1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn giải pháp dạy bài “thực hành quan sát hình thái nhiễm sắc thể” trong sinh học 9 nhằm nâng cao hiệu quả tiết học

25 819 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 451 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để áp dụng giải pháp, trường cần phải có đầy đủ một số hóa chất cơ bảncho làm tiêu bản như: Cồn, Axit axetic, Cacmin, HCl, nước cất,...; dụng cụcần thiết: dao lam, đĩa đồng hồ, đèn cồn,

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Giải pháp dạy bài: “Thực hành: quan sát hình thái nhiễm sắc thể” trong sinh học 9 nhằm nâng cao hiệu quả tiết học.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Sinh học 9

3 Tác giả: Họ và tên: NGUYỄN XUÂN CHÍNH Nam (nữ) : Nam

Ngày tháng/năm sinh: 20 - 11 - 1981

Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Sinh

Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ Khoa học tự nhiên - TrườngTHCS Hưng Thái - Ninh Giang - Hải Dương

Điện thoại: 0968495807

4 Đồng tác giả: Không có

5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Xuân Chính

6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :

Trường THCS Hưng Thái - Ninh Giang - Hải Dương

Điện thoại : 03203.769.23

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Trường phải có bộ kính hiển vi quang học tối thiểu 4 chiếc, hộp lamkính + lamen, cùng với một số hóa chất: Cồn 900, 700; dung dịch HCl 1N; ddaxit axetic; thuốc nhuộm axeto Cacmin

- Hệ thống máy tính, máy chiếu đa năng hỗ trợ cho học tập

- Giáo viên phụ trách đồ dùng thiết bị chuyên

- Thành lập nhóm học sinh yêu thích bộ môn sinh học hỗ trợ trong côngviệc chuẩn bị

8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ năm học 2013 - 2014

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

Trong nhiều năm dạy sinh học 9, mỗi khi dạy đến bài thực hành: Quansát hình thái nhiễm sắc thể tôi lại thấy thật lúng túng, không biết dạy sao chohọc sinh hiểu bài, tổ chức sao cho học sinh hứng thú Trước tình huống tiêubản không có quan sát, tôi thường thay bằng những tấm hình sưu tầm NST đểcác em quan sát và xác định, mô tả, nhưng thấy vẫn không khả thi cho lắm.Cùng kiến thức đã được học, những kĩ năng làm tiêu bản đã được rèn, tôi đãnghĩ đến giải pháp chuẩn bị tiết học bằng những tiêu bản tạm thời, rồi quansát đã tạo ra tiết học hứng thú hơn, đúng nghĩa hơn với một tiết thực hànhsinh học

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.

Để áp dụng giải pháp, trường cần phải có đầy đủ một số hóa chất cơ bảncho làm tiêu bản như: Cồn, Axit axetic, Cacmin, HCl, nước cất, ; dụng cụcần thiết: dao lam, đĩa đồng hồ, đèn cồn, bình đựng hóa chất, lam kính,lamen, kính hiển vi quang học, Ngoài ra cần có giáo viên thiết bị chuẩn bịcùng sự hỗ trợ của nhóm học sinh

Giải pháp áp dụng chuẩn bị trong thời gian ngoại khóa, còn giảng dạytrong thời gian chính khóa Giảng dạy phần thực hành nhiễm sắc thể

Áp dụng chính của giải pháp là với chương trình sinh học 9 có thể ápdụng trong dạy bài thực hành: Quan sát nhiễm sắc thể, ngoài ra có thể ápdụng với bài thực hành: Nhận biết một vài dạng đột biến hoặc áp dụng chochương trình sinh học 12 thực hành Nhiễm sắc thể

3 Nội dung sáng kiến:

Với thực trạng cũ và một số trường hiện nay, bài thực hành không thểthực hiện theo đúng nội dung yêu cầu vì thiếu tiêu bản quan sát Giải pháp đãđưa ra hướng chuẩn bị tiêu bản tạm thời phục vụ cho dạy bài thực hành hiệuquả, rèn kĩ năng thực hành, kĩ năng sử dụng kính hiển vi cho học sinh Giảipháp chỉ rõ được cách tiến hành một tiết có sử dụng tiêu bản để quan sát,củng cố kiến thức về nhiễm sắc thể từ đó tạo hứng thú học tập bộ môn và

Trang 3

củng cố kiến thức chương.

Giải pháp dễ dàng áp dụng với tất cả giáo viên từ tiểu học dạy chươngtrình lớp 5 đến dạy chương trình sinh học 9 hay 12 Khi giảng dạy bài thựchành cần chuẩn bị trước khoảng mười ngày vì là tiêu bản tạm thời không đểđược lâu, Giáo viên có thể áp dụng với bài thực hành có sử dụng tiêu bản đểquan sát

Với việc áp dụng giải pháp sẽ giải quyết được vấn đề mà lâu nay nhiềugiáo viên sinh học còn e ngại vì không biết dạy sao cho học sinh hứng thú,hiểu bài Với một số nơi có điều kiện có thể mua trực tiếp bộ tiêu bản cố định

từ công ty thiết bị giáo dục thì bỏ giải pháp chuẩn bị tiêu bản Một bộ tiêu bảnhiện nay trên thị trường có giá khoảng 1 triệu đồng Nếu áp dụng giải pháp tựchuẩn bị tiêu bản ta có thể tiết kiệm được rất nhiều kinh phí cho mua sắmthiết bị

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.

Giải pháp đưa ra đã đem lại hiệu quả cao cho kinh tế, cho hiệu quả tiếtthực hành nói riêng và bộ môn sinh học nói chung Không những thu hútđược học sinh yêu thích môn học, hứng thu khi học tập bộ môn mà còn rènđược cho các em lòng say mê khoa học, những kĩ năng cơ bản sinh học cầnthiết, củng cố được cho các em những kiến thức về nhiễm sắc thể Từ đó nângcao chất lượng dạy và học trong nhà trường hiện nay

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.

Khi áp dụng giải pháp cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên sinh họcvới giáo viên thiết bị Nhà trường cần có cơ bản các thiết bị dạy học thiết yếu.Giải pháp có thể áp dụng với bài quan sát một số dạng đột biến, hoặc đối vớigiáo viên dạy THPT chương trình sinh học 12, áp dụng với trường hợp có tiêubản cố định Giải pháp có thể mở rộng việc chuẩn bị tiêu bản tạm thời thànhtiêu bản cố định để có thể dùng trong thời gian dài Trong thời gian tới chúngtôi sẽ phát triển sự chuẩn bị tiêu bản tạm thời thành tiêu bản cố định

Mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp để giải pháp hoàn thiện hơn!

Trang 4

1.2 Yếu tố khách quan

Trong thực tế dạy học Sinh học nói chung và dạy học các bài thực hànhSinh học 9 nói riêng Đối với các trường cơ sở ở vùng sâu, vùng xa còn gặprất nhiều khó khăn và phức tạp vì:

+ Đa số các trường chưa có phòng học bộ môn nên việc tiến hành các thínghiệm, thực hành gặp rất nhiều khó khăn

+ Các thiết bị dạy học còn thiếu nhiều, chất lượng của các thiết bị hiện

có cũng chưa cao, thậm chí là chưa đạt yêu cầu…, cũng ảnh hưởng đến việc

tổ chức một tiết thực hành thí nghiệm

+ Đối với bài thực hành: Quan sát hình thái nhiễm sắc thể thì gần nhưcác trường THCS trong huyện đều không có tiêu bản cố định để thực hành.+ Mỗi giáo viên phải dạy nhiều giờ, nhiều khối lớp, thậm chí là phải dạynhiều môn, hơn nữa trong dạy học môn Sinh học hiện nay còn phải lồng ghépnhiều nội dung như: “Lồng ghép bảo vệ môi trường vào dạy học môn Sinhhọc”, “Giáo dục kĩ năng sống trong môn Sinh học”…, nên giáo viên phảidành rất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án Vì vậy, việc chuẩn bị cho cáctiết thực hành thí nghiệm càng gặp nhiều khó khăn hơn

- Để thực hiện quy chế thiết bị giáo dục, ban hành theo quyết định số

Trang 5

41/2000/QĐ/BGD&ĐT ngày 24 tháng 03 năm 2000 của Bộ Giáo dục và Đàotạo thì giáo viên cần:

+ Thực hiện đầy đủ các bài thực hành thí nghiệm trong chương trình vàSGK

+ Làm thử thuần thục các thí nghiệm, thực hành trước giờ lên lớp

+ Đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung SGK và phương pháp dạy họcmới, giúp học sinh tiếp thu kiến thức sâu sắc và chính xác Kích thích sự hứngthú học tập, lòng say mê nghiên cứu và tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.Mỗi người giáo viên cần phải có lòng đam mê, yêu nghề và phải có kĩnăng sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học cũng như những kĩ năng thực hànhthí nghiệm nhất định Đồng thời cũng cần có những sáng tạo trong việc tự làm

đồ dùng dạy học và thực hành thí nghiệm

2 Cơ sở lý luận của vấn đề.

2.1 Vai trò của thực hành thí nghiệm trong dạy học Sinh học.

- Biểu diễn thí nghiệm là phương pháp quan trọng nhất để tổ chức chohọc sinh nghiên cứu, giải thích các hiện tượng sinh học

- Thực hành thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là

cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh

- Thực hành thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực hành để đi đếnthực tiễn

- Thực hành thí nghiệm giúp học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của hiệntượng, quá trình Sinh học

- Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn là mẫu mực về thao tác, là cơ sởchuẩn kiến thức để học sinh quan sát, nhận xét và bắt chước Dần dần, khi họcsinh biết cách và tự tiến hành được thí nghiệm, đó là cơ sở đối chứng giúp họcsinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo khi thực hành thí nghiệm, phát hiện kiến thức

- Thí nghiệm có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức củahọc sinh với các mức độ khác nhau: Thông báo, tái hiện (bắt chước) tìm tòi

bộ phận, giải thích, chứng minh, nghiên cứu tìm kiến thức mới…

Trang 6

* Tóm lại: Thực hành thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu bài mới,củng cố, hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá kiến thức Đặc biệt thínghiệm có vai trò rất quan trọng đối với việc dạy học một bài thực hành Thínghiệm có thể do giáo viên biểu diễn hoặc do học sinh tiến hành Thí nghiệm

có thể tiến hành trên lớp, trong phòng thí nghiệm, ngoài vườn, ngoài đồngruộng hoặc trong nhà…

2.2 Bản chất của phương pháp thực hành thí nghiệm.

- Thực hành thí nghiệm là nguồn tri thức mới cho học sinh, nó là điểmxuất phát cho quá trình tìm tòi của học sinh để đi đến việc hình thành kiếnthức mới

- Trong bài thực hành thì thí nghiệm lại là nguồn kiến thức vừa có vai tròxây dựng cái mới, vừa có vai trò củng cố, hoàn thiện và kiểm chứng, chứngminh một vấn đề đã được nhắc tới

- Bằng hệ thống câu hỏi có tính chất định hướng, giáo viên đã kích thích

sự hứng thú học tập, sự tìm tòi độc lập, sáng tạo của học sinh

- Bằng tài liệu quan sát được từ thí nghiệm do giáo viên biểu diễn hoặcbản thân học sinh tự tiến hành, giúp học sinh có thể phân tích, so sánh, thiếtlập mối quan hệ nhân quả, trả lời các câu hỏi để đi tới các kết luận khái quát,phản ánh bản chất của vấn đề hay hiện tượng sinh học

- Như vậy, trong phương pháp thực hành thí nghiệm, học sinh ở vị trícủa người nghiên cứu, chủ động giành tri thức nên sự lĩnh hội tri thức đượcsâu sắc hơn, đầy đủ hơn

* Thực hành thí nghiệm nghiên cứu gồm các bước sau:

+ Giới thiệu mục đích, yêu cầu thực hành thí nghiệm

+ Tổ chức phân tích các điều kiện thí nghiệm

+ Giới thiệu các bước, các thao tác tiến hành thí nghiệm

+ Giới thiệu các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá trình thí nghiệm.+ Thiết lập các mối quan hệ nhân quả từ kết quả thí nghiệm

- Để học sinh nắm được mục đích, điều kiện thực hành thí nghiệm, giáoviên nên giới thiệu trước cho học sinh, giúp học sinh thuận lợi hơn trong việc

Trang 7

xác định mục tiêu của tiết thực hành Trong tiết thực hành, quan sát thínghiệm là hoạt động nhận thức tự lực của học sinh Ở đây, thầy chỉ có vai trò

là người cố vấn, theo dõi, giám sát và là trọng tài ghi nhận những thành tíchphát hiện tri thức của học sinh

- Việc rút ra kết luận, báo cáo thu hoạch là giai đoạn cuối cùng, quantrọng nhất trong quá trình thực hành thí nghiệm, tức là sau khi học sinh thựchành thí nghiệm giải thích các hiện tượng, quá trình Sinh học xảy ra một cáchphù hợp, lôgíc, đáp ứng mục đích, yêu cầu đề ra ban đầu thì vấn đề đã đượcgiải quyết

2.3 Cách làm tiêu bản NST

Bước 1: Chuẩn bị mẫu:

* Thực vật : Mô phân sinh đầu rễ non ( chóp rễ)

Các rễ chính của hạt nảy mầm

Đỉnh sinh trưởng của cây

Các lá non Các bao phấn non

* Động vật: Tế bào bạch cầu

Tế bào tuỷ xương

 Tiêu chuẩn: tế bào dễ vỡ, NST có kích thước lớn và dễ phân biệt vớinhau

Bước 2: Cố định mẫu ( Gồm các nội dung sau )

- Đổ dung dịch cố định vào lọ rồi thả mẫu ngập trong dung dịch cố địnhngâm trong vài giờ

- Chọn thuốc cố định phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

- Lượng dung dịch cố định nhiều gấp 50 -100 lượng mẫu

- Mẫu cố định phải tơi (Cắt bỏ phần không cần thiết nếu mẫu có kíchthước lớn)

- Rửa mẫu trong cồn 70% - 80% cho đến khi hết mùi axit axetic (Có thểgiữ mẫu trong cồn 70% )

- Rửa mẫu trong nước

Trang 8

Bước 3: Thủy phân mẫu:

- Đun mẫu ở nhiệt độ 600C trong HCl 1N, trong thời gian 5 phút Rửamẫu lại trong nước để loại trừ HCl

Bước 4: Nhuộm tiêu bản:

- Nhuộn trong thuốc nhuộm với thời gian 3 – 5 phút tuỳ loại mẫu(nhuộm bằng cách nhỏ thuốc nhuộm lên tiêu bản hoặc nhúng lam kính có tiêubản vào thuốc nhuộm)

- Có thể rửa tiêu bản bằng nước để loại bỏ thuốc nhuộm thừa

Bước 5: Hoàn thiện tiêu bản:

Cho mẫu đã nhuộm lên lam kính, nhỏ vài giọt axit axetic 45% hoặccloranhiđrat, gạt bỏ các mô thừa, đạy lamen rồi ấn nhẹ lamen dàn đều từ trong

ra ngoài, tiêu bản được dàn mỏng

2.4 Sơ lược về kính hiển vi.

Kính hiển vi là một dụng cụ quang học hỗ trợ cho mắt gồm có nhiều lăngkính với các độ phóng đại khác nhau, có tác dụng làm tăng góc trông ảnh củanhững vật rất nhỏ mà ta không thể nhìn thấy được bằng mắt thường

Trang 9

cự rất ngắn, dùng để tạo ra ảnh thật của vật cần quan sát)

- Vật kính: là 1 bộ phận của kính hiển vi quay về phía có vật mà người tamuốn quan sát, có 3 độ phóng đại chính của vật kính: x10, x40, x100 (Bảnchất là một thấu kính hội tụ có tiêu cự ngắn, đóng vai trò như kính lúp đểquan sát ảnh thật)

* Hệ thống chiếu sáng gồm:

- Nguồn sáng (gương hoặc đèn)

- Màn chắn, được đặt vào trong tụ quang dùng để điều chỉnh lượng ánhsáng đi qua tụ quang

- Tụ quang, dùng để tập trung những tia ánh sáng và hướng luồng ánhsáng vào tiêu bản cần quan sát Vị trí của tụ quang nằm ở giữa gương và bàn

để tiêu bản Di chuyển tụ quang lên xuống để điều chỉnh độ chiếu sáng

* Hệ thống điều chỉnh:

- Ốc vĩ cấp,

- Ốc vi cấp,

- Ốc điều chỉnh tụ quang lên xuống,

- Ốc điều chỉnh độ tập trung ánh sáng của tụ quang,

- Điều chỉnh cỡ màn chắn tương ứng với vật kính

- Hạ vật kính sát vào tiêu bản (mắt nhìn tiêu bản)

Trang 10

- Mắt nhìn thị kính, tay vặn ốc vĩ cấp để đưa vật kính lên cho đến khinhìn thấy hình ảnh mờ của vi trường.

- Điều chỉnh ốc vi cấp để được hình ảnh rõ nét

2.4.3 Bảo quản kính hiển vi.

- Sử dụng và bảo quản kính hiển vi một cách thận trọng

- Đặt kính ở nơi khô thoáng, vào cuối ngày làm việc đặt kính hiển vi vàohộp có gói hút ẩm silicagel để trách bị mốc

- Lau hệ thống giá đỡ hàng ngày bằng khăn lau sạch, lau vật kính dầubằng giấy mềm chuyên dụng có tẩm xylen hoặc cồn

- Bảo dưỡng, mở kính lau hệ thống chiếu sáng phía trong định kỳ

Về kính hiển vi, đối với các trường gần như đều đảm bảo và đã được bộgiáo dục trang bị khoảng từ những năm 2000 đến nay vẫn có thể sử dụng, nếutrường nào bảo quản kém thì có thể khắc phục vật kính, thị kính bằng cồnhoặc xylen lau mốc, không được thì phải thay chúng Với trường tôi đangcông tác tuy vật kính có hơi mốc nhưng vẫn có thể dùng để quan sát được.Với tiêu bản NST, qua quá trình công tác chín năm về trường cùng cácđợt sinh hoạt chuyên môn tại huyện, tỉnh thi tôi thấy rằng gần như không cótrường nào có tiêu bản NST cố định Trong quá trình tìm hiểu thì hiện tại trênthị trường có bản bộ tiêu bản NST nguyên phân; giảm phân và bộ NST củangười hiện tại với giá thị trường tại công ty thiết bị giáo dục khoảng 1 triệuđồng trên bộ

3.2 Giáo viên thiết bị:

Theo quy định tiêu chuẩn biên chế các trường, mỗi trường THCS có một

Trang 11

giáo viên thiết bị phụ trách đồ dùng thiết bị dạy học nhà trường, nhưng hiệnnay thực trạng còn nhiều trường chưa có vì nhiều lí do khác nhau.

Với trường tôi đã có giáo viên phụ trách chuyên đồ dùng thiết bị Tuynhiên trước tình hình thực tế, không có tiêu bản cố định như bài học cần thựchành để chuẩn bị Giáo viên thiết bị có thể chuẩn bị bằng các tiêu bản tạmthời để thay thế nhưng lại rất khó khăn bởi vì: Khả năng làm tiêu bản NSTcùa giáo viên thiết bị yếu, nếu có làm được thì một mình cũng không thểchuẩn bị nhiều tiêu bản trước được để thực hành Do vậy, tiết thực hànhkhông có tiêu bản để quan sát

3.3 Quá trình dạy bài thực hành: Quan sát hình thái NST

Qua nhiều năm giảng dạy và tìm hiểu tôi nhận thấy, khi dạy bài thựchành: Quan sát hình thái NST trong chương trình sinh học 9 gặp rất nhiều khókhăn: không có tiêu bản quan sát, không chuẩn bị được tiêu bản tạm thời, dovậy khi dạy các thầy cô Sinh học đều dùng phương pháp chung là củng cổkiến thức NST thông qua hệ thống tranh ảnh, yêu cầu HS ghi chép lại bằnghình vẽ Như vậy, đã làm cho hiệu quả tiết học giảm đi rất nhiều, sự hứng thútrong học tập giảm đi, các kỹ năng sinh học không được rèn luyện, củng cố Với bản thân, tôi thường dùng các đoạn video mô tả quá trình nguyênphân, giảm phân để cho học sinh xem và yêu cầu các em mô phỏng lại sự diễnbiến của NST trong các kỳ, giai đoạn của từng quá trình

3.4 Kết quả khảo sát khi chưa áp dụng sáng kiến

Trang 12

+ Dài: 0,5 - 50 micromet, đường kính 0,2 - 2 micromet.

+ Cấu trúc: ở kì giữa NST gồm 2 cromatit gắn với nhau ở tâm động.+ Mỗi cromatit gồm 1 phân tử ADN và prôtêin loại histôn Một số NST

2 Khi tồn tại thành cặp tương

đồng ở giới cái (hoặc giới đực), khi

lại không tương đồng ở đực (hoặc

tế bào sinh dưỡng

2 Luôn tồn tại thành cặp tươngđồng

3 Mang gen quy định tính trạngthường của cơ thể

4.2 Chuẩn bị tiêu bản: (NST trong nguyên phân ở tế bào rễ hành).

Ngày đăng: 21/08/2016, 21:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Kính hiển vi quang học - skkn giải pháp dạy bài “thực hành quan sát hình thái nhiễm sắc thể” trong sinh học 9 nhằm nâng cao hiệu quả tiết học
Hình 1. Kính hiển vi quang học (Trang 8)
Hình 3. Quy trình làm tiêu bản tạm thời ở rễ hành - skkn giải pháp dạy bài “thực hành quan sát hình thái nhiễm sắc thể” trong sinh học 9 nhằm nâng cao hiệu quả tiết học
Hình 3. Quy trình làm tiêu bản tạm thời ở rễ hành (Trang 14)
1. Bảng chữ viết tắt: - skkn giải pháp dạy bài “thực hành quan sát hình thái nhiễm sắc thể” trong sinh học 9 nhằm nâng cao hiệu quả tiết học
1. Bảng chữ viết tắt: (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w