Malaysia là một nước quân chủ lập hiến.Quốc vương là nguyên thủ quốc gia:Yang di-Pertuan Agong,đươc họi là vua Malaysia.Vua đươc bầu vớu nhiệm kì 5 năm trong số 9 người kế thừa các quóc
Trang 1Bản đồ nhà nước Malaysia
Trang 2I NHỮNG NÉT CHUNG
Malaysia là một nước không lớn lắm,tổng diện tích là 332.952km2 với
hơn 5000km đường biển bao gồm 13 bang được chia thành 2 phần Tây Malaysia
và Đông Malaysia
Malaysia nằm trong vùng Đông nam á,lãnh thổ gồm 2 phần cách nhau
531km qua biển Nam Trung Hoa.Phía Tây gồm 11 bang rộng 131.598km2 gọi
là bán đảo Malaysia,giáp với Thái Lan,Singapore,và eo biển Malacca.Phía đông
là 2 bang Sabah va Sarawak rộng 198.720km2 giáp với Indonesia và
Brunei.Ngoài ra còn có 2 khu vực hành chính đặc biệt la thủ đô Kuala Lumpur
và Labuan được gọi là lãnh thổ liên bang chịu trách nhiệm quản lí trưc tiếp từ
liên bang
Dân số khoảng25,3 tr người trong đó có 61% là người Mã Lai,30%là
ngươi gốc Trung Quốc,8% là ngươi gốc India và Pakistan,1% là người các nước
khác
Malaysia là một nước quân chủ lập hiến.Quốc vương là nguyên thủ quốc
gia:Yang di-Pertuan Agong,đươc họi là vua Malaysia.Vua đươc bầu vớu nhiệm
kì 5 năm trong số 9 người kế thừa các quóc vương Hồi Giáo của các bang
Malay,4 bang kia theo chế độ thống đốc không tham gia vào việc lựa chọn ngôi
vua
Hệ thống chính phủ tại Malaysia theo sát hình thức hệ thống nghị viện
Westminter,một di sản thời kì thuộc địa Anh.Tuy nhiên trên thực tế quyền lực
được trao nhiều hơn cho nhánh hành pháp chứ không phải lập pháp và tư pháp
đă bị suy yếu sau những mưu toan chính phủ thời thủ tướng Mahathir.Từ khi
độc lập năm 1957 Malaysia đã nằm dưới quyền điều hành của một liên bang đa
đảng được gọi là Barisan Nasional(trước kia gọi là liên minh)
Quyền lập pháp được phân chia giữa liên bang và các cơ quan lập pháp
bang.Trong hệ thống pháp luật của Malaysia hiến pháp là luật tối cao.Hiến pháp
bao quát toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền lực liên bang, bang,
Trang 3quyền tự do cá nhân, quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, tự do
công dân
Quyền hạn của liên bang,Bang được quy định trong Hiến pháp theo 3
mục: Liên Bang,Bang,Song song
-Mục liên bang gồm các phần quan trọng như:kinh tế,quốc phòng,pháp
luật,giáo dục,chính sách đối ngoại
-Mục bang:kém quan trọng hơn gồm các phần:đất đai,hầm mỏ,tôn giáo
-Muc song song thuộc quyền vừa của liên bang vừa của các bang
Mỗi bang đều có chính quyền của mình có cơ quan lập pháp,hành pháp
nhưng không có ngành tư pháp vì ngành tư pháp nằm hoàn toàn trong mục liên
bang
Hiến pháp Malaysia quy định các hành động,các đạo luật và các văn bản
pháp quy dưới luật đêu phải tuân thủ hiến pháp.Nếu không hợp hiến đều có thể
bị chất vấn,bãi bỏ,trong đó toà án đóng vai trò hết sức quan trọng
Những người đứng đầu nhà nước:
*Người đứng dầu nhà nước:Quốc vương Tuanku Syed Sirayuddin
Ông lên ngôi và trở thành quốc vương thứ 12 của Malaysia từ ngày
13/12/2001
Theo truyền thống ông là người thừa kế của Perlis-bang nhỏ nhất của
Malaysia,đây cũng là 1 khu vực nông thôn ở vùng biên giơí giáp Thái Lan.Ông
là cựu sinh viên của trường Học Viện Quân Sự Hoàng Gia Sandhurt,Anh
Về mặt lí thuyết quốc vương có vai trò quan trọng nhưng trên thực tế
quốc vương không nắm thực quyền trong lĩnh vực quân sự,lụât pháp và bổ
nhiệm chức vụ Bộ trưởng
*Thủ tướng:ông Abdullah Ahmad Badawi
Ông sinh ngày 26/11/1939,tại Penang.Cha của ông là người sáng lập ra
Umno-đảng cầm quyền hiện nay ở Malaysia
Sau khi lấy bằng cử nhân nghiên cứu Hồi giáo,ông công tác trong lĩnh vực
dân sự trước khi được bầu vào Quốc hội năm 1978
Trang 4Ông nhận chức thủ tướng ngày 31/10/2003,kế nhiệm ông Mahathir.Ông
còn đảm đương trọng trách Chủ tịch tổ chức Dân tộc thống nhất Malaysia-đảng
lớn nhất tại Malaysia hiện nay.Ông nắm giữ nhiều chức vụ quan trọngdưới thời
tiến sĩ Mahathir như:phó thủ thướng chính phủ,Bộ trưởng bộ Quốc phòng,Bộ
trưởng bộ Ngoại giao,Bộ trưởng bộ Giáo dục.Nhiều người cho rằng thắng lợi
của ông sẽ tạo cơ hội để thúc đẩy cải cách,nhổ tận gốc tham nhũng.Nhưng thực
tế mức độ thành công còn ít
*Phó thủ tưóng kiêm bộ trưởng bộ Quốc phòng:Najib Razak
*Bộ trưởng bộ Tài chính:Abdullah Ahmad Badawi
*Bộ trưởng bộ Ngoại giao:Syed Hamid Albar
Trang 5II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LIÊN BANG
Trong chiến tranh thế giới thứ II, lãnh thổ Mã Lai bị Nhật chiếm đóng
Phong trào kháng Nhật nổ ra mạnh mẽ, đặc biệt vào năm 1943 và đã thành lập
quân đội kháng Nhật của nhân dân Mã Lai do liên hiệp kháng Nhật vệ quốc đỡ
đầu Đảng Cộng sản Mã Lai vận động quần chúng nổi dậy phối hợp với lực
lượng vũ trang kháng Nhật, giải phóng phần lớn lãnh thổ Mã Lai trước khi quân
đội Anh trở lại
Tháng 11-1945, đế quốc Anh tìm mọi cách đặt lại nên thống trị thực dân
trên đất Mã Lai
Đầu năm 1946, thực dân Anh tách Singapore thành thuộc địa riêng Năm
1948 chín tiểu quốc Hồi giáo và hai bang Penang, Melaka đã hợp nhất thành
Liên bang Malaya Thực dân Anh tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Mã Lai,
nghiêm cấm liên hiệp công đoàn Mã Lai hoạt động, huy động các lực lượng tàn
sát, bắt bớ những người yêu nước Mã Lai Mặc dù vậy phong trào đấu tranh
chính trị và vũ trang để giải phóng đất nước vẫn mở rộng trong toàn quốc
Năm 1953, tổ chức dân tộc thống nhất Malaya, hội Hữu nghị Hoa Kiều –
Malaya, hội Ấn Độ - Malaya đã thành lập liên hiệp ba đảng, đến năm 1957 đã
thống nhất lại thành một Đảng duy nhất là “Đảng liên hiệp”
Đảng Liên hiệp đóng vai trọ quan trọng trong chính quyền Malaya Trong
cuộc bầu cửa năm 1959, Đảng liên hiệp chiếm 73 trong số 404 ghế và đã lập ra
Chính phủ mới
Ngày 9/3/1963, tại Luân Đôn, một hiệp ước giữa Anh, Singapore, Liên
bang Malaya, Sabah và Sarawak được ký kết để thành lập liên bang Malaysia
trong khuôn khổ cùng hợp tác với Anh Ngày 16/9/1963 Liên bang Malaysia
chính thức được thành lập
Sự ra đời của Liên bang Malaysia làm cho quan hệ buôn bán và ngoại
giao giữa Malaysia – Indonesia và Philipin bị cắt đứt vì họ chống đối việc Sabah
và Sarawak sát nhập vào Malaysia Chính phủ Indonêsia tuyên bố chính sách đối
đầu với Malaysia cho đến năm 1966 Tình hình đối nội và đối ngoại của
Malaysia trở nên phức tạp, trong khi đó Đảng liên hiệp chiếm được đa số ghế
Trang 6trong Nghị viện (125 ghế trong số 159 ghế năm 1964) Mùa hè năm 1965, quan
hệ Chính phủ Malaysia và Singapore trở nên căng thẳng do các vấn đề kinh tế -
chính trị và dân tộc Vì vậy ngày 9/8/1965, Singapore tuyên bố tách khỏi khối
liên bàng Malaysia thành lập một quốc gia độc lập Từ đó Malaysia có tất cả 13
bang
III BỘ MÁY NHà NƯỚC
Bộ máy Nhà nước Malaysia được chia thành 3 ngành: lập pháp, hành
pháp, tư pháp
IV Cơ quan lập pháp
Quyền lập pháp của liên bang được trao cho Quốc hội liên bang
Quốc hội
Quốc hội có chức năng làm luật và kiểm soát tài chính của Chính phủ,
Ngân sách liên bang cũng do Quốc hội quy định Giúp việc cho văn phòng Quốc
hội có các bộ phận: quản lý, tài chính, họp báo chính thức, lưu trữ, thông phiên
dịch, lễ tân và giám sát xây dựng
Ở Malaysia tồn tại hình thức đa đảng, các đảng viên được quyền tự ứng
cử Đảng nào giành được đa số phiếu sẽ nắm quyền lãnh đạo Chính phủ và
thành lập nội các
Quốc hội được triệu tập bởi Yang Di-Pertuan Agong, thông thường 6
tháng một lần Nếu Quốc hội bị giải tán thì cuộc tổng tuyển cử phải được tổ
chức trong vòng 60 ngày và Quốc hội mới sẽ được triệu tập không trễ hơn 120
ngày Các dự thảo luật không bị mất hiệu lực vì lý do tạm dừng hoặc giải tán
Quốc hội Chủ tịch Quốc hội đồng thời là chủ tịch Hạ nghị viện, được bầu từ số
đại biểu Quốc hội trúng cử
Ở cấp liên bang, quyền lập pháp được trao cho Thượng viện (Dewan
Negara) và Hạ viện Dewan Rakyat)
+ Thượng nghị viện có nhiệm kỳ 3 năm và không bị ảnh hưởng bởi sự
giải tán của Quốc hội Thượng nghị viện hoạt động dưới sự chủ trì của Chủ tịch
hoặc của Phó chủ tịch Các vị này được thành viên của viện bầu chọn trong số
thành viên của Thượng nghị viện Thượng nghị viện có 69 thành viên, trong đó
Trang 740 người được sự chỉ định của Quốc vương Malaysia Ủy ban lập pháp 13 bang
bầu chọn mỗi bang 2 người Số còn lại đại diện cho vùng lãnh thổ Kual Lumpur
và Lu Buan
Các thành viên có độ tuổi từ 30 trở lên Chủ tịch hay phó chủ tịch Thượng
nghị viện ngừng bàn bạc khi nhiệm kỳ kết thúc hoặc được chỉ định kết thúc hoặc
không còn đủ phẩm chất theo điều luật quy định Và nếu Chủ tịch Thượng nghị
viện sau bầu vử ba tháng mà trở thành thành viên trong Ban Giám đốc Ban
quản trị hay tham gia vào công việc kinh doanh của bất kỳ tổ chức nào dù có
hay không nhận tiền lương, thưởng, lợi từ tổ chức đó thì theo luật định cũng
không còn tư cách là Chủ tịch Thượng nghị viện Chủ tịch Thượng nghị viện,
nếu là thành viên của Hội đồng lập pháp một bàng thì phải từ chức trưc[s khi trở
thành Chủ tịch Thượng nghị viện
Tuy vai trò của Thượng nghị viện không quan trọng bằng Hạ nghị viện,
nhưng nó không thể thiếu được trong quá trình lập pháp vì các dự luật muốn ban
hành đều phải thông qua Thượng nghị viện biểu quyết
+ Hạ nghị viện là viện thực hiện quyền bầu cử đầy đủ trong Quốc hội liên
bang Viện gồm 192 thành viên, trong đó 145 thành viên được cử tri từ 104 khu
vực bầu cử miền Tây Malaysia bầu ra một cách trực tiếp Số còn lại được bầu
một cách gián tiếp qua bộ phận lập pháp của hai bang Sabah và Sarawak (trong
đó Sabah được 20 thành viên và Sarawak 27 thành viên) Các thành viên được
bầu gián tiếp sẽ được thay thế bằng các thành viên được bầu trực tiếp sau kỳ
tổng tuyển cử toàn liên bang
Chủ trì Hạ nghị viện là người phát ngôn hay người được ủy quyền, do
Viện bầu chọn Có một điều khoản đặc biệt trong Hiến pháp, đó là: người phát
ngôn Hạ nghị viện có thể là người ngoài viện Trong trường hợp đó, người được
đề cử sẽ được coi là một thành viên của viện, thêm vào số 192 thành viên kia
Hạ nghị viện có nhiệm kỳ 5 năm Tuy nhiên, khi có yêu cầu của thủ tướng
Chính phủ, nhà vua có quyền quyết định giải thể Hạ nghị viện sớm hơn
Các thành viên được giới hạn ở độ tuổi trên 21
Trang 8Nhân viên thường trực của cả hai viện do Agong chỉ định là thư ký Trừ
trường hợp từ chức hay có yêu cầu của Chủ tịch Thượng nghị viện và người
phát ngôn Hạ nghị viện, còn lại hai thư ký này sẽ giữ chức vụ đến tuổi 60 Thư
ký Hạ nghị viện là người điều hành quản lý tổ chức trong viện, đồng thời chịu
trách nhiệm các khoản chi phí thích hợp thường lệ của tổ chức
1.2 Các mối quan hệ
+ Giữa Đại biểu Quốc hội và người dân: mỗi tháng đại biểu Quốc hội đến
văn phòng của mình một hay hai lần để xem xét các nguyện vọng của người dân
gửi đến văn phòng và cùng lãnh đạo địa phương bàn hướng phát triển của đơn
vị hành chính địa phương
Mỗi năm, một đại biểu Quốc hội được cấp 500.000 đô là Mã Lai để chi
phí (2,7 đô la Malaysia = 1 đô la Mỹ)
+ Giữa Thượng nghị viện và Hạ nghị viện: Thượng nghị viện đơn thuần là
viện sửa đổi luật, bảo vệ những quyền lợi của quốc gia Thượng nghị viện không
có thực quyền Quyền lực giữa Thượng nghị viện và Hạ nghị viện chỉ tương
đồng khi nào Thượng nghị viện được bầu cử theo cách của Hạ nghị viện Trừ
những sửa đổi Hiến pháp, còn thì Hạ nghị viện sẽ ban hành luật và sẽ được sự
chuẩn y của Hoàng gia Nếu là một luật về tài chính thì quyền của Thượng nghị
viện càng bị giới hạn Thượng nghị viện chỉ có thể trì hoãn thời gian ban hành
luật của Hạ nghị viện Tuy không có thực quyền, nhưng Thượng nghị viện là
viện sửa đổi luật không bị chi phối bởi các cuộc tranh luận về chính trị, điều
thường diễn ra ở Hạ nghị viện
+ Giữa bang và liên bang: sự phân bố quyền lực: Điều 74 Hiến pháp quy
định rằng Nghị viện có thể ban hành luật về các vấn đề liệt kê trong danh sách
liên bang hoặc danh sách bổ sung hoặc do Hiến pháp quy định Đặc biệt bang
Sabah và Sarawak còn có một số quyền lập pháp bổ sung Thí dụ: việc đánh
thuế mua bán
Phạm vi: Nghị viện có thể ban hành luật cho một bang nào đó hoặc cho
toàn liên bang Luật của bang do chính cơ quan lập pháp của bang đó ban hành
và chỉ có hiệu lực trong bang đó Nếu luật của bang đó mâu thuẫn với luật liên
Trang 9bang thì luật của bang đó không có giá trị, không có hiệu lực trong phạm vi mâu
thuẫn Cho đến nay, chỉ có luật của Penang 1966 (có bổ sung) được ghi nhận có
mâu thuẫn với liên bang
Quyền hạn của nghị viện đối với cơ quan lập pháp bang: Nghị viện có thể
ban hành luật về bất cứ vấn đề nào được liệt kê trong danh sách bang, nếu:
- Vì mục đích thi hành hiệp ước, hiệp định giữa bang với một số nước
khác hay một quyết định của một tổ chức nào mà liên bang là một thành viên
- Để đẩy mạnh sự đồng đều các luật hai hoặc trong nhiều bang
- Được yêu cầu bởi Hid lập pháp bang và phải có sự tham khảo ý kiến của
bang đó
Các luật ban hành phải được sự chấp nhận của luật bang và có thể bị sửa
đổi hay hủy bỏ bởi lâutj bang
Nghị viện có thể mở rộng quyền lập pháp và hành pháp của các bang để
ban hành một số luật và để thi hành các điều khoản của luật liên bang
Bổn phận của bang đối với liên bang:
- Bảo đảm việc thi hành đúng bất kỳ luật liên bang nào áp dụng cho bang
đó
- Không cản trở hoặc làm thiệt hại việc thực hiện quyền hành pháp của
liên bang
1.3 Quy trình lập pháp
Trong quy trình lập pháp, Hạ nghị viện là nơi chuẩn bị các dự thảo luật
Việc sửa đổi các đạo luật bình thường được tiến hành theo hình thức giản đơn,
nhưng việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải tuân thủ những quy định đặc
biệthơn và phải có 2/3 số phiếu tán thành tại Quốc hội
Khi một Bộ thấy cần có một luật, Bộ đó phải soạn thảo dự luật gửi cho bộ
phận soạn thảo văn kiện của Quốc hội và các Bộ có liên quan để tham khảo ý
kiến Sau đó dự luật được thảo luận lại Nội các trước khi trình Quốc hội
Giai đoạn ở Quốc hội: dự luật được chuẩn bị tại Thượng nghị viện hoặc
Hạ nghị viện, thông thường được chuẩn bị ở Hạ nghị viện theo quy trình 3 lần
dự thảo:
Trang 10- Dự thảo lần 1: thảo luận về tên gọi của dự luật
- Dự thảo lần 2: Bộ trưởng có liên quan trình trước Quốc hội để Quốc hội
thảo luận bổ sung (dự thảo lần 2 không làm cùng ngày với dự thảo lần 1, và văn
bản dự luật được gửi cho các đại biểu trước đó)
- Dự thảo lần 3: dự luật tiếp tục được bổ sung, sửa đổi và đưa ra biểu
quyết
Trường hợp dự luật được Hạ nghị viện thông qua, Hạ nghị viện có thông
điệp gửi Thượng nghị viện để Thượng nghị viện xem xét, chuẩn y
Tại cuộc họp của Thượng nghị viện, thông điệp được đọc toàn văn để các
đại biểu thảo luận Thượng nghị viện có quyền trì hoãn dự luật trong vòng một
năm hoặc một tháng tùy theo tính chất của dự luật Nếu không đồng tình với dự
luật, Thượng nghị viện gửi trở lại Hạ nghị viện, và sẽ xem xét lại dự luật sau
một năm đối với các dự luật bình thường, còn đối với các dự luật quan trọng
được xem xét lại sau một tháng
Trường hợp Hạ nghị viện không đồng tình với sửa đổi của Thượng nghị
viện, Hạ nghị viện gửi trả Thượng nghị viện và Thượng nghị viện có một tháng
để xem xét
Trường hợp dự luật được sự đồng ý của Thượng nghị viện, sau một tháng,
dự luật được gửi đến Vua để phê chuẩn Nếu không đồng ý một điều khoản nào
đó, Vua sẽ gửi trở lại Hạ nghị viện kèm theo lý do không tná thành
Trong thời gian một tháng Hạ nghị viện thảo luận lại và gửi tới Vua toàn
bộ nội dung văn bản sửa đổi do Vua yêu cầu Nếu như sau 60 ngày, Vua không
có ý kiến gì, điều đó có gnhĩa là văn bản dự luật đã được Vua chấp nhận
Khi được công bố, dự luật trở thành văn bản luật chính thức và nó vẫn có
hiệu lực, cho dù Chính phủ hoặc Quốc hội có thể bị thay đổi, văn bản luật được
ban hành chỉ bị thay đổi trong trường hợp Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung
Năm 1968, Quốc hội Malaysia đã thông qua đạo luật về sửa đổi luật Uỷ ban sửa
đổi lâutj có quyền xem xét các đạo luật đã thông qua và có kiến nghị với Quốc
hội Các đạo luật ban hành được ghi vào danh mục theo số thứ tự nhằm tạo
thuận lợi cho việc tra cứu, xem xét