1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HIỂU RÕ THẾ GỚI SINH HỌC

72 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 12,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học trong trường trung học cơ sở - Giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS là hoạt động giáo dục cung cấp cho học sinh

Trang 1

• NhiÖt liÖt chµo mõng

sinh häc

Trang 2

Chuyên đề

TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MễI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀO DẠY HỌC

SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC CƠ SỞ

Trang 3

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

1.Những vấn đề chung.

2 Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường và

đa dạng sinh học vào nội dung bài học môn sinh học ở Trung học cơ sở.

3 Vận dụng.

4 Hướng dẫn tự học

Trang 4

1.3 Tình hình bảo vệ môi trường tự thiên nhiên và đa

dạng sinh học trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

1.4 Nguyên nhân và hậu quả của suy giảm đa dạng sinh học

1.5 Một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học

Trang 5

1.1 Vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên

và đa dạng sinh học trong trường trung học cơ sở

- Giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS là hoạt động giáo dục cung cấp cho học sinh (HS) các kiến thức về sự đa dạng của các loài sinh vật và môi trường sống của chúng Giáo dục

BVMTTN và ĐDSH thông qua các hoạt động giáo dục trong trường học phát triển những kỹ năng cần thiết cho các hoạt động BVMTTN, nhằm giúp học sinh tìm ra lối sống có trách nhiệm hơn với môi

trường và tích cực hơn trong việc tham gia giải quyết vấn đề về môi trường, từ đó xây dựng một cuộc sống chất lượng hơn, bền vững hơn về mặt môi trường

- Trong những năm gần đây, giáo dục về môi trường nói chung cũng như giáo dục BVMTTN và ĐDSH nói riêng được quan tâm

ngày càng nhiều hơn trong hoạt động giáo dục tại các trường phổ thông Đó là do giáo dục BVMTTN và ĐDSH vừa hỗ trợ tích cực cho công tác giảng dạy kiến thức khoa học về tự nhiên vừa góp

phần tích cực vào hoạt động giáo dục học sinh trở thành những

công dân tốt, có ích cho xã hội

Trang 6

Mục tiêu cụ thể của giáo dục BVMTTN và ĐDSH

ở trường THCS là:

- Về kiến thức: giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS

cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về BVMTTN, về ĐDSH

và vai trò của ĐDSH với con người; cung cấp những kiến thức về hậu quả của suy giảm ĐDSH và những biện pháp bảo tồn ĐDSH trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Về nội dung này, giáo viên(GV) cần giúp các em nhớ lại những kiến thức về thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên đã được học trong các chương trình Sinh học, đồng thời các em vận dụng những kiến thức đã được học vào hoạt động bảo vệ môi trường.

- Về nhận thức: giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS

giúp HS có nhận thức đúng đắn về môi trường và những vấn đề về bảo vệ môi trường.

- Về thái độ: Giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS

khuyến khích HS tôn trọng và quan tâm hơn tới việc BVMTTN và bảo vệ ĐDSH, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động bảo vệ các loài sinh vật và môi trường sống của chúng.

Trang 7

- Về kỹ năng: Giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong

trường THCS nâng cao các kỹ năng quan sát, thu thập số liệu, phân tích, đánh giá, dự đoán, và đề xuất các biện pháp BVMTTN, ĐDSH trong đời sống hàng ngày

- Giáo dục BVMTTN và ĐDSH trong trường THCS giúp HS có kỹ năng tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng, góp phần cùng cả cộng đồng giải quyết các vần đề về môi trường

- Giáo dục BVMTTN và ĐDSH được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau, GV có thể dạy học trong các lớp học hoặc có thể tiến hành thông qua các

hoạt động giáo dục ở ngoài lớp học, GV có thể tổ chức những giờ học riêng hoặc tích hợp trong các giờ học của nhiều môn học

Trang 8

1.2 Một số kiến thức cơ bản về bảo vệ môi

trường tự nhiên và đa dạng sinh học

1.2.1 Bảo vệ môi trường tự nhiên

- BVMTTN là sự quản lý thận trọng và sử dụng khôn ngoan tài nguyên thiên nhiên (TNTN), nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống hiện tại đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng TNTN của các thế hệ tương lai

BVMTTN bao gồm những hoạt động sau:

- Tích cực gìn giữ, duy trì, cải tạo và sử dụng một cách bền vững các tài nguyên sinh vật (chủ yếu là các loài động vật, thực vật, vi sinh vật) và các tài nguyên không phải là sinh vật (tài nguyên vô sinh) có liên quan tới sinh vật

- Bảo vệ sự đa dạng của nguồn gen, sự đa dạng về các loài và các hệ sinh thái

- Sử dụng bền vững các hệ sinh thái và duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu của Trái Đất.

Trang 9

1.2.2 Đa dạng sinh học

Là toàn bộ sự phong phỳ của cỏc cơ thể sống

và cỏc tổ hợp sinh thỏi mà chỳng là thành viờn, bao gồm sự đa dạng bờn trong và giữa cỏc loài, và

sự đa dạng của cỏc hệ sinh thỏi

Một quần xã sinh vật có 3 mức độ biểu hiện

Trang 10

a ®a d¹ng di truyÒn.

- Đa dạng di truyền là sự đa dạng về gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau Đa dạng di truyền được hiểu là tần số

và sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau, bao gồm cả những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể trong quần thể hoặc giữa các quần thể, những biến dị trong các loài hoặc giữa các loài.

- Đa dạng di truyền là đa dạng ở cấp độ phân tử và đa dạng trao đổi chất, đem lại

những khác nhau cốt lõi quyết định sự đa

dạng của sự sống

Trang 11

b ®a d¹ng vÒ loµi.

- Đa dạng về loài là sự phong phú về số

lượng các loài trong quần xã, là cơ sở để tạo

nên một lưới thức ăn với nhiều mắt xích cho một

có thể chỉ ra những loài quý hiếm, đang bị đe

dọa cần được bảo vệ Cho đến nay, đã có

khoảng 1,7 triệu loài đã được mô tả

Trang 12

c ®a d¹ng hÖ sinh th¸i.

- Đa dạng hệ sinh thái là sự đa dạng về môi trường

sống của các sinh vật trong việc thích nghi với điều kiện

tự nhiên của chúng Ví dụ: sự phong phú của các hệ

sinh thái trên cạn, các hệ sinh thái nước ngọt và nước mặn …, hệ sinh thái biển

- Sự đa dạng về hệ sinh thái có liên quan chặt chẽ với

đa dạng loài Đó là do mỗi kiểu hệ sinh thái đều có đa dạng loài riêng Một hệ sinh thái trên cạn có các loài trên cạn khác với hệ sinh thái dưới nước, hệ sinh thái đồng

cỏ có các loài khác với hệ sinh thái rừng, Do vậy, bảo

vệ đa dạng hệ sinh thái là bảo vệ môi trường sống của các loài, có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ ĐDSH

Trang 13

1.2.3 Bảo vệ đa dang sinh học.

Bảo vệ ĐDSH bao gồm việc khoanh vùng

quản lý các khu vực có ĐDSH cao, phát triển

các cơ sở bảo vệ ĐDSH nhằm bảo vệ các hệ

sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện, cảnh quan môi trường, nét đẹp, nét độc

đáo của thiên nhiên, bảo vệ các loài sinh vật có giá trị bị đe dọa tuyệt chủng, lưu giữ và bảo

quản lâu dài các mẫu vật di truyền.

Nguyên nhân chủ yếu cần phải bảo vệ ĐDSH

- Nguyên nhân về đạo đức

- Nguyên nhân cân bằng sinh thái

- Nguyên nhân kinh tế

- Nguyên nhân bảo vệ các giá trị tiềm năng cho các thế hệ con cháu mai sau

Trang 14

1.2.4 Vai trò của đa dạng sinh học đối với môi

trường và cuộc sống con người

ĐDSH có vai trò chủ yếu là cung cấp

nguồn gen cho phát triển kinh tế, xã hội và duy trì sự cân bằng sinh thái của Trái Đất, không gì

có thể thay thế được:

a Đa dạng sinh học cung cấp lương thực, thực

phẩm và nguyên vật liệu cho cuộc sống con

người

b Đa dạng sinh học cung cấp nguồn gen sinh vật

Trang 15

c Đa dạng sinh học góp phần ổn

định hệ sinh thái

- Về mặt sinh thái học, một hệ sinh thái càng có

nhiều loài, nghĩa là lưới thức ăn càng có nhiều mắt xích thì hệ sinh thái đó càng có cơ sở để tồn tại ổn định Do vậy, ĐDSH có chức năng rất to lớn trong việc giữ cân bằng sinh thái của Trái Đất ĐDSH duy trì các chu trình sinh địa hoá, giữ cho khí hậu được ổn định, góp phần bảo vệ các nguồn nước và đất, tăng độ phì của đất, điều hoà dòng chảy và tuần hoàn nước, điều hoà ôxi và

khoáng chất trong khí quyển, sông suối, hồ ao, đất và biển Trên Trái Đất, rừng mưa nhiệt đới thường có

ĐDSH cao (hình 1)

- Bảo vệ ĐDSH là góp phần bảo vệ một hành tinh

xanh, kiểm soát khí hậu của Trái Đất Tài nguyên ĐDSH

là tài sản của nhân loại, điều đó có vai trò quyết định tới

sự phát triển bền vững của mỗi Quốc gia

Trang 16

Hình 1: Rừng mưa nhiệt đới có đa dạng sinh học cao.

Trang 17

1.3 Tình hình bảo vệ môi trường tự thiên nhiên và đa

sinh dạng học trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Đa dạng sinh học trên thế giới

- Trên Trái Đất ĐDSH cao nhất được cho là ở vùng nhiệt đới Rừng nhiệt đới chiếm 7% diện tích Trái Đất

nhưng chứa tới trên 50% số loài Những vùng có ĐDSH cao nhất là rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á, Trung và Tây Phi và vùng nhiệt đới Nam Mĩ

- Các nhà thực vật học ước tính rằng tổng số các loài thực vật bậc cao có mặt trên thế giới vào khoảng

250.000 loài, trong đó có tới 150.000 loài phân bố ở khu vực nhiệt đới, khoảng 85.000 loài phân bố ở khu vực Mĩ

La tinh, 21.000 loài ở châu Phi và chừng 50.000 loài ở châu Á.

Trang 18

- Chim và Thú là hai lớp động vật được điều tra kỹ lưỡng nhất, nhưng hiện nay nhiều loài chim và thú

mới vẫn tiếp tục được phát hiện Trung bình cứ mỗi năm phát hiện ra 3 loài chim mới

- Sinh vật biển rất phong phú với số lượng lớn các loài sinh vật, trong đó chỉ tính riêng động thực vật đã

có tới 200.000 loài Trong tổng số trên 180.000 loài

động vật có hơn 16.000 là các loài cá Số lượng loài lớn nhất là các loài động vật đáy (chiếm tới 98% số loài động vật, chỉ có 2% là các loài trôi nổi và bơi lội)

- Biển được các nhà khoa học đánh giá có sản

lượng sinh vật rất lớn: khoảng 550 tỉ tấn thực vật nổi, 0,2 tỉ tấn thực vật đáy, 53 tỉ tấn động vật nổi và 3 tỉ tấn động vật đáy Mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ (2%), nhưng nhóm động vật bơi lội như cá biển và cá voi lại là đối tượng khai thác lớn hơn các nhóm khác

Trang 19

Hiện nay, cùng với sự phát triển công nghiệp trên Trái Đất, tính ĐDSH đang ngày càng giảm dần Từ năm 1960 đến nay, người ta đã thống kê tới hơn 700 loài động vật có xương sống, không xương sống và thực vật có mặt đã bị tuyệt chủng Một số nhà khoa học cho rằng với tốc độ tuyệt chủng của các sinh vật như hiện nay thì đến giữa thế kỷ

21, khoảng 25% số loài Trái Đất sẽ bị mất đi ( WWF,

1991).

1.3.2 Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Các nghiên cứu đã xác định ở Việt Nam hiện nay có 4 trung tâm ĐDSH chính là: Hoàng Liên Sơn, Bắc Trường Sơn, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

a Sự đa dạng về thực vật

- Thực vật của Việt Nam rất đa dạng, cả về số lượng loài

và các hệ sinh thái Sự khác biệt lớn về khí hậu từ Bắc vào Nam, từ các đỉnh núi cao vùng biên giới phía bắc - giáp

vùng có khí hậu cận nhiệt đới vào tới mũi Cà Mau - gần

vùng xích đạo, đã tạo ra một dải rộng các thảm thực vật

bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú.

Trang 20

- Cho đến nay, đã thống kê được khoảng 10.386 loài

thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm Riêng các loài thủy sinh, chúng ta đã thống kê được 1.300 loài và phân loài thực vật thuỷ sinh, rong và tảo: gồm

có 8 loài cỏ biển, gần 650 loài rong và gần 600 loài tảo phù

du Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật ít nhất có thể lên đến 12.000 loài Trong số các loài

thực vật đã biết, có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân

sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc, làm vật liệu, tinh chế dầu

- Hiện nay một số loài cây gỗ quý như gõ đỏ, gụ mật,

nhiều loài cây thuốc quý như ba kích đã hiếm dần Thậm chí nhiều loài cây đã trở nên rất hiếm và có nguy cơ bị

tuyệt diệt như cây gỗ cẩm Lai, hoàng đàn, pơmu Sách

đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê 448 loài thực vật có nguy

cơ bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa cần được bảo vệ, trong đó có 399 loài thuộc thực vật hạt kín, 27 loài thuộc thực vật hạt trần, còn lại là các loài thuộc dương xỉ, quyển

bá, rong đỏ, rong nâu và nấm

Trang 21

b Sự đa dạng về động vật

- Hệ động vật của Việt Nam cũng hết sức phong phú, không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét đặc trưng, đại diện cho hệ động vật vùng Đông Nam Á

Bước đầu đã xác định được 11.050 loài động vật, trong đó

có 275 loài thú, 830 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài

lưỡng cư, 5.500 loài côn trùng, và rất nhiều loài động vật không xương sống khác Động vật thuỷ sinh đã thống kê đựơc 9.250 loài và phân loài, trong đó có 470 loài động vật nổi, 6.400 loài động vật đáy và 472 loài cá nước ngọt

- Việt Nam có nhiều loài động vật đặc hữu Hơn 100 loài

và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú là loài đặc hữu Nhiều loài động vật có giá trị cao cần được bảo vệ như voi rừng, Tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, bò xám (hình 2);

hổ, báo (hình 3); voọc đầu xám, voọc mũi hếch, sếu cổ trụi, nhiều loài bò sát như cá sấu, trăn, rắn, rùa (hình 4)

Trang 22

a Voi rừng b Tê giác Java

c Bò rừng (băng ten) d Bò tót

Hình 2: Hình ảnh những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (voi, Tê giác, bò rừng, bò tót), cần được bảo vệ,

được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007)

Trang 23

Hình 3: Hình ảnh những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (hổ, báo gấm) cần được bảo

vệ, được ghi trong Sách đỏ

Việt Nam (2007)

Trang 24

Hổ

Trang 25

Báo gấm

Trang 26

o: Rïa vµng p: C¸ cãc Tam Đả o

Hinh 4: Rïa vµng vµ c¸ coc Tam Đả o lµ 2 loµi cã nguy c b tuy t ch ng, ơ ị ệ ủ

c n ầ đượ c b o v , ả ệ đượ c ghi trong S¸ch đỏ Vi t Nam (2007) ệ

Trang 27

Trên bán đảo Đông Dương có 21 loài khỉ thì ở Việt Nam

có 15 loài, trong đó có 7 loài là loài đặc hữu (hình 5)

h: Voọc đầu trắng (voọc Cát Bà) i: Voọc mông trắng (Cúc Phương)

Hình 5: Hình ảnh hai loài voọc đầu trắng, voọc mông trắng có nguy cơ bị tuyệt chủng, cần được bảo vệ, được ghi

Trang 28

Có 49 loài chim đặc hữu trong vùng phụ thì ở Việt Nam có 33 loài, trong đó có 11 loài là loài đặc hữu (hình 6) Trong khi Mianma, Thái Lan, Malaixia, mỗi nơi chỉ có một loài đặc

hữu, Lào có 1 loài và Campuchia không có loài chim đặc hữu nào.

N: Tr lam m o tr ng ĩ à ắ M: Tr b c ĩ ạ

Hinh 6: Hinh nh nh ng lo i chim cã nguy c b tuy t ch ng, c n ả ữ à ơ ị ệ ủ ầ đượ c b o ả

Trang 29

Việt Nam vẫn có thể phát hiện nhiều loài sinh vật mới Vào đầu thế kỉ này, ở vùng rừng biên giới giáp với Lào và Campuchia đã phát hiện loài bò xám -

một loài bò hoang có quan hệ họ hàng rất gần gũi với bò nhà Trước đây, tại rừng Vũ Quang - Hà Tĩnh

đã phát hiện được loài trĩ cuối cùng của thế giới

Năm 1992, cũng tại rừng Vũ Quang lại phát hiện

thêm con sao la - một loài thú móng guốc có sừng rỗng Tiếp sau việc phát hiện con sao la, tại rừng Vũ Quang lại phát hiện thêm loài mang lớn (hình: 7a – 7c), to gần gấp 2 lần loài mang thường Sao la và mang lớn là 2 loài động vật có vú trong tổng số 7

loài được phát hiện trên thế giới trong thế kỉ XX

Trang 30

Việt Nam được thế giới công nhận là một nước có giá trị bảo tồn ĐDSH cao.Tuy nhiên, hiện nay có

một số lớn những loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng, hoặc đang bị đe dọa được liệt kê trong Sách

đỏ Việt Nam (2007) là một vấn đề cần được quan tâm: 101 loài động vật không xương sống, 89 loài

cá, 13 loài lưỡng cư, 40 loài bò sát, 74 loài chim, 91 loài thú Nhiều loài động vật như trâu rừng, hươu, tê giác và trĩ đã gần như bị tuyệt chủng ở Việt Nam vào thế kỉ XX, và nếu không có hành động bảo vệ khẩn cấp thì nhiều loài khác như voi châu Á, tê giác Java và cả loài sao la mới phát hiện cũng có nguy

cơ bị tuyệt chủng.

Trang 31

Sao la

Hình 7: Hình ảnh về các loài thú lớn phát hiện vào cuối thế kỷ XX tại Việt Nam

Trang 32

Mang lớn

Trang 33

Mang lớn Trường Sơn

Trang 34

c Sự đa dạng về sinh vật biển

Biển Việt Nam được đánh giá là có nhiều loài sinh vật

có giá trị kinh tế cao Cho đến nay, các nhà khoa học đã thống kê được 6.000 loài động vật đáy, 657 loài động vật phù du, 225 loài tôm biển, 15 loài rắn biển, 5 loài rùa biển, 2.038 loài cá biển (trong đó có 100 loài cá có ý nghĩa kinh tế), 43 loài chim nước, 12 loài thú biển.

động theo mùa, di cư mạnh, giới hạn sinh thái rộng

Ngoài ra, vùng ven biển có diện tích bãi ngập triều lớn, rừng ngập mặn phát triển, có nhiều đầm phá, đảo nhỏ, rạn san hô (hình 8) … là nơi sống của nhiều loại sinh vật biển có giá trị kinh tế cao, là nơi có tiềm năng trong việc nuôi trồng thuỷ sản Có tới 346 loài san hô đã được tìm thấy ở Việt Nam

Trang 35

Hình 8: R n san h« phân b ven bi n l n i có a d ng sinh h c cao ạ ố ể à ơ đ ạ ọ

San hô Cá sống trong rạn san hô

Trang 36

Các loài cá biển có giá trị kinh tế cao của nước ta chủ yếu thuộc họ cá Mú (Serranidae), cá Hồng (Lutifanidae), cá

Chình (Muraenidae) …

- Sau cá, tôm và mực cũng là tài nguyên rất quan

trọng ở ven biển Việt Nam

- Biển Việt nam là nơi sống của nhiều loài ốc có giá trị thực phẩm cao, vỏ ốc dùng làm đồ mĩ nghệ xuất khẩu

như ốc tù và (Charonia tritonis), ốc kim khối (Cassis

cornuia), ốc xà cừ (Turbo marmoratus) …

- Biển Việt Nam còn có nhiều loài sinh vật biển khác rất có giá trị như bào ngư, trai lấy ngọc, rùa biển Bào

ngư và ngọc trai có nhiều ở vùng biển Bạch Long Vĩ, Cô

Tô … Hiện nay, rùa biển nhất là đồi mồi đang trong tình trạng bị đe doạ tiêu diệt Rùa biển tập trung nhiều ở

vùng biển Trung Bộ và Nam Bộ

Ngày đăng: 21/04/2015, 00:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Rừng mưa nhiệt đới có đa dạng sinh học cao. - HIỂU RÕ THẾ GỚI SINH HỌC
Hình 1 Rừng mưa nhiệt đới có đa dạng sinh học cao (Trang 16)
Hình 2: Hình ảnh những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (voi, Tê giác, bò rừng, bò tót), cần được bảo vệ, - HIỂU RÕ THẾ GỚI SINH HỌC
Hình 2 Hình ảnh những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (voi, Tê giác, bò rừng, bò tót), cần được bảo vệ, (Trang 22)
Hình 7: Hình ảnh về các loài thú lớn phát hiện vào cuối thế kỷ XX tại Việt Nam - HIỂU RÕ THẾ GỚI SINH HỌC
Hình 7 Hình ảnh về các loài thú lớn phát hiện vào cuối thế kỷ XX tại Việt Nam (Trang 31)
Hình 9: Rừng ngập mặn nơi có đa dạng sinh học cao vùng - HIỂU RÕ THẾ GỚI SINH HỌC
Hình 9 Rừng ngập mặn nơi có đa dạng sinh học cao vùng (Trang 43)
w