Đó là vì trong các bài toán có lời văn, bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia khônghiện ra một cách rõ ràng, mà chúng lại ẩn náu đằng sau các câu chữ nhiều khi rất khónhận thấy mô tả các t
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, việc thực hiện công cuộc đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức coitrọng Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược ấy cần một nguồn lực mới - một đội ngũ laođộng không những phải có những phẩm chất cao quý, mà còn phải có trình độ nghềnghiệp cần thiết Muốn tạo ra được đội ngũ lao động như vậy xã hội cần phải dựa vàogiáo dục và chỉ có giáo dục mới mới đáp ứng được những “đơn đặt hàng” đó
Nhận thức được vai trò của giáo dục trong việc phát triển và xây dựng đất nước,Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa
mở cửa tương lai” Luật Giáo dục 2005 nêu rõ: Mục tiêu giáo dục Việt Nam là đào tạocon người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ vànghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Để đạt được mục tiêu này, giáo dục Việt Nam phải thực hiện thông qua nhiềucấp học, bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục tiểuhọc giữ một vai trò quan trọng Chính vì vậy trong những năm gần đây, giáo dục tiểuhọc đã trở thành một bậc học quan trọng và được tiến hành phổ cấp trên toàn đất nước
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sựphát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơbản để tiếp tục học lên trung học cơ sở
Mục tiêu này được thực hiên thông qua nhiều môn học khác nhau, trong đómôn Toán có vị trí hết sức quan trọng và chiếm thời lượng lớn trong chương trình.Toán học nói chung và toán tiểu học nói riêng đều mang bản chất trừu tượng và kháiquát hóa ở mức độ cao Điều này mâu thuẫn với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểuhọc Mặc dù các tác giả sách giáo khoa đã cố gắng trình bày những tri thức toán họcphù hợp với đặc điểm nhận thức của các em nhưng thực tế vẫn cho thấy rằng học sinhvẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình học môn Toán ở Trường tiểu học
Chương trình Toán tiểu học được xây dựng bao gồm bốn mạch kiến thức cơbản: Số học; Đo lường; Hình học và Giải toán có lời văn Phần lớn thời gian của họcsinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng dành cho việc học bốn phép tính
Trang 2cộng, trừ, nhân, chia và giải toán có lời văn Trong đó việc học bốn phép tính thườngkhông khó với tuyệt đại đa số học sinh còn giải toán có lời văn là không dễ đối với các
em Đó là vì trong các bài toán có lời văn, bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia khônghiện ra một cách rõ ràng, mà chúng lại ẩn náu đằng sau các câu chữ (nhiều khi rất khónhận thấy) mô tả các tình huống của trong đời sống sinh hoạt, lao động, học tập hằngngày Nếu không có phương pháp suy nghĩ, tìm hiểu thì không thể phát hiện ra cáchgiải Do đó đa số học sinh không sợ các bài toán số mà thường chỉ sợ các bài toán đố(toán có lời văn), nhất là học sinh từ trung bình trở xuống
Từ thực tế đó, chúng tôi thấy việc tìm hiểu kĩ năng giải toán của các em vàbước đầu đề xuất các biện pháp nhằm giúp học sinh nâng cao kĩ năng giải toán là hếtsức cần thiết Do đó chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu kĩ năng giải toán cólời văn của học sinh khối 4 Trường tiểu học Vĩnh Lợi thành phố Huế”
II Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là nhằm tìm hiểu kĩ năng giải toán của các em và bướcđầu đề xuất các biện pháp nhằm giúp học sinh nâng cao kĩ năng giải toán
III Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn trong chương trình toán khối 4Trường tiểu học Vĩnh Lợi
3.2 Khách thể nghiên cứu
Giáo viên và học sinh trong quá trình rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn
IV Giả thuyết khoa học
Việc rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh là công việc cần phảitiến hành một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống trong suốt năm học cũng nhưtoàn bậc học tiểu học Nếu như việc tìm hiểu kĩ năng giải toán có lời văn của học sinhđược tiến hành một cách có hiệu quả thì đó sẽ là cơ sở để lựa chọn các biện pháp tácđộng nhằm nâng kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh
V Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận cho việc nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho họcsinh khối 4 Trường tiểu học Vĩnh Lợi
Khảo sát thực trạng về kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh khối 4
Đề ra các biện pháp nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh
Trang 3VI Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết: Chúng tôi sử dụng phương pháptổng hợp lí thuyết để nghiên cứu các vấn đề lí luận liên quan đến việc rèn luyện kĩnăng giải toán có lời văn của học sinh
- Phương pháp điều tra bằng Ankét: Đây là phương pháp chủ yếu mà chúng tôi
sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải toán có lờivăn của học sinh khối 4 Trường Tiểu học Vĩnh Lợi với 2 phiếu điều tra dành cho giáoviên và học sinh
- Phương pháp quan sát: Chúng tôi tiến hành quan sát học sinh và giáo viêntrong quá trình dạy học giải toán có lời văn để thu thập các thông tin nhằm bổ sungcho các phương pháp trên
- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi tiến hành trò chuyện với giáo viên và họcsinh khối 4 Trường Tiểu học Vĩnh Lợi để thu thập thông tin bổ sung cho các phươngpháp trên
- Phương pháp toán học: Dùng để xử lí số liệu thu được trong quá trình điềutra
VII Phạm vi nghiên cứu
Vì điều kiện thời gian và khả năng của bản thân chúng tôi chỉ nghiên cứu việctìm hiểu kĩ năng giải toán có lời văn trong phạm vi học sinh khối 4 Trường Tiểu họcVĩnh Lợi thành phố Huế
VIII Lịch sử của vấn đề
Việc nghiên cứu phương pháp dạy học môn Toán trong đó có phương pháp giảitoán có lời văn đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên vấn đề rèn luyện kĩnăng giải toán có lời văn thì các công trình nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế.Chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề này chỉ được một số tác giả đề cập đến thông qua cácbài báo đăng trên tạp chí giáo dục và xuất hiện trong các tài liệu bồi dưỡng thườngxuyên dành cho giáo viên tiểu học Một số tác giả lại chú trọng rèn luyện kĩ năng nàythông qua việc xuất bản các đầu sách Mặt khác chương trình Sách giáo khóa Toán 4mới, được đưa vào giảng dạy chính thức không lâu (từ năm 2000) nên các công trìnhnghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế
Trang 4IX. Kế hoạch nghiên cứu
1.Từ: 10 - 01 đến 20 - 01 : Chọn đề tài, xây dựng đề cương nghiên cứu2.Từ: 21- 01 đến: 09 - 02 : Xây dựng đề cương chi tết
3.Từ: 10 - 02 đến 10 - 03 : Điều tra thu thập tư liệu
4.Từ: 11 - 03 đến 21 -03 : Xử lí số liệu
5.Từ: 22 - 03 đến 03 - 04 : Viết công trình nghiên cứu
6.Từ: 04 - 04 đến 05 - 04 : Nộp đề tài
Trang 5Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Trung tâm Từ điển học và NXB
Đà Nẵng xuất bản năm 2002 định nghĩa: Kỹ năng: “Khả năng vận dụng những kiếnthức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” Từ điển Le Petit Robert(1996) lại định nghĩa: kĩ năng như là khả năng thành công trong các công việc dự địnhtiến hành, trong việc giải quyết các vấn đề thực tế; khả năng, kinh nghiệm trong việcthực hiện một hoạt động trí tuệ hay nghệ thuật
Theo tâm lí học, Kĩ năng: Là khả năng vận dụng kiến thức (Khái niệm, cáchthức, phương thức) để giải quyết một nhiệm vụ mới
Về kĩ năng học tập của học sinh ta có thể diễn đạt như sau: Kĩ năng học tập,trước hết là khả năng vận dụng có kết quả những kiến thức và phương thức thực hiệncác hành động học tập đã được học sinh lĩnh hội để giải quyết các nhiệm vụ học tậpmới
Trong quá trình dạy học ở tiểu học, giáo viên thường ra sức truyền đạt cho họcsinh những tri thức Nắm được tri thức là hiểu biết và ghi nhớ được những khái niệmkhoa học Tiếp thêm một bước nữa là vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn thì là
có kĩ năng Và khi kĩ năng được cũng cố vững chắc, trở nên tự động hoá hoặc nửa tựđộng hóa hình thành nên kĩ xảo
2 Kĩ năng giải toán
Kĩ năng giải toán chính là quá trình học sinh vận dụng các khái niệm, định lí,định luật vào giải quyết các yêu cầu của bài toán đặt ra
Để hình thành được hế thống kĩ năng giải toán thành thạo thì không nhữngphải có sự rèn luyện mà còn đòi hỏi phải có phương pháp phù hợp
3 Bài toán có lời văn
Bài toán có lời văn là những bài toán mà phần đã cho và phần cần tìm ẩn chứa
dưới ngôn ngữ Tiếng Việt, để giải chúng cần phải hiểu rõ ngôn ngữ và các từ chìa khóa mới tìm được phép tính tương ứng.
Trang 6II Dạy học giải toán có lời văn trong chương trình Toán 4
1 Mục tiêu dạy học giải toán có lời văn trong chương trình Toán 4
Dạy học giải toán có lời văn lớp 4 giúp học sinh củng cố, rèn luyện kiến thức
và kĩ năng về số học, đo đại lượng trong chương trình Toán 4, rèn kĩ năng trình bày,
kĩ năng, diễn đạt, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề gần gũi với cuộc sống
Yêu cầu cần đạt được của mỗi học sinh lớp 4 là:
- Học sinh biết quy trình giải bài toán có lời văn
- Nhận dạng và phân biệt được các bài toán điển hình trong chương trình Toán4
- Hiểu được phương pháp đặc thù đối với mỗi dạng toán đó (thực hiện đúngcác bước giải, trình bày bài giải đến kết quả chính xác); hiểu được ý nghĩa các bướctính trong cách giải
- Vận dụng được phương pháp các bài toán điển hình để giải quyết một số tìnhhuống thực tiễn đơn giản có liên quan (dưới dạng bài toán có lời văn)
2 Nội dung chương trình giải toán có lời văn Toán 4
2.1 Nội dung chương trình
Chương trình môn Toán lớp 4 được xây dựng theo bốn mạch kiến thức chủ yếu:
Số học; Đại lượng và đo đại lượng; Hình học và Giải toán có lời văn Các mạch kiếnthức này không được dạy riêng rẽ mà được dạy xen kẽ lẫn nhau trong suốt chươngtrình Chương trình có 175 tiết được dạy trong 35 tuần (mỗi tuần 5 tiết)
Trong bốn mạch kiến thức đó thì Giải toán có lời văn giữ một vị trí quan trọng
và được xây dựng với các nội dung chủ yếu sau:
a ) Các bài toán đơn giải bằng một phép tính.
- Giải bằng một phép tính cộng (hai số tự nhiên hoặc hai phân số)
- Giải bằng một phép tính trừ (hai số tự nhiên có nhiều chữ số hoặc hai phânsố)
- Giải bằng một phép nhân (hai số tự nhiên có hai, ba chữ số hoặc hai phân số)
- Giải bằng một phép tính chia (hai số tự nhiên hoặc hai phân số)
Ta có thể nhìn thấy các bài toán đơn giải bằng một phép tính trong chương trìnhToán 4 qua bảng tóm tắt sau:
Trang 7b) Các bài toán giải bằng hai phép tính
Trong chương trình sách giáo khoa Toán 4 có 10 dạng toán giải bằng hai phéptính Ta có thể thấy rõ chúng qua bảng tóm tắt sau:
c Các bài toán điển hình
c.1 Bài toán tìm số trung bình cộng
Các bài toán về tìm số trung bình cộng chủ yếu có các dạng sau:
- Dạng cơ bản: Biết 2 (hoặc nhiều) số hạng Tìm số trung bình cộng của 2 (haynhiều) số hạng đó
- Dạng vận dụng 1:Biết số trung bình cộng của 2 (hay nhiều) số hạng; biết 1hoặc (nhiều số) hạng khác Tìm một số hạng còn chưa biết trong số các số hạng
- Dạng vận dụng 2: Biết một số số hạng (đã cho hoặc tính được) Tìm số trungbình cộng và tìm một số hạng còn chưa biết
c.2 Bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó
Bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu có các dạng sau:
- Dạng cơ bản: Biết tổng; biết hiệu Tìm số lớn, số bé
CÁC BÀI TOÁN ĐƠN
GIẢI BẰNG MỘT
PHÉP TÍNH CỘNG GIẢI BẰNG MỘT
PHÉP TÍNH TRỪ
GIẢI BẰNG MỘT PHÉP TÍNH NHÂN
NHÂN
GIẢI BẰNG MỘT PHÉP TÍNH CHIA
có nhiều chữ số
a x b
a, b là
số tự nhiên
có 2 hoặc 3 chữ số
a : b
a, b là
số tự nhiên
có nhiều chữ số
a,b,c,d
là các
số tự nhiên
b, d 0
CÁC DẠNG BÀI TOÁN GIẢI BẰNG HAI PHÉP TÍNH
(a + b) +c a - (b +c) (a - b) +c (a + b) x c (a + b) :c
Trang 8Ví dụ: Tìm hai số biết tổng và hiệu của chúng lấn lượt là 60 và 12 (bài tập 1.trang 48, SGK Toán 4).
- Dạng vận dụng 1: Ví dụ Tuổi chị và tuổi em cộng lại bằng 36 tuổi Em kémchị 8 tuổi Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi
Trong chương trình toán 4 những bài tập kiểu như thế này khá nhiều Nội dungbài toán chưa nêu rõ số lớn, số bé, phải sử dụng vốn kinh nghiệm, vốn sống thực tế đểsuy luận
- Dạng vận dụng 2: Ví dụ:Tìm hai số biết tổng của chúng bằng số lớn nhất có 3chữ số và hiệu của hai số đó bằng số lớn nhất có hai chữ số
Dạng bài này ta có thể nhận ra ngay vì đề nêu rõ “biết tổng biết hiệu” Tuynhiên tổng và hiệu đều phải lập luận và sử dụng thêm kiến thức đã biết để xác địnhtổng và hiệu một cách cụ thể
- Dạng vận dụng 3: Ví dụ: Tìm 3 số tự nhiên liên tiếp, biết tổng của chúng là 84.( Bài tập 4, trang 177, SGk Toán 4)
Dạng bài này yêu cầu tìm ba số chứ không phải hai số và đã cho tổng cụ thểnhưng hiệu dưới dạng ẩn Các bài tập này cũng có thể cho biết hiệu cụ thể và tổngdưới dạng ẩn
c.3 Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ của 2 số đó
Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ có các dạng sau:
- Dạng cơ bản: Biết tổng của 2 số; biết tỉ của 2 số Tìm số lớn, số bé Ví dụ:Tổng của 2 số là 333 Tỉ của 2 số đó là Tìm hai số đó (Bài tập1, trang 48, SGk toán4)
- Dạng vận dụng 1: Ví dụ: Một người đã bán được 280 quả cam và quýt, trong
đó số cam bằng số quýt Tìm số cam và số quýt đã bán
- Dạng vận dụng 2: Tổng của 2 số bắng số lớn nhất có 2 chữ số Tỉ số của 2 số
đó là Tìm hai số đó ( Bài tập 3, trang 148, SGk Toán 4)
Trong dạng toán này hoặc tổng cho dưới dạng ẩn hoặc tỉ số cho dưới dạng ẩn;cần lập luận để đưa về dạng cơ bản
Trang 9- Dạng vận dụng 3: Ví dụ: Hùng và Dũng có tất cả 79000đồng Sau khi Hùngmua hết số tiền của mình và Dũng mua hết số tiền của mình thì Dũng còn nhiềuhơn Hùng 2000 đồng Tính số tiền của mỗi bạn.
Dạng toán này chủ yếu bồi dưỡng học sinh giỏi Ở đây cả tổng và tỉ số đều cho
ở dạng ẩn
c.4 Bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của 2 số đó
Bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ có các dạng sau:
- Dạng cơ bản: Biết hiệu và tỉ số của 2 số Yêu cầu tìm hai số đó
- Dạng vận dụng 1: Ví dụ: Mẹ hơn con 25 tuổi Tuổi con bằng tuổi mẹ Tínhtuổi của mỗi người
- Dạng vận dụng 2: Ví dụ: Hiệu hai số bằng số bé nhất có 3 chữ số, tỉ số số của
2 số đó là Tìm hai số đó
- Dạng vận dụng 3: Có 2 kho chứa thóc, sức chứa ở mỗi kho không bằng nhau.Biết rằng nếu lấy số thóc ở kho 2 trừ đi số thóc ở kho 1 được một số bé nhất chia hếtcho 3 và 5 Nếu chuyển 5 tấn thóc từ kho 2 sang kho 1 thì tỉ số của kho 1 và kho 2 là Tìm số thóc mà mỗi kho chứa?
Ở dạng này cả tỉ và hiệu đều cho dưới dạng ẩn, cần suy luận để đưa về bài toán
cơ bản Dạng này chủ yếu dành cho học sinh giỏi toán
c.5 Bài toán tìm các số đo thực tế biết các số đo trên bản đồ và tỉ lệ bản đồ c.6 Bài toán tìm số đo trên bảng đồ biết số đo ngoài thực tế và tỉ lệ bản đồ
d Bài toán có nội dung hình học và vận dụng kiến thức kiến thức (bài toán không
Trang 10- Dạng vận dụng 1: Biết chu vi (hoặc diện tích) và mối quan hệ Ví dụ: Mộthình chữ nhật có chu vi là 350m, chiều rộng bằng chiều dài Tìm chiều dài và chiềurộng của hình chữ nhật (Bài tập 5, trang 149, SGK Toán 4).
- Dạng vận dụng 2: Ví dụ: Để lát nền một căn phòng, người ta sử dụng hết 200viên gạch hình vuông có cạnh 30cm Hỏi căn phòng đó có diện tích bao nhiêu métvuông, biết diện tích phần mạch vữa không đáng kể?
Chú ý: Các bài toán dạng vận dung 2 các công thức hình học chỉ là công cụ, hoặc làbước trung gian trong khi tìm kiếm lời giải cho bài toán
- Dạng vận dụng 3: Ví dụ: Tính diện của miếng bìa có các kích thước theo hình
vẽ dưới đây:
Bài toán này chưa có các hình cơ bản và các công thức để áp dụng hoặc vậndụng mà phải tiến hành biến đổi phân tích bài toán đã cho, quy về định dạng có thể ápdụng hoặc vận dụng công thức hình học đã có
- Các bài toán ứng dụng tỉ lệ bản đồ:
+Dạng 1: Biết tỉ lệ bản đồ
Biết số đo khoảng cách trên bản đồ
Tìm số đo (khoảng cách) trên thực tế
+Dạng 2: Biết tỉ lệ bản đồ
Biết số đo (khoảng cách) trên thực tế
Tìm số đo (khoảng cách) trên bản đồ
2.2 Những điểm mới về nội dung và yêu cầu của chương trình giải toán có lời văn lớp 4.
Qua khảo sát chương trình Toán có lời văn lớp 4 ta nhận thấy có một số điểmmới về yêu cầu và nội dung mới so với chương trình cũ (Chương trình trước năm2000) Cụ thể là:
Một là: Giảm bớt nội dung về đại lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệ nghịch so
với chương trình 165 tuần; 2 dạng toán này được giới thiệu bổ sung ở Toán 5
Trang 11Hai là: Làm rõ hơn cấu trúc dạng toán và phương pháp giải của các bài toán
“Ứng dụng của tỉ lệ bản đồ” (đưa ra 2 dạng có cấu trúc rõ và phương pháp giải ngượcnhau)
Ba là: Tăng cường hơn về các yêu cầu diễn đạt, lập luận, suy luận giải quyết
tính huống thực tiễn đơn giản; nhiều bài toán có nội dung gần gũi hơn trong cuộc sốngsinh hoạt hiện tại
Bốn là: Tăng cường một số bài toán có lời văn liên quan tới yếu tố hình học
(hình bình hành, hình thoi….)
Năm là: Giảm đáng kể số lượng bài toán có lời văn so với SGK chương trình
165 tuần, tuy nhiên đa dạng và có tính chất cập nhập hơn (về giá cả sinh hoạt; hoạtđộng thực tiễn; về dạng bài tự luận và trắc nghiệm khách quan)
Sáu là: Đưa ra một số quy ước về việc trình bày giải của các bài toán có lời văn
giúp giáo viên dễ thực hiện Chẳng hạn : Quy ước đối với hai dạng: “Tổng - Tỉ” và “Hiệu - Tỉ” bắt buộc trình bày sơ đồ tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng để tiện diễn dạtcho học sinh Các dạng còn lại không bắt buộc học sinh sử dụng sơ đồ tóm tắt bài toán
Ngoài ra nội dung các bài toán ở lớp 4 đã chú ý đến tính cập nhật, gắn liền vớitình huống trong đời sống, gần gũi với trẻ, đã tăng cường tính giáo dục cho học sinh
3 Ý nghĩa của việc giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 4
Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả cáckiến thức vế số học, về đo đại lượng , về hình học đã được học Hơn nữa phần lớn cácbiểu tượng, quy tắc, tính chất toán học ở tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua conđường giải toán chứ không phải qua con đường lí luận
Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽtiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện rèn luyện khảnăng áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống; làm tốt điều Bác Hồ dạy “Học điđôi với hành”
Mỗi đề toán là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống Khi giải một bài toán họcsinh phải biết rút ra từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọnnhững phép tính thích hợp, biết là đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xácthích hợp Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, khảnăng sử dụng tiếng Việt và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con mắt toán họccủa mình
Trang 12Việc giải các bài toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thóiquen làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì khi giải toán, học sinh phải biếttập trung chú ý vào cái bản chất của đề toán , phải biết gạt bỏ những cái thứ yếu, phảibiết phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích để tìm ra những đườngdây liên hệ giữa các số liệu Nhờ đó mà đầu óc các em sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn;
tư duy của các em linh hoạt hơn; suy nghĩ và việc làm của các em sẽ khoa học hơn
Việc giải các bài toán đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét vấn đề, tựmình tìm tòi cách giải quyết các vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự mình kiểmtra lại kết quả Do đó giải toán là một cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lựcvượt khó, cẩn thận, chu đáo; yêu thích sự chặt chẽ, chính xác
4 Quy trình giải toán có lời văn
Để giải toán được thành thạo các bài toán học sinh cần nắm được quy trình vàcác kĩ năng cơ bản sau:
a) Đọc đề bài
Việc đầu tiên khi tiến hành giải toán là cần đọc kĩ đề bài Hết sức tránh tìnhtrạng vừa đọc xong là bắt tay vào giải ngay Ở đây cần lưu ý mấy điểm sau:
Mỗi đề toán bao giờ cũng đều có hai bộ phận : Bộ phận thứ nhất là những điều
đã cho, bộ phận thứ hai là cái phải tìm Muốn giải bất kì bài toán nào học sinh cũngcần phải xác định đúng hai bộ phận đó
Chúng ta cần tập trung vào những từ quan trọng (từ khóa) của đề toán, từ nàochưa hiểu thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó
Học sinh cũng cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những
gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng sự chú ý của mình vào những chỗcần thiết
b) Tóm tắt đề toán
Việc tóm tắt đề toán không nhất thiết phải làm đối với tất cả các bài tập Tuynhiên việc tóm tắt đề toán sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể về mối quan hệgiữa các đại lượng trong bài toán Khi tóm tắt đề toán ta cần gạt bỏ đi tất cả những gìthứ yếu lặt vặt trong đề toán và hướng sự tập trung suy nghĩ của mình vào những điểmchính yếu của đề toán, tìm cách biểu thị chúng bằng hình vẽ hoặc diễn đạt bằng lời
Có nhiều phương pháp tóm tắt đề toán Mỗi phương pháp điều có những ưuđiểm và nhược điểm riêng Vì vậy học sinh cần vân dụng linh hoạt các phương pháp.Một số phương pháp thường dùng ở tiểu học:
Phương pháp tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng; Phương pháp tóm tắt bằng lời;bằng các hình vẽ khác; bằng lưu đồ; phương pháp dùng bảng; dùng sơ đồ Ven
Trang 13c) Phân tích bài toán
Thực chất của việc giải toán là bắt những chiếc cầu từ cái đã cho và cái phảitìm Có nhiều phương pháp để để bắt được những chiếc cầu đó, và đó chính là quátrình phân tích bài toán Thông thường ở tiểu học thường dùng các cách sau:
Suy nghĩ theo đường lối phân tích: Tập trung suy nghĩ vào câu hỏi của bàitoán, nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi của bài toán thì ta phải biết những gì và phảilàm những phép tính gì? Trong những điều cần biết đó cái nào đã cho sẵn trong đềtoán, cái nào phải tìm? Muốn tìm được cái này thì ta phải biết những gì và làm phéptính gì? v v Cứ như thế ta suy nghĩ từ câu trả lời của bài toán trở về các điều đã chocủa bài toán Đây là cách hay dùng nhất
Cũng có thể suy nghĩ xem từ các điều đã cho trong từng bài toán ta có thể suy
ra điều gì, tính ngay được cái gì? Từ những cái đó có thể suy ra hoặc tính được điều gìgiúp ích cho việc giải bài toán không? Cứ như thế ta suy luận dần dần: Từ nhữngđiều đã cho đến câu hỏi của bài toán
Ngoài ra trong một số bài toán chúng ta phải kết hợp cả hai cách nói trên
để giải quết bài toán.
d) Giải bài toán
Sau quá trình nghĩ tìm cách giải và thiết lập được trình tự giải bài toán, chúng
ta thực hiện các phép tính và đi đến kết quả Mỗi bài giải đều có hai phần: Các câu lờigiải và các phép tính Việc viết câu lời giải phải ngắn gọn và đúng yêu cầu nội dungcủa bài toán và ứng với một câu lời giải là một phép tính kèm theo
Sau khi giải xong một phép tính hay một bài toán đều phải tiến hành công việcthử lại xem phép tính hay đáp số của bài toán đó đã đúng hay chưa.Viêc thử lại các bàitoán đòi hỏi các kĩ năng và phương pháp khác nhau Chúng ta có thể tiến hành theomột số cách sau:
- Thử lại bài toán bằng phương pháp giải theo các khác Nguyên tắc sau khigiải xong một phép tính hay một bài toán, nếu muốn thử lại kết quả ta giải phép tínhhoặc bài toán đó theo cách mới khác với bài toán vừa làm
- Thử lại bằng cách tính ngược.Nguyên tắc ở đây là: Nếu như từ số a ta tínhđược ra số c, thì từ số c ta phải có cách tính ngược ra số a
Trang 14- Thử lại bằng cách thay đáp số vào đề bài để tính lại Nguyên tắc thử ở đây là:Sau khi tìm được đáp số của bài toán, học sinh có thể thay các số liệu vào đầu bài đểxem có phù hợp không Nếu không phù hợp thì ta đã giải sai phải làm lại.
- Thử lại bằng phương pháp ước lượng Nguyên tắc thử ở đây là: Làm tròn các
số trong phép tính để đánh giá sơ qua kết quả, và so sánh kết quả tính toán có chênhlệch hay không Nếu quá chênh lệch thì nhất thiết kết quả đó sai
e) Khai thác bài toán
Muốn thực sự trở thành học sinh giỏi toán thì sau khi giải xong bài toán, tìm rađúng đáp số của bài toán, học sinh nên suy nghĩ tiếp tục để khai thác bài toán đó Việckhai thác bài toán đòi hỏi phải có kĩ năng và thủ thuật.Sau đây là môt số kĩ năng cầnthiết:
- Giải bài toán bằng một dãy tính gộp Thông thường chúng ta vẫn giải bài toánbằng các phép tính đơn riêng rẽ với nhau, một lời giải có một phép tính tương ứng
- Giải bài toán bằng nhiều cách Sau khi giải bài toán theo một cách nào đó,chúng ta tự hỏi có thể giải bài toán theo các cách khác hay không
- Tự đặt bài bài toán mới tương tự với bài toán đã giải.Các em có thể đặt cácbài toán tương tự theo kiểu:
- Thay đổi các số liệu đã cho; thay đổi các số liệu trong đề toán; thay đổi cả sốliệu lẫn đối tượng; Thay đổi từ chỉ quan hệ trong đề toán; tăng số lượng đối tượngtrong bài toán
III Một số đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
1.Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học
1.1 Đặc điểm của sự phát triển phân tích và tổng hợp
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học (HSTH) nhờ sự phát triển của hệ thống tín hiệu thứhai, học sinh bước đầu có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa
và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán Các khả năng đó được nângcao dần khi học toán
Ở HSTH, phân tích và tổng hợp không đồng đều, chẳng hạn khi viết biểu thức
2 +3, các em phân biệt được rằng dấu “+” nói lên yêu cầu thực hiện phép cộng hai số
và có thể tìm được ngay đó là số 5, nhưng vì phân tích không phát triển song song vớitổng hợp nên các em khó hiểu rằng biểu thức 2 +3 cũng biểu diễn số 5 Dần dần lêncác lớp 4 - 5 phân tích và tổng hợp có sự gắn bó nhưng cả hai đều ở trình độ thấp nên
Trang 15các em khó phân biệt dấu hiệu bản chất và không bản chất trong quá trình hình thànhkhái niệm Phân tích còn phiến diện không đi kèm với tổng hợp.
Phân tích biểu diễn dưới hai dạng: Phân tích để sàng lọc, loại bỏ các dấu hiệuhoặc phân tích thông qua tổng hợp, cả phân tích và tổng hợp được gắn bó với nhautrong một quá trình liên hệ và tác động qua lại
1.2 Đặc điểm của sự phát triển trừu tượng hóa và khái quát hóa
Có 2 dạng trừu tượng hóa: từ các đồ vật, hiện tượng cảm tính và trừu tượng hóa
từ các hành động, thao tác với các đồ vật, hiện tượng đó Dạng sau là cơ sở của trừutượng hóa toán học
Khi thực hiện, trừu tượng hóa nhằm rút ra dấu hiệu bản chất ra khỏi các dấuhiệu khác không cần quan tâm hoặc loại bỏ các dấu hiệu không bản chất để làm bộc lộcác dấu hiệu cần quan tâm Hai mặt này quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng tùy từngtrường hợp cụ thể mà mặt trên hay mặt dưới nổi lên hàng đầu Khi hình thành kháiniệm thì mặt dưới nổi lên nhưng khi giải bài toán thì mặt trên lại nổi lên hàng đầu Cảhai dạng trừu trượng hóa đều rất khó đối với HSTH do đặc điểm sự phát triển tư duy ởgiai đoạn này Vì vậy cần biết sử dụng thích hợp các thủ thuật sư phạm để giúp họcsinh Việc sử dụng các sơ đồ diễn tả trực quan các tính chất, quan hệ trừu tượng cầntìm lại có nhiều tác dụng giúp cho việc trừu tượng hóa dạng thứ hai
Các khái niệm toán học được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát hóa.Nhưng nếu mỗi hành động trên các vật thể có thể cho HSTH những tri giác cảm nhậnđược từ bên ngoài thì những sơ đồ trừu tượng hóa từ các hành động đó lại không còntính chất trực giác nữa Mặt khác việc khái quát hóa ở HSTH còn phải dựa trên các tưliệu ít nhiều trực quan nên chưa thể hi vọng làm cho HSTH được đầy đủ các kháiniệm
1.3 Đặc điểm của sự phát triển phán đoán, suy luận và của tư duy logic
Nhìn chung, ở HSTH nhất là các lớp dưới thì hệ thống tín hiệu thứ nhất cònchiếm ưu thế so với hệ thống tín hiệu thứ hai Do đó các em nhạy cảm với các tác độngbên ngoài Tri giác còn gắn với các hành động với các đồ vật bên ngoài Song tri giáctrong việc nhận thức thực tại mới thuộc về bình diện tượng hình của nhận thức
Hoạt động trí tuệ thể hiện ở cả 3 mặt: Có những thắc mắc (câu hỏi) trước mộtvấn đề, tình huống, tìm ra dự kiện của lời giải đáp và kiểm tra sự đúng đắn của lời giảiđáp đó Thắc mắc (câu hỏi) chỉ là biểu hiện của một yêu cầu Dự kiến của lời giải đáp
Trang 16là cái do tưởng tượng vạch ra để đáp ứng cho nhu cầu đó, còn sự kiểm tra là hoạt độnghoàn toàn logic Suy luận chỉ xuất hiện khi kiểm tra hay chứng minh giả định (dựkiến) Việc phát triển trí tuệ ở học sinh, ngay từ tiểu học, nhằm vào cả ba mặt đó Tưduy logic của học sinh chỉ được phát triển thông qua phát triển khả năng suy luận
Nghiên cứu các biểu hiện của tư duy logic và các phán đoán và suy luận củaHSTH, người ta thấy tư duy của các em còn mang nhiều tính chất chủ quan và xúccảm (tình cảm, mong muốn) Trong quá trình giao tiếp trong môi trường xã hội, nhất làtrong giao lưu của người lớn và do tác động của giáo dục, tư duy trẻ em dần dần cótính logic, khách quan
HSTH, nhất là ở các lớp dưới, phán đoán theo cảm nghĩ riêng của mình, suyluận thường mang tính chất tuyệt đối Do trường chú ý hẹp, lại do thiếu khả năng tổnghợp nên các em khó nhận thức về các quan hệ, vì mọi quan hệ đòi hỏi phải ý thứcđược đồng thời hai đồ vật: Các em biết rõ bên phải, bên trái của chính mình, nhưngkhó nhận biết về bên trái bên phải của một đồ vật nào đó, khó nhận thức về các quan
hệ lớn hơn, bé hơn, nhiều hơn, ít hơn, khó nhận thức về quan hệ của phân số với đơn
vị, của bộ phận với toàn thể Đến cuối lứa tuổi tiểu học, các khó khăn trên bình diệnhành động và tri giác có thể vượt qua nhưng chúng còn tồn tại trên bình diện lời nói(các em khó diễn tả tình huống trên bằng lời)
Trong toán học, HSTH rất khó nhận thức về quan hệ kéo theo (quan hệ nhân quả) trong suy diễn Vì vậy nhiều trường hợp, quan hệ kéo theo giữa giả thiết và kếtluận được thay bằng quan hệ xếp kề bằng tiểu tử “và” Chẳng hạn đáng lẽ hiểu:
7 + 5 = 12 nên (suy ra) 12 - 5 = 7, học sinh thường nói: 7 +5 = 12 và 12 - 5 = 7 coinhư đó là hai mệnh đề không có quan hệ với nhau
Khi suy luận, luận cứ còn gắn liền với thực tế sống với quan sát, thực nghiệm,phép suy diễn còn mang tính chất “hiện thực”, các em khó chấp nhận các giả thiết, dữkiện có tính chất hoàn toàn giả định hoặc các em không tin là có sự thực Vì vậy cácquy ước các em nhận thức thường khó khăn Do các đặc điểm trên nên việc chứngminh theo nghĩa toán học là rất khó đối với học sinh tiểu học cả ở cuối cấp
Do khả năng phân tích phát triển chậm hơn nên bình diện tư duy bằng lời nóinên khi nghe một mệnh đề toán học, học sinh lớp 4 -5 cũng chưa có khả năng phânbiệt các thuật ngữ và các bộ phận của câu mà thương hiểu nó theo một sơ đồ tổng thể,chưa thực rõ
Trang 172.Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học
Tri giác của HSTH mang tính chất đại thể, không chủ động, ít đi sâu vào chi tiết, do đó các em phân biệt các đối tượng chưa chính xác, có khi còn lẫn lộn ngay cả đốivới học sinh cuối cấp Ví dụ các em thường nhầm lẫn giữa thời gian và thời điểm; vậtmang đại lượng và đại lượng Khi giải bài toán các em chỉ lưu ý đến việc tìm ra đáp số,khi giáo viên hỏi lại thì các em thường lúng túng không chắc chắn Đặc biệt khi giảicác bài toán có nội dung hình học thì các em thường bỏ sót các dữ kiện trên hình vẽ
mà bài toán đã cho chỉ quan tâm đến việc vẽ hình trên đại thể Ví dụ khi vẽ hình đườngcao hình tam giác, hình bình hành các em thường quên kí hiệu góc vuông
Ở các lớp đầu cấp tiểu học, tri giác của các em thường gắn với hình động cụ thểvới thực tiễn của trẻ Tri giác là phải gắn với cầm nắm, sờ mó sự vật ấy Chính vì vậykhi giải toán các em rất khó khăn để tri giác các dữ kiện.Mặt khác bản chất của toánhọc là trừu tượng hóa liên tiếp trên những trừu tượng nay lại ẩn tàng dưới câu chữ ( lờivăn) nên gây khó khăn cho học sinh khi lựa chọn phép tính
Tính cảm xúc thể hiện rất rõ trong việc các em tri giác, trước hết là những sựvật, sự việc, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những cảmxúc Vì thế cái cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễgây ấn tượng tích cực cho chúng Điều này lại trái với bản chất các bài toán có lời văntrong chương trình Toán 4 là đa số các bài toán được phát biểu bằng lời văn khá khôkhan, nếu có hình ảnh và sơ đồ minh họa thì cũng khá đơn điệu Vì vậy đây cũng làyếu tố gây ảnh hưởng đến tâm lí làm học sinh không thích giờ học giải toán
Tri giác về thời gian và không gian của các em còn hạn chế Về tri giác độ lớn,các em gặp phải khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước qúa lớn hoặc quánhỏ Vì dụ các em cho rằng trái đất to bằng mấy tỉnh Vì thời gian các em khó hiểuđược ý nghĩa của các tử như ngày xưa, thể kỉ… Các em khó hình dung được độ dài1km, các hình học không gian…
3.Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học
Ở HSTH chú ý có chủ chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ýmột cách có ý thức chưa cao Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ thúc đẩy Khicác em ở các lớp cuối cấp của bậc tiểu học thì chú ý của các em được duy trì ngay cảkhi chỉ có động cơ xa (các em chú ý vào công việc khó khăn, nhưng không hứng thú vìkết quả nó chờ đợi trong tương lai)
Trang 18Trong lứa tuổi tiểu học, chú ý không chủ định được phát triển Những gì mangtính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lối cuốn sự chú ý chủ định của các
em, không cần có sự nỗ lực của ý chí Sự chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáoviên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực
Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được chú ý không chủ định chonên giáo viên cần lưu ý đặc điểm này để vận dụng trong hướng dẫn học sinh giải toán
có lời văn
4.Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng.Tưởng tượngcủa HSTH được hình thành và phát triển trong hoạt động học và hoạt động khác củacác em
tưởng tượng của HSTH đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em chưa đếntrường Tuy vây tưởng tượng của các em còn tản mạn, chưa có tổ chức
Hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về cuốinhững năm học cuối bậc, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn là vì các em
đã có nhiều kinh nghiệm phong phú hơn Cácc em học sinh lớp 4 -5 đã có khả năngnhào nặng, gọt giũa các hình tượng cũ để sáng tạo ra hình tượng mới Sở dĩ như vậy là
vì các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát vàtrừu tượng hơn
Tưởng tưọng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn với những hình tượng đã trigiác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, sơ đồ, hìnhvẽ Cái biểu tượng của tưởng tượng dần dần trở nên hiện thực hơn, phán ánh đúng đắnnội dung môn học, đặc biệt là các yếu tố của bài toán mang nội dung hình học Nhưvậy đến lớp 4 - 5 tưởng tượng của các em đã mất dần, thoát khỏi ảnh hướng của những
ấn tượng trực tiếp, mặt khác, tính hiện thực trong tưởng tượng của học sinh gắn liềnvới sự phát triển của tư duy
Trang 19CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CỦA HỌC SINH KHỐI 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH LỢI
I Vài nét về Trường tiểu học Vĩnh Lợi
1.Lịch sử hình thành và phát triển
Trường tiểu học Vĩnh Lợi được xây dựng từ trước năm 1975 và là một cơ sởcủa nhà Dòng có tên Vĩnh Lợi C Sau năm 1975 đổi tên thành Trường Tiểu học VĩnhLợi
Trường nằm đường Nguyễn Huệ thuộc địa bàn phường Phú Nhuận, đây là mộttrong những phường nằm ở trung tâm của thành phố Huế
Trường tiểu học Vĩnh Lợi thuộc sự quản lí của Phòng Giáo dục Thành phố Huế
và Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế
Từ ngày thành lập đến nay nhà trường đã trải qua sự lãnh đạo của 6 hiệu trưởng
và không ngừng phát triển về mọi mặt, đặc biệt nhà trường đã đạt chuẩn quốc gia
2 Về mặt tổ chức
Nhà trường đang chịu sự lãnh đạo của Thầy giáo Nguyễn Cao đồng thời là Bí
thư chi bộ Nhà trường có 1 hiệu phó là cô Nguyễn Thị Nhung đồng thời cũng là Chủtịch công đoàn
Hiện nay nhà trường có tổng số học sinh là 1051 em (trong đó có 428 em nữ)
với 26 lớp Khối 1 có 238 học sinh (105 nữ) Khối 2 có: 229 học sinh (100 nữ) Khối
3 có: 201 (98 nữ) Khối 4 có:212 (96 nữ) Khối 5 có: 171 học sinh (83 nữ) Đội ngũcán bộ công nhân viên hiện nay là 46 người, trong đó: Đại học:24 người; Cao đẳng:
12 người; THSP và Trung cấp: 10 người
Trang 20đồng sư phạm được chú trọng nhằm đánh giá kịp thời kết quả mọi hoạt động của thángđồng thời điều chỉnh và triển khai các nội dung cho tháng tiếp theo.
Nhà trường đã tổ chức việc triển khai nhiều chuyên đề của nhiều môn học, liêntục tổ chức thi đua: “Dạy tốt - học tốt” theo chuyên đề đổi mới Phát động các tổ làm
đồ dùng dạy học; đã xây dựng sổ theo dõi sử dụng đồ dùng dạy học hàng ngày củagiáo viên, hàng tháng có khen chê kịp thời đối với tổ chuyên môn Chỉ đạo đội ngũgiáo viên thực hiện việc cho điểm, tự đánh giá kết quả học tập của học sinh một cáchkhách quan, công bằng theo hướng đổi mới, đánh giá xếp loại học sinh theo đúng quychế, tránh đánh giá theo cảm tính, thiên vị, cả nể hoặc vì lí do khác trong quá trình họctập của học sinh
Để nâng cao năng lực giảng dạy và hiệu quả giáo dục, Ban giám hiệu trường đã
tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học saocho phù với đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học, theo xu hướng dạy học hiện đại, kếthừa các phương pháp dạy học truyền thống và đảm bảo các nguyên tắc dạy học Quacác buổi trao đổi nhiều kinh nghiệm, sáng kiến của giáo viên đã được áp dụng thànhcông vào công tác giảng dạy
Nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong quá trình dạy học và giáodục học sinh, mỗi giáo viên trong nhà trường đã luôn nỗ lực phấn đấu tự nâng caotrình độ chuyên môn, kết hợp vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt làm chohọc sinh trở thành trung tâm của từng tiết học, giờ học Nhiều giáo viên đã sử dụng cóhiệu quả thiết bị đồ dùng dạy học của nhà trường và đồ dùng tự làm để phục vụ tiếtdạy một cách linh hoạt và sáng tạo Bên cạnh đó, mỗi giáo viên đều tích cực tự học tậpứng dụng công nghệ thông tin để soạn giáo án điện tử, làm cho bài giảng thêm sinhđộng, tạo được hứng thú học tập cho học sinh
Ngoài ra, để tăng cường giao lưu học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên vớinhau trong quá trình giảng dạy, Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức, giao nhiệm vụcho mỗi giáo viên dự giờ ít nhất 15 tiết, thao giảng 2 tiết, sẵn sàng tham gia giáo viêndạy giỏi
Trang 21II Thực trạng kĩ năng giải toán của học sinh khối 4 Trường Tiểu học Vĩnh Lợi
Để đánh gía được thực trạng kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh khối 4Trường Tiểu học Vĩnh Lợi, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương phápnghiên cứu sản phẩm giáo dục Trong đó phương pháp điều tra Ankét được sử dụngchủ yếu
Trong việc tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải toán của hoc sinh khối 4 chúng tôitập trung điều tra, khảo sát trên hai đối tượng chủ yếu là giáo viên và học sinh
1 Thực trạng kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh khối 4
Đối với học sinh chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên (bằng phiều trưng cầu
ý kiến) đối với tổng số 60 học sinh thuộc các lớp: 4/1, 4/2 4/3, 4/4 tập trung chủ yếuvào các vấn đề sau:
1.1 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng
giải toán có lời văn.
Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đã đặt câu hỏi: Việc rèn luyện kĩ giải toán có lời văn đối với em là với 4 mức độ:Rất quan trọng; Quan trọng ; Bình thường ; Không
quan trọng Kết quả thu được như sau:
Bảng 1: Nhận thức của học sinh với việc rèn luyện kĩ năng giải toán:
Mức độ Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan trọng
Biểu đồ 1: Mức độ nhận thức của học sinh về việc rèn luyện kĩ năng giải toán
Trang 22Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy rằng đa số học sinh (75%) cho rằng việcgiải rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn có vài trò rất quan trọng trong quá trình họctoán ở nhà trường Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số em (5%) xem nhẹ công việcnày.
1.2 Kĩ năng tóm tắt bài toán của học sinh trong quá trình giải toán.
Để tìm hiều vấn đề này chúng tôi đặt câu hỏi : Em đánh giá kĩ năng tóm tắt bài
toán của mình là? Với bốn lựa chọn cho học sinh: Rất tốt; Tốt; Bình thường; Yếu Kết quả thu được như sau:
Bảng 2: Kĩ năng tóm tắt bài toán của học sinh
Biểu đồ 2: Kĩ năng tóm tắt bài toán của học sinh
Qua điều tra ta nhận thấy rằng số học sinh có kĩ năng tóm tắt tốt và rất tốt đạt63,3% Còn học sinh có kĩ năng ở mức độ trung bình và yếu chiếm 36,7% Như vậy kĩnăng tóm tắt của nhiều em học sinh vẫn còn nhiều hạn chế Việc tóm tắt còn yếu dẫnđến học sinh khó có thể biểu diễn được các mối quan hệ của các đại lượng trong bàitoán một chính xác, gây khó khăn cho việc tìm hướng giải
Trang 231.3.Mức độ và các cách tóm tắt đề toán mà em thường dùng
Đề tìm hiều sâu về các cách tóm tăt mà các em thương dùng chúng tôi đưa ra
câu hỏi sau: Mức độ và các cách tóm tắt đề toán mà em thường dùng khi giải bài toán là: (đánh dấu cộng + vào dòng và cột phù hợp với bản thân em)
Kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Các cách tóm tắt và mức độ sử dụng của chúng
Cách tóm tắt
Mức độThường xuyên Thỉnh thoảng Không sử
tắt bài toán Số lượng học sinh sử dụng phương pháp Dùng chữ thay số còn khiêm tốn
(20 học sinh) Điều này phản ánh việc sử dụng các cách tóm tắt để toán của các emcòn hạn chế chỉ quen với 2 phương pháp thường dùng; đó là chưa nói đến việc phốihợp nhiều phương pháp tóm tắt với nhau trong một bài toán
Để tiếp tục kiểm chứng vấn để này chúng tôi đưa ra một bài toán quen thuộctrong chương trình Toán 4 với nội dung như sau:
“Lớp em có 40 học sinh Số học sinh nam nhiều hơn số học sinh nữ 6 bạn Hỏi lớp em có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ?” và yêu cầu ngẫu nhiên 20 của 4 lớp
4 khác nhau tóm tắt bài toán trên bằng 2 cách khác nhau (không dùng sơ đồ đoạnthằng và dùng lời) Kết quả thu được như sau:
Trang 24Bảng 4: Khả năng tóm tắt bài toán bằng nhiềù cách khác nhau của học sinh
Vấn đề này càng được củng cố khi chúng tôi khảo sát 5 giáo viên đang giảngdạy môn toán ở khối 4 với câu hỏi:
Mức độ và các cách tóm tắt bài toán mà quý thầy cô sử dụng khi dạy học giảitoán có lời văn: (đánh dấu x vào cột và dòng phù hợp)
Bảng 5: Mức độ và các cách tóm tắt bài toàn mà thầy cô thường dùng
Cách tóm tắt
Mức độThường xuyên Thỉnh thoảng Không sử
1.4 Những lỗi các em thường mắc phải khi sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong tóm tắt bài toán.
Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu kĩ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng của
các em bằng câu hỏi: Khi tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, lỗi nào sau đây em thường