Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế từ chế độtập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước mà đặcbiệt là năm 2007 nước ta gia
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế từ chế độtập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước mà đặcbiệt là năm 2007 nước ta gia nhập tổ chức WTO thì nền kinh tế nước ta thực sựvươn mình ra thế giới cùng với những cơ hội để phát triển thì cũng không có nhữngkhó khăn, thách thức, để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh buộccác doanh nghiệp phải phát huy triệt để mọi tiềm lực, mọi thế mạnh có sẵn củamình nhằm tạo lợi thế bằng hoặc hơn các doanh nghiệp khác Chỉ có như vậỵ mớiđảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững trong cạnh tranh Muốn thực hiện được mụctiêu này yêu cầu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp là không ngừng đầu tư pháttriển nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Với truyền thống và những giá trị đích thực của mình "phấn đấu cho một tươnglai tốt đẹp vì sự phát triển của cộng đồng" là phương châm hành động cao đẹp củaCông ty Cổ Phần 504 Với định hướng xây dựng Công ty trở thành một doanhnghiệp lớn mạnh trong lĩnh vực xây dựng và đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm,mục tiêu xuyên suốt của Công ty là "Đổi mới và Hiệu quả"
Công ty Cổ Phần 504 luôn được tín nhiệm, đánh giá cao thông qua sự hài lòngcủa khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của mình và ngày càng khẳng định được
vị thế, khả năng và uy tín trong điều kiện thị trường cạnh tranh gay gắt
Tìm hiểu tình hình đầu tư phát triển của Công ty là cách tốt nhất để trả lời câuhỏi: Tại sao JOSCO 504 lại đạt được những thành tựu đáng ca ngợi như vậy trongthời điểm mà có vô số các Công ty xây dựng khác đang nỗ lực hết mình để cạnhtranh trên thị trường
Trong thời gian thực tập được sự hướng dẫn tận tình của cô Sử Thị Thu Hằng,
sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anh chị tại Công ty cùng việc tiếp cận các sốliệu đã giúp em hiểu sâu hơn về tình hình đầu tư tại Công ty Chính vì vậy, em đã
quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504 Thực trạng và giải pháp” làm chuyên đề tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Đề tài “Đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504 Thực trạng và giải pháp” đã
nhìn lại và phân tích những dữ liệu trong quá khứ để đề ra những giải pháp chotương lai, đánh giá tình hình đầu tư phát triển tại Công ty, nhìn nhận những mặt đãlàm được, những mặt chưa làm được, từ đó có định hướng đúng đắn trong tương lai
Trang 2để làm những cái mà quá khứ còn hạn chế, khắc phục những tồn tại, phát huynhững thế mạnh, đưa Công ty Cổ Phần 504 tiến xa hơn nữa.
3 Phương pháp nghiên cứu.
Bằng việc thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, từ mạng Internet, sách, báo, tạpchí, thông qua các báo cáo tổng kết đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504 trongnhững năm qua, sử dụng phần mềm để xử lý, phân tích và đánh giá số liệu trongquá khứ, làm cơ sở rút ra những nhận xét xác đáng, tìm ra giải pháp khắc phục khókhăn
4 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài “Đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504 Thực trạng và giải pháp”
chủ yếu phân tích về mặt tổng quan tình hình hoạt động đầu tư phát triển tại Công
ty trong thời gian qua, bao hàm tất cả các nội dung về đầu tư phát triển, tình hìnhđầu tư theo các nội dung đầu tư (đầu tư phát triển tài sản cố định, đầu tư vào hàngtồn trữ, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cho hoạt động marketing), tìnhhình đầu tư theo chu kỳ đầu tư, tình hình huy động sử dụng vốn cho đầu tư pháttriển tại Công ty, tình hình đầu tư theo chu kỳ đầu tư…
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài “Đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504 Thực trạng và giải pháp” là
một bức tranh tổng quát về hoạt động đầu tư phát tại Công ty bao gồm một số nộidung chủ yếu sau:
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Công ty Cổ Phần 504.
Trong quá trình thực tập em đã được sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướngdẫn Th.S Sử Thị Thu Hằng, cùng toàn thể cán bộ phòng kế toán, phòng kế hoạch –
kĩ thuật,…của “Công ty Cổ Phần 504” đã giúp em hoàn thành bài báo cáo này.
Tuy nhiên, do kiến thức cũng như thời gian thực tập có hạn, tiếp cận thực tếchưa nhiều nên hiểu biết chưa được toàn diện khó tránh khỏi những thiếu sót Kínhmong các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Kế toán, các anh chị trong Công ty
Cổ Phần 504 đóng góp ý kiến để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Bình Định, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Sinh viên thực hiệnVõ Công Danh
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG DOANH NGHIỆP1.1 Bản chất của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm về đầu tư phát triển và đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Đầu tư là hoạt động kinh tế rất phổ biến và có tính chất liên ngành Tuy có nhiềukhái niệm khác nhau về đầu tư nhưng suy cho cùng có thể hiểu đầu tư trên hai gócđộ:
Theo nghĩa rộng: Đầu tư là sự hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớnhơn các nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực, trí lực ) đã bỏ ra để đạt được các kếtquả đó Kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất (nhàmáy, đường sá, các của cải vật chất khác) và gia tăng năng suất lao động trong nềnsản xuất xã hội
Theo nghĩa hẹp: Đầu tư chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện
tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó
Như vậy, xét theo bản chất có thể phân chia hoạt động đầu tư trong nền kinh tế
ra thành 3 loại: đầu tư tài chính (là hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận trực tiếp chongười bỏ tiền ra để cho vay hoặc mua bán các chứng chỉ có giá mà không tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế), đầu tư thương mại, đầu tư tài sản vật chất và sức lao động(còn gọi là đầu tư phát triển) Khác với hai hình thức trên, đầu tư phát triển tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, góp phần tích cựctạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Hoạt động đầu tưphát triển bao gồm 3 yếu cơ bản:
- Đầu tư phát triển là một chuỗi các hoạt động chi tiêu, hao phí các nguồn lực:nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ
- Phương thức tiến hành các hoạt động đầu tư: xây dựng mới, sửa chữa nhà cửa
và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi dưỡng đào tạo nguồnnhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sảnnày
- Kết quả đầu tư, lợi ích đầu tư: Hoạt động đầu tư mang lại lợi ích cho chủ đầu
tư nói riêng (doanh thu, lợi nhuận ) và đem lại lợi ích cho nền kinh tế - xã hội nóichung Đầu tư được tiến hành trong hiện tại và kết quả của nó được thu về trongtương lai
Trang 4Như vậy, đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn
lực vật chất nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc
hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ bồi dưỡng đào tạonguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của cáctài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềmlực mới cho nền KT-XH, tạo việc làm và nâng cao đời sống của thành viên trong xãhội
1.1.2 Vai trò của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1.1.2.1 Trên góc độ vĩ mô.
a) Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu.
Đứng trên quan điểm tổng cầu thì đầu tư là một nhân tố quan trọng chiếm tỷtrọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế
AD = GDP = C + I + G + ( X – M )Đầu tư thường chiếm tỷ trọng khoảng 24- 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cảcác nước trên thế giới Khi đầu tư tăng lên, trong ngắn hạn sẽ làm cho tổng cầu củanền kinh tế tăng lên, kéo theo đường cầu dịch chuyển lên trên về bên phải Nền kinh
tế sẽ thiết lập nên điểm cân bằng mới ở mức sản lượng và giá cả cao hơn (E1).Trong dài hạn, khi các thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới
đi vào hoạt động tức là vốn đầu tư (I) lúc này chuyển hoá thành vốn sản xuất (K ).Tổng cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó lànguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ:
AS = GDP = f (L, K, R, T)Khi I chuyển hoá thành K làm cho tổng cung tăng lên đặc biệt là tổng cung dàihạn, kéo theo đường cung dịch chuyển về bên phải, sản lượng cân bằng mới đượcthiết lập ở mức cao hơn và do đó giá cả giảm xuống Sản lượng tăng, giá cả giảm lànhân tố kích thích tiêu dùng, tiêu dùng tăng kích thích sản xuất phát triển hơn nữa.Quá trình này lặp đi lặp lại tạo ra của cải vật chất dồi dào, tăng thu nhập cho ngườilao động, tăng tích luỹ, từ đó tăng vốn đầu tư phát triển xã hội
b) Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.
Nền kinh tế được duy trì ở trạng thái cân bằng nhờ hai yếu tố cung và cầu Màđầu tư là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cả tổng cung lẫn tổng cầu Vì vậy mỗi sựthay đổi về đầu tư đều dẫn đến những tác động làm duy trì hoặc phá vỡ sự ổn địnhkinh tế của mọi quốc gia Khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu vào tăng làm chogiá cả của chúng cũng leo thang theo (giá nguyên nhiên vật liệu, giá lao động, chi
Trang 5phí vốn ), dẫn đến tình trạng lạm phát Lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, thunhập của người lao động ngày càng thấp, kinh tế phát triển chậm lại Ở một khíacạnh khác, tăng đầu tư làm cho nhu cầu của các yếu tố có liên quan tăng, từ đó kíchthích sản xuất phát triển, mở rộng quy mô, thu hút thêm lao động, giảm tình trạngthất nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động Vì vậy trong quá trình quản lý
và điều hành hoạt động kinh tế vi mô, các nhà hoạch định chính sách cần thấy hếtđược các tác động hai mặt này để hạn chế các tác động tiêu cực, phát huy được khíacạnh tích cực, duy trì được sử ổn định của toàn bộ nền kinh tế
c) Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Theo Harrod- Domar chínhđầu tư phát sinh ra lợi nhuận và làm gia tăng khả năng sản xuất cuả nền kinh tế.Dựa trên quan điểm tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư (S= I) và đầu tư chính là cơ
sở để tạo ra vốn sản xuất ( I= ∆K) ta có công thức tính tốc độ tăng trưởng của nềnkinh tế:
GDP
I ICOR
g = 1 × Trong đó
GDP
I ICOR
∆Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư Hệ
số ICOR ( tỷ lệ gia tăng vốn sản lượng) được coi là cơ sở để xác định tỷ lệ đầu tưcần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ đầu tư cao thường dẫn đếntốc độ tăng trưởng cao Kinh nghiệm của các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR của mỗinước phụ thuộc vào nhiều nhân tố đặc biệt là cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tưtrong các ngành, các vùng lãnh thổ, ICOR thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế
và cơ chế chính sách trong nước Các nước phát triển thì hệ số ICOR thường lớn (từ5-7) do thừa vốn, thiếu lao động và do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao Còn
ở các nước chậm phát triển ICOR thường thấp (từ 2-3) do thiếu vốn, thừa lao động,công nghệ sử dụng kém hiện đại, giá rẻ ICOR trong nông nghiệp thường thấp hơntrong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụngnăng lực
d) Đầu tư là nhân tố quyết định đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư có vai trò rất lớn làm gia tăng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế từ đóthúc đẩy kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao Nhìn chung đầu tư vào các ngành côngnghiệp, dịch vụ thì đem lại hiệu quả cao hơn đầu tư vào nông, lâm, ngư nghiệp do
Trang 6những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học (một đồng vốn đầu tư bỏ vào ngành côngnghiệp sẽ làm gia tăng giá trị sản xuất hơn là ngành nông nghiệp) Hoạt động đầu tư luôn tìmkiếm những lĩnh vực cho lợi nhuận cao nhất vì vậy đã tạo nên quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanhcủa toàn bộ nền kinh tế
Đầu tư không những làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành mà còn có tácdụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa nhữngvùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế
so sánh về tài nguyên - địa lý – kinh tế - chính trị - xã hội của các vùng, tạo cơ chếlan truyền thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển
e) Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Khoa học công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh
tế-xã hội, là điều kiện tiên quyết để các nước đang phát triển có thể thực hiện côngnghiệp hoá - hiện đại hoá thành công, đi tắt đón đầu để tránh tụt hậu về kinh tế.Hiện nay, Việt Nam là một trong 90 nước kém nhất về công nghệ, máy móc côngnghệ lạc hậu nhiều so với thế giới và khu vực Trước nay đầu tư cho khoa học côngnghệ ít được quan tâm chú ý bằng các hình thức đầu tư khác do thiếu vốn, do chưanhận thức được vai trò của công nghệ Điều đó làm hạn chế tốc độ cũng như chất lượngtăng trưởng của nền kinh tế
Vì vậy muốn cải thiện tình hình này không còn cách nào khác là phải đầu tư phát triểncông nghệ nhanh và vững trắc, có thể bằng con đường tự nghiên cứu phát minh hoặc nhậpcông nghệ mới từ nước ngoài Nhật bản là một minh chứng hết sức cụ thể, tốc độ tăngtrưởng thần kỳ cùng với những bước nhảy vọt về kinh tế để trở thành một cường quốc nhưngày hôm nay có sự đóng góp không nhỏ của quá trình tìm tòi sáng tạo, nghiên cứu triểnkhai công nghệ trong và ngoài nước của toàn thể nhân dân Nhật
1.1.2.2 Trên góc độ vi mô.
Đối với các cơ sở vô vị lợi: Đây là hoạt động không thể thu lợi cho bản thân
mình Hoạt động này đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữalớn định kì các cơ sở vật chất-kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyêntất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở sản xuất cungứng dịch vụ Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra đời của bất kì
cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặtmáy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi
Trang 7phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừađược tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sảnxuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vậtchất-kĩ thuật các cơ sở này hao mòn, hư hỏng Để duy trì được sự hoạt động bìnhthường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay đổi cơ sở vật chất - kĩ thuật vànhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thaythế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
1.1.3 Đặc điểm của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư phát triển có đặc điểm khác với các hoạt động đầu tư khác, cầnphải nắm bắt để quản lý đầu tư sao cho có hiệu quả, phát huy được tối đa nguồn lực
- Đầu tư phát triển luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn và nằm khê đọng trong suốtquá trình thực hiện đầu tư Vòng quay của vốn rất dài, chi phí sử dụng vốn lớn làcái giá phải trả cho hoạt động đầu tư phát triển Vì vậy, việc ra quyết định đầu tư có
ý nghĩa quan trọng Nếu quyết định sai sẽ làm lãng phí khối lượng vốn lớn và khôngphát huy hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội Trong quá trình thực hiện đầu tư vàvận hành kết quả đầu tư cần phải quản lý vốn sao cho có hiệu quả, tránh thất thoát,dàn trải và ứ đọng vốn Có thể chia dự án lớn thành các hạng mục công trình, saukhi xây dựng xong sẽ đưa ngay vào khai thác sử dụng để tạo vốn cho các hạng mụccông trình khác nhằm tăng tốc độ chu chuyển vốn
- Hoạt động đầu tư phát triển có tính dài hạn thể hiện ở: thời gian thực hiện đầu
tư kéo dài nhiều năm tháng và thời gian vận hành kết quả đầu tư để thu hồi vốn rấtdài Để tiến hành một công cuộc đầu tư cần phải hao phí một khoảng thời gian rấtlớn để nghiên cứu cơ hội đầu tư, lập dự án đầu tư, tiến hành hoạt động đầu tư trênthực địa cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng Thời gian kéo dàiđồng nghĩa với rủi ro càng cao do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bất định và biến động
về tự nhiên- kinh tế- chính trị- xã hội Vì vậy, để đảm bảo cho công cuộc đầu tưđem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Khi lập
dự án đầu tư cần phải tính toán kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra và dự trù cácphương án khắc phục
- Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là rất to lớn, có giá trị lớn lao vềkinh tế - văn hoá - xã hội cả về không gian và thời gian Một công trình đầu tư pháttriển có thể tồn tại hàng trăm năm, hàng ngàn năm thậm chí tồn tại vĩnh viễn nhưcác công trình kiến trúc, các kỳ quan nổi tiếng thế giới như: Kim Tự Tháp Ai Cập,Ăngco Vát của Campuchia
Trang 8- Tất cả các công trình đầu tư phát triển sẽ hoạt động ở ngay tại nơi nó được tạodựng nên Do đó, các điều kiện về địa lý - xã hội có ảnh hưởng lớn đến quá trìnhthực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư Ví dụ khi xâydựng các dự án khai thác nguồn nguyên nhiên liệu, cần phải quan tâm đến vị trí địa
lý (có gần nguồn nguyên nhiên liệu và thuận tiện trong việc vận chuyển không) vàquy mô, trữ lượng để xác định công suất dự án Đối với các nhà máy thuỷ điện,công suất phát điện tuỳ thuộc vào nguồn nước nơi xây dựng công trình Không thể
di chuyển nhà máy thuỷ điện như di chuyển những chiếc máy tháo dời do các nhàmáy sản xuất ra từ điạ điểm này đến địa điểm khác Để đảm bảo an toàn trong quátrình xây dựng và hoạt động của kết quả đầu tư đòi hỏi các nhà đầu tư phải quantâm đến địa điểm đầu tư, các ngoại ứng tích cực và tiêu cực ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp đến việc triển khai dự án
1.1.4 Phân loại đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Trong quản lý và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư các nhà kinh tế thường phânloại hoạt động đầu tư theo các tiêu thức khác nhau Mỗi tiêu thức phân loại phục vụcho một mục đích quản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau
Phân theo nguồn vốn.
Vốn trong nước: bao gồm vốn từ khu vực nhà nước (vốn ngân sách nhà nước,vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn của doanh nghiệp nhà nước),vốn từ khu vực tư nhân (tiền tiết kiệm của dân cư, vốn tích luỹ của các doanhnghiệp tư nhân và các hợp tác xã)
Vốn nước ngoài: bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Vốn đầu tưgián tiếp (vốn tài trợ phát triển chính thức - ODF trong đó viện trợ phát triển chínhthức – ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu, nguồn tín dụng từ các NHTM, thị trường vốnquốc tế)
Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng nguồn vốn đối với sự phát triểnkinh tế xã hội và tình hình huy động vốn từ các nguồn cho đầu tư phát triển, từ đóđưa ra giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Phân theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư.
Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định như nhà xưởng,MMTB Đây là loại đầu tư dài hạn, đòi hỏi vốn lớn, thu hồi lâu, có tính chất kỹthuật phức tạp
Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất kinhdoanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có,
Trang 9duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất không thuộc các doanh nghiệp như: đầu
tư vào nguyên nhiên vật liệu, lao động Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trongtổng vốn đầu tư, có thể thu hồi vốn nhanh sau khi các kết quả đầu tư được đưa vàohoạt động
Đầu tư cơ bản là cơ sở nền tảng quyết định đầu tư vận hành, đầu tư vận hành tạođiều kiện cho các kết quả đầu tư cơ bản phát huy tác động Hai hình thức đầu tư nàytương hỗ nhau cùng giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển
Phân theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư.
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh: bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và tàisản lưu động, ngoài ra còn đầu tư vào tài sản vô hình (quảng cáo, thương hiệu )nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động tiêu thụ, nâng cao thị phần, tăng doanh thu, lợinhuận
Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật: là hình thức đầu tư nghiên cứu các côngnghệ tiên tiến và triển khai các ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt độngsản xuất kinh doanh và đời sống xã hội
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vậntải, bưu chính viễn thông, …)và hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, cấp thoát nước )Các hoạt động đầu tư này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau: Đầu tư phát triểnkhoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh đạt hiệu quả cao; còn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tạo tiềm lực vậtchất cho phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng
Phân theo cấp quản lý.
Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án quan trọngQuốc gia, dự án nhóm A, B và C Trong đó, dự án quan trọng Quốc gia do quốc hộiquyết định, dự án nhóm A do Thủ Tướng Chính Phủ quyết định, nhóm B và C do
Bộ Trưởng, Thủ Trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính Phủ, UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
Phân theo thời gian thực hiện đầu tư.
Theo tiêu thức này có thể phân chia hoạt động đầu tư phát triển thành đầu tưngắn hạn (đầu tư vận hành nhằm tạo ra tài sản lưu động cho cơ sở sản xuất kinhdoanh) và đầu tư dài hạn (đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, phát triểnkhoa học kỹ thuật và xây dựng cơ sở hạ tầng) Trên phạm vi nền kinh tế hai loạihình đầu tư này luôn hòa quyện hỗ trợ nhau, nhằm đảm bảo tính bền vững, vì mụctiêu phát triển của công cuộc đầu tư
Trang 10Phân theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư.
Đầu tư gián tiếp: đây là hình thức đầu tư mà trong đó người bỏ vốn không trựctiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư
Đó là việc các chính phủ thông qua các chương trình tài trợ cho các chính phủ củacác nước khác vay để phát triển kinh tế xã hội; hoặc việc đầu tư thông qua thịtrường tài chính
Đầu tư trực tiếp: là loại hình đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý,điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư
Phân theo cơ cấu tái sản xuất.
Đầu tư chiều rộng: đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng cơ sở SXKD hiện códựa trên công nghệ kỹ thuật cũ hoặc công nghệ hiện có trên thị trường Đầu tư chiềurộng đòi hỏi lượng vốn lớn để khê đọng lâu, thời gian thực hiện đầu tư và thời giancần hoạt động để thu hồi vốn đủ lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao.Đầu tư chiều sâu: đầu tư vào nghiên cứu triển khai các công nghệ hiện đại tiêntiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất, tăng sức cạnhtranh Đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tưkhông lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư chiều rộng
Phân theo vùng lãnh thổ.
Chia thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùng kinh tế trọng điểm,đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…Cách phân loại này phản ánh tìnhhình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương
1.1.5 Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Vốn đầu tư là khái niệm dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi dùng cho cáchoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu về một nguồn lực mới có khối lượng vàgiá trị lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra Đối với đầu tư phát triển nói riêng thì vốn đầu tưchính là các khoản tiền, khoản của cải vật chất, nguyên nhiên vật liệu và hàng hoáchi dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh để thu về khoản lợi nhuận lớn hơntrong tương lai
Đối với một doanh nghiệp thì vốn đầu tư xuất hiện từ khi doanh nghiệp cònchưa hình thành và sẽ tiếp tục phát triển đến khi nào doanh nghiệp dừng hoạt động.Hiện nay, vốn đầu tư là nhân tố tiên quyết trong sự phát triển của doanh nghiệp Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phốicho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và của xã hội.Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài
Trang 111.1.5.1 Nguồn vốn trong nước.
a) Nguồn vốn Nhà nước:
Bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư pháttriển và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà
nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đây chính là nguồn vốn dùng để đầu tư xây dựngcác công trình công cộng, các hạng mục công trình an ninh quốc phòng và đầu tưcho các cơ sở phúc lợi xã hội Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu từ nguồnthu của ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất nước càng phát
triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan trọng trong chiến lược pháttriển kinh tế xã hội Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sựbao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảmbảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩhiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Thông qua nguồn vốn này, Nhà nướcthực hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích pháttriển kinh tế của các ngành, các vùng, miền Góp phần tích cực trong việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
- Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước là
thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh nghiệp Nhà nướcvẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn Đây chính là nguồn vốn có vai trò quan trọngtrong việc điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước Hiện nay,với chủ trương tiếp tục dổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động củakhu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhànước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn
xã hội
b) Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dândoanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn
sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để Hiện nay,
do tập tính tiêu dùng của dân cư nước ta là tiết kiệm dành những khi gặp rủi ro, nênlượng vốn này tích luỹ trong dân còn chưa được khai thác triệt để, chưa được huyđộng một cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của nền kinh tế đất nước Mấy
Trang 12năm gần đây, khi nền kinh tế có những bước phát triển khả quan, các doanh nghiệp
tư nhân ngày càng được tự do hơn trong hoạt động nên hoạt động đầu tư trong khuvực tư nhân ngày càng gia tăng, vốn trong dân cũng được sử dụng một cách có hiệuquả hơn
c) Nguồn vốn từ thị trường vốn.
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của cácnước có nền kinh tế thị trường Đây là kênh bổ sung chủ yếu các nguồn vốn trung
và dài hạn cho các chủ đầu tư bao gồm cả Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp,
là cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sửdụng có hiệu quả hơn Trên thị trường vốn, bất kì các khoản vốn sử dụng nào cũngđều phải trả giá, vì vậy các chủ đầu tư muốn sử dụng vốn phải cân nhắc kĩ lưỡng vềhiệu quả đầu tư và việc sử dụng tiết kiệm các nguồn vốn huy động từ thị trườngvốn
1.1.5.2 Nguồn vốn nước ngoài.
- Vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu tài trợ các nước đang phát triển Đây chính lànguồn vốn mang tính ưu đãi nhiều nhất đối với các nước đi vay, ngoài các điều kiện
ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn lớn, bao giờ ODA cũng cóthêm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, tuy không có lãi suất ưu đãi
và dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó lại có ưu điểm là không gắn với cácràng buộc về chính trị xã hội Vì lãi suất cao và không dễ dàng để có thể vay nguồnvốn này nên nguồn vốn này thường chỉ được sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầuxuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn Hiện nay, nguồn vốn này ở Việt Nam vẫncòn khá nhiều hạn chế
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng cho đầu
tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệpphát triển Đây là nguồn vốn mà việc tiếp nhận không phát sinh nợ đối với các nướctiếp nhận, thay vì nhận lãi suất trên vốn, nhà đầu tư sẽ được nhận phần lợi nhuậnthích đáng khi dự án đi vào hoạt động có hiệu quả Bên cạnh đó, nguồn vốn này cònmang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩyphát triển nghành nghề mới, đặc biệt là các dây chuyền công nghệ đòi hỏi kĩ thuậtcao hay cần nhiều vốn.Vì vậy, nguồn vốn này có vai trò cực kì quan trọng đối vớiquá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nướctiếp nhận
Trang 13- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hoá nhanh chóng hiện nay, mốiliên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc
tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượngvốn lưu chuyển trên phạm vi toàn thế giới Đối với nước ta hiện nay, để thúc đẩykinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hoá vàhiện đại hoá, Nhà nước rất coi trọng việc huy động mọi nguồn vốn trong và ngoàinước để đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sốngnhân dân Trong đó, nguồn huy động qua thị trường vốn cũng được Chính phủ rấtquan tâm, tuy rằng đây là một nguồn vốn còn mới mẻ và rất phức tạp đối với ViệtNam
1.2 Nội dung chủ yếu của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1.2.1 Đầu tư phát triển tài sản cố định (hữu hình và vô hình).
Đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ) đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt độngđầu tư của doanh nghiệp bởi hai lý do cơ bản sau:
- Thứ nhất, chi phí cho các hạng mục chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư
- Thứ hai, là bộ phận cơ bản tạo ra sản phẩm, hoạt động chính của doanhnghiệp
Như vậy, hoạt động đầu tư vào TSCĐ đóng vai trò quan trọng nhất nếu khôngmuốn nói là đóng vai trò quyết định đối với phần lợi nhuận thu được của doanhnghiệp (mặc dù chúng ta chưa đề cập đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm) Các hãngthường tăng cường thêm TSCĐ khi họ thấy trước những cơ hội có lợi để mở rộngsản xuất, hoặc vì có thể giảm bớt chi phí bằng cách chuyển sang những phươngpháp sản xuất dùng nhiều vốn hơn
TSCĐ bao gồm cơ sở hạ tầng xây dựng và máy móc thiết bị Đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng (CSHT) là một trong những hoạt động được thực hiện đầu tiên củamỗi công cuộc đầu tư (trừ trường hợp đầu tư chiều sâu) Hoạt động đó bao gồm cáchạng mục xây dựng nhằm tạo điều kiện và đảm bảo cho dây chuyền thiết bị sảnxuất, công nhân hoạt động thuận lợi an toàn Đó là các phân xưởng sản xuất chính,phụ, hệ thống điện nước, giao thông, thông tin liên lạc, các văn phòng, khu côngcộng khác… Để thực hiện tốt các hạng mục này thì phải tính đến các điều kiệnthuận lợi, khó khăn của vị trí địa lý, địa hình, địa chất… đồng thời căn cứ vào yếucầu về đặc tính kỹ thuật của máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, cách tổ chứcđiều hành và các yêu cầu khác
Đầu tư MMTB gắn bó chặt chẽ với chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp.Đây là bộ phận chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất trong hoạt động đầu tư của doanh
Trang 14nghiệp sản xuất Mặt khác, trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ nên
có nhiều tầng công nghệ, nhiều cơ hội để lựa chọn MMTB phù hợp về nhiều mặt
Do đó, việc đầu tư cho MMTB, DCCN phải được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩnsau:
- Cho phép sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao
- Cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh của doanhnghiệp, của vùng như lao động, nguyên liệu
- Giá cả và trình độ công nghệ phải phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và
xu thế phát triển công nghệ của đất nước và thế giới
Khi đầu tư, doanh nghiệp cần phải có đội ngũ cán bộ am hiểu nhất định về côngnghệ, biết định giá chính xác về thiết bị công nghệ Giá của công nghệ gồm nhiềuthành phần: chi phí sản xuất, chi phí mua bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, thươnghiệu, chi phí huấn luyện chuyên môn… Phần khó định giá nhất là chi phí sáng chế,
bí quyết kỹ thuật hay còn gọi là “phần mềm” Hơn nữa, doanh nghiệp sẽ bị thua lỗlớn nếu mua được thiết bị rẻ nhưng hoạt động không hiệu quả Để có được thiết bịnhư mong muốn thông thường các doanh nghiệp áp dụng phương thức đấu thầu.Hoạt động đầu tư vào MMTB của doanh nghiệp có thể diễn ra dưới hai hìnhthức: đầu tư chiều rộng (trình độ kỹ thuật và công nghệ như cũ) và đầu tư chiều sâu(hiện đại hoá công nghệ) Trong đó, đầu tư tăng cường khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp nhấn mạnh hình thức thứ hai Để đổi mới công nghệ, các doanhnghiệp có thể thực hiện bằng các con đường sau:
- Cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống hiện có
- Tự nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ mới
- Nhập công nghệ tiến tiến từ nước ngoài thông qua mua sắm trang thiết bị vàchuyển giao công nghệ
1.2.2 Đầu tư vào hàng tồn trữ.
Hàng tồn trữ của doanh nghiệp là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, chitiết, phụ tùng, thành phẩm được tồn trữ trong doanh nghiệp
Trước đây, người ta ít coi trọng đến đầu tư hàng tồn trữ và coi đây như là mộthiện tượng bất thường, không đưa lại kết quả như mong muốn của doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp cho thấy rằng việc đầu tưhàng tồn trữ là cần thiết, bởi hai lý do cơ bản sau:
- Thứ nhất, hãng có thể dự đoán hay khẳng định giá cả sẽ tăng Ví dụ giá sẽ rẻhơn sau này Tương tự, các hãng có thể om hàng thành phẩm không chịu bán với hyvọng sẽ bán được giá cao hơn trong tương lai gần
Trang 15- Thứ hai, các hãng có ý định giữ lại hàng dự trữ là do nhiều quá trình sản xuấtcần có thời gian để hoàn tất Một số hàng dự trữ có vai trò là khâu trung gian củacác đầu tư vào trước khi chúng trở thành sản phẩm Nhưng còn một số động cơkhác nữa là để đề phòng nhu cầu về sản phẩm của hãng bất ngờ tăng lên Do khôngthể thay đổi công suất nhà máy một cách nhanh chóng, hãng có thể phải chi trả mộtkhoản lớn cho việc làm ngoài giờ nếu hãng muốn đáp ứng được đơn đặt hàng tăngvọt, do vậy có thể sẽ ít tốn kém hơn nếu giữ một lượng hàng dự trữ để đáp ứng nhucầu tăng đột ngột đó Tương tự, khi có suy thoái tạm thời, việc tiếp tục sản xuất vàtích trữ một số hàng không bán được có thể rẻ hơn là phải những khoản trợ cấp tốnkém trả cho số lao động dôi thừa với mục đích giảm bớt lực lượng lao động và cắtgiảm sản xuất.
Ngoài hai lý do trên thì đầu tư hàng dự trữ còn có tác dụng điều hoà sản xuất,đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, hợp lý, hiệu quả
Căn cứ vào mục đích dự trữ, dự trữ được chia thành các loại cơ bản sau:
- Dự trữ chu kỳ: là khoản dự trữ thay đổi theo qui mô của đơn đặt hàng
- Dự trữ bảo hiểm: là khoản dữ trữ cho tình trạng bất định về cung cầu và thờigian chờ hàng
Xét về mặt chi phí, bằng việc giữ lại các hàng hoá lẽ ra có thể bán được, haymua vào những hàng hoá mà việc mua đó đáng ra có thể hoãn lại, hãng giữ lạikhoản tiền đáng ra có thể sử dụng theo cách khác để thu lãi Do đó, chi phí của việcgiữ hàng tồn kho chính là khoản lãi cho số tiền có thể thu được bằng cách bánnhững hàng hoá này đi hay số tiền bỏ ra để mua chúng
Khi lãi suất thực tế tăng, việc giữ hàng tồn kho trở nên tốn kém, cho nên cácdoanh nghiệp hành động hợp lý tìm cách giảm bớt hàng tồn kho của mình Bởi vậy,việc tăng lãi suất tạo ra áp lực đối với đầu tư vào hàng tồn kho Chẳng hạn, năm
1980 nhiều doanh nghiệp áp dụng kế hoạch sản xuất “đúng lúc”, để cắt giảm khốilượng hàng tồn kho bằng cách sản xuất hàng hoá ngay trước khi bán Lãi suất caophổ biến trong phần lớn thập kỷ đó là một cách để lý giải sự thay đổi trong chiếnlược kinh doanh
Đây là một khoản chi phí tương đối lớn trong vốn đầu tư của doanh nghiệp Vìvậy, trong quá trình sử dụng phải tính toán kỹ lưỡng, tránh tồn kho quá nhiều hoặcquá ít, đảm bảo hiệu quả của đồng vốn và đáp ứng nhu cầu của thị trường
1.2.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định và thể hiện trình độ văn minh của nềnsản xuất xã hội Marx đã từng nói: “Trình độ sản xuất của một nền kinh tế không
Trang 16phải chỗ xã hội đó sản xuất ra cái gì mà là xã hội đó dùng cái gì để sản xuất” Cùngvới việc đề cao vai trò của lực lượng sản xuất, Lênin khẳng định: “Lực lượng sảnxuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Trong thực
tế, đầu tư nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ nhân tố con ngườiluôn là nhân tố có tính chất quyết định trong mọi tổ chức Đầu tư nâng cao chấtlượng nguồn lao động có quan hệ chặt chẽ với đầu tư máy móc thiết bị nhà xưởng
do ứng với những mức độ hiện đại khác nhau của công nghệ sẽ cần lực lượng laođộng với trình độ phù hợp Trình độ của lực lượng lao động được nâng cao cũnggóp phần khuyếch trương tài sản vô hình của doanh nghiệp
Trên cơ sở đầu tư đúng hướng và có hiệu quả, doanh nghiệp sẽ nâng cao trình độchuyên môn, kỹ năng của người lao động, tạo ra các động lực khuyến khích ngườilao động phát huy tối đa khả năng trong công việc Đầu tư cho nguồn nhân lực làmột hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu cơ bản của mình
là lợi nhuận
Hoạt động quản lý nhân lực của doanh nghiệp bao gồm công tác tuyển dụng,đào tạo, sử dụng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao…Trong đó phát triển chất lượngnguồn nhân lực tập trung ở công tác đào tạo Đào tạo quyết định phẩm chất chínhtrị, năng lực quản lý, trình độ tay nghề Đào tạo của doanh nghiệp có thể lựa chọnđào tạo bên ngoài do các tổ chức chuyên về đào tạo đảm trách hay tổ chức các khoáđào tạo nội bộ Về đối tượng đào tạo, ta có ba nhóm là:
- Đào tạo lực lượng quản lý, cán bộ chuyên môn
- Đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ
- Đào tạo và nâng cao tay nghề cho công nhân
Có thể nói rằng lực lượng cán bộ quản lý trong doanh nghiệp không đông về sốlượng nhưng lại có tính chất quyết định đối với sự thành bại của doanh nghiệp.Người quản lý trong cơ chế thị trường không chỉ thực hiện những công việc “thànhtên” và còn phải năng động sáng tạo trong những tình huống khó khăn, bất ngờ Do
đó, đòi hỏi họ không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ Mặt khác, sự phát triểnnhư vũ bão của khoa học công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp có sự đầu tư thích đángcho đào tạo cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học Họ sẽ là người đem tri thứcmới và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh Và để vận hành đượcmáy móc thiết bị hiện đại, bắt kịp với trình độ sản xuất tiên tiến thì nâng cao taynghề của công nhân cũng là một tất yếu khách quan
Trang 171.2.4 Đầu tư cho hoạt động marketing.
Đầu tư cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp được coi là một hoạt động đầu tưcho tài sản vô hình Ngoài ra đầu tư cho hoạt động marketing của doanh nghiệp cònbao gồm các hoạt động:
- Nghiên cứu và phát triển thị trường
- Đầu tư mua bản quyền
- Đầu tư cho nâng cao uy tín và vị thế của Công ty thông qua các hoạt độngquảng cáo bằng các hình thức trực tiếp như sử dụng các phương tiện truyền thông,
pa nô áp phích, đồ dùng cá nhân… hoặc hình thức gián tiếp như tài trợ cho các hoạtđộng, chương trình, dự án… cùng các hoạt động giao tiếp khuếch trương khác
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan.
1.3.1.1 Môi trường pháp lí.
Môi trường pháp lí bao gồm các luật và các văn bản dưới luật, mọi định hướng,mục tiêu của doanh nghiệp khi đưa ra đều dựa trên cơ sở các luật định của Nhànước, các doanh nghiệp hoạt động dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua cácluật định Do vậy, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong mỗi thời kì hoạt độngnên dựa trên quy định của các văn bản pháp luật, tuỳ theo định hướng phát triểnkinh tế của đất nước để đề ra phương hướng cho đầu tư của doanh nghiệp mình.Hiện nay, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn, do vậy Nhà nước cũng cónhiều những chính sách, những văn bản pháp luật tạo có tính chất thông thoánghoặc ưu tiên cho các doanh nghiệp xây dựng trong nước có nhiều điều kiện để pháttriển Đây chính là một thuận lợi rất lớn mà môi trường pháp lí mang lại cho cácCông ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như Công ty cổ phần 504 Tuy nhiên,chính môi trường pháp lí đôi khi vẫn còn có những hiện tượng quan liêu, chồngchéo lên nhau cộng với sự tha hoá của một số cán bộ làm công tác quản lí Nhà nước
đã trở thành rào cản rất lớn đối với quá trình giải ngân vốn đầu tư hoặc giải phóngmặt bằng xây dựng làm cho các Công ty xây dựng nhiều khi bị ứ đọng vốn tại cáccông trình, tạo ra sự thất thoát lớn về vốn
1.3.1.2 Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng Môi trường kinh
tế vừa tạo ra các cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp, vừa có thể là nhân tố đầutiên và chủ yếu trong việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp nếu định hướng và
Trang 18hoạt động của doanh nghiệp không tuân theo quy luật phát triển của nó Do đó, khiđưa ra một chiến lược đầu tư cho doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đềuphải phân tích kĩ càng các biến động của môi trường kinh tế mà doanh nghiệp mìnhtham gia.
1.3.1.3 Môi trường khoa học công nghệ.
Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thế giới làm cho cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng phải đầu tư đổi mới công nghệ Sựthay đổi nhanh chóng đó đã làm cho tuổi thọ của các thiết bị kĩ thuật ngày càng phảirút ngắn do công nghệ kĩ thuật của chúng theo thời gian ngày càng không đáp ứngđáp ứng được với đòi hỏi của thị trường và thời đại Vì vậy trong định hướng đầu tưcủa doanh nghiệp phải có sự suy xét chu đáo, lựa chọn các loại máy móc sao chovừa phù hợp với trình độ phát triển và yêu cầu của thời đại vừa phù hợp với kếhoạch phát triển và ngân sách đầu tư có thể cho phép của doanh nghiệp
1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan.
1.3.2.1 Lực lượng lao động bên trong Công ty.
Do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và khoa học trên thế giới, nhân tố conngười ngày càng trở nên quan trọng, là nhân tố đảm bảo sự thành công của đơn vị.Các doanh nghiệp muốn thành công thì cùng với sự đầu tư về máy móc thì doanhnghiệp cũng cần phải đầu tư cho yếu tố con người Do đó, trong chiến lược đầu tưcủa bất kì một doanh nghiệp nào, nhân tố con người cũng phải được đưa lên hàngđầu Cùng với các biện pháp đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ côngnhân viên tại doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chínhsách, đề ra các biện pháp thu hút nhân tài cho sự phát triển của doanh nghiệp Bêncạnh đó, doanh nghiệp cũng cần có các chính sách đãi ngộ, thưởng phạt rõ ràng đốivới người lao động để họ gắn bó và đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển củadoanh nghiệp
1.3.2.2 Cơ sở vật chất của doanh nghiệp.
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động củamỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Cùng với thời gian và sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học kĩ thuật hiện đại, cơ
sở vật chất của doanh nghiệp cũng ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc hoặc không phùhợp để chế tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thời đại
Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm củadoanh nghiệp mình thì trong chiến lược đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại hoá
và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh doanh
Trang 191.3.2.3 Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.
Trong một môi trường kinh tế phát triển mạnh và luôn biến động như hiện nay,các doanh nghiệp luôn luôn bị đe doạ bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ môi trường kinh
tế, doanh nghiệp nào biết cách làm chủ những biến động đó thì sẽ hoạt động an toànhơn và có nhiều cơ hội tồn tại, phát triển hơn so với các doanh nghiệp khác Việcxây dựng các kế hoạch, mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp chính là phươngthức hữu hiệu để loại bỏ bớt các yếu tố rủi ro do môi trường kinh tế đem lại Vì vậy,bất kì doanh nghiệp nào đi vào hoạt động đều có các mục tiêu, chiến lược và cácđịnh hướng phát triển, chúng là nhân tố chủ quan chính ảnh hưởng đến hoạt độngcủa doanh nghiệp
Do vậy, mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp trong từng thời kì tác độngđến việc đầu tư của doanh nghiệp, hoạt động đầu tư phải dựa vào định hướng pháttriển của doanh nghiệp Đây chính là cơ sở cho việc đầu tư của doanh nghiệp, các
kế hoạch đầu tư được xây dựng dựa trên mục tiêu phát triển, các kế hoạch đầu tưchính là việc hiện thực hoá dần các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp
1.3.2.4 Đặc điểm về quản trị doanh nghiệp.
Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao lãnh đạo doanhnghiệp có vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của doanh nghiệp Các nhà quảntrị là người hoạch định chính sách, chiến lược phát triển cho doanh nghiệp trongtừng thời kì khác nhau, do vậy phẩm chất và năng lực của các nhà quản trị có vai tròquan trọng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp phụ thuộc vào phần lớn đặc điểm quản trị doanh nghiệp củacác nhà quản trị
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển doanh nghiệp.
1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1.4.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện.
* Xét về mặt giá trị
Đối với các dự án đầu tư xây dựng hoặc lắp đặt do Ngân sách Nhà nước tàitrợ, để số vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kếtquả của quá trình đầu tư được tách theo phương pháp đơn giá với công thức sau:
Iv=ΣQi*Pi+Cin+WTrong đó:
Iv : Mức vốn đầu tư thực hiện
Qi: Khối lượng công việc hoàn thành theo đúng tiêu chuẩn
Trang 20Pi: Đơn giá dự toán tính cho một đơn vị khối lượng công việc.
Cin: Phụ phí bao gồm những chi phí chưa được tính trong đơn giá dự toán.Cin được quy định theo tỷ lệ % so với một loại chi phí nào đó và được phânbiệt theo từng công trình và từng khu vực lãnh thổ đất nước Việt Nam
W: Lãi định mức, được Nhà nước quy định theo tỷ lệ % so với giá thành dựtoán hoặc giá trị dự toán của khối lượng công việc hoàn thành
- Đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móc
+ Đối với những trang thiết bị cần lắp:
Iv = Giá mua + CP vận chuyển + CP bảo quản cho đến khi giao lắp
+ Đối với những trang thiết bị không cần lắp:
Iv = Giá mua + Chi phí vận chuyển đến kho và nhập kho
* Xét về mặt hiện vật:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thông qua hoạt động xây lắp được chuyển hoáthành các công trình và hạng mục công trình đã hoàn thành hoặc số tấn máy đãlắp xong, các linh kiện cấu kiện được tạo ra ngay tại công trình
1.4.1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất tăng thêm.
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình đối tượngxây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình xây dựng,mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt độngđược ngay
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất,phục vụ của các TSCĐ đã được huy động vào sử dụng chúng để sản xuất rasản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong
dự án đầu tư
Các TSCĐ được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là cácsản phẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư, chúng có thể được biểu hiệnbằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật
Các chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như số lượng các TSCĐ được huy động,công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của các TSCĐ được huy động, mứctiêu dùng nguyên vật liệu trong một đơn vị thời gian
Công thức tính giá trị TSCĐ huy động được của một dự án đầu tư:
F = Ivo- CTrong đó:
F: Giá trị TSCĐ được huy động
Trang 21Ivo: Vốn đầu tư đã được thực hiện của các đối tượng, hạng mục côngtrình đã được huy động.
C: Các chi phí không làm tăng giá trị TSCĐ bao gồm:
Chi phí đào tạo cán bộ quản lý hoặc nhân viên kỹ thuật có thể đưa vào hoạtđộng ngay khi công trình được xây xong
Chi phí quản lý công trình xây dựng, chuẩn bị sản xuất, chuẩn bị xây dựng.Chi phí di chuyển máy thi công, chi phí mua sắm công cụ, dụng cụ không
Hệ số huy động TSCĐ của dự án = Giá trị TSCĐ đã được huy động của dự án
Tổng VĐT đã được thực hiện của dự án
1.4.1.4 Chỉ tiêu phản ánh cường độ thực hiện đầu tư và kết quả cuối cùng của đầu tư.
iv =
Ivo
F
Trong đó:
iv: Vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị TSCĐ huy động
Ivo: Vốn đầu tư đã thực hiện
F: Giá trị TSCĐ huy động
Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt nhưng phải luôn > 1 thì mới đảm bảo cho hoạtđộng đầu tư ngày càng mở rộng và việc triển khai các kết quả của đầu tư thuậnlợi
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1.4.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần.
Các chỉ tiêu này cho biết quy mô lợi ích của dự án Đây là lợi nhuận để ănchia, để thiết lập các loại quỹ của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này càng lớn càngtốt Chỉ tiêu lợi nhuận thuần được tính cho từng năm hoặc từng giai đoạn hoạtđộng của đời dự án Chỉ tiêu này có tác dụng so sánh giữa các năm hoạt độngcủa dự án và để tính chỉ tiêu tổng lợi nhuận thuần, lợi nhuận thuần bình quân năm
Trang 22của cả đời dự án.
Lợi nhuận thuần hàng năm (ký hiệu là Wi) được tính như sau:
Wi = Oi - CiTrong đó:
Oi: Doanh thu thuần
Ci: Chi phí ở năm i bao gồm tất cả các khoản chi có liên quan đến sản xuất,kinh doanh, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý hành chính, chi phí khấuhao, chi phí trả lãi vốn vay, chi phí khác
Tổng lợi nhuận thuần của cả đời dự án: Chỉ tiêu này có tác dụng so sánhquy mô lãi giữa các dự án Để tính tổng lợi nhuận các năm của cả đời dự án,trước hết phải tính chuyển lợi nhuận thuần hàng năm về cùng một mặt bằngthời gian ở hiện tại hoặc tương lai
Cũng như chỉ tiêu lợi nhuận thuần, chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án cũngthường được tính chung về mặt bằng hiện tại, kí hiệu là N P V Chỉ tiêu nàyphản ánh quy mô lãi của sự án ở mặt bằng hiện tại và được xác định theo côngthức
NPV =
0 (1 )
n
t t t t
B C ir
=
−+
∑
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện tại thuần của cả đời dự án
Bi : Lợi ích trong năm i
Ci :
Chi phí trong năm i
ir : Lãi suất chiết khấu
n : Số năm hoạt động của đời dự án
- Tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư.
Còn gọi là hệ số thu hồi vốn đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh mức ( lợi nhuậnthuần) thu được từ một đơn vị đầu tư (1000đ hoặc 1 triệu đồng …) được thực hiện,
ký hiệu là RR, công thức tính chỉ tiêu này có dạng sau đây:
→ Tính cho từng năm hoạt động, thì
0
ipv i I
W
RR =Trong đó:
- Wipv: Lợi nhuận thuần thu được năm i tính theo mặt bằng giá trị các kết quảđầu tư bắt đầu phát huy tác dụng
Trang 23- Iv0: Tổng sô tiền vốn đầu tư thực hiện tính đến thời điểm các kết quả đầu tư của
dự án bắt đầu phát huy tác dụng
→ Nếu tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư của dự án thì chỉ tiêu thu nhập thuầntoàn bộ công cuộc đầu tư tính cho 1.000 đ hay 1 triệu đồng vốn đầu tư được tínhnhư sau:
0
I
NPV npv = hay
pv v
n
i ipv S I
W npv
−
= ∑−
= 0
i ipv I
SV W
W : Tổng lợi nhuận thuần cả đôi dự án
NPV: Tổng thu nhập thuần của cả đời một dự án đầu tư tính ở các mặt bằngthời gian khi các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng
SVpv: Giá trị thanh lý theo mặt bằng thời gian khi dự án bắt đầu phát huy tácdụng
RRi và NPV: Càng nhỏ càng tốt (Mininum), NPV < 1
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn tự có.
Vốn tự có là một bộ phận của vốn đầu tư, là một yếu tố cơ bản để xem xét tiềmlực tài chính cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư của các cơ sở không đượcngân sách tài trợ Nếu vốn phải đi vay ít, tổng tiền trả lãi vay ít Tỷ suất sinh lời vốn
tự có càng cao và ngược lại Công thức tính có dạng sau đây :
→ Nếu tính cho 1 năm hoạt động:
i
i i E
W
E =Trong đó:
E1: Vốn tự có bình quân năm i của dự án
Wi: Lợi nhuận thuần năm i của dự án
→ Nếu tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư dự án
pv E
E
NPV npv =
Trang 24npvE: Càng lớn càng tốt.
- Chỉ tiêu số lần quay vòng của vốn lưu động.
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn đầu tư Vốn lưu động quay vòng càngnhanh, càng cần ít vốn và do đó tiết kiệm vốn đầu tư và trong những điều kiệnkhông đổi thì tỷ suất sinh lời của vốn đầu càng cao Công thức tính chỉ tiêu này códạng sau đây:
ci
i Wci W
c =Trong đó:
- Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư.
Là thời gian mà các kết quả của quá trình đầu tư cần hoạt động để có thể thu hồivốn đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận thuần thu được
Công thức tính toán như sau:
pv
v W
I
T = 0Trong đó:
Trang 25- Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR).
Là tỷ suất lợi nhuận nếu được sử dụng để tính chuyển các khoản thu chi củatoàn bộ công cuộc đầu tư về mặt bằng thời gian ở hiện tại sẽ làm cho tổng thu cânbằng với tổng chi Công cuộc đầu tư được coi là có hiệu quả khi: IRR < IRR định mức
Ở đây IRRđịnh mức có thể là lãi suất đi vay nếu phải vay vốn để đầu tư, có thể là tỷsuất lợi nhuận định mức do nhà nước quy định nếu vốn đầu tư do ngân sách cấp, cóthể là định mức chi phí cơ hội nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư Bản chất của IRRđược thể hiện trong công thức sau đây:
+
−+
1 0
1 0
)1
(
1)
1(
thu
Để tính IRR có thể áp dụng các phương pháp sau đây:
→ Thử dần các giá trị của tỷ suất chiết khấu r (0 < r < ∞; với r tính theo hệ số)vào vị trí của IRR trong công thức trên Trị số nào của r làm cho công thức trênbằng 0, đó chính là IRR Phương thức này mất nhiều thời gian và mò mẫm
)( 2 12 1
1
NPV NPV
NPV r
−+
= Với r2 > r1 ; r2 - r1≤ 5%
NPV1 > 0 và gần 0; NPV2 < 0 và gần 0
1.4.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội đầu tư phát triển doanh nghiệp.
- Mức đóng góp cho ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi các kếtquả đầu tư bắt đầu hoạt động như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhậpkhẩu, thuế đất, …) từng năm và cả đời dự án (tổng số và tính bình quân trên
1000 đồng vốn đầu tư) Để rõ hơn có thể tính mức đóng góp cho Ngân sách Nhànước của một đồng vốn đầu tư:
IvoTrong đó:
Ivo : Tổng vốn đầu tư
Trang 26m : Mức đóng góp cho Ngân sách của một đồng vốn đầu tư.
M: Tổng mức đóng góp cho Ngân sách
- Mức thu nhập (hay tiền lương của người lao động) tăng thêm so với vốn đầu
tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp
- Số lao động có việc làm: Bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp và số
lao động có việc làm ở các dự án liên đới
- Thu nhập của người lao động: Là tổng số lương mà toàn bộ số lao động
có việc làm từ dự án nhận được cùng các khoản trợ cấp khác
- Số lao động tăng lên từng năm và cả đời dự án (tính tổng số bình quân trên1000đồng vốn đầu tư) Phương pháp tính chỉ tiêu này như sau :
Số chỗ làm việctăng thêm =
Số lao độngthu hút thêm -
Số lao độngmất việc làm
- Mức tiết kiệm ngoại tệ.
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh tổng số ngoại tệ tiết kiệm tăngthêm trong kì nghiên cứu của doanh nghiệp với tổng mức vốn đầu tư phát huy tácdụng trong kí nghiên cứu của doanh nghiệp
Số ngoại tệ thực thu từ hoạt động đầu tư từng năm và cả đời dự án (tổng số
và tính bình quân trên 1000đ vốn đầu tư) Phương pháp tính chỉ tiêu này nhưsau:
Số ngoại tệthực thu =
Tổng thungoại tệ -
Tổng chingoại tệ
- Một số lợi ích xã hội khác thu được từ việc thực hiện dự án.
+ Mức tăng năng suất lao động sau khi đầu tư vào so với trước khi đầu tư(tổng số và tính trên 1000đ vốn đầu tư) từng năm và bình quân cả đời dự án + Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động Thể hiện ở chỉtiêu bậc thợ bình quân thay đổi sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư và mứcthay đổi này tính thêm 1000đ vốn đầu tư
+ Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường do tiến hành đầu tư.Công thức tính toán như sau:
Mức độ chiếm lĩnh thị trường
Doanh thu do bán sản phẩm của
cơ sở tại thị trường nàyDoanh thu tiêu thụ sản phẩm cùngloại tại thị trường này
Trang 27+ Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất: Thể hiện ở mức độ thay đổi cấpbậc công việc bình quân sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư và mức thay đổinày tính trên 1000đ vốn đầu tư
+ Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý: Thể hiện ở sự thay đổimức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài sản cố định củalao động, quản lý sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư
+ Các tác động đến môi trường…
Trang 28CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 504
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần 504.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
2.1.1.1 Quá trình hình thành.
Công ty Cổ Phần 504 là một đơn vị ra đời sau ngày miền Nam hoàn toàn giảiphóng do đó Công ty đã phải đương đầu với nhiều khó khăn về vốn, việc làm tốc
độ phát triển trong sản xuất kinh doanh chậm nhưng cán bộ công nhân trong Công
ty vẫn luôn cố gắng tìm những biện pháp giữ vững bước đi, tạo sự ổn định trong sảnxuất kinh doanh
Tiền thân của Công ty Cổ phần 504 là Công ty công trình 16 (cục quản lý đường
bộ Việt Nam) thành lập sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng
Đến năm 1981 sáp nhập thêm Công ty công trình 14 (cục quản lý đường bộ ViệtNam), Công ty công trình 16 đổi tên thành Công ty đại tu công trình giao thông 504trực thuộc khu quản lý đường bộ 5
Đến năm 1983, đoạn quản lý đường bộ Nghĩa Bình nhập vào Công ty và đượcđổi tên là Xí nghiệp đường bộ 504
Đến tháng 7 năm 1989, vì do điều kiện tách tỉnh và để phù hợp cho hoạt độngtrên địa bàn và nhằm cho cơ cấu được gọn nhẹ, Xí nhiệp đường bộ 504 được chiathành hai bộ phận Một bộ phận ở Quảng Ngãi thành lập Xí nghiệp đường bộ 509
và bộ phận ở Bình Định là Xí nghiệp quản lí đường bộ 504
Căn cứ vào quyết định số 200/QĐ/TCCB-LĐ ngày 13/05/1993 của Bộ trưởng
Bộ giao thông vận tải khu quản lí đường bộ 5 đã tách lực lượng đại tu, xây dựng cơbản, sửa chữa ra khỏi đơn vị thành lập Công ty công trình giao thông 504 trực thuộckhu quản lí đường bộ 5
Đến tháng 12/1996, Bộ trưởng bộ giao thông vận tải ra quyết định điều chuyểnCông ty công trình giao thông 504 sang trực thuộc Tổng Công ty xây dựng côngtrình giao thông 5 Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 chức năng chủyếu là xây dựng mới và sửa chữa các công trình giao thông đường bộ Năm 2005,Công ty đã tiến hành cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần 504
- Tên Công ty : Công ty Cổ phần 504
- Tên giao dịch quốc tế : JOINT STOCK COMPANY 504
- Tên viết tắt : JOSCO 504
Trang 29- Trụ sở chính : 57 Nguyễn Thị Định - TP Quy Nhơn - Tỉnh BìnhĐịnh
- Điện thoại : (056) 3.646.019
2.1.1.2 Quá trình phát triển của Công ty.
Công ty cổ phần 504 là một doanh nghiệp nhà nước hình thành sau khi đấtnước thống nhất, trong thời kỳ đất nước phát triển với nhiều biến động, công ty đã
có nhiều lần nhập, tách cơ sở (Xí nghiệp, Công ty) và cấp trên (Khu liên hiệp, Tổngcông ty) và cơ sở của công ty là cụm công nghiệp Vạn Mỹ Có thể tạm chia quátrình hình thành và phát triển của công ty thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn từ 5/1975 đến 5/1983
Ngày 20/08/1975 – UBND tỉnh Bình Định thành lập “Xí nghiệp đá bê tôngnhựa Vạn Mỹ” thay tên “Hầm đá Vạn Mỹ” cũ
Đến tháng 4/1976 Bộ GTVT quyết định chuyển giao: “Xí nghiệp đá bê tôngnhựa Vạn Mỹ” cho XNLHCT – 4 ở Sài Gòn quản lý theo hệ VECCO cũ được đặttên mới là “Công ty công trình 4.4”
Đến tháng 5/1981 mới có quyết định chính thức đặt tên mới là: “Công ty đại
tu cầu đường 504”
Giai đoạn từ 5/1983 đến 2004
Đến năm 1983, đoạn quản lý Quốc lộ Nghĩa Bình nhập vào Công ty và đượcđổi tên là “Xí nghiệp đường bộ 504”
Đến tháng 7/1989 được chia thành hai bộ phận: một bộ phận ở Quảng Ngãi
và một bộ phận ở Bình Định Bộ phận ở Quảng Ngãi thành lập “Xí nghiệp đường
bộ 509” và bộ phận ở Bình Định là “Xí nghiệp quản lý đường bộ 504”
Căn cứ vào quyết định số 900/QĐ/TCCB-LĐ ngày 13/05/1993 của Bộtrưởng Bộ GTVT, Khu quản lý đường bộ 5 đã tách lực lượng trung đại tu, xây dựng
cơ bản, sửa chửa thường xuyên đường bộ ra khỏi đơn vị để thành lập Công ty côngtrình giao thông 504 trực thuộc khu quản lý đường bộ 5
Đến tháng 12/1996, Bộ trưởng Bộ GTVT ra quyết định điều chuyển Công tycông trình giao thông 504 sang trực thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giaothông 5 Từ đó công ty chính thức trở thành Doanh nghiệp Nhà nước hoạch toánđộc lập Ngành nghê kinh doanh chính là xây dựng công trình giao thông, công
Trang 30nghiệp, thủy lợi Địa chỉ Công ty đóng tại 57 Nguyễn Thị Định, thành phố QuyNhơn, tỉnh Bình Định.
Năm 1982: Chính phủ tặng huy chương lao động hạng 3
Năm 1993: Bộ trưởng Bộ GTVT tặng cờ thi đua xuất sắc
Năm 1994: Tiếp tục được Bộ trưởng Bộ GTVT tặng cờ thi đua xuất sắc
Giai đoạn từ 2004 đến nay
Năm 2004, thực hiện chỉ tiêu về việc sắp xếp lại cơ cấu doanh nghiệp nhànước chính phủ, Công ty 504 tiến hành cổ phần hóa và chính thức đi vào hoạt độngtheo mô hình Công ty cổ phần từ tháng 5/2005
Trong những ngày đầu sản xuất kinh doanh theo mô hình mới, Công ty đãbắt tay xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, giàu kinhnghiệm và một lực lượng lao long kỹ thuật có tay nghề; đầu tư có chọn lọc vàonhững công trình trọng điểm; chú trọng đầu tư các trang thiết bị, máy móc tiên tiếntrong xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho tiến độ thi công cũng như chất lượngcông trình nhằm đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật cao của ngành xây dựng…
Với những điều chỉnh ấy, Công ty Cổ phần 504 đã bắt đầu kinh doanh có lãi,lấy lại vị trí cạnh tranh và khẳng định uy tín của mình trong ngành xây dựng Hàngloạt dự án, công trình có trị giá hàng trăm tỷ đồng được công ty thực hiện thànhcông có chất lượng được nhà đầu tư đánh giá cao Để phát huy tinh thần làm chủcủa mình, CB – CNLĐ đều được khuyến khích đưa ra những ý kiến cơ sở xây dựng,hoặc những cải tiến kỹ thuật trong quá trình lao long để cùng nhau phát triển Trongchiến lược kinh doanh, để nâng cao sức mạnh cạnh tranh nhanh chóng nâng caonăng lực tài chính HĐQT có chủ trương mở rộng ngành nghề kinh doanh trong cáclĩnh vực, xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 kết hợpvới hệ thống kiểm soát nội bộ trong toàn Công ty và phấn đấu, giữ vững là đơn vịmạnh trong ngành giao thông
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
2.1.2.1 Chức năng.
- Đại tu về xây dựng công trình giao thông, công nghiệp, sửa chữa thiết bị giaothông vận tải, các công trình công nghiệp, dân dụng, thủy lợi, thủy điện
- Thi công và gia công giầm cầu thép, cấu kiện thép và sản phẩm cơ khí khác
- Đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng cụm dân cư và đô thị, đầu tư xâydựng và kinh doanh bất động sản với quyền sở hữu hoặc đi thuê
Trang 31- Khai thác đá xây dựng và cung cấp nguyên liệu đá cho các ngành sản xuất đá
kĩ nghệ; khai thác - sản xuất - mua bán đá Granite
- Cho thuê thiết bị xây dựng hoặc thiết bị phá dở có kèm người điều khiển, chothuê phương tiện vật tải và máy móc, thiết bị xây dựng
- Mua bán vật liệu xây dựng, mua bán bê tông Asphalt, sản xuất và cung cấp bêtông xi măng thương phẩm
- Giám sát thi công cồn trình xây dựng; thi công xây dựng công trình cảng biển
và đường biển
- Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng ô tô, kinh doanh khách sạn, nhà hàng
- Tư vấn xây dựng: lập kế hoạch xây dựng và dự ấn đầu tư xây dựng, khảo sátxây dựng, đánh giá chất lượng công trình, quản lý dự án đầu tư, lập hồ sơ mời thầu,
dự thầu và tư vấn đấu thầu
2.1.2.2 Nhiệm vụ.
Là Công ty nhà nước, Công ty Cổ Phần 504 có nhiệm vụ sửa chữa và bão dưỡngcác công trình giao thông và cơ sở hạ tầng Bảo tồn và sử dụng có hiệu quả nguồnvốn, các nguồn tài nguyên đất nhằm mục tiêu nâng cao lợi nhuận tạo việc làm ổnđịnh cho người lao động, đóng góp cho ngân sách Nhà nước và ngày càng phát triển
Công ty
2.1.3 Đặc điểm hoạt động SXKD của Công ty.
2.1.3.1 Loại hình SX và các loại hàng hóa, dịch vụ chủ yếu mà Công ty kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh của Công ty bao gồm: loại hình kinh doanh xây dựng,những sản phẩm chính của Công ty được sản xuất trong điều kiện môi trường độchại, người công nhân luôn tiếp xúc với bụi đá, các chất hoá học và làm việc ở ngoàitrời
Các sản phẩm chính của Công ty như: Bê tông nhựa nóng, đá xây dựng, cáccông trình kiến trúc, nhà cửa, trường học, đường xá và các công trình giao thông,thuỷ lợi
2.1.3.2 Thị trường đầu vào và đầu ra của Công ty.
Thị trường các yếu tố đầu vào.
- Các chủ đầu tư, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, hàng hóa như: sắt, thép…
- Máy móc công nghệ chủ yếu nhập ngoại, lao động trong nước Tổng số laođộng của Công ty có 288 người Trong đó có 90 CB–CNV có trình độ Đại học vàCao đẳng, còn lại 198 công nhân kỹ thuật bậc cao được đào tạo cơ bản
Thị trường các yếu tố đầu ra.
Trang 32Các sản phẩm của Công ty có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Do đặc thù sản xuất kinh doanh của Công ty trải trên diện rộng cả nước và đặt biệt
là các tỉnh Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên
2.1.3.3 Đặc điểm về nguồn vốn kinh doanh
Tính đến ngày 31/12/2013 tổng số vốn kinh doanh của Công ty là:
Tồn tại dưới hình thức tài sản 199.405.037.225 đồng Trong đó:
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
Trong đó vốn tự có chiếm khoảng 17,75%, nợ phải trả chiếm khoảng 82,25%Trong cơ cấu vốn của Công ty vốn vay cao hơn vốn tự có nên khả năng huy độngvốn cao Công ty chủ yếu sử dụng vốn đi vay để kinh doanh, điều này sẽ giúp choCông ty năng động hơn trong việc đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh củamình
2.1.3.4 Đặc điểm các nguồn lực lao động của Công ty.
Lao động là yếu tố cơ bản của quá trình SXKD có vai trò quyết định đối với việcnâng cao hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh và thực hiện các mục tiêu của Công ty.Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu hàng đầu cần quantâm
Bảng 2.1: Bảng phân loại LĐ theo trình độ tính đến năm 2014.
Trang 33ty khuyến khích cán bộ công nhân viên tham gia học tập nâng cao trình độ Nhữngcán bộ có năng lực được Công ty gửi đi học tập tại các nước như Nga, Nhật… cònnhững lao động tham gia học tập trong nước được Công ty khuyến khích bằng việcnếu kết quả học tập khá giỏi Công ty sẽ trả tiền học phí và ưu tiên nhiều lợi íchkhác Vì vậy, nên trình độ tay nghề của cán bộ công nhân viên của Công ty ngàycàng tăng lên rõ rệt.
Chế độ lương, thưởng luôn được chú ý thực hiện, điều kiện lao động đượcnâng cao góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cho cán bộ công nhân viên
Đời sống tinh thần của cán bộ công nhân viên được chứ ý chăm lo với nhiềuhình thức văn hóa giải trí và các hoạt động khác, góp phần khuyến khích người laođộng hăng hái, phấn khởi làm việc
2.1.4 Đặc điểm tổ chức SXKD và tổ chức quản lý của Công ty.
2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức SXKD tại Công ty.
Do đặc điểm loại hình kinh doanh của Công ty là xây dựng nên sản phẩm xâylắp là những công trình, vật kiến trúc có quy mô kết cấu phức tạp, mang tính đơnchiếc và thời gian sản xuất lâu dài do đó quy trình công nghệ của sản phẩm xâylắp rất khác so với việc sản xuất các sản phẩm thông thường khác
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh.
Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo
TTTNLas 193
Công ty TNHHXây dựng 4.2
Công ty TNHH XD Vạn Mỹ
Đội cơ giới và xây
dựng Các tổ tu công trình lưu động
Các đội thi công thi côngCác đội
10 đội thi công
Trang 34 Chức năng các bộ phận:
- Công trường: Là đơn vị nhận kế hoạch sản xuất của Công ty, việc điều hành
sản xuất phân cấp theo quy chế làm việc của Công ty bao gồm: Ban chỉ huy, các bộphận kế toán vật tư kỹ thuật, thủ kho, thủ quỹ
- Trung tâm thí nghiệm Las-193: Gồm các tổ thí nghiệm chuyên nghiên cứu và
thí nghiệm các loại vật liệu dùng thi công công trình
- Công ty TNHH xây dựng 4.2: Gồm các đội thi công chuyên thi công các công
trình và sản xuất các vật liệu xây dựng
- Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ: Là đơn vị chuyên sản xuất đá, bê tông nhựa
cung cấp thi công các công trình
- Xí nghiệp thi công cơ giới 4.1: Nhiệm vụ chủ yếu là dùng các máy để thi công
công trình hoặc cung cấp máy móc cho các đội thi công
2.1.4.2 Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý
Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến – chức năng:
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức quản lý.
Chủ tịch HĐQT
Giám đốc điều hành
PGĐTài chính
Xí nghiệp
TCCG 4.1 Las - 193TTTN Công ty TNHH XD 4.2 Công ty TNHH XD Vạn Mỹ
Quan hệ chức năngQuan hệ trực tiếpQuan hệ phối hợp
Trang 35 Chức năng các bộ phận:
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị toàn bộ hoạt động của Công ty Có chức
năng ban hành các điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty, bầu ra Tổng giám đốc,Ban kiểm soát đồng thời chỉ đạo các định hướng kế hoạch đầu tư phát triển củaCông ty
- Chủ tịch Hội đồng quản trị: Có chức năng chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất tại
Công ty, là người điều hành chỉ huy cao nhất và chịu mọi trách nhiệm về hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty
- Ban kiểm soát: Giúp Hội đồng quản trị kiểm soát toàn bộ hoạt động của Công
ty, kể cả Ban giám đốc Thông báo cho Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động
SXKD Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động SXKD,
trong ghi chép Sổ kế toán và Báo cáo tài chính
- Giám đốc điều hành: Điều hành các hoạt động chung của Công ty thông qua
các Phó giám đốc và các phòng chức năng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thànhviên về việc thực hiện và nghĩa vụ của mình và là người đại diện của Công ty theoPháp luật
- Phó giám đốc nội chính: phụ trách các vấn đề nội bộ của Công ty
- Phó giám đốc kỹ thuật: Điều hành về mặt kỹ thuật và chịu trách nhiệm về mặt
kỹ thuật của công trình
- Phó giám đốc kinh doanh: Điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty.
- Phó giám đốc tài chính: Phụ trách tài chính của Công ty.
- Phòng TC - KT (Tài chính - Kế toán): Chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán, thống
kê thông tin kinh tế, đảm bảo vốn cho các quá trình thi công, tổ chức và sử dụngvốn có hiệu quả Tổ chức ghi chép và phản ánh chính xác, trung thực quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tính toán và trích nộp đầy đủ các khoản nộp vào ngânsách
- Phòng KT - CL (Kỹ thuật - Chất lượng): chịu trách nhiệm về công tác kỹ thuật
thi công, công tác chuẩn bị xây dựng công trình, quản lí kỹ thuật và chất lượng côngtrình, công tác nghiệm thu bảo hành
- Phòng KH - KD (kế hoạch - kinh doanh): nghiên cứu và phân tích thị trường
xây dựng để lập kế hoạch tiếp thị, chủ trì công tác lập hồ sơ đấu thầu, chuẩn bị cácthủ tục kí kết hợp đồng kinh tế, phân tích hình thức giao khoán, tình hình cấp phátvốn…
Trang 36- Phòng Tổ chức - Hành chính: tổ chức cán bộ, lao động, công tác lao động tiền
lương, công tác y tế, BHXH, quản lý hồ sơ nhân
- Xí nghiệp thi công cơ giới 4.1: nhiệm vụ chủ yếu là dùng các máy để thi công
các công trình hoặc cung cấp máy móc cho các đội thi công
- Trung tâm thí nghiệm Las – 193: gồm các tổ thí nghiệm chuyên nghiên cứu và
thí nghiệm các loại vật liệu dùng thi công công trình
- Công ty TNHH xây dựng 4.2: gồm các đội thi công chuyên thi công các công
trình và sản xuất các vật liệu xây dựng
- Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ: là đơn vị chuyên sản xuất đá, bê tông nhựa
cung cấp thi công các công trình
2.1.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua 3 năm gần nhất.
Các dự án, công trình mà Công ty đã thi công:
- Dự án khôi phục quốc lộ 1A (ADB 3-2) đoạn Quảng Ngãi - Nha Trang
- Dự án tuyến trình Sông Cầu-Phú Yên
- Dự án Trung Lương - Mỹ Thuận
- Dự án đường Bình Long - Cảng Dung Quốc
- Dự án đường nói trục chính vào trung tâm xã Nhơn Lý - khu kinh tế Nhơn Hội
- Dự án thi công xây dựng 3 Cầu Đại An, CaDa, Sông Trường thuộc dự án Trà
My sông Trường tỉnh Quãng Nam
- Dự án thi công xây dựng cầu Hương An, Cầu Bản thay thế cầu Đa Khoa
- Dự án đầu tư đường quốc lộ 1C – đoạn cải tiến đèo Rù Rì dự án công trìnhđường Lê Thành Phương giai đoạn 2
- Dự án công trình thủy lợi vườn quốc gia Yokdon
2.2 Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty cổ phần 504.
2.2.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển.
Công ty cổ phần luôn chú trọng đến công tác đầu tư để khẳng định vị trí củamình Quy mô vốn đầu tư phát triển ngày càng tăng qua các năm
Trang 37Bảng 2.2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển so với kế hoạch của Công ty
(Nguồn: Phòng kế hoạch - kinh doanh)
Trong giai đoạn 2010-2014, tình hình thực hiện vốn đầu tư luôn thấp hơn so với
kế hoạch đặt ra, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên vốn đầu tư kế hoạch chỉ nằm trongkhoảng 70-85% Nguyên nhân là trong giai đoạn này, do tình trạng khan hiếm vốnnên Công ty đã không thực hiện được hết các hạng mục đầu tư dự tính trong kếhoạch hàng năm; Ngoài ra, do những biến động nhất định về giá cả làm cho chi phíđầu tư khi thực hiện dự án có sự chênh lệch với những chi phí dự toán trong kếhoạch đầu tư Tuy nhiên tỷ lệ này tăng dần theo từng năm, phản ánh tình hình thựchiện đầu tư ngày càng gần sát với kế hoạch đầu tư đặt ra hàng năm Riêng trongnăm 2010, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên tỷ lệ vốn đầu tư thựchiện trên vốn đầu tư kế hoạch chỉ đạt 70,49% do những khó khăn trong vấn đề tàichính, tích lũy nhiều năm để lại, dư nợ ngân hàng lớn, thu hồi vốn chậm, nhiềucông trình chủ đầu tư không bố trí được vốn, buộc công ty phải thi công hoàn toànbằng vốn vay trong khi ngân hàng lại thắt chặt vay vốn rất khó khăn
Bảng 2.3 Tình hình thực hiện tổng mức vốn đầu tư giai đoạn 2010-2014.
Đơn vị: triệu đồng
1 Tổng VĐT 5.287 9.641,62 10.403,28 13.658,17 20.906,04
2 Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn - 4.354,62 761,66 3.254,89 7.247,87
3 Tốc độ tăng liên hoàn(%) - 82,36 14,41 61,56 137,09
4 Tốc độ tăng định gốc(%) - 82,36 96,77 158,33 295,42
(Nguồn: Phòng kế hoạch – kinh doanh)
Trong giai đoạn 2010-2014, tổng vốn đầu tư của công ty đã tăng rất nhanh, từ5.287 triệu đồng năm 2010 lên tới 20.906,04 triệu đồng năm 2014, tức là đã tăng15.619,04 triệu đồng, tương ứng tăng 259,42% so với năm 2010 Tuy nhiên, lượngvốn đầu tư tăng không ổn định qua các năm từ 2010-2014 Năm 2011, tổng vốn đầu
Trang 38tư thực hiện tăng lên 4.354,62 triệu đồng (tăng 82,36%) so với năm 2010 Năm
2012, tổng vốn đầu tư thực hiện là 10.403,28 triệu đồng, tăng 761,66 triệu đồng sovới năm 2010, tức là đã tăng 14,41% so với năm 2011 và tăng 96,77% so với năm
2010 Nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu đãảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, làm cho vốnđầu tư cho phát triển tang chậm Sang năm 2013, vốn đầu tư của công ty lại bắt đầugia tăng mạnh mẽ Vốn đầu tư thực hiện năm 2013 là 13.658,17 triệu đồng, tăng3.254,89 triệu đồng so với năm 2012 (tăng 61,56%) và vốn đầu tư thực hiện năm
2014 thì tăng 137,09% (tức là đã tăng 7.247,87 triệu đồng) so với năm 2014 và đạtmức cao nhất trong cả thời kỳ 2010-2014 là 20.906.04 triệu đồng
Như vậy, trong vòng 5 năm qua tổng vốn đầu tư ở Công ty Cổ phần 504 là59.896,11 triệu đồng Tuy vừa trải qua những khó khăn do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính nhưng Công ty đã cho thấy những nỗ lực của mình trongviệc đổi mới trang thiết bị, nâng cao tay nghề cho cán bộ, công nhân viên, nhằmtừng bước nâng cao chất lượng sản phẩm và uy tín của Công ty trên thị trường
2.2.2 Đầu tư phát triển tại công ty cổ phần 504 phân theo nguồn vốn.
Vốn đầu tư phát triển của Công ty Cổ phần 504 được huy động từ nhiều nguồn,bao gồm vốn ngân sách, vốn vay và vốn tự có Tỷ trọng của từng nguồn vốn khônggiống nhau và thay đổi tùy thuộc vào chính sách huy động vốn trong từng thời kỳ.Trong những năm đầu của thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường, để Công ty vượt qua những khó khăn ban đầu thì nguồn vốn ngânsách Nhà nước sử dụng cho đầu tư phát triển thường chiếm tỷ trọng lớn nhất Cùngvới quá trình chuyển đổi cơ chế là quá trình thúc đẩy và tạo điều kiện cho Công typhát triển, trưởng thành cả về thế và lực Kết quả những năm gần đây, Nhà nước đãchủ yếu không còn cấp phát vốn trực tiếp cho Công ty như trước nữa mà đầu tư choCông ty thông qua hình thức cho vay Tỷ trọng nguồn vốn ngân sách giảm dần,nguồn vốn tự có của Công ty đã chiếm vị trí xứng đáng và vốn vay chiếm tỷ trọngcao nhất trong tổng vốn đầu tư phát triển của Công ty, trong đó nguồn vốn tín dụngNhà nước đã tăng nhanh chóng
Trang 39Bảng 2.4: Vốn đầu tư phát triển phân theo nguồn vốn giai đoạn 2010-2014.
(Nguồn: Phòng Kế toán - tài chính)
Như vậy, qua hơn 20 năm đổi mới, cơ chế quản lý vốn đã và đang chuyển từ cơchế “xin - cho”, bao cấp về vốn sang cơ chế thị trường, cơ chế “vay - trả” Việcchuyển hướng cơ chế quản lý vốn đầu tư của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhànước đã góp phần nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của Công ty, buộcCông ty phải tính toán kỹ trước khi quyết định đầu tư, thực hành tiết kiệm chi tiêutrong từng thời kỳ đầu tư… Việc phân bổ nguồn vốn là rất quan trọng vì nó liênquan đến chi phí và hiệu quả đầu tư Vì vậy mà công ty nên có biện pháp để đa dạnghóa cơ cấu nguồn vốn hợp lý để tránh tình trạng mang gánh nặng nợ nầng về sau.Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển
Bảng 2.5 Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư phát triển ở Công ty giai đoạn 2010-2014.
Trang 40Hình 2.1: Cơ cấu nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển ở Công ty giai đoạn
Năm 2010, quy mô vốn tự có đạt 1.102 triệu đồng, chiếm 20,84% tổng nguồnnguồn vốn đầu tư Năm 2011, quy mô vốn tự có tăng 86,01% so với năm 2010, tứcđạt 2.049,87 triệu đồng, chiếm 21,26% tổng vốn đầu tư Riêng năm 2012, do nhữngkhó khăn trong vấn đề tài chính đã đề cập trên, quy mô vốn tự có cũng như cácnguồn vốn khác đều có sự tăng không đáng kể Cụ thể, quy mô vốn tự có đã chỉtăng 16,29% so với năm 2011 và tuy nhiên vẫn đạt được 116,31% so với năm 2010.Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn này trong tổng vốn đầu tư lại tăng lên, đạt 22,91%.Năm 2013 và 2014 khó khăn tài chính phần nào được giải quyết, quy mô vốn tự cólại tăng lên mạnh mẽ Năm 2012, vốn tự có tăng 830,49 triệu đồng (tăng 191,67%)
so với năm 2012, đạt 3.214,25 triệu đồng, chiếm 23,53% tổng vốn đầu tư Năm
2014, quy mô vốn tự có đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2010-2014, tăng 373,64%
so với năm 2002, đạt 5.219,5 triệu đồng, chiếm 24,97% tổng vốn đầu tư
Đây là nguồn vốn quan trọng và rất có ý nghĩa trong điều kiện đổi mới cơ chếquản lý vốn, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của Công ty, là điều kiệnđổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty.Công ty cổ phần 504 đang tập trung cho việc cổ phần hoá DNNN, vậy sẽ có mộtlượng vốn lớn thu được từ cổ phiếu của cán bộ công nhân viên trong tương lai