Saponin có một số tính chất đặc biệt:- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch.. - Độc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô
Trang 1HÓA HỌC CÁC CHẤT CÓ HỌAT TÍNH SINH HỌC
Trang 2CÁC HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH
HỌC
Trang 3STEROL, SAPONIN TRITERPENOID & SAPONIN STEROID 1.Sterol và Metyl sterol:
Sterol là những ancol thể rắn có cấu trúc 27-29 nguyên tử
cacbon Sterol trong động vật gọi là cholesterol, còn trong thực vật gọi là phytosterol,β -sitosterol, egosterol, stigmasterol,
nhưng đều có chung một khung cơ bản cyclopentanoperhydro phenanthren và một chuỗi ngang với các nhóm metyl(egostan) hay etyl(stigmestan), đặc biệt là ở cacbon C 24
Trang 4 Một số sterol có nhóm metyl gắn ở C4 hay C14, các chất này được gọi là metylsterol Tất cả sterol đều có nhóm OH ở
C3 Các sterol có dây nối đôi gọi là stenol, còn không có, gọi là stanol
1
2 3
8
9 10
11 12 13
16 17 18
Trang 612 13 14
15 16
17
18 26
19
27
26
18 17 16 15 14
13
12 11
10 9 8
7 6
5 4 3
HO
1 2 3
4 5 6 7
8
9 10 11
12 13 14
15 16
17
18 26
27
19 20 21
22 25
Olean β-amyrin α-amyrin
Trang 7Sapogenin Đặc điểm cấu trúc
21,22-OH, 23-CH 2 OH 21-OH, 23-CH 2 OH Một số dẫn xuất của β-amyrin :
Trang 9HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA
SAPONIN
Trang 105 SAPONIN
Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà
phòng (vì bọt như xà phòng), là một nhóm glucosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật Người ta cũng phân lập được saponin trong động vật động vật như hải sâm, cá sao.
Trang 11Saponin có một số tính chất đặc biệt:
- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch
- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng.
- Độc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu
mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm
như giun, sán, ốc sên.
- Khi ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng.
- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất
3-β -hydroxysteroid khác.
Trang 12Sapogenin cung cấp nhiều loại thuốc quan trọng
Tác dụng bổ, tăng cường sinh lực : Saponin trong họ
Hạ Cholesterol trong máu : ngưu đất cỏ xước.
Riêng nhóm Saponin steroid là nguồn nguyên liệu quan trọng cho kỹ nghệ bán tổng hợp các thuốc cocticoid và hạn chế sinh đẻ
Trang 13 Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin
Ví dụ: Sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol
Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong cam thảo bắc, abrusosid trong cam thảo dây,
oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt.
Trang 14Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin
Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyt, ammoni sulfat.
Saponin khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này để tinh chế kết tinh saponin.
Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saopnin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm.
Dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: Saponin triterpenoid và saponin steroid.
Trang 15 Saponin làm tăng sự thấm của tế bào; sự có mặt của
saponin sẽ làm cho các hoạt chất khác dễ hoà tan và hấp thụ, ví dụ trường hợp digitonim trong lá Digital
-Một số saponin có tác dụng chống viêm
-Một số có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm Ức chế virus.
Trang 16- Một số có tác dụng chống ung thư trên thực nghiệm
- Nhiều saponin có tác dụng diệt các loài thân mềm ( nhuyễn thể ).
- Saponin steroid dùng làm nguyên liệu để bán tổng hợp các thuốc steroid.
- Digitonin dùng để định lượng cholesterol.
- Một số nguyên liệu chứa saponin dùng để pha nước gọi đầu, giặt len dạ, tơ lụa
Trang 17 Về mặt phân bố : Saponin triterpen phân bố khá rộng nhưng chủ yếu là ở trong cây 2 lá mầm Đáng chú ý nhất là họ Nhân sâm với 2 dạng terpenoid đặc trưng là Damaran trong chi
Panax và dạng Oleanin trong các chi còn lại.
Trang 18ĐẠI CƯƠNG VỀ GLYCOSID , ALCALOID & FLAVONOID
Đây là những nhóm hợp chất hữu cơ có trong thực vật, chúng không được liệt vào Dầu béo hay Tinh dầu, nhưng lại có mặt trong cả hai với hàm lượng thấp
Để có khái niệm chung về các hợp chất hữu cơ trong thực vật, chúng ta để chúng vào phần TINH DẦU,và chỉ giới thiệu sơ lược
Trong phần các hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học, chúng
ta sẽ đi sâu hơn về những nhóm này
Trang 191 Glicosid.
1.1: Định nghĩa
Theo nghĩa rộng, glycosid là những hợp chất hữu cơ tạo thành do sự ngưng tụ giữa một phân tử đường với một phân tử hữu cơ khác với điều kiện nhóm hydroxy bán acetal của phần đường phải tham gia vào sự ngưng tụ.
Theo quan niệm trên thì các oligosaccarid hoặc
polysaccarid cũng là những glycosid và được gọi là “holosid”.
Trang 20 Theo quan niệm chặt chẽ, glycosid chỉ dùng cho những chất tạo thành do sự ngưng tụ giữa một phần là đường và một
phần không phải đường do đó có tên gọi là heterosid để phân biệt với holosid.
Phần không phải là đường được gọi là aglycon hoặc
genin , có cấu trúc hoá học rất khác nhau, tác dụng sinh học phụ thuộc vào phần này.
Trang 21OH HO
OH
OH CH2OH
Trang 22 Ví dụ puerarin là một C-glycosid có trong sắn dây, barbaloin là glycosid có trong lô hội.
OH OH
OH
CH2OH O
HO H
Trang 23N-O-SO O X 2 - + S-glucose
Trang 24 Crotonosid có trong hạt ba đậu là một N-glycosid.
OH
H HO
N
N
NH2
N O
H
N
Trang 25 1.2.Một số tính chất cơ bản của Glycoside:
Năng suất quay cực thường là trái.
Trang 26Meissner là người đầu tiên đưa ra khái niệm về alcaloid và có
định nghĩa alcaloid là những hợp chất hữu cơ, có chứa ni tơ, có phản ứng
kiềm và lấy từ thực vật ra.
Sau này Pôlônôpski đã định nghĩa:
“Alcaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa ni tơ Đa số có nhân dị vòng Có phản ứng kiềm thường gặp trong thực vật và đôi khi trong động vật, thường có dược lực tính rất mạnh và cho những phản ứng hoá học với một số thuốc thử gọi là thuốc
thử chung của alcaloid”
Trang 27Đã từ lâu các nhà khoa học tìm thấy trong cây các hợp chất tự nhiên, những hợp chất này thường là những acid hoặc những chất trung tính
Đến năm 1806 một dược sĩ là Friedrich
Wilhelm Sertüner phân lập được một chất từ nhựa thuốc phiện có tính kiềm và gây ngủ mạnh đã đặt tên là “Cinchonino”, sau đó
chiết được chất kết tinh từ vỏ cây Canhkina
và đặt tên là “Cinchonino”,
Trang 28sau đó P.J Pelletier và J.B.Caventou lại chiết
được hai chất có tính kềm từ một loài Strychnos đặt tên là strychnin và brucin
Đến năm 1819 một dược sĩ là Wilhelm Meissner
nghĩa: Alcaloid là những hợp chất hữu cơ, có
chứa nitơ, có phản ứng kiềm và lấy từ thực vật ra
Trang 30
1 Alcaloid có phổ biến trong thực vật, ngày nay đã biết khoảng trên 6.000 Alcaloid từ hơn 5.000 loài, hầu hết ở thực vật bậc cao chiếm khoảng 15 - 20% tổng số các loài cây,
Tập trung ở một số họ :
Apocynacaae (họ Trúc đào) có gần 800 alcaloid,
Papaveraceae (họ Thuốc phiện) gần 400 alcaloid,
Fabaceae (họ Đậu) gần 350 alcaloid,
Rutaceae (họ Cam) gần 300 alcaloid,
Liliaceae (họ Hành) 250 alcaloid,
Solanaceae (họ Cà), gần 200 alcaloid,
Trang 312.1.Phân bố trong thiên nhiên.
Amaryllidaceae (họ Thuỷ tiên) 178 alcaloid, Menispermaceae (họ Tiết Đê) 172 alcaloid, Rublàceae (họ Cà phê) 156 Alloid;
Loganiaceae (họ Mã tiền), 150 alcaloid,
Buxaceae (họ Hoàng dương) 131 alcaloid;
Asteraceae (họ Cúc) 130 alcaioid,
Euphorbiaceae (họ Thầu dầu) 120 alcaloid
Trang 322 Trong cây alcaloid thường tập trung ở một số bộ phận nhất định
Ví dụ:
ở hạt như mã tiền, cà-phê, tỏi độc; ở quả như ớt, hồ tiêu, thuốc phiện;
ở lá như Benladon coca, thuốc chè ;
ở hoa như cà độc dược, ở thân như ma hoàng,
ở vỏ thân như canhkina, mức hoa trắng, hoàng bá,
ở rễ như ba gạc, lựu, ở củ như ô đầu, bình vôi, bách bộ …
Trang 333 Rất ít trường hợp trong cây chỉ có một alcaloid duy nhất mà thường có hỗn hợp nhiều alcaloid:
trong đó alcaloid ở có hàm lượng cao được gọi là alcaloid
Một dược liệu chứa 1 -% alcaloid đã được coi là có hàm
lượng alcaloid khá cao
Trang 345 Trong cây, alcaloid ít khi ở trạng thái tự do (alcaloid
bazơ), mà thường ở dạng muối của các chất hữu cơ như citrat, tactat, malat, oxalat, acetat …
(đôi khi có ở dạng muối của acid vơ cơ) tan trong dụng
dịch tế bào ở một số cây alcaloid kết hợp với tanin hoặc kết hợp với acid đặc biệt của chính cây đó như acid
tropic trong một số cây họ cà, acid aconitic có trong cây
ô đầu
Có một số ít trường hợp alcaloid kết hợp với đường tạo ra dạng glycoalcaloid như solasonin và solamacgin trong cây cà lá xẻ (Solanum laciniatum)
Trang 35 Alcaloid có nhân sterol
CH3
CH3 H3C
H3C
N
Solazodin Solanidin
Trang 36 Alcaloid có cấu trúc Terpen
Trang 37I.3.Hoạt tính sinh học của nhóm
Alcaloid:
Trang 38Alcaloid nói chung là những chất có hoạt tính sinh học, có nhiều
chất rất độc
Tác dụng của alcaloid thường khác nhau và tác dụng của dược liệu không phải bao giờ cũng giống như các alcaloid tinh khiết đã được phân lập; chúng được nêu trong các chuyên luận dược liệu.
Trang 39 Nhiều alcaloid có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương gây
ức chế như: mophin, codein, scopolamin, reserpin hoặc gây kích thích như: strychnin, cafein; lobelin.
Nhiều chất tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm gây kích thích: ephedrin, hordenin; làm liệt giao cảm: ergotamin, yohimbin hoặc kích thích phó giao cảm: pilocarpin, eserin; có chất gây liệt phó giao cảm: hyocyamin, atropin; có chất phong bế hạch giao cảm: nicotin, spartein, coniin.
Trong số alcaloid có chất gây tê tại chỗ: cocain
Trang 40 Có alcaloid làm tăng huyết áp (ephedrin, hydrastin), có chất làm hạ huyết áp (Yohimbin, alcaloid của ba gạc và Veratrum) một số ít alcaloid có thể tác dụng trên tim như ajmalin,
quinidin và a-fagarin được dùng làm thuốc chữa loạn nhịp
tim.
Có alcaloid diệt ký sinh trùng: quinin độc đối với ký sinh trùng sốt rét; emetin và conexin độc đối với amip dùng để chữa lỵ, Isopelletierin, arecolin dùng để chữa sán.
Trang 41 Trên thế giới hiện nay dùng nhiều thuốc tổng hợp nhưng vẫn không bỏ được các alcaloid lấy từ cây cỏ Vì có chất chưa tổng hợp được, và cũng có nhiều thuốc sản xuất tổng hợp không rẻ hơn chiết xuất hoặc tác dụng của chất tổng hợp chưa bằng tác dụng của chất lấy từ cây
⇒ có nhiều chất vẫn phải chiết xuất từ cây
Ví dụ như ajmalin, morphin, reserpin, quinin, quinidin,
cinchonin, strychnin, ergotamin, spartein, scopolamin,
eserin hoặc vừa sử dụng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên
vừa tổng hợp hoặc bán tổng hợp ví dụ như : ajmalixin,
theobromin, cafein, ephedrin, atropin, vincamin, nacein
Trang 42Bảo quản
Nói chung ở dược liệu khô các alcaloid dễ bảo quản hơn các glycosid
Tuy vậy ở một vài dược liệu như: lá coca thì hàm lượng
alcaloid cũng giảm đi trong quá trình bảo quản, một số cây ở
họ Cà có sự racemic hóa hydroxyamin thành atropin, ở cây khoả mạch có sự phân hủy alcaloid nhưng đa số dược liệu chứa alcaloid còn giữ được hoạt tính trong nhiều năm.
Trang 43Cây dừa cạn
Trang 457
4'5'6'
O
Trang 463.2 Phân bố:
Flavonoit là một trong những nhóm hợp chất phân bố rộng nhất trong thiên nhiên, ước tính đã có khoảng 2000 flavonoit đã biết rõ cấu trúc (Harbone, 1975)
Như đã trình bày ở chương trước, sự phân bố flavonoit mang một số đặc điểm có tính phân loại hệ thống.
Trang 47Nói chung flavonoit không có ở các tảo và nấm
Flavonoit đặc trưng cho các thực vật bậc cao, song song với
sự phân bố axit hydroxinamic và lignin trong cây
Có mặt trong hầu hết bộ phận của cây : hoa, quả, lá, rễ,
gỗ…và khu trú ở thành tế bào
Tham gia vào sự tạo màu sắc của cây, nhất là hoa Đó chính
là một trong những chức năng sinh lý quan trọng của
flavonoit đối với cây cỏ.
3.2 Phân bố:
Trang 48a/ Flayon
Flavon có cấu trúc chung 2 vòng benzen A và B Vòng
B gắn vào vòng C (pyran) qua dây nối ở C2
5 6
7
8 2' 3'
4' 5' 6'
O
O
1 2
3 4
5 6
7
8 2' 3'
4'
5' 6'
7 6
5 4 3
2
1 O HO
OH
OH HO
OH
Trang 497 6
3 2
1 O
OH
Trang 50I.2.Hoạt tính sinh học của nhóm
Flavonoid:
Trang 52O Flavon
1 2 3 4 5
6
2' 3'
4' 5' 6'
8
O Chalcon
1
2 3
4 5 6
1' 2'
3' 4' 5' 6'
OH O
HO HO
Flavonol(Kaempferol)
Trang 53 Các dẫn chất flavonoid có khả năng dập tắt các gốc tự do như
HO, ROO Các gốc này sinh ra trong tế bào bởi nhiều nguyên nhân và khi sinh ra cạnh DNA thì sẽ gây ra những ảnh hưởng nguy hại như gây biến dị, huỷ hoại tế bào, gây ung thư, tăng nhanh sự lão hoá
Thí nghiệm cho thấy khả năng dập tắt của một số flavonoid
theo thứ tự: myricetin> quercetin> rhammetin> morin>
diosmetin> naringenin> apigenin> catechin> 5,7 dihydroxy-3,, 4,,5, trimethoxy flavon > roninin> kaempferol> flavon.
Trang 54 + Thành phần của màng tế bào có các chất lipid dễ bị peroxyd hoá, tạo ra những sản phẩm làm rối loạn sự trao đổi chất cũng dẫn đến sự huỷ hoại tế bào
Đưa các chất chống oxy hoá như flavonoid vào cơ thể để bảo
vệ t ế bào thì có thể ngăn ngừa các nguy cơ như xơ vữa động mạch Tai biến mạch, lão hoá, tổn thương do bức xạ, thoái hoá gan…
Trang 55 +Flavonoid cùng với acid ascorbic tham gia trong quá trình hoạt động của enzym oxy hoá – khử Flavonoid còn ức chế tác động của hyaluronidase Enzym này làm tăng tính thấm của mao mạch Khi enzym này thừa thì gây hiện tượng xuất huyết dưới da mà y học gọi là bệnh thiếu vit P (P avitaminose) Các chế phẩm chứa flavonoid chiết từ các loài Citrus như “
Cemafla” , “Circularine”…, flavonoid từ lá bạc hà(diosmin) như “Daplon”, “Diosmil” flavonoid từ hoa hoè(rutin) với
nhiều biệt dược khác nhau đã chứng minh tác dụng làm bền thành mạch , làm giảm tính dòn và tính thấm của mao mạch Tác dụng này được hợp lực cùng với axic ascorrbic
Trang 56 + Tác dụng chống độc của flavonoid thể hiện làm giảm thương tổn gan, bảo vệ được chức năng gan khi một số chất độc đưa vào cơ thể súc vật thí nghiệm(CCl4, benzen, ethanol, CHCl3, qinin, novarsenol ) Dưới tác dụng của flavonoid ngưỡng ascorbic được ổn định đồng thời lượng glycogen trong gan tăng Sự tích luỹ glycogen có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan.
Việc sử dụng một số dược liệu trong điều trị viêm gan, sơ gan bảo vệ tế bào gan rất hiệu quả như: cây actiso, có biệt dược Chophyton Cây Silibum Marianum Gaertn có biệt dược” Legalon” cây bụt dấm – Hisbiscus Sabdariffa
Tác dụng kích thích tiết mật thể hiện ở các chất thuộc
nhóm flavanon, flavon, flavonon và flavan – 3 – ol
Trang 57 + Flavonoid thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chứa cơ nhẵn( túi mật ống dẫn mật, phế quản và một số tổ chức khác)
Ví dụ apigenin có tác dụng giảm co thắt phế quản gây ra bởi histamin, acetylcholin, seretonin
+ Trên bộ máy tiết niệu nhiều Flavonoid thuộc nhóm flavon, flavonon, flavonol thể hiện tác dụng thông tiểu rõ rệt
Scoparoid trong sarothamnus scoparius lespecapitosid trong lespedza capitala, quercitrin trong lá diếp cá, Flavonoid của cây râu mèo đều có tác dụng thông tiểu
Trang 58 + Tác dụng chống loét của Flavonon thuộc các nhóm
Flavon, Flavonon, dihydroFlavonol, anthocyanin, flavan –
3 - ol, chalcon, isoflavon, biflavon, 4-arylcoumarin, 4-aryl chroman đều chứng minh bằng thực nghiệm do các chất Flavonoid này ức chế con đường sinh tổng hợp
prostagladin.
+Người ta sử dụng rutin, citrin, leucodelphinidin, querceti, catechin để điều trị ban đỏ, viêm da tổn thương da và
màng nhầy trong trường hợp xạ trị
+ Trên hệ tim mạch, nhiều Flavonoid thuộc nhóm
Flavonol, flavan3-ol, anthocyamin như quercetin, rutin, myricetin, pelargonin, hỗn hợp catechin của trà có tác
dụng làm tăng biên độ co bóp và tăng thể tích phút của
tim, thí nghiệm làm phục hồi tim khi bị ngộ độc bởi
CHCL3, quinin, methanol, bình thường lại sự rối loạn
nhịp.