Câu hỏi mà giáo viên đặt ra trong giảng dạy khác với câu hỏi bình thường trong cuộc sống, trong giảng dạy giáo viên thường hỏi đều đã biết hoặc liên quan đến đều chưa biết, việc đặt câu
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
- Hĩa học là một mơn khoa học thực nghiệm, Hĩa học khơng phải là một quá trình tiếp nhận một cách thụ động những tri thức hĩa học mà chủ yếu là quá trình tự nhận thức, tự khám phá tìm tịi các tri thức hĩa học một cách tích cực chủ dộng sáng tạo và cao hơn là quá trình và giải quyết các vấn đề.Do đĩ học sinh cần phải tự phát hiện và giải quyết các vần đề đặt ra : quan sát thí nghiệm và tiến hành làm thí nghiệm phán đốn, suy luận, tìm tịi, đề ra giả thuyết, tham gia thảo luận nhĩm
- Do đĩ trong giảng dạy giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh hoạt động hơn, học sinh phải suy nghỉ nhiều hơn, được nĩi nhiều nhiều hơn, được làm việc nhiều hơn để hiểu sâu và nhớ lâu biết cách vận dụng các kiến thức hĩa học đã học vào thực tiển đời sống
Để phát huy tính tích cực của học sinh việc đưa ra câu hỏi là một việc khơng thể thiếu trong các phương pháp dạy học Câu hỏi mà giáo viên đặt ra trong giảng dạy khác với câu hỏi bình thường trong cuộc sống, trong giảng dạy giáo viên thường hỏi đều đã biết hoặc liên quan đến đều chưa biết, việc đặt câu hỏi trong giảng dạy là công việc phức tạp nó vừa là kiến thức vừa là kinh nghiệm và nghệ thuật câu hỏi tránh mập mờ hoặc câu hỏi quá vụn vặt gây khó hiểu đối với học sinh hoặc những câu hỏi quá đơn giản không phát triển được năng lực nhận thức của học sinh Không mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy hóa học
- Khi đặt câu hỏi:
+ Cần rèn luyện cho học sinh trí thông minh, phát huy được tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh Muốn vậy câu hỏi cần phải có sự đối chiếu so sánh liên hệ giữa kiến thức lí thuyết, thực tế cuộc sống
+ Câu hoiû phải có sự củng cố những tri thức đã học và trên cơ sở mở rộng những hiểu biết những tri thức mới Cần tránh câu hỏi chung chung chỉ trả lời có họăc không câu hỏi đưa ra một nội dung bao hàm một nội dung rỏ ràng
+ Câu hỏi phải có sự vận dụng những tri thức đã học để giải quyết những vấn đề của thực tế vào lao động sản xuất
- Qua việc trả lời câu hỏi cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễån đạt: +Tập cho học sinh trả lời chính xác, đúng yêu cầu của câu hỏi
+Tập cho học sinh trả lời một cách liên tục, tránh hỏi lắt nhắt họăc ngắt lời các em giữa chừng
+Tập cho học sinh suy nghĩ chín chắn, cách phân tích và tổng hợp vấn đề
Câu hỏi mà giáo viên đặt ra trong giảng dạy khác với câu hỏi bình thường
Trang 2Dù có sự cố gắng rất nhiều ở giáo viên nhưng học sinh chưa tích cực môn hóa học, khi học sinh gặp những câu hỏi tư duy, phân tích, khả năng trả lời hoàn chỉnh của cá nhân học sinh củng như khi hoạt động nhóm Do đó tôi đưa ra đề tài này nhằm giúp học sinh học hoạt động theo nhóm, giáo viên xây dựng câu hỏi để học sinh trả lời có hiệu quả,có sự đầu tư suy nghỉ vào câu trả lời để học sinh tiếp thu bài và hứng thú học tập tốt hơn ở môn hóa học
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1/ THỰC TRẠNG:
Trong việc giảng dạy hóa học ở trung học cơ sở tình trạng giáo viên truyền thụ kiến thức ,học sinh tiềp thu một cách thụ động vẩn còn phổ biến, các hoạt động trên lớp chủ yếu do giáo viên thực hiện: Giáo viên làm thí nghiệm , giải thích tranh và giới thiệu mô hình …cho học sinh quan sát và thông báo kết quả giáo viên chưa khai thác được các hiện tượng chưa tổ chức cho học sinh nghiên cứu thí nghiệm để học sinh nhận xét hiện tượng, giải thích viết phương trình và viết phương trình và rút ra tính chất của chất
Mục đích thí nghiệm hóa học chủ yếu theo hướng chứng minh cho lời giảng mà chưa được coi là nguồn kiến thức để học sinh hoạt động kiến thức khai thác Một số giáo viên chú ý đến việc phát huy tính tích cực qua việc đàm thoại, cho học sinh làm việc theo nhóm nhưng có một số câu hỏi còn vụn vặt thiếu hệ thống, nhiều học sinh chưa chú ý tham gia các hoạt động này
+ Thiết kế một số câu hỏi và bài tập chưa phát huy tính tính tích tích cực của học sinh khả năng phán đoán suy luận, mà chủ yếu là tái hiện lại những kiến thức hoặc những bài tập có sẵn trong sách giáo khoa Rất ít những bài tập đòi hỏi hiểu các sơ đồ hình vẽ, các hiện tượng và các kĩ năng thực hành Do đó khi thực hành học sinh chưa quan tâm nhiều đến quan sát và ghi chép các hiện tượng dẫn đến chưa có hiệu quả cao khi thực hành
+ Ngoài ra còn có những lí do khách quan : điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn , không có cán bộ chuyên trách phòng thí nghiệm
+Trình độ nhận thức của học sinh có sự khác biệt lớn do khác nhau về mức sống, động cơ học tập của nhiểu học sinh học theo nguyện vọng của cha
mẹ hơn là ham hiểu biết dẫn đến tình trạng học sinh học tập một cách thụ động
+Trong các giờ hóa học việc tổ chức và hoạt động của học sinh cho học sinh làm việc theo nhóm, nhiều giáo viên còn gặp phải hạn chế đa phần giáo viên làm việc với một số học sinh tích phát biểu ý kiến
+ Đa số học sinh trung bình trở lên tích cực học tập và làm quen dần với cách học theo phương pháp mới
+ Được tham gia học các lớp trên chuẩn, dự đầy đủ các lớp tập huấn hè
và bồi dưỡng thường xuyên, giáo viên có nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn nhiệt tình
+ Được tham gia dự giờ, thao giảng, hội giảng, hội thảo chuyên đề để trao đổi về phương pháp dạy, đổi mới cách đánh giá cho học sinh
Trang 3Mặc dù thực hiện nhiều phương pháp dạy học nhưng một bộ phận học sinh chưa có hứng thú học tập chỉ đối phó với điểm số chưa tạo được phương pháp học tập thích hợp, chủ yếu là học thuộc lòng nội dung mà giáo viên cung cấp, thiếu sự vận dụng làm cho một số học sinh này cảm nhận tiết học rất nặng nề, không hứng thú với môn học nên không hiểu và vận dụng kiến thức dẫn đến kết quả rất thấp
+ Cơ sở vật chất còn thiếu thốn rất nhiều
+ Hóa chất cấp lâu ngày không bảo đảm chất lượng dẫn đến một số kết quả thí nghiệm không thành công
2/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
- Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, đối với đối tượng học sinh trung học cơ sở các em mới bắt đầu làm quen ở lớp 8 ,9 các em còn gặp rất nhiều bở ngở và khó khăn khi tiếp thu kiến thức mới học sinh có những khái niệm, hiện tượng vật lí , hóa học, nhờ sự tưởng tượng xuất phát bằng lời nói câu hỏi và hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh Để tiết dạy có hiệu quả thì hệ thống câu hỏi của giáo đưa ra ở các mức độ khác nhau là vô cùng quan trọng (học sinh khá không nhàm, học sinh yếu không bất mãn).Do đó việc lựa chọn
và đưa ra câu hỏi phù hợp với sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh (mức độ hiểu biết ,vận dụng, tổng hợp, khái quát quá )do đó việc sọan giáo
án hay kế họach của một tiết lên lớp là đóng vai trò vô cùng quan trọng
- Hóa học không chỉ là một quá trình tiếp nhận một cách thụ động những tri thức hóa học mà chủ yếu là quá trình học sinh tự học, tự nhận thức, tự khám phá tự, phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do giáo viên nêu ra thì việc đặt câu hỏi trong đàm thoại vấn đáp, câu hỏi dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề là khâu rất quan trọng để học sinh tiếp thu tri thức mới
A/ CÂU HỎI DẪN DẮT HỌC SINH:
- Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi hớp lí giúp học sinh một cách có hiệu quả Một số câu hỏi ở mức độ so sánh, phân loại, qui nạp,… mà giáo viên sử dụng giúp học sinh mở rộng và chọn lọc kiến thức
- Trong khi dua ra câu hỏi cho học sinh trả lời giáo viên không nên phân biệt em đó giơ tay xin phát biểu hay không phát biểu Nếu chỉ hỏi những em xung phong giáo viên chỉ biết được nhận thức của một số em khá giỏi mà không tạođiều kiện cho những em nhút nhát sự tự tin cần thiết
Khi học sinh không trả lời được câu hỏi giáo viên đưa ra hoặc có trong sách giáo khoa cần nêu câu hỏi gợi ý mà không được trả lời thay các em Nếu học sinh trả lời không đầy đủ cần yêu cầu những em khác bổ sung động viên khuyến kích đồng thời tạo ra bầu không khí sôi nổi hăng hái giữa các em với nhau
Thí dụ 1 : Khi dạy bài sự biến đổi của chất (ở hóa học lớp 8)
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát thí nghiệm:
Nước đá ¬ → Nước lỏng ¬ →Hơi nước
Học sinh quan sát thí nghiệm và rút ra kết luận và nhận xét
?Nhận xét về sự biến đổi của nước trong quá trình trên?
Trang 4 Trong quá trình trên có sự biến đổi về trạng thái của nước.
?Nước có giữ nguyên là chất ban đầu nửa hay không?
Nước vẫn giữ nguyên là chất ban đầu
Yêu cầu học sinh làm thí nghiệm:
+ Hòa tan muối ăn vào nước và quan sát
+ Đun cạn nước muối và quan sát
-Học sinh làm việc theo nhóm và ghi sơ đồ của quá trình biến đổi
Qua hai thí nghiệm trên em có nhận xét gì?(về trạng thái và về chất )
-Học sinh :Trong quá trình trên chỉ có sự thay đổi về trạng thái mà không có
sự thay đổi về chất?
Giáo viên chốt lại các quá trình biến đổi đó là hiện tượng vật lí
?Em hiểu thế nào là hiện tượng vật lí?
HS: Thảo luận nhóm và tự rút ra kết
Thí nghiệm là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho học sinh tư duy sáng tạo
nó còn là phương tiện để học sinh tư duy giúp học sinh hình thành kĩ năng kĩ xảo khi thực hành
Thí dụ 2: Bài 10 HÓA TRỊ
?: Hãy kể tên một số kim lọai, phi kim?
Học sinh trả lời và sữa chữa và ghi lên bảng các kí hiệu hóa học: Zn,
Na, H, O, N
Giáo viên gợi ý học sinh xét một số công thức của hợp chất có hai nguyên
tố trong đó có hiđro
- Học sinh viết lại công thức hóa học của một số hợp chất đã biết:
HCl, H2O, NH3 …
?: Một nguyên tử Cl, O ,N C liên kết với bấy nhiêu nguyên tử H, khả
năng liên kết của các nguyên tử với cùng một nguyên tử H có giống nhau không?
học sinh trả lời không giống nhau
?: Không giống nhau ở điểm nào?
ở các nguyên tố liên kết với H khác nhau, CI liên kết với một nguyên tử
H, O liên kết với 2 nguyên tử H, N liên kết với 3 nguyên tử H
Giáo viên chốt lại: các nguyên tố này có hóa trị khác nhau nếu gắn cho H
có hóa trị I, O có hóa trị II, N có hóa trị III, C có hóa trị IV
Gợi ý học sinh hóa trị của một số nguyên tố khác được gián tiếp qua nguyên tố đã biết hóa trị và thường qua nguyên tố oxi( oxi có hóa trị II)
Cho học sinh làm theo nhóm bài tập II trang 37 sách giáo khoa để xác định hóa trị
Học sinh làm việc theo nhóm và báo cáo kết quả:
K (II), S(II), C(IV)
Fe(II), Ag(I), SI(IV)
Thí dụ 3: Học sinh có nhiệm vụ tách các vụn sắt ra khỏi hỗn hợp cát, sắt.
- Học sinh không biết giải quyết bằng cách nào
GV? Đưa ra câu hỏi gợi ý trong một số vật: miếng gỗ, nam châm, giấy
nhám Có vật nào giúp em lấy sắt ra khỏi hỗn hợp được không?
Trang 5 Để học sinh khái quát một vấn đề nào đó thông thường giáo viên phải
sử dụng câu hỏi dẫn dắt để từng bước học sinh suy nghĩ nhận ra vấn đề
=> Khi đưa ra câu hỏi giáo viên phải sử dụng những hiểu biết của học sinh đặt câu hỏi cho học sinh vận dụng kiến thức cũ để xây dụng bài học Khi đàm thoại cần đưa ra câu hỏi phải cụ thể, dễ hiểu, vừa sức học sinh và hợp với các đối tượng khá, trung bình, yếu, giáo viên cần điều khiển sao cho sinh động Khuyến khích những ý kiến hay, sữa chữa những sai lầm, kích thích được óc sáng tạo khả năng phân tích tổng hợp vấn đề nhưng cũng cần trách lạm dụng đặt nhiều câu hỏi phát vấn học sinh quá làm căng thẳng đầu óc ảnh hưởng đến học tập
B CÂU HỎI KHUYÊN KHÍCH HỌC SINH SUY NGHI VÀ ÁP DỤNG KIẾN THỨC:
Tùy theo từng trường hợp cụ thể giáo viên cần chọn phương pháp nào cho phù hợp nhưng để khuyến khích học sinh suy nghĩ thì giáo viên nên hỏi nhiều hơn Vì khi có câu hỏi đặt ra thì học sinh cũng cần có sự suy nghĩ ít hoặc nhiều trước khi trả lời
Thí dụ: Bài 36 NƯỚC.
(Phần III: vai trò của nước trong đời sống và trong sản xuất chống ô nhiễm nguồn nước)
Nếu giáo viên chỉ cho học sinh đọc thông tin trong sách giáo khoa sau đó giáo dục học sinh phải bỏ rác vào trong thùng rác, không vứt rác bừa bãi Giáo viên có thể nêu lên một số câu hỏi thì hiệu quả sẽ cao hơn
?: Nguồn nước bị ô nhiễm gây ra tác hại gì ?
Học sinh nêu như : Gây bệnh tật cho người, động vật, thực vật các sinh vật biển, ảnh hưởng đến mùa màng…
?: Bằng cách nào có thể giữ sạch nguồn nước?
Học sinh : Đặt thùng đựng rác, yêu cầu mọi người bỏ rác đúng qui định, dọn vệ sinh thường xuyên, xử lý nước thải sinh hoạt…
?: Đề xuất biện pháp ?
Tạo bể lắng lọc nước thảy
Xây dựng công viên cây xanh
Giáo dục ý thức cho mọi người
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để dự báo và tìm biện pháp phòng tránh
hạn chế ăn quà vặt trong trường
Dọn vệ sinh thường xuyên
Đất trống thì trồng cây bóng mát, hoa, đường đi thì làm xi măng tránh đất bụi Cuối cùng giáo viên đi đến kết luận cho việc giữ vệ sinh nơi công cộng
Dạy học như vậy sẽ đạt hiệu quả cao hơn so với việc chỉ giảng dạy , giải thích
Thí dụ 2: Bài : AXIT BAZƠ MUỐI
Phần bazơ
• Hoạt động 1: phần khái niệm
Trong bài tính chất hóa học của nước
Trang 6? Kể một số Bazơ mà em biết?
HS: NaOH , KOH, Ca(OH)2…
? Nhìn vào các công thức hóa học của ba zơ trên cho biết Na, K ,Ca ….? HS:kim loại
? Phân tử bazơ gổm những thành phần nào?
Hs: Kim loại liên kết với nhóm hiđroxit
?Phân tử bazơ có nhóm gì chung?
Hs: có nhóm –OH
? Hãy cho biết thế nào là hợp chất Bazơ?
HS: Bazơ là một hợp chất mà phân tử gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hoặc nhiều nhóm hiđroxit
Thí dụ 2: Ngoài ra giáo viên có thể đưa ra một số bài tập sau đó đưa ra hệ thống câu hỏi sau đó chốt lại chính là các kiến thức mà học sinh cần nắm và vận dụng
Bài tập : Hãy hoàn thành phương trình phản ứng?
SO3 + H2O >
P2O5 + H2O .>
CO2 + H2O ->
Học sinh hoàn thành:
SO3 + H2O H2SO4
P2O5 + 3H2O 2H3PO4
CO2 + H2O H2 CO3
? Cho biết chất tạo thành sau phản ứng?
Axit
? Cho biết thành phần phân tử của H2SO4 , H3PO4 ,H2CO3
Có một hoặc nhiều nguyên tử hiđro liên kếtvới gốc axit
? Những nhóm nguyên tử =SO4, =PO4 , = CO3 được gọi là gốc axit Vậy căn cứ vào hóa trị của hidro (hóa trị I) cho biết hóa trị của các gốc axit trên ?
Lần lượt có hóa trị II , III, II
?: Hãy cho biết hợp chất axit có thành phần như thế nào ?
Phân tử axit gồm có một hay nhiều nguyên tử hiđro liên kết với gốc axit, các nguyên tử hiđro này có thể thay thế bằng các nguyên tử kim loại
Đây chính là khái niệm mà giáo viên cần cho học sinh hiểu và vận dụng
Vậy giáo viên cần định hướng và điều chỉnh các hoạt động của học sinh chính xác hóa các khái niệm hóa học việc đưa ra câu hỏi phải có tính hệ thống không tách rời nhau, các kết luận cuối cùng để di đến khái niệm không gây bất ngờ đối với học sinh Cần tránh các câu hỏi không rõ ràng, không xác định (do quá rộng hoặc quá mơ hồ dẫn đến học sinh không trả lời được)
C/ CÂU HỎI CHO HỌC SINH THẢO LUẬN NHÓM VÀ HỌAT ĐỘNG
Học sinh học tập theo nhóm nếu tổ chức tốt sẽ đem lại hiệu quả cao trong thảo luận nhóm hoặc khi thí nghiệm mổi học sinh đóng gớp một vài ý kiến
Trang 7hay kinh nghiệm giúp cả nhóm mau chóng giải quyết vấn đề do đó việc đưa ra Câu hỏi rất quan trọng Đối với các nhóm đối tượng học sinh trung bình và yếu trong thời gian học sinh thảo luận giáo viên cần quan sát theo dõi khi giáo viên đưa ra câu hỏi chính cho cả lớp mà nhóm này không trả lời được thì giáo viên có thể đưa ra nhiều câu hỏi nhỏ nhằm dẫn dắt học sinh để đi đến trao đổi
và thảo luận theo nội dung học tập
Thí dụ 1 : BÀI ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN KHỐI LƯỢNG
Giáo viên chuẩn bị một cây cân chung dùng cho cả lớp :
Sau đó giáo viên cho các nhóm cân cho vào bình tam giác đựng dịch BaCl2 và cân một cóc chứa sẵn dung dịch Na2CO3 yêu cầu học sinh làm thí nghiệm theo nhóm và hoàn thành phiếu học tập
Hiện tượng
Khối lượng
Nhận xét
Sau khi các nhóm làm thí nghiệm xong và hoàn thành bảng trên, rút ra nhận xét (đây chính là nội dung của định luật bảo tòan khối lượng)
Do đó việc nghiên cứu cho học sinh nghiên cứu thí nghiệm để rút
ra kết luận là rất tích cực, nếu giáo viên thông báo rồi cho học sinh làm thí nghiệm thì tính tích cực của học sinh giảm đi nhiều
Thí dụ 3 : Bài 2 MỘT SỐ ÔXIT QUAN TRỌNG
(HÓA LỚP 9)
Sau khi học phần : A Canxioxit.
Học sinh đã biết phản ứng : CaO + H2O Ca(OH)2 (r)
Phản ứng tỏa nhiệt
Nhưng khi để lâu ngày trong không khí nó tan ra, cho vào nước không thấy hiện tượng trên
-Học sinh thảo luận và giải thích
+Nắm được (không khí có khí CO2)
+Khí CO2 là một oxit axit,mà oxit axit tác dụng được với oxit bazơ
CO2 + CaO CaCO3
Ví dụ 2: Bài NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH
(Hóa lớp 8)
Phần nồng độ phần trăm
Giáo viên thông báo; một dung dịch 5% là có 5 g chất tan và có 95 g
nước
một dung dịch 10% là có 10g chất tan và có 90 g
nước
Vậy nồng độ % là gì?
nồng độ phần trăm là số gam chất tan có trong 100 g dung dịch
Trang 8Giáo viên phân tích ;để tính được nồng độ % cần tính số gam chất tan trong 100 g dung dịch( mdd = m ct + m dm)
Ví dụ: 50g chất tan trong 500g dung dịch
Xg -100g dung dịch
100 x 50
C% = - - = 10 %
500
m ct x 100%
Vậy c% =
m dd
Cho học sinh làm việc theo nhóm: Cho 10 g NaCl vào 40 g H2O tính nồng độ
% của dung dịch
Hướng dẫn học sinh
Cần đối chiếu với các đại lượng trong công thức còn thiếu đại lượng nào?
Còn thiếu m dd
Vậy tính mdd bằng cách nào?
sau đó tính nồng độ %
Học sinh thảo luận và báo cáo
m dd =mct + mdm = 40+10=50 g
10 x 100%
C% = - = 20%
50
Để thực hiện và rèn luyện cho học sinh tính tóanvà biết cách chuyển đổi qua lại các đại lượng: Giáo viên cần tránh đưa ra các số liệu như sách giáo khoa mà nên đưa ra các số liệu tương tự để học sinh có sự đầu tư suy nghĩ để học sinh không phải chép nguyên nội dung trong sách giáo khoa hoặc khi học sinh nắm vững lí thuyết giáo viên cần có sự thay đổi dự kiện để thúc đẩy học sinh tư duy
=> Đối với lớp có số lượng học sinh quá đông khi tổ chức nhóm cần giảm thiểu việc đi lại của học sinh và giáo viên giao nhiệm vụ hoạt động và theo dõi để có thể giúp đỡ, định hướng, điều chỉnh kịp thời hoạt động của mỗi nhóm đi đúng hướng xây dựng vận dụng, tổ chức có hiệu quả tích cực và
có quy định thời gian cụ thể tổ chức hoạt động từng nhiệm vụ sau cho rỏ ràng thống nhất hoạt động của cá nhân và nhóm để tránh tình trạng mất trật tự làm giảm hiệu quả của các hoạt động Trong quá trình học sinh hoạt động giáo viên phải bao quát từng cá nhân, từng nhóm để có thể hướng dẫn hoặc giúp
đỡ kịp thời khi học sinh gặp khó khăn Thường tạo cho các em tinh thần hợp tác, cần tránh tình trạng chỉ một học sinh làm các học sinh khác làm việc riêng hoặc gây mất trật tự trong lớp
=> Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học Đây là phương pháp giúp học sinh phát triển kỹ năng cá nhân, kỹ năng hợp tác đồng thời cũng tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm thường xuyên và nhóm động cơ để
Trang 9tránh tình trạng học sinh yếu kém chủ quan và ỉ lại những học sinh khá giỏi trong nhóm
D/ CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ :
Giáo viên cần đưa ra câu hỏi có vấn đề nhờ vào sự không phù hợp (mâu thuẫn) giữa kiến thức đã học với câu hỏi do giáo viên đưa ra (tình huống bất ngờ), nhưng câu hỏi nêu vấn đề khác với những câu hỏi thông thường, câu hỏi nêu vấn đề cũng khuyến khích suy nghĩ tìm tòi phức tạp của học sinh đòi hỏi các em có năng lực tư duy độc lập tích cực buột các em phải sử dụng khả năng tư duy khác nhau (phân tích, so sánh, khái quát…) buộc các em phải suy nhĩ, giải thích, chứng minh, tự kết luận…để học sinh trả lời cần dựa trên kiến thức củ, kết hợp các kiến thức đó với nhau hoặc phải thực hành, thí nghiệm…
do đó giáo viên cần đưa những câu hỏi nêu vấn đề gây nên sự xúc cảm, hưng phấn
Ví dụ 1 : Bài 17 DÃY HOẠT ĐỘNG HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI
Khi học dãy hoạt động hóa học của các kim loại học sinh đã biết rằng kim loại đứng trước thì đẩy được kim loại đứng trước sau ra khỏi dung dịch muối Giáo viên đưa ra vấn đề : Khi cho kim loại Na tác dụng với dung dịch CuSO4, Na có đẩy được Cu (kim loại) ra khỏi muối sufat đồng không? Hãy
dự đoán và kiểm tra bằng thí nghiệm
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự làm thí nghiệm
? Yêu cầu học sinh phát biểu và nhận xét.
Viết phương trình đã xảy ra
Sau đó giáo viên nêu câu hỏi :
Theo lí thuyết kim loại đứng trước đẩy được kim loại đứng sau ra khỏi dung dịch muối
-Học sinh sẽ ngạc nhiên và hiểu tại sao phải trừ Na, K… qua sự ngạc nhiên học sinh sẽ chăm chú theo dõi và tìm hiểu
Trong dung dịch muối có nước mà Na là kim lọai mạnh tác dụng được với nước
2Na + 2 H2O 2NaOH + H2
Sau đó: NaOH + CuSO4 Cu(OH)2 +Na2SO4
(không tan)
Ví dụ 2: Bài: LƯU HÙYNH ĐI OXIT
(PHẦN TÍNH CHẤT HÓA HỌC)
- Phần 2 Tác dụng với bazơ
Sau khi giáo viên biểu diễn thí nghiệm cho học sinh quan sát và rút ra nhận xét
dung dịch Ca(OH)2 dẵn khí SO2 qua thấy xuất hiện kết tủa trắng và hướng dẫn học sinh viết phương trình: SO2 + Ca(OH)2 CaSO3 + H2O Nếu phần bài dạy chỉ dừng lại ở đây thì đối tượng học sinh trung bình và yếu không hiểu gốc =SO3 ở đâu mà có
Nếu học sinh không xác định được
Trang 10Giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý:
?Nhắc lại một số oxit tương ứng với axit mà em biết?
Ơ lớp 8: SO3 tương ứng với axit H2SO4
CO2 tương ứng với axit H2CO3
Giáo viên nhắc lại Oxit axit + Bazơ …> Muối + nước
?: Công thức hóa học của muối gồm có các thành phần nào?
phân tử muối gồm có một hoặc nhiều nguyên tử kim lọai liên kết với một họac nhiều gốc axit
Vậy ở công thức hóa học của bazơ tan có nguyên tử kim lọai nào?
có nguyên tử kim lọai Ca
Vậy công thức muối thế nào?
CaCO3
Ví dụ 3 : HIỆN TƯỢNG HÓA HỌC
Sự biến đổi của chất (bài 12).
- Giáo viên thực hiện thí nghiệm như sách giáo khoa, trộn đều một phần bột Fe và một phần S cho vào ống nghiệm đem đun đến một lúc rồi ngưng đun
?: Học sinh nhận xét màu sắc ?
Chất rắn chuyển thành màu xám
- Học sinh đã xem thông tin sách giáo khoa đã biết sắt (II) sunfua không bị nam châm hút nhưng phần lớn các thí nghiệm khi đưa nam châm vào đều hút
?: Học sinh giải thích.
Học sinh suy nghĩ theo nhiều hướng : Do trộn chưa đều, hóa chất Fe, S không đảm bảo,… thí nghiệm chưa thành công
?: Một số học sinh giỏi có thể phát hiện khi cho bột S và Fe trộn điều vào
ống nghiệm thì do khối lượng riêng (d Fe > d S) do đó bột Fe rơi xuóng trước, bột S rơi sau, phần bột Fe tập trong nhiều xuống đáy ống nghiệm và bột Fe chưa phản ứng hết học sinh chú ý và lôi cuốn học sinh vào thí nghiệm quan sát
Ví dụ 4: BÀI 5 NGUYÊN TỐ HÓA HỌC
(phần nguyên tử khối)
Giáo viên đưa ra vấn đề : Kết luận của một nguyên tử tính bằng gam có số trị quá nhỏ không tiện cho việc sử dụng cần có một đơn vị khối lượng khác
- Giáo viên vẽ hình cân nguyên tử C trên bằng với 12 quả cân H
? Vậy một quả cân H chiếm bao nhiêu phần so với nguyên tử C.
Một quả cân H = 1/12 nguyên tử C
Lấy một quả cân H làm đơn vị gọi là đơn vị cacbon, dùng quả cân này để cân nguyên tử khác
? Vậy O bằng bao nhiêu quả cân H 16 đvC, dựa vào thí dụ sách giáo
khoa H, O, S lần lượt thăng bằng với bao nhiêu quả cân đi đến khối lượng nguyên tử khối
Ví dụ 5 : bài 15 Định luật bảo tòan khối lượng
Sau khi học sinh làm thí nghiệm xong như phần trên giáo viên có thể thực hiện thêm thí nghiệm II : lấy hai cốc đựng dung dịch HCl và Na2CO3 sau đó