hành quốc tế
Trang 29- Kinh doanh lữ hành nội địa.
2.3 Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành tại Trung tâm 2.3.1 Điều kiện đón tiếp khách của Trung tâm.
2.3.1.1 Vị trí địa lý.
Cổng chính của Trung tâm nằm trên số 40A - Trần Quang Khải - HoàngVăn Thụ - Hồng Bàng - Hải Phòng, địa điểm là văn phòng của công ty Cổ phần Dulịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng Có thể nói đây là vị thế thuận lợi cho việc kinhdoanh bởi:
- Thành phố Hải Phòng là một thành phố công nghiệp phát triển về cảngbiển, thương mại, thu nhập người dân cao, nhu cầu vui chơi giải trí tăng
- Thành phố nằm ở vị trí thuận lợi cho việc đi lại, là đầu mối giao thông cóđường sắt, đường bộ, đường không và đường thuỷ nối với các tỉnh khác
- Trung tâm nằm ở trung tâm thành phố nên việc đón tiếp và thu hút khách làrất thuận lợi, tiến hành tổ chức các chương trình du lịch là rất dễ dàng
Nằm trong trung tâm thành phố là vị trí thuận lợi, đồng thời cũng là vị tríthách thức với Trung tâm Bên cạnh Trung tâm cũng có các công ty lữ hành như:Công ty Du lịch - Dịch vụ Hải Phòng, Công ty du lịch Hoa Phượng nên sẽ gặpphải những khó khăn về cạnh tranh với các công ty lữ hành cùng nghề và các chínhsách thu hút khách hàng Điều này đòi hỏi Trung tâm phải có những biện phápchiến lược và những chính sách đổi mới và tiếp cận thị trường một cách nhanh vàhiệu quả nhất
Trang 302.3.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Trung tâm được sử dụng một phòng do công ty cấp, ngay trong văn phòngcủa công ty Phòng này vừa là nơi làm việc vừa là nơi đón tiếp khách hàng đếntham khảo, giao dịch và ký hợp đồng
Trung tâm được trang bị đầy đủ về máy tính, mạng internet và các phươngtiện khác phục vụ cho công việc Trung tâm tư vấn cho khách hàng trên mạng hoặcqua điện thoại đây cũng là điều kiện làm khách hài lòng vì khách không mất thờigian đến Trung tâm tìm hiểu thông tin
2.3.1.3 Cơ cấu lao động của Trung tâm.
Cơ cấu lao động của Trung tâm còn khá đơn giản và gọn nhẹ, toàn bộ cán bộnhân viên của Trung tâm chỉ có 7 người
Bảng số 1: Cơ cấu nhân sự của Trung tâm
Tên Đại học Cao đẳng Trung học NamTrình độ chuyên môn Giới tínhNữ
(Nguồn: Trung tâm OSC Hải Phòng)
Theo bảng trên ta thấy Trung tâm có 3 lao động nam chiếm 43 %, và 4 laođộng nữ chiếm 57 % Như vậy số lượng nhân viên nữ và nam của Trung tâm làtương đương nhau điều này rất phù hợp với công việc của Trung tâm Tuy là mộtngành dịch vụ nhưng tính chất công việc lại rất khác so với các ngành dịch vụkhác Lữ hành là ngành dịch vụ đòi hỏi phải đi nhiều ngày và có sức khoẻ do đólao động nam làm việc sẽ thuận lợi hơn, tuy nhiên tính chất dịch vụ lữ hành cũngcần sự khéo léo, dịu dàng Bởi vậy cơ cấu lao động theo giới tính như hiện thời củaTrung tâm có thể nói là khá hợp lý để đáp ứng được với việc kinh doanh hoạt động
Trang 31Về trình độ chuyên môn của nhân viên Trung tâm là khá cao, 6 người cótrình độ đại học chiếm 85,7%, 1 người có trình độ cao đẳng chiếm 14,3% và không
có ai ở trình độ trung học chuyên nghiệp Đây là điều kiện thuận lợi của Trung tâmtrong việc đón tiếp khách
2.3.2 Cơ cấu khách của Trung tâm.
2.3.2.1 Đối tượng khách của Trung tâm:
Với chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của Trung tâm thì Trungtâm có hai thị trường khách chính là thị trường nội địa và thị trường quốc tế
- Thị trường nội địa:
Thường là khách du lịch địa phương, chủ yếu tập trung ở khối cán bộ, côngnhân viên chức, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thị trường khách này thường thamgia các chương trình du lịch nội địa ngắn ngày và mức chi trả trung bình
- Thị trường khách quốc tế:
Đối tượng khách này có mức chi trả cao, dài ngày, là một thị trường mà bất
cứ công ty lữ hành nào cũng mong muốn Song theo tình hình chung thì lượngkhách quốc tế đến Trung tâm là khách Trung Quốc đại bộ phận là khách có thunhập trunh bình nhưng ổn định
Thị trường khách của Trung tâm phục vụ chủ yếu là khách nội địa, cònkhách quốc tế chiếm một lượng nhỏ Trong ba năm gần đây nguồn khách nội địađến với Trung tâm chủ yếu là khách ở khối cán bộ công nhân viên chức, Việt kiều
về nước, học sinh và một số đến từ khối khác như thương nhân
Trang 32Bảng số 2: Bảng tình hình các loại khách nội địa đến Trung tâm
Đơn vị tính: lượt khách
Năm
Tổngsố
% tổngsố
Tổngsố
% tổngsố
Tổngsố
% tổngsốCông nhân viên chức 12280 81,9 13850 75,9 14300 73,6
Qua bảng trên ta thấy:
Cơ cấu khách nội địa đến với Trung tâm như sau: Đối tượng khách đến từkhối cán bộ công nhân viên chức và đối tượng khách là học sinh chiếm số đông,còn các đối tượng khách là Việt Kiều và khách khác chỉ chiếm một phần nhỏ
Nguyên nhân là do trong những năm qua Trung tâm chỉ nhắm đến hai đốitượng khách này nên luôn có các chính sách và biện pháp để thu hút như tặng quà,gửi thiệp chúc mừng đến các công ty, doanh nghiệp có mối quan hệ lâu dài vớiTrung tâm, có sự ưu đãi về giá bán, nhưng Trung tâm lại chưa chú trọng đến đốitượng khách là Việt kiều, và các đối tượng khách khác Họ tìm đến Trung tâm chủyếu là do sự giới thiệu của người khác hoặc do tình cờ biết đến Trung tâm
Đối tượng khách là công nhân viên chức: Năm 2007 số lượng khách cán bộcông nhân viên là 13.850 lượt, tăng 1.570 lượt tương ứng tăng 12,8 % và giảm về
tỷ trọng là 6,6% trong tổng cơ cấu khách so với năm 2006 Đến năm 2008 lượngkhách này là 14.300 lượt, tăng 450 lượt tương ứng tăng 3,3 % nhưng lại giảm về
tỷ trọng là 1,7 % trong tổng cơ cấu khách so với năm 2007
Còn về đối tượng khách là Việt kiều: Số lượng khách này lại có xu hướngtăng nhanh Năm 2007 số lượng khách là 990 lượt chiếm 6% trong tổng cơ cấukhách, tăng hơn so với năm 2006 là 400 lượt tương ứng tăng 2,1% Còn đến năm
Trang 332008 thì lượng khách đến Trung tâm là 1.170 lượt, chiếm 6% trong tổng cơ cấukhách nội địa đến với Trung tâm tăng hơn so với năm 2007 là 180 lượt và khôngthay đổi về tỷ trọng.
- Đối tượng khách là học sinh: Đây là đối tượng khách chiếm số lượng nhiềusau đối tượng cán bộ công nhân viên, và đối tượng này có xu hướng tăng dần theocác năm cả về số lượng và tỷ trọng Năm 2007 có số lượng là 2.200 lượt tương ứng12,1% tăng hơn so với năm 2006 là 700 lượt cao hơn là 2,1% Đến năm 2008 có sốlượng là 2.400 lượt tương ứng với tỷ lệ 12,4% tăng hơn so với năm 2007 là 200lượt cao hơn 0,3%
- Đối tượng khách khác: Đây là đối tượng khách chiếm không nhiều trong
cơ cấu khách nhưng đối tượng này lại có xu hướng tăng nhanh trong mấy năm gầnđây Năm 2007 có số lượng là 1.200 lượt tương ứng với tỷ lệ là 6,6% tăng hơn sovới năm 2006 là 570 lượt và cao hơn 2,4% Đến năm 2008 có số lượng khách là1.550 lượt tương ứng với tỷ lệ là 8 % tăng hơn so với năm 2007 là 350 lượt và caohơn 1,4%
Như vậy tất cả các đối tượng khách của Trung tâm đều tăng nhanh ở năm
2007 còn 2008 thì lại chững lại và có xu hướng giảm dần điều này có thể do thờigian này nhiều công ty lữ hành mở và cường độ cạnh tranh nhiều hơn về giá cảcũng như chất lượng chương trình vì vậy số lượng khách đến Trung tâm có xuhướng chững lại
2.3.2.2 Số lượng khách du lịch của Trung tâm.
Nhìn chung trong ba năm từ năm 2006 - 2008 lượng khách của Trung tâmtăng lên từng năm Chúng ta có thể theo dõi qua bảng thống kê sau:
Trang 34Bảng số 3: Bảng số lượt khách phục vụ của Trung tâm.
Thị trường khách chính của Trung tâm là khách nội địa, luôn chiếm tỷ lệ khácao trong tổng lượt khách mà Trung tâm đã phục vụ Cụ thể, năm 2006 khách nộiđịa chiếm 73,2 % tổng số, năm 2007 là 75,4 % tổng số và năm 2008 là 74,7 % tổng
số Số lượng khách quốc tế không nhiều nhưng tăng lên theo các năm, giúp chotổng số khách của Trung tâm tăng lên
Có được kết quả này là do Trung tâm luôn quan tâm đến chính sách sảnphẩm, giá cả hay tuyên truyền quảng cáo, quan hệ với khách hàng để thu hút mộtlượng ổn định khách nội địa đến với Trung tâm Hơn nữa các điều kiện tự có vềhướng dẫn viên, cơ sở vật chất và nhất là vốn kinh doanh của Trung tâm hiện tạirất phù hợp cho việc đón tiếp khách du lịch nội địa, còn khách du lịch quốc tế đếnvới Trung tâm chủ yếu do công ty lữ hành gửi khách gửi sang hoặc do khách tự tìmđến với Trung tâm
Như vậy số lượng khách nội địa và quốc tế đến với Trung tâm vẫn tăng lêntừng năm, nhưng tốc độ tăng không đều và có sự chững lại ở năm 2008, nguyênnhân là do Trung tâm gặp phải sự cạnh tranh gay gắt về chính sách giá và sảnphẩm của các công ty du lịch khác như công ty Song Nguyễn, công ty Long Huy
Trang 35Mặt khác do khách du lịch muốn tiêu dùng sản phẩm của các công ty khác đểkhám phá và so sánh
2.3.3 Sản phẩm lữ hành của Trung tâm.
2.3.3.1 Chương trình du lịch của Trung tâm.
Với chức năng kinh doanh lữ hành, sản phẩm chính của Trung tâm là cácchương trình du lịch trọn gói do Trung tâm xây dựng Trung tâm tổ chức, bán vàthực hiện cả chương trình du lịch nội địa và chương trình du lịch quốc tế
Chương trình du lịch nội địa: Trung tâm xây dựng chương trình du lịch chokhách nước ngoài đi du lịch Việt Nam hoặc người Việt Nam đi du lịch trong nước,với các chương trình du lịch khác nhau phụ thuộc vào thời gian, tuyến điểm tham
quan và mục đích chuyến đi
Bảng số 4: Trích một số chương trình du lịch nội địa của Trung tâm:
Mã
chương
trình
Nội dung chương trình
NĐ 01 Thác Bạc Long Cung - Thủy điện Hòa Bình (2 ngày 1 đêm)
NĐ 07 Lễ hội chùa Hương (2 ngày 1 đêm)
NĐ 16 Lạng Sơn – Bà Chúa Kho – Đền Đô (2 ngày 1 đêm)
NĐ 24 Hạ Long – Tuần Châu – Móng Cái – Đông Hưng (3 ngày 2 đêm)
NĐ 32 Chùa Bái Đính (1 ngày)
NĐ 39 Biển Cửa Lò (3 ngày 2 đêm)
NĐ 46 Huế - Đà Nẵng – Hội An – Mỹ Sơn (6 ngày – xe giường nằm
Hoàng Long)
(Nguồn: Trung tâm OSC Hải Phòng)
Trung tâm luôn có một kho mẫu các chương trình du lịch nội địa và quốc
tế Khi khách đến tham khảo hoặc mua chương trình thì trên cơ sở yêu cầu củakhách Trung tâm luôn sẵn sàng in lịch trình của chương trình đó ra cho khách xem.Điều này mang lại sự hài lòng cho khách đồng thời tạo sự chủ động cho Trung tâmtrong việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch
Chương trình du lịch quốc tế: Trung tâm xây dựng chương trình cho ngườiViệt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài
Trang 36Bảng số 5: Trích một số chương trình du lịch quốc tế của Trung tâm:
QT 01 Hải Phòng - Nam Ninh - Quế Lâm (3 ngày 2 đêm – ôtô)
QT 09 Hải Phòng - Côn Minh - Thạch Lâm - Alư Cổ Động (7 ngày 6 đêm –
Tàu hỏa giường nằm điều hòa)
QT 14 Hải Phòng - HongKong - MaCao - Quảng Châu - Thâm Quyến (7
ngày 6 đêm)
QT 19 Hải Phòng - Thái Lan - Singapore (7 ngày 6 đêm)
QT 21 Hải Phòng - Singapore - MAlaisia (4 ngày 3 đêm)
QT 26 Tham quan thủ đô Seoul - Cheju - đảo Na Mi (7 ngày 6 đêm)
QT 27 Tham quan Châu Âu: Pháp - Bỉ - Italia - Hà lan (11 ngày 10 đêm)
QT 30 Tham quan thủ đô Tokyo - Địa danh Kyoto Osaka (7 ngày 6 đêm)
QT 34 Tham quan Châu Úc (7 ngày 6 đêm)
(Nguồn: Trung tâm OSC Hải Phòng)
Thế mạnh của Trung tâm là các chương trình du lịch sinh thái tham quan làchính, Trung tâm còn mở một số loại hình du lịch khác kết hợp với du lịch sinh thái
Trong dịp lễ hội, Trung tâm còn mở các chương trình du lịch văn hoá
Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu của khách không có nhiều thời gian Trung tâm
mở các tour du lịch trong ngày Loại hình này thu hút được khối lượng khách lớnđặc biệt là đối tượng học sinh, sinh viên
Trong 2 năm 2007, 2008 và đầu năm 2009 Trung tâm mở rộng nhiều chươngtrình xuyên Việt với độ dài ngắn khác nhau về thời gian, phương tiện vận chuyển, như:
+ Xuyên Việt 1: Nha Trang Đà Lạt Hồ Chí Minh Tây Ninh Củ Chi
-Mĩ Tho - Cần thơ (bằng tàu hoả 12 ngày 11 đêm)
+ Xuyên Việt 2: Hải Phòng - Huế - Hội An - Nha Trang - Đà Lạt - Hồ ChíMinh - Tây Ninh - Củ Chi - Mĩ Tho - Cần Thơ (15 ngày 14 đêm - ôtô)
+ Xuyên Việt 3: Hải Phòng - Quy Nhơn - Playku - Buôn ma Thuột - Đà Lạt
- Hồ chí Minh - Tây Ninh - Củ Chi - Cần Thơ - Cà Mau - Phú Quốc (10 ngày - ôtô
và máy bay)
Năm 2009 Trung tâm có chương trình du lịch mới, đó là chương trình: HảiPhòng - Ninh Bình - Bái Đính Với điểm tham quan mới được đưa vào khai thác là
Trang 37chùa Bái Đính là ngôi chùa đang giữ 6 kỷ lục nhất ở Việt Nam và khu vực ĐôngNam Á là:
+ Ngôi chùa có diện tích lớn nhất
+ Ngôi chùa có 2 quả chuông nặng nhất: 1 quả nặng 27 tấn và 1 quả nặng 37 tấn.+ Ngôi chùa có tượng lớn và nặng nhất
+ Chùa có nhiều tượng La Hán nhất (500 tượng)
+ Chùa có Giếng Ngọc to nhất
+ Chùa có nhiều cây Bồ Đề nhất
Trung tâm còn có hình thức ghép đoàn với chi nhánh và các công ty ở HàNội cho những khách lẻ muốn đi du lịch nước ngoài, với giá bán dịch vụ tính từkhi điểm xuất phát là Hà Nội nên điều kiện là khách phải tự lo phương tiện HảiPhòng - Hà Nội - Hải Phòng
Nhìn chung các chương trình du lịch của Trung tâm có thể phục vụ đượcnhiều đối tượng khách, với số lượng nhiều khác nhau vào bất kỳ thời điểm nào
Tuy nhiên các chương trình du lịch của Trung tâm thường là những tuyến điểmquen thuộc, đa phần tập trung ở khu vực Bắc bộ như Hà Nội, Hà Tây, Lạng Sơn,Quảng Ninh có phát triển ở khu vực Nam bộ và Trung bộ nhưng không nhiều
Các chương trình du lịch của Trung tâm chưa kết hợp với nhiều loại hình vuichơi giải trí như thể thao, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
Các chương trình du lịch hiện nay của Trung tâm cũng như các công ty kháctrong cùng một tuyến điểm thường ít có sự khác biệt Đây cũng là hạn chế nóichung của các công ty lữ hành Việc xây dựng các chương trình du lịch của Trungtâm mới là sự nối kết các tuyến điểm lại, xác định các dịch vụ có liên quan và đưa
ra mức giá Các chương trình hầu hết không đặc sắc độc đáo và thường trùng lặpvới các công ty lữ hành khác
2.3.3.2 Chính sách giá tour hiện nay của Trung tâm.
Nguồn khách chủ yếu của Trung tâm là khách nội địa có khả năng thanhtoán không cao nên họ rất nhạy cảm về giá nhất là khi thay đổi giá của các chương
Trang 38trình Nắm bắt được yếu tố tâm lý đó, Trung tâm đưa ra mức giá hết sức linh hoạt
- Độ dài tour: Trung tâm có mức giá khác nhau đối với các tour dài, ngắnkhác nhau
Trong một chương trình số lượng dày đặc của các điểm tham quan cũng gây
ra mức giá khác nhau
- Các dịch vụ sử dụng trong chuyến đi như phương tiện vận chuyển, dịch vụ
ăn uống, phòng ngủ là những yếu tố gây ảnh hưởng đến giá chương trình củaTrung tâm
Cùng một chương trình xuyên Việt, có số lượng khách như nhau, độ dài tour
là giống nhau, cùng ở một thời điểm thì đi bằng ô tô sẽ có gía thấp hơn đi bằng ô tô
Giá bán các tour du lịch của Trung tâm có thể thay đổi tùy thuộc vào thờigian đi Nếu vào thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ, tết như ngày lễ 30/4, 1/5 hay mồng
Trang 392/9 thì giá bán thường cao hơn so với giá tour ngày thường, do các nhà cung cấpdịch vụ đẩy giá tăng cao hơn so với ngày thường mà tâm lý khách du lịch sẵn sàngchấp nhận.
Trung tâm có quy định áp dụng mức giá cho đối tượng khách là trẻ em nhưsau:
+ Trẻ em dưới 5 tuổi được miễn phí
+ Trẻ em từ 5 - 10 tuổi tính 50% giá người lớn
+ Trẻ em từ 11 tuổi trở lên được tính giá của người lớn
Ưu điểm trong chính sách giá của Trung tâm:
Với các chính sách giá phân biệt theo số lượng khách, độ dài của chươngtrình và các dịch vụ đi kèm thì Trung tâm đã tạo ra được một chính sách giá thực
sự là mềm dẻo và linh hoạt nên Trung tâm có đủ các mức giá với cùng một loạichương trình để phù hợp với các đối tượng khách khác nhau Điều này tạo chokhách có nhiều sự lựa chọn phù hợp nhất với khả năng thanh toán của mình
Tuy nhiên hạn chế của Trung tâm đó là các hình thức khuyến mại về giádành cho đoàn đi với số lượng đông, sử dụng nhiều dịch vụ là chưa có