1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học nội dung sinh học cơ thể động vật sinh học 11 trung học phổ thông

125 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 281,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các t

Trang 1

DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tích hợp nội dung giáo dục giới tính vào một số bài 37

cụ thể của nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

2 Bảng 3.1 Nội dung kiểm tra – đánh giá trong thực nghiệm sƣ 59phạm

4 Bảng 3.3 Tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi 65

5 Bảng 3.4 Tần suất hội tụ tiến (Số học sinh đạt điểm xi trở lên) 65

6 Bảng 3.5 So sánh các tham số đặc trƣng giữa lớp đối chứng 66

và lớp thực nghiệm

8 Bảng 3.7 Tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi 68

9 Bảng 3.8 Tần suất hội tụ tiến (Số học sinh đạt điểm xi trở lên) 68

10 Bảng 3.9 So sánh các tham số đặc trƣng giữa lớp đối chứng 69

Trang 3

13 Bảng 3.12 Tần suất (fi%) số % học sinh đạt điểm xi trong hai 72bài kiểm tra độ bền kiến thức

14 Bảng 3.13 So sánh các tham số đặc trưng giữa lớp đối chứng 74

và lớp thực nghiệm

15 Bảng 3.14 Kiểm định giả thuyết thống kê H0 các bài kiểm tra 75

độ bền kiến thức theo phương pháp U

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Tần suất bài kiểm tra số 1 của lớp đối chứng và 66lớp thực nghiệm

2 Biểu đồ 3.2 Tần suất bài kiểm tra số 2 của lớp đối chứng và 69lớp thực nghiệm

3 Biểu đồ 3.3 Tần suất điểm kiểm tra độ bền kiến thức bài 73kiểm tra số 1

4 Biểu đồ 3.4 Tần suất điểm kiểm tra độ bền kiến thức bài 73kiểm tra số 2

Trang 5

HỌC SINH HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

1.2.3 Thực trạng về giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông 30

TÍNH QUA DẠY HỌC NỘI DUNG SINH HỌC CƠ THỂ

Trang 6

2.2.3 Phương pháp tích hợp kiến thức giáo dục giới tính trong dạy 34nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

2.2.4 Hình thức tích hợp các kiến thức giáo dục giới tính qua dạy 35học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

2.3 Tích hợp các nội dung giáo dục giới tính vào một số bài cụ thể 36của chương trình Sinh học phổ thông

2.3.1 Tích hợp các nội dung giáo dục giới tính vào một số bài cụ 37thể của nội dung Sinh học cơ thể Động vật – sinh học 11

2.3.2 Một số ví dụ bài soạn có nội dung tích hợp giáo dục giới tính 58

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo giáo sư I X Kon: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính” [17] Tuy nhiên, giáo dục giới tính không có nghĩa là cấm đoán thanh

niên bước vào chuyện yêu đương, chuyện tình dục mà là làm thế nào để dạy chocác em biết được một cách đúng đắn nhất về vấn đề quan trọng ấy

Năm 2008, tổ chức Kimberly Việt Nam đã công bố: Tại Việt Nam, với

10 câu hỏi đơn giản về cơ thể phụ nữ như chu kỳ kinh nguyệt, vùng kín, sứckhoẻ sinh sản thì chỉ có 3% số người tham gia trả lời đúng, 85% phụ nữ thamgia khảo sát thừa nhận họ thiếu hiểu biết về chính cơ thể mình Và có tới 62%không biết màng trinh là gì, 77% trong số họ không thể trả những câu hỏi vềthai nghén, sức khoẻ sinh sản, giới tính

Chính vì sự thiếu hiểu biết mà tại Việt Nam mỗi năm ước tính cókhoảng 300.000 ca nạo phá thai, trong đó 30% là những phụ nữ chưa lập giađình và cứ năm ca nạo phá thai thì có một ca là em gái vị thành niên ViệtNam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới

Những vấn đề nêu trên đã trở thành hồi chuông báo động để chúng tanhìn nhận lại việc giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông thời gianqua Mặc dù, việc đưa giáo dục giới tính vào trường học là điều đã được thừanhận, song hầu hết các trường trung học phổ thông đều lúng túng khi giảngdạy vấn đề này Các trường đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc ngoại khoá.Các giáo viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kỹ năng giảng dạy Nếu códạy thì cũng chỉ thiên về lý thuyết, không có giáo cụ trực quan Đồng thời,các nhà trường cũng chưa xây dựng được chuẩn kiến thức chung về giáo dụcgiới tính Vì vậy, học sinh nhận được lượng kiến thức không hệ thống, nặng

về lý thuyết

Xuất phát từ những lý do trên và căn cứ vào đặc điểm ưu thế của bộ

Trang 8

môn Sinh học Chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông” Với mong muốn góp phần nâng cao hiểu biết về các vấn đề giới tính,

tình dục an toàn, sức khoẻ sinh sản v.v… cho các em học sinh Từ đó hoànthiện về tâm sinh lý, nhân cách, giúp các em có bản lĩnh vững vàng bước vàođời sống xã hội, biết bảo vệ, giữ gìn sức khoẻ cho người bạn và cho chínhmình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử giáo dục giới tính trên thế giới

Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, V I Lênin đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách” Trên quan điểm đó, các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học đã

cố gắng xây dựng nền móng vững chắc cho nền khoa học giới tính và giáodục giới tính theo quan điểm Mác - xít Họ đưa ra nhiều phương hướng quan

trọng trong việc giáo dục giới tính của Liên Xô A X Makarenko viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề giáo dục giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan

hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người

và việc giáo dục con cái Khi giáo dục một con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” [16] Ông đã đưa ra nhiều ý kiến rất cụ thể về nội dung phương pháp giáo dục giới tính Ông nói: “Các nhà giáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia đình

là một nội dung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời sống gia đình” [16] Ông cũng cho rằng, thanh niên cần: “Phải học tập cách yêu đương, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có nghĩa là học tập

để biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” [16].

Từ năm 1968, hầu hết các địa phương của Liên Xô bắt đầu chú ý tổ chức

Trang 9

việc hướng dẫn và tổ chức giáo dục điều trị, hướng dẫn các vấn đề giới tính,nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân Ngay từ năm 70, việc giáo dụcgiới tính cho học sinh đã được đề xuất, giảng dạy ở một số nơi Năm 1981,Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ra chỉ thị cho tất cả các trường học trong cácnước thực hiện chương trình giáo dục vệ sinh, giáo dục giới tính cho họcsinh Một chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất tỉ mỉ và cụ thểcho học sinh từ cấp 1 đến cấp 3.

Ở Đức hiện nay, có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những côngtrình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính như: Aresin, Smolka, Hopman

và Klemm v.v… Một cuốn bách khoa toàn thư về giới tính được biên soạn đểgiảng dạy và giáo dục gới tính cho học sinh

Nhiều nước như: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan v.v… đều đã tiến hành giáodục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc Cácnước phương Tây như: Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Mĩ v.v… đã tiến hànhgiáo dục cho học sinh khá sớm (1966) Đặc biệt là một số nước châu Á, châuPhi, Mĩ Latin cũng đưa giáo dục giới tính vào trường phổ thông và đã đạt kếtquả tốt Trung Quốc đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh từ nhữngnăm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiêncứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính

Ngay các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia,Singapore, Philippines v.v… cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này ỞPhilippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá củatrường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông Nội dung giáo dụcgiới tính đã được lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hoá khác

Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phươngpháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốnhút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả

Trang 10

2.2 Giáo dục giới tính ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dụcgiới tính đã được quan tâm rộng rãi

Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”.

Bộ giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tínhtrong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước

Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính,

về tình yêu, hôn nhân và gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả ĐặngXuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia v.v… đã nghiên cứu nhiềuvấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiều côngtrình nghiên cứu giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã được tiến hành từnăm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanhniên và học sinh Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú

đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam

Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dụcđời sống gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu VIE/88/P09 đã đượcHội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục ViệtNam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCOkhu vực

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sưĐặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiêncứu khá sâu rộng vấn đề như: nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính củagiáo viên, học sinh, phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nước, để tiến hành giáodục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12

Trang 11

Từ năm 1990 đến nay, Việt Nam có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tàiliên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và nhữngvấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục vê tình yêutrong thanh niên, học sinh, giáo dục đời sống gia đình, giáo dục giới tính chohọc sinh v.v…

Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâmcủa Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậcphụ huynh Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về giáo dục giới tính qua mônhọc vẫn còn hạn chế, chủ yếu dừng lại nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận và xâydựng các mẫu thiết kế hoạt động mang tính định hướng, thiếu những gợi ý cụthể cho giáo viên Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động giáo dục giới tính chohọc sinh giáo viên gặp không ít khó khăn

3 Mục đích nghiên cứu

Xác định nội dung, lượng kiến thức, phương pháp và hình thức tích hợpcác nội dung giáo dục giới tính trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể độngvật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông với mục đích:

Giúp trang bị cho học sinh hệ thống các kiến thức về giới tính một cáchđầy đủ, chính xác

Hình thành thái độ, cách hành xử đúng đắn trước các vấn đề về giớitính, quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính

4 Đối tượng và khách thể

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng phương pháp tích hợp giáo dục giới tính

trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung họcphổ thông

4.2 Khách thể nghiên cứu: Giáo viên dạy Sinh học và học sinh hai lớp

11D1, 11D2 trường THPT Thăng Long – Hà Nội

5 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích hợp

Trang 12

Điều tra thực trạng của việc giáo dục giới tính thông qua dạy học Sinhhọc ở một số trường trung học phổ thông.

Nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu về giới tính, sinh sản, sức khoẻ sinhsản, làm cơ sở để xây dựng bảng trọng số về các nội dung cần tích hợp

Tìm hiểu các nội dung kiến thức về giáo dục giới tính, lựa chọn nội dungcần thiết, phù hợp để tích hợp

Đề xuất phương án tích hợp các nội dung đã lựa chọn vào một số bài cụthể nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông.Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi cũng như hiệu quả củaviệc giáo dục giới tính bằng tích hợp trong dạy học nội dung Sinh học cơ thểđộng vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp tích hợp các nộidung giáo dục giới tính vào trong các nội dung sinh học cơ thể động vật –Sinh học 11 – Trung học phổ thông

Đề tài nghiên cứu trên các đối tượng khảo sát là học sinh hai lớp 11D1

và 11D2 tại trường THPT Thăng Long – Hà Nội

7 Giả thuyết nghiên cứu

Lựa chọn, xác định nội dung, phương pháp và hình thức tích hợp cácnội dung giáo dục giới tính vào nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học

11 – Trung học phổ thông một cách thích hợp để nâng cao hiểu biết của họcsinh về giới tính, sức khoẻ sinh sản, tình dục và tình dục an toàn v.v… từ đó

có những thái độ, hành vi đúng đắn

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp tích hợp trong dạy học Sinhhọc

Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên để làm cơ sở cho việc tích

Trang 13

hợp các nội dung giáo dục giới tính vào từng bài học cụ thể.

Nghiên cứu các tài liệu về giới tính, sinh sản – sức khoẻ sinh sản, tình dục – tình dục an toàn làm cơ sở lý thuyết và thực tiễn

8.2 Nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp điều tra

Điều tra thực trạng giáo dục giới tính tại một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội

Sử dụng phiếu điều tra đo mức độ hiểu biết của học sinh về giới tính, sinh sản – sức khoẻ sinh sản, tình dục – tình dục an toàn

* Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động giáo dục giới tính, việc tổ chức các hoạt độnggiáo dục giới tính để xác định những khó khăn, hạn chế của giáo viên khi tiếnhành giảng dạy tích hợp vấn đề này

* Phương pháp thống kê toán học

Được sử dụng để phân tích và xử lý các kết quả thu được qua điều tra

và thực nghiệm sư phạm

9 Những đóng góp của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của việc tích hợp giáo dụcgiới tính trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông

Khái quát được những đặc điểm chung về thực trạng giáo dục giới tínhtại một vài trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội Từ đó, chọn ra những vấn

đề cấp thiết đưa vào tích hợp trong dạy học Sinh học lớp 11 trung học phổ

Trang 14

Tích hợp, cụ thể hóa nội dung giáo dục giới tính vào từng bài dạy môn Sinh học lớp 11 trung học phổ thông

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Tích hợp nội dung giáo dục giới tính trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số vấn đề về sư phạm tích hợp

1.1.1.1 Khái niệm sư phạm tích hợp

Khi đứng trên bục giảng, giáo viên cảm thấy rằng họ phải làm quá nhiềuviệc và không có đủ thời gian để dạy hết mọi thứ mà học sinh cần phải biết.Ngày càng có nhiều sách giáo khoa và các tài liệu bổ trợ được xuất bản đểđáp ứng nhu cầu về kiến thức ngày càng tăng Ngoài ra, ngày càng có nhiềunhững đòi hỏi của đủ các cấp từ quận (huyện) đến quốc gia làm ảnh hưởngđến việc sử dụng thời gian trên lớp của giáo viên Trong khi đó, nhu cầu củahọc sinh không hề giảm bớt Vì một thực tế như vậy thì giáo viên khó có thểquan tâm đến sự liên hệ giữa các tư liệu có vẻ như không ăn nhập gì với nhautrong nội bộ từng môn học và giữa các môn học với nhau Kết quả là học sinh

cứ học hết giờ học này đến giờ khác, hết môn này đến môn khác một cách rờirạc.Vì vậy, việc tích hợp chương trình có thể là một phương tiện tối cần thiết

để tạo ra sự kết dính, tạo ra sự thống nhất trong hoạt động học của học sinh

Theo Xavier Roegiers: "Khoa sư phạm tích hợp dựa trên tư tưởng năng lực, tức là biết sử dụng các kĩ năng trong một tình huống có vấn đề" Điều đó

có nghĩa là:

Nhà trường phải tiếp tục là một đảm bảo cho những giá trị quan trọngcủa xã hội Thật vậy, chỉ có thông qua những giá trị đó, thì toàn bộ các hoạtđộng học tập và hoạt động nghề nghiệp mới có ý nghĩa

Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức vàthông tin mà còn giúp học sinh có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và

tổ chức kiến thức Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hếtphải tập trung cố gắng dạy học sinh cách sử dụng kiến thức của mình vàonhững tình huống có ý nghĩa với học sinh

Trang 16

Theo Phạm Văn Lập: "Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công

cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học".

Ngoài ra, tích hợp trong dạy học là giúp người học xác lập mối quan hệgiữa các khái niệm đã học

1.1.1.3 Các phương thức tích hợp trong dạy học

Theo Xanvier Roegiers có 4 phương thức tích hợp Thứ nhất, những ứngdụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấphọc Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ nhưngđến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chungcủa khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được đánhgiá bằng bài thi tổng hợp kiến thức

Thứ hai, những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ởnhững thời điểm cụ thể đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóahọc, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nộidung từng môn học, hoặc vì các môn này do các giáo viên khác nhau đảm

Trang 17

nhiệm Tuy nhiên, chương trình có bố trí xen một số chương trình tích hợpliên môn nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức nhữngmôn học gần gũi nhau.

Thứ ba, phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đềtài tích hợp Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bảnchất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung nhau, thườngdựa vào một môn học công cụ như Tiếng Việt, Toán Trong trường hợp này,môn học tích hợp được một giáo viên giảng dạy

Thứ tư, phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng cáctình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn,tạo thành môn học tích hợp

Lên đến cấp THCS, THPT hệ thống khái niệm trong các môn học phứctạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường domột giáo viên được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ bakhó thực hiện, thường thiên về áp dụng cách thứ tư Tuy có nhiều khó khănnhưng phải tìm cách vượt qua vì dạy học tích hợp là xu hướng tất yếu, đemlại nhiều lợi ích

1.1.1.4 Vai trò của tích hợp trong dạy học

Dạy học từng môn riêng rẽ giúp học sinh hình thành kiến thức khoa họcmột cách hệ thống, dạy học tích hợp giúp học sinh liên hệ kiến thức trong nhàtrường và thực tiễn cuộc sống Dạy học tích hợp giúp học sinh có năng lựcgiải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong cuộc sống.Khuynh hướng dạy học theo hướng tích hợp cho phép rút ngắn được thờigian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tincủa chương trình và nội dung sách giáo khoa phổ thông.Việc giảng dạy tích hợprèn cho học sinh ý thức và kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý các vấn

đề đặt ra trong học tập Đối với một số nội dung kiến thức, người giáo viên chỉnên giới thiệu ở chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về

Trang 18

khía cạnh đang đề cập Nhờ vậy, có thể khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểubiết của người học Cần đánh giá cao những học sinh biết sử dụng kiến thứccủa phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác.

Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vậndụng dễ dàng hơn phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các bậc học cao hơn,cũng như khi bước chân vào cuộc sống, xã hội, có khả năng giải quyết cácvấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng làtình huống tích hợp

Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng một cách tối đa các kiến thức đãhọc ở tất cả các môn vào gải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trongnhà trường gần lại với kiến thức xã hội

Dạy học tích hợp giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạokiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa vàhợp lí trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộcsống hiện đại

Ngoài ra, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho học sinh khả năng huy động

có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữuích một tình huống xuất hiện,và nếu có, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ,một tình huống chưa gặp

Học sinh có thể học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ tư liệu họctập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa họcmột cách hợp lý

1.1.2 Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học Sinh học

1.1.2.1 Khái niệm về giáo dục giới tính

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp Có nhiều quan niệm, nhiều

ý kiến khác nhau về vấn đề này

Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo dục giới tính khi các

em vào thời kì chín muồi giới tính Nhưng A V Petrovxki đã khẳng định:

Trang 19

"Quan niệm đó không đúng bởi vì một loạt vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính phải được giải quyết ngay từ thời kì thơ ấu".

Một số ý kiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục hoặcgiáo dục tình dục, giáo dục tình yêu Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận củagiới tính Sự thu hẹp phạm vi của giáo dục giới tính như vậy có thể sẽ đưađến tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính

Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì như thế làmhoen ố tâm hồn trong sáng, non nớt của các em, là thiếu tế nhị, không phù

hợp với môi trường sư phạm là "vẽ đường cho hươu chạy".

IU I Kusniruk và A P Sevbakov đã nhận xét về quan niệm trên: "Trước đây, trong một thời gian dài, có một số ý kiến cực kì sai lầm, cho rằng con người có khả năng tự định hướng một cách tự nhiên và hầu như tự động trước những vấn đề thuộc quan hệ thầm kín giữa nam và nữ, rằng việc thảo luận rộng rãi và toàn diện vấn đề này, việc tuyên truyền những kiến thức, dù trên cơ sở khoa học chăng nữa, cũng đều là thiếu đạo đức, dung tục và có khả năng đưa đến những quan tâm không lành mạnh về vấn đề quan hệ nam

nữ và đưa đến tình trạng suy đồi đạo đức.”.

Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức về những vấn đề này, cũng giống như mọi tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lí và đạo đức con người” [15].

Giáo sư Trần Trọng Thủy, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dụcgiới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức conngười

Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xétnhư là một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Có thể nói rằng, giáodục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức, tư tưởng

Từ những quan niệm trên, có thể đi đến kết luận: Giáo dục giới tính làquá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận

Trang 20

thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếpsống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để pháttriển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốtnhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội pháttriển.

1.1.2.2 Vị trí của giáo dục giới tính trong dạy học Sinh học

Theo điều tra của PGS TS Bùi Ngọc Oanh thì đa số ý kiến của giáoviên cho rằng nội dung giáo dục giới tính nên dạy lồng ghép vào môn học cóliên quan như Sinh học (69.82% - 74.48%)

Giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông ngày càng cần thiết và quantrọng Các bậc phụ huynh khó có điều kiện giáo dục tốt vấn đề này cho con

em mình “Không thể hi vọng vào chỗ gia đình đảm nhiệm tốt chức năng giáo dục giới tính… Nhiều bậc cha mẹ than phiền không biết kể cho con nghe chuyện bí mật của giới tính như thế nào Và thường người lớn không biết kể cái gì và khi nào Kinh nghiệm bản thân không đủ, sách vở khoa học vấn đề này thì ít, thậm chí dù có đủ tài liệu, các bậc cha mẹ cũng phải khước từ đàm đạo về chuyện này” Phải có người được đào tạo chuyên biệt, thầy cô giáo

hay bác sĩ làm việc giáo dục giới tính này mới có hiệu quả Hoạt động giáodục này phải được tiến hành bởi những người có chuyên môn, trình độ, đượcđào tạo một cách chu đáo và hệ thống giống như việc giáo dục, giảng dạynhững bộ môn khoa học khác nhau trong nhà trường

1.1.2.3 Mục tiêu của giáo dục giới tính

Giáo dục giới tính là vấn đề cấp thiết nhằm đảm bảo mộ số mục tiêu sau:Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ và quanniệm đúng đắn về những hiện tượng của đời sống giới tính, sinh lí tính dục,

về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ cơ quansinh dục, về sự cư xử đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với mọingười, với người khác giới, về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mĩ giới

Trang 21

tính, tình yêu, hôn nhân và đời sống gia đình, v.v…

Giúp cho các em có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biếtbảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho người bạn và cho chính mình, có khả năngchống chọi lại những cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi trụy, biếtphê phán, bác bỏ những quan niệm không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệtình dục quá sớm hoặc buông xuôi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi,yêu nhau, bỏ nhau quá dễ dàng

Giúp cho các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêngliêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thủy,biết được cái hay cái đẹp của nếp sống văn hóa văn minh

Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họphát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống giađình hạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúcđẩy xã hội phát triển, giàu mạnh

1.1.2.4 Các nguyên tắc tích hợp giáo dục giới tính

Ba nguyên tắc cơ bản khi tiến hành tích hợp giáo dục giới tính trong dạyhọc Sinh học

Nguyên tắc thứ nhất, tích hợp không làm thay đổi đặc trưng của mônhọc, kiến thức tích hợp phải có quan hệ logic chặt chẽ với Sinh học, nhưngphải được ẩn trong nội dung bài học Sinh học Điều đó có nghĩa là người dạykhông được làm thay đổi tính đặc trưng của Sinh học thành bài dạy các mônkhoa học khác

Nguyên tắc thứ hai, kiến thức tích hợp khi đưa vào bài phải được sắpxếp một cách hệ thống, với một lượng hợp lý, vừa làm phong phú thêm kiếnthức người học vừa nâng cao được chất lượng dạy học, nhưng phải sát vớithực tiễn, thích hợp với trình độ của người học

Nguyên tắc thứ ba, phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức củahọc sinh Kiến thức tích hợp phải phù hợp với từng đối tượng, từng thời kì

Trang 22

Phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương.

1.1.2.5 Các phương pháp giáo dục giới tính

Như đã nêu ở trên, giáo dục giới tính nhằm cung cấp kiến thức về sựhiểu biết về các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vịthành niên, đồng thời nhằm hình thành và phát triển thái độ, hành vi giúp họcsinh có những quyết định có trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực này cho hiêntại cũng như tương lai

Như chúng ta đã biết, có khoảng cách giữa kiến thức và hành vi của conngười Vì vậy, giáo dục giới tính không nên chỉ tập trung vào việc truyền đạtkiến thức mà còn phải gây được ảnh hưởng tới hành vi hiện tại cũng như saunày của lớp trẻ Loại hình giáo dục này cần chú trọng vào việc phát triển kỹnăng sống của học sinh (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định tiêu chuẩn và kỹnăng ra quyết định) nhằm đảm bảo tác động tích cực lên cuộc sống của các

em Khi những kỹ năng này của lớp trẻ được phát triển, thì sự tư tin và tựtrọng của các em cũng tăng lên và đây là những yếu tố quan trọng quyết địnhhành vi của các em

Để đạt được những mục tiêu trên, một yêu cầu lớn đặt ra là phải đổi mớiphương pháp dạy học theo tinh thần nâng cao vai trò chủ động và tích cực củangười học Dưới đây là những phương pháp dạy học mới có thể sử dụng trongquá trình giáo dục giới tính Những phương pháp này cũng có thể rất hữu ích vàphù hợp với việc giảng dạy các môn học hoặc cho giáo dục cộng đồng

* Phương pháp thuyết trình với sự tham gia tích cực của học sinh

Phương pháp thuyết trình là 1 phương pháp dạy học phổ biến nhất

thường được giáo viên vận dụng trong quá trình dạy học Dạy học theophương pháp thuyết trình thường được hiểu là: Gáo viên trình bày bài giảngtrên lớp, bằng cách:

Giới thiệu khái quát chủ đề

Giải thích các điểm chính của bài

Trang 23

Giao bài tập cho học sinh.

Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học “một chiều” Tuynhiên, giáo viên không nên sử dụng quá thường xuyên phương pháp này màphải kết hợp với các phương pháp khác để học sinh tham gia tích cực hơn vàoquá trình dạy – học

Về cách tiến hành, trước tiên, giáo viên thu hút sự chú ý của học sinh,giới thiệu chủ đề mục đích để học sinh biết được ý nghĩa và nội dung của bài.Trình bày chủ đề một cách rõ rành và súc tích Sử dụng ngôn ngữ đơn giản và

dễ hiểu đối với học sinh Đồng thời, chia nội dung bài học và công việc phảilàm theo từng giai đoạn Nêu rõ việc nào phải làm trước và việc nào làm tiếptheo (có thể dùng bảng hoặc phiếu học tập và để giúp học sinh nhớ thứ tựcông việc phải làm) Soạn ra nhưng câu hỏi gợi ý nhằm chỉ dẫn học sinh cáchtiếp thu kiến thức mới trong quá trình học Kiểm tra xem các em có thực sựhiểu bài bằng cách đưa ra những câu hỏi phù hợp với bài học ngay sau khitrình bày Khuyến khích học sinh đưa ra câu hỏi Chuẩn bị và sử dụng các đồdùng dạy học để hỗ trợ cho việc trình bày bài giảng được rõ ràng và sinhđộng

Lưu ý: Khi vận dụng phương pháp thuyết trình trong dạy học giáo viêncần dùng từ đơn giản, dễ hiểu và trình bày chậm rãi Dành cho học sinh đủthời gian để nghĩ và vẫn dụng những điều vừa nghe giảng và giáo viên cũngcần dành thời gian để trả lời câu hỏi của học sinh

Gợi ý: Mặc dù tất cả các bài học đều có thể được trình bày theo thươngpháp này, song cũng nên kết hợp với các phương pháp khác

Trang 24

học sinh phát hiện và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt Để học sinh tựnguyện hoặc để một người làm thư ký ghi tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặcgiấy to, tránh trùng lặp Phân loại và làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

và thảo luận sâu từng ý, sau đó, tổng hợp ý kiến và hỏi xem học sinh còn thắcmắc hay bổ sung gì không

Lưu ý: Phương pháp động não có thể dùng để thảo luận bất kỳ một vấn

đề nào Tuy nhiên, nó có đặc điểm phù hợp cho những vẫn đề ít nhiều đã quenthuộc với học sinh Cần hướng dẫn học sinh nêu các ý kiến phát biểu mộtcách nhanh gọn và súc tích Hoan nghênh và chấp nhận mọi ý kiến đóng gópcủa học sinh không tỏ thái độ phê phán vội vàng đúng sai Đối với bất kì một

ý kiến nào mục đích của phương pháp động não là thu được càng nhiều ýkiến càng tốt Cuối giờ thảo luận nên nhấn mạnh rằng kết luận này là kết quả của

sự tham gia chung của tất cả học sinh

Gợi ý: Phương pháp động não có thể được dùng cho rất nhiều chủ đề thảo luận trong các bài giảng

Ví dụ: Tuổi vị thành niên là gì và các biểu hiện đặc trưng nhất của

nó Vị thành niên và sức khỏe sinh sản Vị thành niên và tình dục Các bệnhlây truyền qua quan hệ tình dục và HIV/AIDS Mang thai sớm Các biện pháptránh thai.v.v…

* Phương pháp điểu tra - phát hiện

Phương pháp điều tra - phát hiện là phương pháp nhằm giúp học sinh tựmình tìm ra giải pháp trước một vấn đề mà lời giải của nó chưa có sẵn trongsách

Bắt đầu bằng việc xác định vấn đề, giáo viên gợi ý để học sinh tự đưa ramột giải pháp - giả thuyết có liên quan tới vẫn đề Sau đó, hướng dẫn họcsinh thu thập thông tin, thử nghiệm giả thuyết và rút ra kết luận

Lưu ý: Chỉ nên dung phương pháp này nếu các vấn đề không quá phứctạp Hướng dẫn học sinh tự vận dụng phương pháp này theo các bước đơn

Trang 25

giản bằng cách tự đặt ra và trả lời nhưng câu hỏi thích hợp: Cần phải tìm cáigì? Hỏi cái gì? Tìm thông tin ở đâu? Hỏi ai? Khi nào? Ghi chép ra sao? Có thểrút ra những kết luận gì từ thông tin thu thập được?

Gợi ý: Có thể áp dụng phương pháp này cho các chủ đề như: Tác độngcủa sự gia tăng dân số đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng, tìnhhình phân biệt đối xử với phụ nữ trong cộng đồng, mối quan hệ giữa cha mẹ

và vị thành niên

* Phương pháp giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là kỹ năng cơ bản cần phát triển ở học sinh Đó lànhững khả năng xem xét, phân tích điều đang xảy ra, và xác định các bướcnhằm cải thiện tình hình Khi biết cách sử dụng phương pháp giải quyết vấn

đề, chúng ta có thể tìm ra cách giải quyết cho từng vấn đề cụ thể gặp phảitrong cuộc sống hàng ngày

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theoquy trình sau: Xác định vấn đề: suy nghĩ xem vấn đề gì phải giải quyết? Thuthập thông tin có liên quan tới vấn đề và nêu các câu hỏi giúp giải quyết vấnđề: Vấn đề này xảy ra trong điều kiện nào? Xảy ra khi nào? Xảy ra ở đâu?Vấn đề có liên quan đến ai?

Lưu ý: Vấn đề được lựa chọn phải phù hợp với mục đính học tập vàgắn với thực tế Kích thích sự sáng tạo của học sinh Cách giải quyết vấn đềphải là giải pháp tốt nhất

Gợi ý: Có thể sử dụng phương pháp này cho một số chủ đề như: Làmthế nào để tăng cường nhận thức về vấn đề HIV/AIDS? Làm thế nào để đẩymạnh bình đẳng giới? Làm thế nào để nâng cao phúc lợi của vị thành niên?

* Phương pháp xác định giá trị

Phương pháp xác định giá trị nhằm thúc đẩy học sinh rèn luyện phươngpháp tư duy và xác định các giá trị cho bản thân(chú ý rằng mỗi người có cácgiá trị khác nhau)

Trang 26

Giáo viên đưa ra các câu hỏi và tạo cho học sinh nhiều khả năng lựachọn khác nhau; khuyến khích các em làm sáng tỏ những ý kiến và suy nghĩcủa mình, cân nhắc các hành động, từ đó xác định các giá trị mà mình theođuổi Cố gắng giúp học sinh nhận thức rằng mọi người có quan niệm, lòngtin, thái độ và hành vi khác nhau Điều này là hết sức bình thường và cầnđược tôn trọng Hướng dẫn học sinh cần cân nhắc, lựa chọn các khả năng dựatrên kết quả để hình thành quan niệm lòng tin, thái độ và hành vi của bản thân.

Lưu ý: Phương pháp xác định giá trị không có nghĩa là giảng dạy một hệthống giá trị nhất định nào đó, hay áp đặt các tiêu chuẩn đạo đức cho học sinh.Học sinh hoàn toàn có thể tự xây dựng các tiêu chuẩn về giá trị cho bản thânmình Mục đích của phương pháp này là giúp học sinh hình thành quan điểm

và lòng tin của bản thân mình Hãy giúp các em tin tưởng rằng các em có thểlựa chọn một cách tự do và dựa vào chính hệ thống tiêu chuẩn của bản thânmình

Gợi ý: Có thể sử dụng phương pháp này khi giảng dạy các chủ đề nhưsau: Cha mẹ, gia đình và cộng đồng, sức khỏe sinh sản và quyền sinh sản,bình đẳng giới, vị thành niên và tình dục và nhiều chủ đề khác

* Phương pháp học theo nhóm (thảo luận nhóm)

Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp đặt học sinh vào môitrường học tập (nghiên cứu, thảo luận ) theo các nhóm học sinh

Một trong những lý do chính để sử dụng phương pháp này là khuyếnkhích học sinh trao đổi và biết cách làm việc hợp tác với người khác

Học theo nhóm được sử dụng rộng rãi vì nó giúp cho mọi người thamgia tích cực vào quá trình học tập lắng nghe và ghi lại những ý kiến và quanđiểm khác nhau của mọi người, chia sẻ kinh nghiệm và quan điểm, đưa ra ýkiến giải quyết một vấn đề chung

Trang 27

Giáo viên phân chia hoc sinh trong lớp theo các nhóm nhỏ Mỗi nhóm cử

ra một nhóm trưởng và một thư ký Cả nhóm tiến hành thảo luận: Trình bàycác mục đích chung của chủ đề cần thảo luận và phạm vi thảo luận, thảo luậncác vấn đề đặt ra Nhóm trưởng có vai trò dẫn dắt buổi thảo luận, khuyếnkhích mọi thành viên trong nhóm cùng tham gia thảo luận, tránh tranh cãi cánhân và đảm bảo cuộc thảo luận đi đúng hướng bằng cách đưa ra nhưng câuhỏi đã chuẩn bị kỹ (do giáo viên giúp) Thư ký ghi lại các ý kiến được phátbiểu Các nhóm cử đại diện lên trình bày trước lớp về kết quả thảo luận nhómmình

Lưu ý: Phương pháp thảo luận nhóm chỉ có thể thành công khi: Các nhómđược giao nhiệm vụ rõ ràng kèm theo khoảng thời gian nhất định để thực hiệnnhiệm vụ Các thành viên của nhóm đều hiểu rõ nhiệm vụ của mình Cácthành viên của nhóm phải tham gia tích cực vào cuộc thảo luận phải lắng nghe

ý kiến, quan điểm của những người khác trong nhóm, v.v Có sự kiểm tracác nhóm của giáo viên để đảm bảo các em đều hiểu rõ nhiệm vụ phải làm

Gợi ý: Có thể sử dụng phương pháp này cho nhiều chủ đề khác nhaunhư: Làm thế nào để đẩy mạnh quá trình bình đẳng giới trongg độ tuổi vịthành niên? Nhận thức và phòng tránh HIV/AIDS Các chiến lược nhằm thựchiện quyền trẻ em

* Phương pháp đóng vai

Đóng vai là một phương pháp để học sinh thực hành một hoặc một sốnhiệm vụ hay cách ứng xử nào đó trong một môi trường được quan sát bởinhiều người khác theo một tình huống nhằm tạo ra vấn đề cho nhưng thảoluận

Giáo viên đưa ra cho học sinh tình huống cụ thể để diễn tả trước lớp (cácvai được xác định rõ ràng) Lựa chọn vai Học sinh có thể xung phong hay dogiáo viên chỉ định Dành thời gian cho các vai diễn chuẩn bị cách thể hiện Bắtđầu diễn xuất (học sinh có thể diễn xuất theo ý muốn và trình diễn theo ý

Trang 28

muốn và trình diễn khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng và cảm xúc của bảnthân) Giáo viên yêu cầu các học sinh khác quan sát diễn xuất và cho ý kiếnlúc kết thúc Những người đóng vai hội ý cách thể hiện Nêu rõ nhiệm vụ củakhán giả, đề nghị khán giả đặt mình vào vị trí vai diễn và xem họ suy nghĩ gì

và sẽ hành động như thế nào Giáo viên nhận xét về các vai diễn đã chọn đểgiải quyết vấn đề và đánh giá cách giải quyết vấn đề và xem đây có phải làgiải pháp tốt nhất hay còn các giải pháp khác

Lưu ý: Phương pháp đóng vai chỉ hiệu quả khi:Mục đích của tình huốngphải rõ ràng, người đóng vai phải hiểu rõ vai trò của mình Những học sinhnhút nhát cũng cần được khích lệ tham gia hoạt động này

Gợi ý: Có thể sử dụng phương pháp này cho các chủ đề sau: Tình bạn vàtình yêu (ví dụ: từ chối không đi chơi khuya với bạn trai), áp lực của bạn bècùng lứa (ép những bạn khác cùng hút thuốc hoặc uống rượu), bạn khác giới(bạn trai cố ép bạn gái quan hệ tình dục), quan hệ vị thành niên – cha mẹ

* Trò chơi mô phỏng

Trò chơi mô phỏng là một phương pháp rất có hiệu quả nhằm thu hút sựtham gia của học sinh Học sinh học về một vấn đề thông qua việc tham dựmột trò chơi Trong cuộc chơi, mọi học sinh đều bình đẳng và cố gắng đạt kếtquả tới mức cao nhất Đây là biện pháp giúp học sinh tăng cường hứng thútrong học tập, nâng cao sự chú ý và giảm bớt mệt mỏi trong quá trình học tập.Trước tiên, giáo viên phổ biến luật chơi, thời gian chơi để đảm bảo họcsinh nắm được quy tắc chơi Sau khi trò chơi kết thúc, giáo viên tổng kết lạicho học sinh biết họ đã học được gì qua trò chơi này

Lưu ý: Xác định rõ mục đích của trò chơi Các trò chơi phải dễ tổ chức

và dễ thực hiện Các trò chơi không được tốn nhiều thời gian, sức lực để tránhảnh hưởng tới giờ học tiếp theo

Gợi ý: Có thể sử dụng phương pháp này: Để giới thiệu bài học mới, đểkhởi động, thư giãn đầu óc cho học sinh, chuyển tải một số kiến thức nào đó

Trang 29

Vì vậy, nên khuyến khích áp dụng xen kẽ phương pháp này trong các buổihọc, bài học của tất cả các chủ đề.

Điều quan trọng là giáo viên phải biết cách trình bày và tổ chức thảoluận các chủ đề về giáo dục giới tính một cách thú vị, chủ động với học sinhnhằm làm cho học sinh tích cực và hứng thú với chủ đề học Mọi phươngpháp nêu trên đều có những thuận lợi và khó khăn cho người dạy và ngườihọc Tùy theo từng nội dung và trình độ của học sinh, với các tài liệu vàphương tiện dạy học sẵn có, giáo viên cần chủ động lựa chọn phương phápdạy phù hợp nhất Nên cố gắng thay đổi các phương pháp khác nhau, tránhdùng mãi một vài phương pháp

Những phương pháp dạy học đưa ra trong bài chỉ là để tham khảo và cóthể thay thế bằng phương pháp khác

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về tình hình giáo dục giới tính

1.2.1.1 Tình hình giáo dục giới tính trên thế giới

Tại Hoa Kỳ - Quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới, hầu hết học sinhđều nhận được một hình thức giáo dục giới tính ít nhất một lần trong khoảng

từ lớp 7 đến lớp 12, nhiều trường đề cập tới một số chủ đề ngay từ lớp 5 haylớp 6 Tuy nhiên, những điều mà học sinh được thu nhận rất khác biệt, bởiviệc quyết định nội dung chương trình rất phân tán Nhiều bang có quy định

về nội dung được dạy trong các lớp giáo dục giới tính hay cho phép cha mẹlựa chọn cho con cái không tham gia Một số bang trao quyền quyết định chocác trường thuộc các quận riêng biệt

Giáo dục giới tính tại Đức lại được xem là một phần của chương trìnhhọc từ năm 1970 Từ năm 1992, giáo dục giới tính được luật pháp quy định làtrách nhiệm của chính phủ Giáo dục giới tính đề cập đến mọi chủ đề liênquan tới quá trình lớn lên, những thay đổi về cơ thể khi dậy thì, các cảm xúc,các quá trình sinh học của sinh sản, hoạt động tình dục, quan hệ tình cảm,

Trang 30

đồng tính, mang thai ngoài ý muốn và những phức tạp của việc phá thai,những nguy hiểm của bạo lực tình dục, lạm dụng tình dục, lạm dụng trẻ em

và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhưng thỉnh thoảng là cả các chủ

đề như tư thế quan hệ tình dục, …

Tại châu Phi, giáo dục giới tính lại tập trung trên việc ngăn chặn sự lâytruyền AIDS Hầu hết các chính phủ trong khu vực đã thành lập các chươngtrình giáo dục về AIDS với sự trợ giúp của tổ chức Y tế Thế giới và các tổchức Phi Chính phủ quốc tế

Tình trạng các chương trình giáo dục giới tính ở những mức độ pháttriển rất khác nhau Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệthống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học Malaysia, Philippines

và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khỏe sinh sản thanh niên với một quanđiểm phát triển giáo dục riêng biệt cho thanh niên, các nhu cầu sức khỏe sinhsản thanh niên với một quan điểm phát triển giáo dục riêng biệt cho thanhniên Tại Ấn Độ một cuộc tranh luận lớn về nội dung giáo dục giới tính và khinào cần tăng cường giáo dục giới tính Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắtbuộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập đến chủ đề Sinh học như kinh nguyệt

Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều điạ phương, nhiều trường học vẫn không

Trang 31

nghiêm túc thực hiện, hoặc chỉ thực hiện một cách cầm chừng, một cách hìnhthức để đối phó với các đợt kiểm tra của Bộ.

Lực lượng các nhà nghiên cứu, các giáo viên làm công tác giáo dục giớitính, giảng dạy kiến thức giới tính cho học sinh còn rất thiếu Trong nhiềutrường phổ thông không có giáo viên được đào tạo chuyên môn để giảng dạynhững kiến thức này Trong trường sư phạm, việc trang bị những kiến thứcgiới tính cho sinh viên và cho giáo sinh cũng chưa được quan tâm

Việc đào tạo cán bộ chuyên khoa về ngành này chưa được thực hiệnmột cách tập trung, hoàn chỉnh, chưa có chương trình đào tạo chuyên ngành,nội dung giảng dạy còn đơn giản, sơ lược

1.2.1.3 Tình hình nghiên cứu khoa học về giới tính

Việc nghiên cứu về giới tính, đặc biệt là tâm lí học giới tính và giáo dụchọc giới tính ở nước ta hiện nay đang được qua tâm và phát triển mạnh mẽ

Có nhiều quan điểm khác nhau về đời sống giới tính, về những thuật ngữ

cơ bản được sử dụng trong các ngành khoa học về giới tính (giới, giới tính, tính dục, tình yêu v.v…).

Có nhiều biểu hiện phức tạp trong việc nghiên cứu về giới tính Sự lẫnlộn giữa các khái niệm, các thuật ngữ về giới và giới tính Có người cho rằng,giới chỉ là những đặc điểm xã hội, do xã hội tạo ra Ngược lại, giới tính lại chỉđược hiểu là những đặc điểm về sinh lí và không biến đổi Nhiều thuật ngữnhư: Tính dục và tình dục, giới và giới tính v.v… thường bị sử dụng lẫn lộnhoặc phiến diện, lệch lạc Nội hàm của một số khái niệm chưa được thốngnhất như giới tính, tính dục, sức khỏe sinh sản Sự pha trộn các quan điểmphương Tây với những quan điểm truyền thống Việt Nam Trong xã hội,nhiều người cho rằng không cần thiết phải giáo dục giới tính trong nhàtrường, trong thanh niên, nhiều người có quan niệm tình dục tự do, tình yêukhông cần hôn nhân v.v… Những tồn tại của các quan điểm phong kiến lạchậu về các hiện tượng của đời sống giới tính Sự xuất hiện nhiều tài liệu, sách

Trang 32

báo thiếu khoa học về vấn đề giới tính, nhằm mục đích chạy theo thị hiếu,chạy theo kinh doanh, thậm chí có sự nhầm lẫn giữa các sách báo, tài liệukhoa học về vấn đề giới tính, với các sách báo mê tín dị đoan hoặc mang tínhkích dục, khiêu dâm, đồi trụy v.v… Những sách này thiếu tính giáo dục, tínhkhoa học, nhiều khi chỉ kích thích tính tò mò, gây tác hại cho thanh thiếu niên.Các văn hóa phẩm đồi trụy hoặc các văn hóa phẩm theo quan điểm nướcngoài nhiều khi gây tác dụng tiêu cực trong giáo dục thanh thiếu niên, khôngphù hợp với phong tục truyền thống Việt Nam Ngược lại, những tư tưởng,quan điểm phong kiến khắt khe, lạc hậu vẫn song song tồn tại trong đời sống

xã hội, trong nghiên cứu và đánh giá các vấn đề của đời sống giới tính

Nhận thức của nhiều tầng lớp xã hội như: phụ nữ, thanh thiếu niên,người lớn, thậm chí, có cả một bộ phận không nhỏ của nhà giáo, giới trí thức

về nhiều vấn đề của đời sống giới tính còn thấp, hoặc phiến diện, hoặc sailầm Những phương tiện thiết bị nghiên cứu về vấn đề giới tính còn rất hạnchế Do điều kiện xã hội phong kiến, những phương pháp nghiên cứu chưathật sự đa dạng và toàn diện, kể cả phương pháp điều tra xã hội học cũng khó

có thể phát huy hết tác dụng, không thể hỏi nhiều vấn đề tế nhị

Việc nghiên cứu về giới tính đang được quan tâm nhưng kết quả chưathật sự cao, thậm chí còn có lệch lạc trong một số công trình nghiên cứu

1.2.2 Tình hình giáo dục giới tính thông qua dạy học Sinh học ở trường phổ thông

1.2.2.1 Mục đích của giáo dục giới tính trong trường phổ thông

Theo SIECUS, Hội đồng Thông tin và Giáo dục Giới tính Hoa Kỳ, 93%người lớn được họ khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổthông và 84% ủng hộ nó tại các trường trung học cơ sở Trên thực tế, 88%cha mẹ học sinh các trường trung học phổ thông và 80% cha mẹ học sinh cáctrường trung học phổ thông tin rằng giáo dục giới tính trong trường học giúp

họ cảm thấy dễ dàng hơn khi trò chuyện với con mình về tình dục

Trang 33

Thực chất, việc giáo dục giới tính phải được tiến hành càng sớm càngtốt Ở mỗi lứa tuổi nhất định, cần có những nội dung, chương trình, phươngpháp giáo dục thích hợp Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của từng quốc gia,từng vùng, từng thời kì v.v… việc giáo dục giới tính có thể bắt đầu ở nhữnglứa tuổi khác nhau.

Giáo dục giới tính hiện là một phần trong chương trình giảng dạy ởtrường học ở một số nước trong khu vực, cho thấy rằng các chương trình nàykhông được thiết kế nhằm chuẩn bị cho vị thành niên trước đòi hỏi của tươnglai, không phù hợp với kinh nghiệm của vị thành niên về quan hệ tình dục, ítkhi động chạm đến các chủ đề như các biện pháp tránh thai, bệnh lây truyềnqua con đường tình dục HIV/AIDS, tình dục, bạo lực và lạm dụng tình dụcv.v…

Hệ thống giáo dục hiện nay, chủ yếu dạy về tri thức mà ít chú ý đến việcxây dựng kỹ năng sống cho vị thành niên Như vậy, giáo dục giới tính nhằmcung cấp thông tin và kiến thức đồng thời trang bị kỹ năng sống tự tin bướcvào đời

1.2.2.2 Nội dung giáo dục giới tính trong trường phổ thông

Việc xây dựng nội dung giáo dục giới tính theo chương trình giáo dụcphổ thông đã được sự quan tâm nhiều của các nhà khoa học Nhiều công trìnhnghiên cứu đều thống nhất rằng, cần có chương trình giới tính theo từng lứatuổi, từng cấp học

Năm 1990, Chương trình Quốc gia nghiên cứu về Giáo dục giới tính vàĐời sống gia đình đã xây dựng chương trình giáo dục giới tính cho học sinhtrung học cơ sở và trung học phổ thông, trước hết tập trung vào lứa tuổi từlớp 9 đến lớp 12, theo nội dung cụ thể sau:

* Chương trình lớp 9 bao gồm các chủ điểm: Giới tính và sự khác biệt nam nữ Những biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì

Trang 34

Những biến đổi tâm lí ở tuổi dậy thì.

Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nam.Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nữ.Hiện tượng kinh nguyệt

Sự thụ thai và phát triển thai

Gia đình

Các mối quan hệ gia đình

* Chương trình lớp 10 bao gồm các chủ điểm: Gia đình

Các giai đoạn phát triển của gia đình Các mối quan hệ gia đình

Cách cư xử trong các mối quan hệ gia đình Bổn phận làm con

Tình người

Cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục nam, nữ

Sự thụ thai và phát triển của thai

Dấu hiệu của thai nghén và sự sinh con

Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai.Các bệnh lây lan qua đường tình dục

Trang 35

Có thai ở tuổi vị thành niên và các hậu quả.

Vấn đề của vợ chồng trẻ

Chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh

Việc thực hiện giảng dạy các nội dung trên trong trường phổ thông được tiến hành theo các hướng:

Tích hợp (hoặc kết hợp, lồng ghép) với các môn khoa học có liên quan (Sinh học, Giáo dục công dân…).

Giảng dạy theo những tiết học riêng

Đưa vào nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp

Kết hợp với các hình thức sinh hoạt ngoại khóa, đặc biệt kết hợpvới việc giáo dục bằng phim ảnh, diễn kịch, và các loại hình hoạtđộng nghệ thuật

Tổ chức các hoạt động tư vấn học đường

1.2.2.3 Vai trò của môn Sinh học trong giáo dục giới tính

Tri thức giải phẫu, sinh lý người – động vật là cơ sở khoa học để tìmhiểu và giải quyết vấn đề giáo dục giới tính Thanh niên thường không biết cơthể họ thực hiện chức năng sinh dục và sinh sản như thế nào, và thườngmong muốn có cơ hội trao đổi những vấn đề này với người lớn tuổi hiểu biếtvấn đề mà không chỉ trích họ

Giáo dục giới tính trước hết nhằm cung cấp kiến thức và sự hiểu biết cơbản vấn đề sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho vị thành niên, đồngthời hình thành và phát triển thái độ, hành vi giúp học sinh có được nhữngquyết định có trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực này cho hiện tại cũng nhưtương lai

Tri thức giải phẫu, sinh lí người – động vật nói riêng và sinh học cơ thểđộng vật nói chung bản thân đã tích hợp các tri thức về giới tính

Sinh học cơ thể động vật là môn khoa học chuyên ngành của sinh họcnghiên cứu về cấu tạo, chức năng và các quy luật hoạt động sinh sống của

Trang 36

từng tế bào, cơ quan, các hệ cơ quan của cơ thể động vật và con người, trongmối quan hệ mà cơ thể là một khối thống nhất về cấu tạo và chức năng luôn

có sự liên hệ mật thiết với môi trường sống dưới sự điều khiển, điều hòa của

hệ thần kinh và thể dịch trong cơ thể

Ví dụ: Bài 37 – Sinh học 11: Sinh trưởng và phát triển ở động vật Kiếnthức sinh học cơ thể Động vật, chứa đựng trong đó kiến thức giới tính về quátrình sinh trưởng phát triển của người từ giai đoạn phôi thai đến giai đoạn sausinh Những biến đổi tâm sinh lí trong giai đoạn dậy thì

Hay bài 47 – Sinh học 11: Điều khiển sinh sản ở Động vật và sinh đẻ có

kế hoạch ở Người, chứa đựng kiến thức giáo dục giới tính về quá tình mangthai, sự mang thai sớm, các biện pháp tranh thai, hiện tượng nạo phá thai vàhậu quả v.v…

1.2.3 Thực trạng về giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông

Vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông đã bắt đầu được sựquan tâm của các nhà khoa học giáo dục Tuy nhiên còn một số tồn tại như:

Vẫn còn những băn khoăn e ngại của một số giáo viên, học sinh vàphụ

huynh khi tiếp cận với những bài thuộc về lĩnh vực nhạy cảm (tình dục,tình yêu, cấu trúc hệ cơ quan sinh dục, kinh nguyệt, …), đặc biệt là việc dạynhững gì, dạy như thế nào

Hiện nay, vẫn còn nhiều người, nhiều sách báo, tài liệu đề cập đếnnhững vấn đề này một cách lệch lạc, phiến diện, theo chiều hướng đi sâu vàonhững khía cạnh, kiến thức có tính hấp dẫn, kích thích trí tò mò của học sinhnhiều hơn là giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn ở các em Vì vậy, nếu khôngthận trọng, việc giáo dục những tri thức này lại gây ra tác dụng phản diệnnhiều hơn

Các nội dung khác tuy không khó khăn, phức tạp như những kiến thứctrên nhưng vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc trong một số

Trang 37

trường phổ thông Thậm chí, một số trường, một số nhà quản lí giáo dục còn

bỏ qua hoặc không thực hiện đầy đủ các nội dung và thời lượng giảng dạy cácvấn đề giới tính theo quy định chung vì nhiều lí do: Dồn thời gian vào dạynhững môn mà họ cho là trọng tâm, quan trọng nằm trong nội dung thi tốtnghiệp, coi nhẹ những nội dung tri thức này, hoặc các quan niệm cho rằngkiến thức này không cần thiết, không cần dạy trong trường phổ thông v.v…Chưa có sách giáo khoa chính thức về giáo dục giới tính, việc tích hợpcác kiến thức giới tính trong các môn liên quan như Sinh học, Giáo dục giớitính, chưa được thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện, chưa được thể hiện rõràng trong các sách giáo khoa Vì vậy, giáo viên không có đủ tài liệu giảngdạy cần thiết

Trang 38

CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG SINH HỌC CƠ THỂ ĐỘNG VẬT – SINH HỌC 11 2.1 Phân tích cấu trúc nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

Sinh học cơ thể động vật là môn khoa học chuyên ngành nghiên cứu cácchức năng và hoạt động chức năng của các tế bào, các cơ quan và hệ cơ quancủa cơ thể động vật nói chung và của con người nói riêng trong mối quan hệgiữa chúng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Đồng thời nó cũngnghiên cứu sự điều hòa các hoạt động chức năng nhằm đảm bảo cho cơ thểđộng vật và con người tồn tại, phát triển và thích ứng được với sự biến đổicủa môi trường

Sinh học 11 đi sâu một lĩnh vực tương đối khó nhưng lý thú của Sinhhọc, đó là Sinh học cơ thể Thực vật và Động vật Trong đó Sinh học cơ thểĐộng vật gồm bốn nội dung:

Nội dung 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Động vật gồm các bài:Bài 15, 16: Tiêu hóa ở Động vật

Bài 17: Hô hấp ở Động vật

Bài 18, 19: Tuần hoàn máu

Bài 20: Cân bằng nội môi

Bài 21: Thực hành đo một số chỉ tiêu sinh lí ở người

Nội dung 2: Cảm ứng ở Động vật gồm các bài:

Bài 26, 27: Cảm ứng ở Động vật

Bài 28: Điện thế nghỉ

Bài 29: Điện thế hoạt động và sự lan truyền xung thần kinh

Bài 30: Truyền tin qua xinap

Bài 31, 32: Tập tính ở Động vật

Bài 33: Thực hành xem phim về tập tính ở Động vật

Trang 39

Nội dung 3: Sinh trưởng và phát triển ở Động vật gồm các bài:

Bài 37: Sinh trưởng và phát triển ở Động vật

Bài 38, 39: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển ở Động vật

Bài 40: Thực hành: Xem phim về sinh trưởng và phát triển ở Độngvật

Nội dung 4: Sinh sản ở Động vật

Bài 44: Sinh sản vô tính ở Động vật

Bài 45: Sinh sản hữu tính ở Động vật

Bài 46: Cơ chế điều hòa sinh sản

Bài 47: Điều khiển sinh sản ở Động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người

2.2 Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tích hợp giáo dục giới tính qua dạy học nội dung Sinh học cơ thể Động vật – Sinh học 11

2.2.1 Mục tiêu của giáo dục giới tính

Thông qua giảng dạy nội dung Sinh học cơ thể Động vật ở trường phổthông, giúp học sinh có hệ thống kiến thức cơ bản về giới tính Cụ thể:

Nâng cao kiến thức và hiểu biết của học sinh về những biến đổi diễn ra

Giúp học sinh hiểu được hậu quả của các bệnh lây truyền qua quan hệ

Trang 40

tình dục và HIV/AIDS đối với sức khỏe vị thành niên và xác định rõ con đường lây nhiễm bệnh và cách phòng tránh hữu hiệu.

2.2.2 Nội dung giáo dục giới tính

Trong chương trình giáo dục phổ thông, các nội dung giáo dục giới tính gồm những nội dung cơ bản sau:

Những biến đổi cơ thể của tuổi dậy thì

Những biến đổi tâm lí ở tuổi dậy thì

Cấu tạo vào chức năng cơ quan sinh dục nam

Cấu tạo vào chức năng cơ quan sinh dục nữ

Hiện tượng kinh nguyệt

Sự thụ thai và phát triển thai

Dấu hiệu thai nghén và sự sinh con

Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

Có thai ở tuổi vị thành niên, nạo phá thai và các hậu quả

Các bệnh lây lan qua đường tình dục

2.2.3 Phương pháp tích hợp kiến thức giáo dục giới tính trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11

Khi giảng dạy những bài có nội dung giáo dục giới tính giáo viên cóthể tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích cấu trúc, logic nội dung bài học để xác định các nộidung giáo dục giới tính, qua đó đề xuất các phương pháp và hình thức tíchhợp giáo dục giới tính

Bước 2: Lựa chọn, xác định nội dung, liều lượng kiến thức giáo dụcgiới tính cần tích hợp một cách phù hợp

Bước 3: Tổ chức các hoạt động nhằm phát hiện kiến thức sinh học vàkhai thác ý nghĩa của các đơn vị kiến thức trong lĩnh vực giáo dục giới tính

Bước 4: Tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm phát triển ứng dụngcác đơn vị kiến thức trong việc xử lí ra quyết định giải quyết các vấn đề giới

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w