1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sinh học cơ thể động vật

11 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 315,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: ở Trùng giầy, các enzim từ lizosom vào không bào tiêu hóa thủy phân các chất hữu cơ ở trong thức ăn thành các chất dinh dưỡng đơn giản để tế bào sử dụng cho hoạt động sống.. Ở độn

Trang 1

I - TỔNG QUAN VỀ HỆ TIÊU HOÁ

Tiêu hóa là một quá trình biến đổi phức tạp thức ăn từ những chất khó tiêu thành những chất đơn giản, hòa tan và hấp thụ được

Ở động vật chưa có cơ quan tiêu hóa (động vật đơn bào): tiêu hóa thức ăn

là quá trình tiêu hóa nội bào

Ví dụ: ở Trùng giầy, các enzim từ lizosom vào không bào tiêu hóa thủy phân các chất hữu cơ ở trong thức ăn thành các chất dinh dưỡng đơn giản để tế bào sử dụng cho hoạt động sống

Ở động vật có tuyến tiêu hóa (ruột khoang, giun dẹp) thức ăn được tiêu hóa ngoại bào (nhờ enzim thủy phân chất dinh dưỡng phức tạp trong lòng túi) và tiêu hóa nội bào

Ở động vật có ống tiêu hóa, thức ăn được tiêu hóa ngoại bào nhờ hoạt động cơ học của ống tiêu hóa và nhờ tác dụng của dịch tiêu hóa Trong nhóm động vật có ống tiêu hóa thì ở người hệ tiêu hóa có cấu tạo hoàn chỉnh nhất, bao gồm:

- Khoang miệng: trong có răng, lưỡi, hầu, tuyến nước bọt

- Thực quản

- Dạ dày

- Tá tràng, ruột non, ruột già, tuyến tụy, gan

- Trực tràng và hậu môn

Tùy loại thức ăn mỗi loại động vật còn phát triển thêm những phần đặc biệt như; diều và dạ dày 4 túi…

Trang 2

Hình 1.1 Sơ đồ cấu tạo hệ tiêu hóa của người

Bộ máy tiêu hóa của người gồm ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hoá, cung cấp liên tục các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, thực hiện các chức năng:

- Chức năng cơ học: vận chuyển thức ăn, phân cắt thức ăn thành mẩu

nhỏ, nhào trộn với dịch tiêu hoá

- Chức năng hóa học: hoạt động của các dịch tiêu hóa giúp phân giải

thức ăn thành các chất đơn giản dễ hấp thu

- Chức năng hấp thu: đưa thức ăn đã được tiêu hóa trong ống tiêu hóa

vào máu

Dựa vào các biến đổi của thức ăn trong suốt quá trình tiêu hoá, ta phân quá trình tiêu hóa ra thành các giai đoạn:

+ Tiêu hóa ở miệng

+ Tiêu hóa ở dạ dày

+ Tiêu hóa ở ruột non

+ Hấp thụ ở ruột non

+ Ruột già và sự thải phân

II - TIÊU HÓA Ở MIỆNG

1 Cấu tạo khoang miệng

Khoang miệng là đoạn mở đầu của ống tiêu hóa, nơi tiếp nhận các dạng vật chất từ môi trường ngoài, cấu tạo gồm các bộ phận sau:

a) Răng

Hàm răng của động vật có vú và người bao gồm 3 loại răng:

+ Răng nanh dùng để xé thức ăn

+ Răng cửa dùng để cắt thức ăn

+ Răng hàm dùng để nghiền nát thức ăn

Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo răng

b) Lưỡi

Trang 3

Lưỡi là một khối cơ vân chắc được phủ bằng lớp chất nhày có khả năng chuyển động linh hoạt trong khoang miệng Lưỡi có nhiều mạch máu và dây thần kinh Mặt trên lưỡi có các gai vị giác Lưỡi có chức năng:

+ Nhào trộn thức ăn với nước bọt

+ Chuyển động thức ăn qua lại giúp nhai kỹ hơn

+ Chức năng vị giác Chức năng này rất quan trọng vì giúp lựa chọn thức

ăn và kích thích tiết nước bọt

+ Tham gia vào việc phát âm

+ Tham gia phản xạ nuốt

c) Hầu

Là một ống ngắn nối tiếp khoang miệng với chức năng đóng kín khí quản khi nuốt thức ăn

d) Tuyến nước bọt

Tuyến nước bọt là nơi nước bọt được tiết ra Trong khoang miệng có 3 đôi tuyến nước bọt lớn nằm ở mang tai, dưới hàm và dưới lưỡi Ngoài ra còn các tuyến nhỏ nằm rải rác trong khoang miệng Đôi tuyến mang tai tiết nước bọt loãng và nhiều enzim Đôi tuyến dưới lưỡi tiết nước bọt đặc và nhiều chất nhày Đôi tuyến dưới hàm tiết chất nhày và enzim với lượng ngang nhau

2 Sự tiêu hoá cơ học

Tiêu hoá cơ học chủ yếu do răng đảm nhiệm Răng cửa cắt thức ăn, răng nanh xé thức ăn, răng hàm nghiền thức ăn Các chức năng này được thực hiện bằng sự nâng lên, hạ xuống của hàm dưới, làm cho 2 hàm răng ép sát vào nhau Thức ăn được trộn đều với nước bọt rồi tạo thành các viên nhỏ, trơn dễ nuốt

Nuốt là một hoạt động phản xạ phức tạp

Hình 2.2 Phản xạ nuốt ở người

3 Sự tiêu hóa hoá học

Sự tiêu hóa hóa học ở khoang miệng thực hiện nhờ các enzim có trong nước bọt Các thành phần có trong nước bọt:

+ Nước: giúp hoà tan các chất có trong thức ăn Do đó đẩy nhanh sự cảm

nhận vị giác của các gai vị giác trên lưỡi

+ Chất nhày muxin: giúp bôi trơn khối thức ăn để dễ nuốt và còn giúp

lưỡi chuyển động dễ dàng hơn

Trang 4

+ Enzim amilaza (còn gọi ptyalin): đóng vai trò quan trọng trong việc

thủy phân tinh bột thành đường mantozơ

+ Lyzozim: là 1 enzim phá huỷ thành tế bào của vi khuẩn Lyzozim giúp cho khoang miệng luôn sạch và tránh nguy cơ nhiễm trùng

Ở khoang miệng chủ yếu xảy ra tiêu hoá cơ học Sự tiêu hoá hoá học là phụ vì protein và lipit chưa được phân giải mà chỉ có quá trình phân giải tinh bột thành mantozơ

III - TIÊU HOÁ Ở DẠ DÀY

1 Cấu tạo của dạ dày

- Dạ dày là phần phình lớn nhất của ống tiêu hoá, nằm trong khoang bụng Thành dạ dày được cấu tạo bởi 3 lớp cơ trơn: lớp cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở giữa

và cơ chéo ở trong Bên trong thành là lớp niêm mạc dạ dày có rất nhiều nếp nhăn Giữa lớp cơ trơn với lớp niêm mạc có đám rối thần kinh Meissner và Auerbach

- Dạ dày được chia làm 3 phần: phần tâm vị thông với thực quản, phần môn vị nối với tá tràng qua lỗ môn vị và phần thân Phần thân dạ dày có khả năng đàn hồi lớn giúp tăng sức chứa thức ăn của dạ dày Lớp niêm mạc dạ dày

là nơi tiết dịch vị

- Ở dạ dày pH vào khoảng 2

Hình 3.1 Sơ đồ cấu tạo dạ dày người

2 Tiêu hóa cơ học ở dạ dày

Trang 5

a) Sự đóng mở môn vị và tâm vị

Tâm vị không có cơ vòng thắt như môn vị mà chỉ được đóng mở nhờ sự dày lên hay xẹp xuống của lớp niêm mạc và cơ hoành xung quanh, do đó không đóng chặt như môn vị Khi thức ăn chuyển đến cuối thực quản, tâm vị sẽ mở theo phản xạ, thức ăn được dồn xuống dạ dày Tại đó thức ăn sẽ làm trung hoà bớt độ axit của dạ dày, pH tăng, tâm vị đóng lại Khi pH trở về bình thường, tâm

vị lại mở ra Sự đóng tâm vị giúp thức ăn không bị trào ngược trở lại

Ngược với tâm vị, môn vị đóng lại khi pH giảm Mỗi nhịp co bóp của dạ dày sẽ gây áp lực làm mở môn vị và 1 lượng thức ăn được đẩy xuống tá tràng Thức ăn được đẩy xuống có độ pH thấp hơn so với tá tràng, làm cho pH giảm và môn vị đóng lại cho đến khi pH ở tá tràng trở về ổn định Sự đóng môn vị giúp thức ăn được đi xuống ruột non theo từng đợt một và do đó sự tiêu hoá khối thức

ăn ở ruột non được diễn ra tốt hơn là toàn bộ được đẩy xuống ruột non

b) Sự co bóp ở phần thân

Lúc dạ dày trống rỗng, các đợt co bóp yếu và thưa nhưng cảm giác đói

tăng dần gây tăng nhịp co bóp và cường độ co bóp dẫn đến co bóp đói.

Cử động nhu động theo chiều từ trên xuống dưới giúp thức ăn được chuyển động từ dưới lên trên sát theo thành dạ dày, do đó dễ thấm dịch vị Độ axit của dịch vị càng tăng, co bóp càng mạnh Ở phần thân dưới của dạ dày co bóp diễn ra mạnh, thức ăn được nghiền nát, nhào trộn với dịch vị để thành một dịch lỏng gọi là vị trấp hay nhũ trấp, qua môn vị chuyển xuống tá tràng

3 Sự tiêu hoá hoá học

a) Cấu tạo của tuyến vị

Niêm mạc dạ dày có rất nhiều tuyến vị Các tuyến vị ở vùng tâm vị và môn vị tiết nhiều chất nhày Các tuyến ở thân và đáy dạ dày tiết pepsinogen và HCl là chủ yếu Một số tế bào biểu mô tiết ra hoocmon gastrin có tác dụng điều hoà bài tiết dịch vị

Mỗi tuyến vị được cấu tạo bởi 4 loại tế bào:

+ Tế bào chính tiết pepsinogen

+ Tế bào viền tiết HCl

+ Tế bào cổ tuyến tiết chất nhày muxin.

+ Tế bào nội tiết tiết hoocmon gastrin

Tuyến vị còn có các túi chứa dịch vị

Trang 6

Hình 3.2 Sơ đồ cấu tạo một tuyến vị

b) Thành phần và tác dụng của các chất trong dịch vị

Pepsinogen là dạng không hoạt động của pepsin, khi gặp HCl và đặc biệt

là pepsin được hoạt hoá từ trước, sẽ lập tức chuyển thành pepsin Pepsin là enzim chính trong sự phân giải protein ở dạ dày, hoạt động tối ưu trong pH = 2 Pepsin cắt liên kết peptit của axit amin có nhân thơm (Phenylalanin, Tyroxin) do

đó protein được cắt thành các chuỗi peptit ngắn Ngoài ra pepsin còn phân giải các sợi collagen liên kết giữa các tế bào của thịt, tạo điều kiện cho các enzim tiêu hóa thấm được vào thịt và tiêu hoá chúng

Chất nhày quánh và kiềm tính tạo thành 1 lớp dày khoảng 1 mm bao phủ

niêm mạc dạ dày để bảo vệ dạ dày cũng như bôi trơn thức ăn

HCl trong quá trình tiêu hoá có nhiều chức năng:

+ Hoạt hoá pepsinogen thành pepsin để thực hiện chức năng phân giải protein Pepsinogen khi tiếp xúc với HCl và đặc biệt khi tiếp xúc với pepsinogen hoạt hoá từ trước sẽ lập tức chuyển thành pepsin là dạng hoạt động

+ Tạo ra pH thấp ở dạ dày để tiêu diệt vi khuẩn Một số vi khuẩn chịu đựng được pH thấp như Helicobacter pylori vẫn có khả năng gây bệnh cho dạ dày + Tham gia cơ chế đóng mở môn vị và tâm vị

+ Kích thích tiết hoocmon secretin ở tá tràng

+ Thủy phân xenlulozơ của thực vật non

+ Chuyển ion Fe3+ thành ion Fe2+ dễ hấp thu

+ Phá hủy lớp màng của bó cơ, tạo điều kiện để pepsin hoạt động phân giải các bó cơ (không phải bó cơ của dạ dày mà là bó cơ trong thịt, cá …)

+ Kích thích sự co bóp của dạ dày

+ Điều hoà tiết dịch tụy

Gastrin là hoocmon có tác dụng kích thích tiết dịch vị.

Ngoài 4 thành phần kể trên, dịch vị còn chứa các thành phần như sau:

+ Yếu tố nội: yếu tố nội do tế bào viền tiết ra cùng HCl Yếu tố nội rất quan trọng đối với sự hấp thụ vitamin B12 Do đó khi các tế bào viền bị phá huỷ (như trường hợp viêm dạ dày mãn tính) không chỉ HCl không tiết ra được mà bệnh

Trang 7

nhân còn bị thiếu máu ác tính do thiếu hụt vitamin B12 Thiếu máu ác tính là

triệu chứng thiếu vitamin B12

+ Chymosin: phân giải sữa Hoạt động tối ưu ở pH = 4 Nhờ sự có mặt của

Ca2+, casein trong sữa được tạo thành caseinat canxi kết tủa ở dạ dày Phần còn lại được chuyển xuống ruột non để tiêu hoá

+ Lipaza: ở giai đoạn dạ dày lipaza có tác dụng rất yếu Nó cắt liên kết este

giữa glyxerol và axit béo của những lipit đã nhũ tương hoá (lipit trong sữa, trứng)

IV TIÊU HOÁ Ở RUỘT NON

1 Cấu tạo của ruột non

Ruột non là đoạn dài nhất ống tiêu hoá Ruột non được chia làm 3 đoạn chính: + Tá tràng là đoạn đầu của ruột non, dài 20 cm Đoạn đầu của tá tràng gọi

là hành tá tràng do chịu sự tấn công của axit dạ dày Tại đây nối với ống mật và ống tụy

+ Hỗng tràng chiếm khoảng 3/5 chiều dài của ruột, phân biệt với tá tràng bởi ranh giới là dây chằng Trietz

+ Hồi tràng chiếm khoảng 2/5 chiều dài của ruột nhưng sự phân chia thành 2 đoạn như trên chỉ là quy ước và không có 1 ranh giới giải phẫu nào phân biệt 2 đoạn hồi tràng và hỗng tràng

Thành ruột non được cấu tạo bởi 2 lớp cơ: lớp cơ dọc ở ngoài và cơ vòng

ở trong Phía trong lớp thành là niêm mạc ruột được tăng cường diện tích bề mặt bởi các lông nhung và vi lông nhung Nhờ đó mà diện tích bề mặt tăng đến 250 -

300 m2 Xen kẽ trong lớp lông nhung là các tuyến tiết chất nhày và dịch ruột

Từ thành cơ phân bố vào lông ruột có hệ thống các dây thần kinh, mạch máu và mạch bạch huyết

2 Tiêu hóa cơ học của ruột non

Thức ăn trong ruột non vận chuyển được là nhờ sự co dãn phối hợp của các tầng cơ vòng và cơ dọc thuộc lớp cơ trơn ở thành ruột non với các cử động:

Cử động hình quả lắc: do lớp cơ dọc thay nhau co dãn làm các đoạn ruột

trườn đi trườn lại Mục đích là xáo trộn thức ăn, tránh ứ đọng, tăng cường tốc độ chuyển hoá

Cử động co thắt từng phần: từng đoạn ruột co thắt lại làm giảm tiết diện

đoạn ruột Mục đích là xáo trộn thức ăn và làm ngấm đều dịch tiêu hóa

Cử động nhu động: là cử động nhịp nhàng lan truyền từ phía trên xuống

ruột già Tác dụng là đẩy liên tục thức ăn từ trên (dạ dày) xuống dưới (ruột già), làm quá trình hấp thụ thức ăn dễ dàng hơn Khi bị ngộ độc, cử động này tăng mạnh có thể gây ỉa chảy

Cử động phản nhu động: ngược chiều với cử động nhu động Cử động

phản nhu động giúp thức ăn được đẩy ngược lại giúp tiêu hoá và hấp thụ triệt để hơn Khi bị nôn, cử động này tăng mạnh ở tất cả các đoạn của ống tiêu hoá, làm thức ăn tống ra ngoài miệng

3 Tiêu hoá hoá học ở ruột non

Trang 8

Tiêu hoá ở ruột non chủ yếu là tiêu hoá hoá học, với sự tham gia của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột

a) Dịch tụy

Tuyến tụy là một tuyến pha Dịch tụy là dịch do phần ngoại tiết của tuyến tụy tiết ra Dịch tụy từ ống tụy được đổ vào đoạn đầu tá tràng, cùng nơi với dịch mật Dịch tụy có pH = 7.8 ~ 8.4, chứa hầu hết các enzim tiêu hoá Đặc biệt dịch tụy có vai trò trung hoà độ axit của khối thức ăn từ dạ dày đẩy xuống

Thành phần của dịch tụy và tác dụng của chúng:

+ Trypsin: được tiết ra dưới dạng không hoạt động là trypsinogen Sau khi được enzim enterokinaza trong dịch ruột hoạt hoá, và đặc biệt là trypsin được

hoạt hoá từ trước, trở thành trypsin hoạt động Trypsin hoạt động tối ưu tại pH =

8, nó cắt các kiên kết peptit của axit amin có tính kiềm

+ Chymotrypsin: cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là

chymotrypsinogen, sau đó được hoạt hoá bởi trypsin, hoạt động tối ưu trong pH

= 8 Chymotrypsin cắt liên kết peptit của các axit amin có nhân thơm

+ Cacboxylpolypeptidaza: tiết dưới dạng không hoạt động

procacboxypolypeptidaza Được hoạt hoá bởi trypsin, hoạt động tối ưu trong pH =

8, nó cắt dần các axit amin ở đầu chuỗi polypeptit giải phóng các axit amin tự do

+ Lipaza: hoạt động tối ưu trong pH = 6.8, cắt đứt các liên kết este giữa

glyxerol với axit béo của lipit đã nhũ tương hoá

+ Photpholipaza: cắt đứt liên kết este giữa glyxerol với gốc phôtphat trong

phân tử phôtpholipit

+ Cholesterol esteraza: cắt liên kết este của các chất béo thuộc nhóm steroid,

giải phóng sterol và các axit béo

+ Amylaza: hoạt động tối ưu trong pH = 7.1, thủy phân tinh bột sống và chín

giải phóng đường mantozơ

+ Mantaza: phân giải mantozơ thành glucozơ.

+ Một số ion khoáng như Na + , K + , Ca 2+ , HCO 3-, … nhưng quan trọng nhất là

NaHCO3, nó trung hoà độ axit của khối thức ăn từ dạ dày đẩy xuống và tạo pH

thích hợp cho enzim hoạt động

Với các thành phần như trên, dịch tụy phân giải hầu hết các chất dinh dưỡng trong thức ăn Nếu dịch tụy tiết ra bị giảm, sẽ gây rối loạn tiêu hoá và hấp thu của cơ thể Khi tụy bị tổn thương hoặc khi một ống tụy bị tắc nghẽn, các enzim tiêu hoá sẽ nhanh chóng tiêu hoá tuyến tụy trong vòng vài giờ Đó là

bệnh viêm tụy cấp dẫn đến shock, có thể dẫn đến suy tụy hoặc tử vong.

b) Dịch mật

Dịch mật do gan tiết ra nhưng được dự trữ ở túi mật Dịch mật ở gan sẽ được túi mật làm đặc hơn 4 - 10 lần Thành phần của dịch mật gồm chủ yếu là muối mật, ngoài ra còn có bilirubin, lecitin, cholesterol… và khoảng 94% được

tái hấp thu ở hồi tràng Bilirubin một phần được liên kết với hệ vi sinh vật ở ruột, chuyển thành stecobilin là nguyên nhân dẫn đến màu vàng của phân Dịch mật có pH vào khoảng 7 ~ 7.6 nên có vai trò trung hoà axit dịch vị

Trang 9

Dịch mật có vai trò quan trọng đối với sự tiêu hoá lipit Nó nhũ tương hoá tất cả lipit có trong thức ăn để tạo điều kiện cho lipaza hoạt động Muối mật làm giảm sức căng bề mặt của hạt mỡ, các cử động lắc lư của ruột sẽ làm vỡ hạt mỡ thành các hạt rất nhỏ để enzim có thể tác động lên bề mặt Quá trình này gọi là

nhũ tương hoá mỡ

Ngoài vai trò trong tiêu hoá lipit, dịch mật còn giúp cho sự hấp thụ các vitamin A, D, E, K Vì thế nếu tổn thương ở gan sẽ làm giảm tiết dịch mật, kéo theo lượng lipit và vitamin trong phân tăng, đặc biệt là vitamin K, sẽ theo phân

ra ngoài Tình trạng kéo dài gây máu khó đông là triệu chứng thiếu vitamin K

Dịch mật còn làm tăng tiết dịch tụy, tăng nhu động ruột, ức chế hoạt động của vi khuẩn, ngăn chặn lên men, thối rữa các chất ở ruột

Kích thích dây thần kinh X sẽ gây tăng tiết dịch mật Secretin và CCK là các hoocmon gây tăng tiết dịch mật

Trong một số điều kiện bất thường, cholesterol trong dịch mật bị kết tủa tạo ra sỏi mật Nguyên nhân dẫn đến sỏi mật:

+ Sự hấp thu quá nhiều nước, muối mật, lecitin của túi mật làm giảm lượng các chất giữ cholesterol ở dạng hoà tan Hậu quả là cholesterol bị kết tủa, sau đó đến các hạt bilirubin

+ Sự bài tiết quá nhiều cholesterol của gan Lượng cholesterol này phụ thuộc vào lượng mỡ ăn mỗi ngày, vì thế những người ăn quá nhiều mỡ kéo dài sẽ bị sỏi mật

+ Các tế bào biểu mô của túi mật bị viêm

c) Dịch ruột

Dịch ruột do niêm mạc ruột tiết ra pH dịch ruột vào khoảng 8.3, rất nhớt

và đục do có nhiều mảnh vụn của tế bào niêm mạc

Các thành phần của dịch ruột và tác dụng của chúng:

+ Aminopeptidaza có tác dụng cắt axit amin đứng ở đầu chuỗi polypeptit + Iminopeptidaza cắt axit imin ra khỏi chuối Axit imin thường gặp là prolin nên enzim này còn được gọi là prolilaza.

+ Dipeptidaza và Tripeptidaza phân giải các dipeptit và tripeptit.

+ Nuclêaza phân giải các axit nuclêic thành các đơn phân nuclêotit

+ Nuclêotidaza phân giải các đơn phân nuclêotit thành gốc phôtphat, đường

ribôzơ và bazơ nitơ

+ Lipaza, Photpholipaza, Cholesterol esteraza phân giải nốt các lipit còn sót

lại chưa được phân giải hết

+ Mantaza và Amylaza có tác dụng giống với của dịch tụy Ngoài ra còn có

Saccaraza phân giải saccarozơ thành glucozơ và fructozơ

+ Photphataza tách các nhóm phôtphat của chất vô cơ và hữu cơ + Enterokinaza có tác dụng hoạt hoá trypsinogen thành dạng trypsin hoạt động.

V - HẤP THỤ CHẤT DINH DƯỠNG

Các chất dinh dưỡng có thể được hấp thụ theo 2 cơ chế: thụ động hoặc chủ động Để hấp thụ được trước hết thức ăn phải được phân giải thành các chất đơn giản:

Trang 10

+ Protein phân giải thành các axit amin Một số protein chưa phân giải vẫn có thể hấp thụ được, nhưng có thể gây dị ứng

+ Gluxit được hấp thụ dưới dạng các đường đơn và 1 phần là các đường đôi + Lipit được hấp thụ dưới dạng glyxerol và các axit béo, sau khi hấp thụ lipit được tái tổng hợp thành lipit Khoảng 30% lipit được vận chuyển trong máu, còn lại 70% vào mạch bạch huyết

+ Vitamin hầu như hấp thụ được mà không cần một biến đổi hoá học nào Tuy nhiên, một số trường hợp như vitamin B12 phải hấp thụ kèm các yếu tố nội… + Các muối khoáng được hấp thụ dưới dạng các ion Các ion hoá trị I hấp thụ nhanh hơn các ion hoá trị II Ion Mg2+ liều cao sẽ ứ lại ở ruột làm tăng sự hút nước vào ruột làm căng ruột, do đó làm tăng nhu động, gây ỉa chảy Vì thế MgCO3 được dùng làm thuốc tẩy ruột chống táo bón

+ Nước được hấp thụ tích cực ở ruột già

VI - RUỘT GIÀ VÀ SỰ THẢI PHÂN

1 Ruột già

Ruột già là đoạn cuối của ống tiêu hoá, tiết diện lớn hơn ruột non Ruột già thông với ruột non tại ranh giới là van hồi manh có tác dụng chống cho các chất ở ruột già không rơi ngược trở lại ruột non Ruột già được chia làm 3 đoạn: manh trành, kết tràng, trực tràng Manh tràng nối trực tiếp với ruột non Kết tràng gồm 3 đoạn: kết tràng lên, kết tràng ngang và kết tràng xuống Trực tràng nối liền với hậu môn

Ruột già không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ tiết chất nhày để bảo vệ niêm mạc Ở đây có hệ vi sinh vật rất phát triển Tại đây có 1 số vi sinh vật tổng hợp vitamin B12, K Vi sinh vật lên men các chất không được ruột non hấp thụ, giải phóng các khí CO2, CH4, H2S, … và các chất độc như indol, scatol, mercaptan làm cho phân có mùi thối

Ở ruột già chỉ có cử động nhu động và phản nhu động Cử động nhu động không mạnh, mỗi ngày chỉ có 1 hoặc 2 cử động nhu động mạnh để dồn chất bã xuống trực tràng Cử động phản nhu động mạnh hơn, giúp các chất bã lưu lại trong ruột già

2 Sự thải phân

Sau khi được hấp thụ nước, cấc chất cặn bã còn lại cô đặc tạo thành phân

và thải ra ngoài qua hậu môn Do các chất dinh dưỡng được hấp thụ từ 80 ~ 100% nên trong phân còn rất ít chất dinh dưỡng không được hấp thụ Phân chứa khoảng 60% nước, còn lại là các mảnh vụn tế bào niêm mạc ống tiêu hoá và xác

vi sinh vật

Thải phân qua động tác đại tiện là phản xạ không điều kiện gây co bóp cơ trơn trực tràng và mở cơ thắt hậu môn

Ở hậu môn có 2 vòng cơ thắt là cơ trơn và cơ vân Do đó cơ thể có thể kìm hãm phản xạ đại tiện bằng cách co vòng cơ vân lại, đóng chặt hậu môn

VII - TIÊU HÓA Ở DẠ DÀY KÉP

Dạ dày của động vật nhai lại (trâu, bò …) có bốn ngăn: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ

lá sách và dạ múi khế

Ngày đăng: 28/04/2015, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ cấu tạo hệ tiêu hóa của người - sinh học cơ thể động vật
Hình 1.1. Sơ đồ cấu tạo hệ tiêu hóa của người (Trang 2)
Hình 2.2. Phản xạ nuốt ở người - sinh học cơ thể động vật
Hình 2.2. Phản xạ nuốt ở người (Trang 3)
Hình 3.1. Sơ đồ cấu tạo dạ dày người - sinh học cơ thể động vật
Hình 3.1. Sơ đồ cấu tạo dạ dày người (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w