1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU

19 3,9K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 182,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell. Arg.) là một trong 10 loài trong chi Hevea, họ Euphorbiaceae (họ Thầu Dầu). Trong 10 loài này, chỉ có Hevea brasiliensis là cho mủ cao su có ý nghĩa về kinh tế và được trồng rộng rãi nhất. Cây cao su có nguồn gốc ở vùng rừng thuộc lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ, phân bố tự nhiên trên một vùng rộng lớn nằm giữa vĩ độ 15o Nam và 6o Bắc và từ 46o – 77o Tây, bao gồm các nước Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, French Guiana, Surinam và Guyana (Webster và Paardekooper, 1989). Cây cao su được trồng thành công cho mục đích kinh doanh trên địa bàn rộng lớn ở Đông Nam Á có cùng vĩ tuyến và điều kiện khí hậu tương tự vùng nguyên quán. Sau đó diện tích cây cao su đã được mở rộng từ vĩ tuyến 23o Nam (Săo Paulo, Brazil) đến vĩ tuyến 29o Bắc (Ấn Độ và Trung Quốc) với cao trình từ thấp lên đến 1.100 m (Pushparajah, 1983; Ortolani và ctv, 1998; Priyadarshan và ctv, 2005).

Trang 1

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu khái quát về cây cao su

1.1.1 Nguồn gốc, phân loại

Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg.) là một trong 10 loài trong chi Hevea,

họ Euphorbiaceae (họ Thầu Dầu) Trong 10 loài này, chỉ có Hevea brasiliensis là cho mủ

cao su có ý nghĩa về kinh tế và được trồng rộng rãi nhất Cây cao su có nguồn gốc ở vùng rừng thuộc lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ, phân bố tự nhiên trên một vùng rộng lớn nằm giữa vĩ độ 15o Nam và 6o Bắc và từ 46o – 77o Tây, bao gồm các nước Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, French Guiana, Surinam và Guyana (Webster và Paardekooper, 1989) Cây cao su được trồng thành công cho mục đích kinh doanh trên địa bàn rộng lớn ở Đông Nam Á có cùng vĩ tuyến và điều kiện khí hậu tương tự vùng nguyên quán Sau đó diện tích cây cao su đã được mở rộng từ vĩ tuyến 23o Nam (Săo Paulo, Brazil) đến vĩ tuyến 29o Bắc (Ấn Độ và Trung Quốc) với cao trình từ thấp lên đến 1.100

m (Pushparajah, 1983; Ortolani và ctv, 1998; Priyadarshan và ctv, 2005)

1.1.2 Đặc điểm sinh vật học

1.1.2.1 Đặc điểm hình thái

Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg.) là loại cây cây trồng lâu năm, có chu

kỳ khai thác 25 - 30 năm Trong điều kiện hoang dại cây có thể cao đến 50 m, vanh thân đạt 5 – 7 m Tuy nhiên trong các đồn điền cây chỉ cao khoảng 25 - 30 m bởi sinh trưởng giảm do cạo mủ

Vỏ cây cao su có 3 lớp, lớp ngoài cùng là tầng mộc thiêm, kế đến là lớp trung bì có nhiều tế bào đá và một ít ống mủ, trong cùng là lớp nội bì cấu tạo bởi tế bào libe và hệ thống ống mủ

Lá cao su là lá kép gồm có 3 lá chét với phiến lá nguyên mọc cách Cây có thời kỳ rụng lá qua đông, lá rụng hoàn toàn sau đó ra bộ lá mới

Trang 2

Hoa cao su nhỏ, hình chuông với năm lá đài màu vàng, đơn tính đồng chu, khó tự thụ do hoa đực và hoa cái không chín cùng lúc Cây cao su ra hoa khi được 5 - 6 tuổi và bắt đầu ra hoa vào tháng 2 - 3 trong điều kiện Việt Nam

Quả cao su dạng quả nang gồm 3 - 4 ngăn, chứa 3 - 4 hạt, quả tự khai, hạt khá lớn, kích thước thay đổi từ 2 - 3,5 cm Vỏ hạt cứng, đầu hạt có lỗ nảy mầm Hạt có chứa nhiều dầu, dễ mất sức nảy mầm Cây cao su rụng quả tháng 8 - 9 hàng năm

Bộ rễ của cây cao su rất phát triển, rễ cọc có thể dài đến 10 m khi trưởng thành và gặp đất có cấu trúc tốt, 80 - 85% rễ bàng tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt 0 - 30 cm (Nguyễn Thị Huệ, 2006)

Mủ cao su là dung dịch thể keo, có màu trắng sữa hoặc hơi vàng tùy giống

1.1.2.2 Các giai đoạn phát triển

Trong điều kiện canh tác, chu kỳ sống của cây cao su được quy định từ 25 đến 30 năm, chia làm 2 thời kỳ chính:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: từ khi trồng đến khi vườn cây đưa vào cạo từ 5 - 8 năm

tùy giống, môi trường và điều kiện chăm sóc Hiện nay, với việc chăm sóc quản lý theo đúng quy trình, giống được cải tiến nên thời gian kiến thiết cơ bản sẽ được rút ngắn còn khoảng 4 – 6 năm

Thời kỳ kinh doanh: Đây là khoảng thời gian khai thác mủ của cây kéo dài từ 20 –

25 năm, cây đươc khai thác khi trên vườn có trên 70% tổng số cây có vanh thân đo cách mặt đất 1 m đạt  50 cm, giai đoạn khai thác kéo dài từ 20 – 25 năm Trong giai đoạn này cây vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng ở mức thấp hơn so với giai đoạn kiến thiết cơ bản và cho đến năm cạo thứ 5 - 6 trở đi cây mới ổn định và cho năng suất kéo dài trong 20 năm

Do đặc điểm về chế độ khai thác, chia thành 3 nhóm cây:

- Vườn cây nhóm I (vườn cây tơ): năm cạo thứ 1 đến thứ 10

- Vườn cây nhóm II (vườn cây trung niên): năm cạo thứ 11 đến 17

- Vườn cây nhóm III (vườn cây già, thanh lý): năm cạo thứ 18 đến 20

Trang 3

1.1.3 Đặc điểm sinh thái

Vùng sinh thái tự nhiên của cây sao su thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm, khá đa dạng Cây cao su thích hợp với vùng có lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô từ 1 đến 5 tháng, số ngày mưa thích hợp cho cây ca su

là khoảng 100 – 150 ngày/năm và phân bố đều trong năm Nhiệt độ thích hợp nhất là 25

-30oC Cây trưởng thành có sức chịu hạn tốt, phát triển trong điều kiện tối thiểu 1.600 – 1.700 giờ nắng/năm và điều kiện gió nhẹ (1 - 3 m/s), nếu tốc độ gió lớn hơn 17 m/s thì cây sẽ bị gãy đổ Cây cao su ưa đất hơi chua, độ pH khoảng 4,5 - 5,5 và không chịu ngập Đất trồng cao su yêu cầu hóa tính đất không khắt khe nhưng lí tính đòi hỏi phải có tầng đất mặt dày, không úng, địa hình ít dốc là tốt nhất (Nguyễn Thị Huệ, 2006)

1.1.4 Đặc điểm di truyền

Theo Ong (1979), cây cao su có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36, cây cao su có thể là một dạng tứ bội với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 9 Các đặc tính như sinh trưởng, sản lượng, khả năng kháng bệnh đều do những tính trạng đa gen, di truyền theo phương phức cộng hợp và khả năng phối hợp chung quan trọng hơn khả năng phối hợp riêng Cho đến nay, chưa có bằng chứng về sự tự bất tương hợp ở cây cao su, mặc dù thường khi giao phấn chéo cho tỉ lệ đậu trái cao hơn tự thụ Hiện nay, nghiên cứu đặc điểm di truyền ở cây cao su qua thống kê sinh học (di truyền định lượng) bắt đầu muộn hơn các nghiên cứu khác, nhưng đã có những đóng góp làm nền tảng cho việc định hướng các chương trình cải tiến giống cao su

1.2 Các giai đoạn phát triển cao su thiên nhiên trên thế giới

1.2.1 Giai đoạn khai thác cao su hoang dại (1500 – 1870)

Mủ cao su đã được sử dụng từ rất lâu đời, đặc biệt trong việc làm ra những vật dụng phục vụ các lễ cúng tôn giáo của thổ dân tại vùng nguyên quán Amazon (de Livonnière, 1993) Tại vùng rừng Amazon, mủ cao su được khai thác từ các cây cao su hoang dại mọc rải rác hay mọc tập trung từ 4-10 cây ở mỗi nơi và cách nhau ít nhất khoảng 400 m với mật độ bình quân là 1 cây cho 5 ha (Nguyễn Thị Huệ, 2006) Năm

1747, cây cao su lần đầu tiên được mô tả chi tiết bởi một kỹ sư người Pháp, Fresneau

Trang 4

Khoảng năm 1830 nhà máy chế biến mủ cao su đầu tiên ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc sử dụng sản phẩm mủ cao su vào việc chế tạo giày dép, ống nhựa, áo mưa và các sản phẩm khác (Thomas và Panikkar, 2000)

1.2.2 Giai đoạn di nhập và nhân trồng cây cao su (1870 – 1914)

Từ đầu thập niên 1870, do nhu cầu cao su thiên nhiên tăng rất mạnh đã dẫn đến

sự cần thiết phải phát triển cây cao su trên thế giới nhằm thay thế cho nguồn cung cao su

từ rừng tự nhiên ở Nam Mỹ vốn không thể đáp ứng được nhu cầu Vì vậy, đã có nhiều nỗ lực để di nhập cây cao su sang trồng ở vùng nhiệt đới châu Á, nơi có các điều kiện môi trường tương tự như vùng nguyên quán Amazon Tuy nhiên tất cả đều không thành công cho tới nỗ lực của nhà thực vật học người Anh Henry Wickham vào năm 1876 (Wycherley, 1968) Trong năm này, Wickham đã thu thập 70.000 hạt cao su ở thượng lưu sông Amazon và chuyển về vườn thực vật Kew (Anh); trong số này, chỉ khoảng 4% số hạt đã này mầm sau 3 tuần ươm Từ nguồn sưu tập này, cây cao su đã được đưa đầu tiên vào Singapore năm 1876 và sau đó lan sang các nước khác ở châu Á cũng như các nước châu Phi tạo ra sự phát triển của ngành công nghiệp cao su thiên nhiên Đây là nguồn gen khởi đầu cho sự thành công của các chương trình tạo tuyển giống cao su ở Đông Nam Á được gọi là nguồn gen Wickham (W)

Cây cao su lần đầu tiên được di nhập vào Việt Nam vào năm 1878 do Pierre đưa hạt giống vào trồng ở vườn Bách thảo Sài Gòn nhưng không thành công Đến năm 1876, cây cao su tiếp tục được Yersin di nhập vào Việt Nam từ Bogor (Indonesia) và được trồng thử nghiệm tại Bình Dương và Nha Trang, sau đó đã hình thành các đồn điền cao su đầu tiên ở Đông Nam Bộ từ 1907 và ở Tây Nguyên từ 1923 Tại miền Bắc, trong giai đoạn

1958 – 1963, cây cao su đã được trồng ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ và Phú Thọ (Đặng Văn Vinh, 2000; Trần Thị Thúy Hoa, 2005) Từ 2007, cao su đã phát triển ra một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

1.2.3 Giai đoạn phát triển mạnh mẽ ngành cao su (từ 1914 đến nay)

Trang 5

Hiện nay, có trên 24 quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên với tổng diện tích cây cao su đến năm 2010 ước khoảng 11,5 triệu ha, phân bố chủ yếu tại châu Á (92,7%), kế đến là châu Phi (5%) và châu Mỹ la-tinh (2,3%)

1.2.3.1 Giai đoạn 1914 – 2005

Trong giai đoạn này, mức sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới gia tăng rất nhanh, sản phẩm cao su cung cấp trên thị trường chủ yếu là trồng từ các vườn cây khai thác, sản lượng cao su thế giới đã tăng từ 125 nghìn tấn vào năm 1914 và đến năm 1941 tăng lên 1,504 triệu tấn Tuy nhiên do chiến tranh thế giới lần II nên diện tích trồng cao su cũng như sản lượng mủ đã giảm xuống đáng kể và đến năm 1945 chỉ còn 254 ngàn tấn Sau chiến tranh thế giới thứ II, sản lượng cao su thiên nhiên đã được phục hồi với sản lượng năm 1946 đạt 867 ngàn tấn và tăng lên 3,845 triệu tấn vào năm 1980 Sản lượng cao su thiên nhiên vẫn gia tăng đều đặn ở các năm sau đó, từ 4,335 triệu tấn vào năm

1985 đã tăng lên 8,682 triệu tấn vào năm 2005

1.2.3.2 Giai đoạn 2005 – 2011

Sản lượng và diện tích cây cao su đã gia tăng liên tục theo nhu cầu sử dụng cao su thiên nhiên trên thế giới Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm thu hẹp nhu cầu, sản lượng cao su thiên nhiên trong năm này đã thấp hơn năm trước, tuy nhiên diện tích vẫn tiếp tục phát triển Tốc độ tăng trưởng về diện tích khoảng 2,7% từ năm 2005-2010 và về sản lượng khoảng 2,4% hàng năm từ năm 2005 đến 2011

Trong năm 2011, Thái Lan dẫn đầu về sản lượng cao su thiên nhiên, đạt 3,39 triệu tấn, chiếm 30,9% tổng sản lượng cao su thế giới, tăng 4,4% so năm trước Thứ hai là Indonesia, sản lượng đạt 2,98 triệu tấn, chiếm thị phần 27,1%, tăng trưởng mạnh (9%) Malaysia xếp thứ ba với sản lượng 996 ngàn tấn, chiếm thị phần 9,1% tăng khá với mức 6,1% so năm 2009 Ấn độ có sản lượng xếp thứ tư, đạt 889,9 ngàn tấn, chiếm 8,1% và tăng 4,6% Việt Nam xếp thứ năm với sản lượng đạt 811,6 ngàn tấn, chiếm 7,4% và tăng trưởng sản lượng đạt khá 8% so với năm trước Về năng suất, trong năm 2011, Việt Nam giữ vị trí thứ hai về năng suất trên thế giới với năng suất bình quân đạt 1.720 kg/ha, chỉ sau Ấn Độ (1.784 kg/ha), vượt hơn các nước sản xuất cao su lớn như Thái Lan (1.705 kg/

Trang 6

ha), Malaysia (1.450 kg/ha) và Indonesia (937 kg/ha) (Bản tin Cao su Việt Nam số 53 ngày 31/01/2012)

Nguồn: IRSG Rubber Statistical Bulletin Jan-Mar 2012

Đồ thị 1.1 Diện tích và sản lượng cao su thế giới từ 2005 – 2011 (đơn vị 1000 tấn)

1.3 Tình hình sản xuất cao su ở Việt Nam

Diện tích, sản lượng và năng suất cao su Việt Nam đã liên tục tăng qua các giai đoạn (Bảng 1.1), từ mức 76,6 – 87,7 ngàn héc-ta với sản lượng 40,2 – 41,1 ngàn tấn và năng suất trung bình khoảng 700 kg/ha ở giai đoạn 1976 - 1980 đã tăng lên 482,7 – 748,7 ngàn héc-ta với sản lượng 481,6 – 751,7 ngàn tấn và năng suất bình quân đạt 1.611 kg/ha trong giai đoạn 2005 - 2010,

Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất cao su của Việt Nam

(ha) Diện tích khai thác (ha) Sản lượng (tấn)

Trang 7

1995 278.400 146.885 124.700

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011)

Trong hơn một thập kỷ qua, mặc dù tình hình sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam có nhiều biến động nhưng diện tích và sản lượng cây cao su không ngừng tăng lên qua các năm (Bảng 1.2) Trong năm 2011, diện tích và sản lượng cao su đã tăng lên gấp đôi và năng suất tăng 37% so với năm 2000 Với mức sản lượng của năm 2011, sản xuất cao su ở Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới (chiếm khoảng 7,4 % sản lượng cao su thế giới), chỉ sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ Định hướng phát triển cao su đến 2015 là tiếp tục quy hoạch và mở rộng diện tích cả nước để đạt được 1 triệu ha Đến năm 2020, việc đầu tư phát triển cây cao su chủ yếu tập vào thâm canh tăng năng suất trên diện tích đã có, thay thế các giống cũ bằng những giống mới có tiềm năng năng suất cao

trên diện tích trồng tái canh (IRSG, 2012) Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu cao su cũng

có nhiều thuận lợi Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu cao su trên hơn 70 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới với thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, kế đến là thị trường Đài Loan, Malaysia, Đức, Mỹ, Nhật Bản

Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng và năng suất cao su Việt Nam từ năm 2000 đến nay

(ha)

Diện tích khai thác (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tấn)

Trang 8

2007 556.300 377.800 605.800 1.603

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011)

1.4 Các phương pháp lai tạo giống cao su

1.4.1 Chọn lọc cây đầu dòng

Từ nguồn hạt do Wickham thu thập từ Brazil năm 1876 chuyển về trồng ở Singapore và lan sang Sri Lanka, Malaysia, Indonesia đã được xem là thủy tổ của hầu hết diện tích cao su ở Châu Á và Châu Phi hiện nay Trong thời kỳ này cây cao su được trồng

từ hạt thực sinh không chọn lọc, do đó sản lượng đạt được rất thấp, dưới 500 kg/ha Cramer (1910) đã nhận thấy trong vườn cao su trồng từ các cây thực sinh có sự biến thiên rất lớn về sản lượng giữa các cá thể, qua phân tích sự biến thiên Cramer đã kết luận rằng 70% sản lượng của vườn cây là từ khoảng 30% số cây trong vườn cung cấp Từ đó ông đã khuyến cáo sử dụng hạt thực sinh từ những cây có năng suất cao (cây đầu dòng) để trồng Kết quả thu được từ vườn trồng bằng hạt có chọn lọc đã đưa năng suất bình quân lên 630 – 704 kg/ha/năm so với 496 kg/ha/năm ở các vườn trồng từ hạt thực sinh không chọn lọc (Dijkman, 1951) Năm 1917, Van Helten đã thành công trong phương pháp nhân giống vô tính cao su bằng kỹ thuật ghép mầm mủ trên gốc thực sinh, đã đặt nền móng cho các phương pháp mới trong tạo tuyển giống cao su là tạo ra các dòng vô tính

1.4.2 Phương pháp lai hữu tính nhân tạo (lai hoa)

Tạo ra những giống cao su mới bằng phương pháp lai hữu tính nhân tạo (lai hoa)

đã và đang được áp dụng phổ biến tại nhiều quốc gia trồng cao su trên thế giới như Malaysia từ năm 1928 (Gilbert và ctv, 1973; Othmen, 2007), Việt Nam năm 1933 (Ehret, 1948), Sri Lanka năm 1939 (?), Ấn độ năm 1954 (?), Trung Quốc trong những năm 1950 (Xinsheng, 2010) So với các nước châu Á, chương trình lai hữu tính nhân tạo tại châu

Trang 9

Phi được thực hiện muộn hơn: tại Nigeria vào những năm 1960 (Omokhafe và Nasiru, 2005), Bờ Biển Ngà vào năm 1974 (Legnate, 1991)

Nguyên tắc chính của phương pháp lai hữu tính nhân tạo là phối hợp các cha mẹ có đặc tính mong muốn (Trần Thị Thúy Hoa, 1998) hoặc cụ thể hơn là “lai giữa bố/mẹ tốt nhất với bố/mẹ tốt nhất” và tránh giao phối cận huyết thống (Lại Văn Lâm, 2011) để tạo

ra các cá thể con lai (dạng thực sinh) Sau đó, quần thể con lai được đưa vào đánh giá, chọn lọc ở các bước tiếp theo

Trong thực tiễn, việc lai hữu tính nhân tạo có thể được thực hiện trên cây trưởng thành hoặc trên các vườn lai hữu tính chuyên biệt cho cây cao su, các vườn lai này đã được tạo tán thấp và áp dụng kỹ thuật kích thích ra hoa sớm (Lại Văn Lâm và ctv,

2010) Ưu điểm của phương pháp lai hữu tính nhân tạo là chủ động tạo ra con lai có tính

trạng mong muốn, tỷ lệ đậu trái cao hơn, dễ dàng thi công trên vườn lai chuyên biệt (do được tạo tán thấp) Tuy nhiên, phương pháp này cũng đã bộc lộ một số hạn chế như tỷ lệ đậu trái thấp (trung bình khoảng 5%) và biến thiên lớn theo giống và điều kiện môi trường, thời điểm ra hoa không đồng bộ giữa các giống, thời gian ra hoa ngắn và hạt phấn cao su không thể tồn trữ lâu dài, tay nghề người thực hiện Các hạn chế này đã ảnh hưởng đến số lượng cây lai thu được trong mỗi tổ hợp lai cũng như việc thiết kế các tổ hợp bố mẹ mong muốn

1.4.3 Phương pháp lai tự do

So với lai hữu tính nhân tạo, phương pháp lai tự do được thực hiện sớm hơn Vườn hạt lai đầu tiên được Van de Hoop xây dựng tại Java (Indonesia) vào năm 1920, từ vườn này đã cho ra đời nguồn hạt Tjikadoe (ký hiệu Tijr) nổi tiếng (Ho, 1979) Tại Malaysia, vườn lai cách ly Prang Besar Isolated Garden cũng đã được công ty Prang Besar thiết lập vào năm 1928 và đã tạo ra nhiều quần thể đa giao PBIG được khuyến cáo trồng ở điều kiện môi trường khó khăn

Tại Việt Nam, bên cạnh phương pháp lai hữu tính nhân tạo, việc thu thập cây lai tự

do cũng rất được chú ý nhằm khai thác nguồn gen tái tổ hợp phong phú từ quần thể đa giao Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất cho thấy: trong thời gian từ 2006 – 2010, đã

Trang 10

có 9.497 con lai từ 126 tổ hợp lai, với mẹ là những giống sinh trưởng khỏe và sản lượng cao được thu thập Sau khi chọn lọc bước đầu về sinh trưởng, có 265 con lai xuất sắc đã được đưa vào tuyển non cùng với 1.227 con lai được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính nhân tạo (Lại Văn Lâm và ctv, 2010) Một số DVT mới triển vọng ra đời từ phương pháp lai tự do gần đây như: LTD 98/298, LTD 98/119, LTD 98/630… đang trong giai đoạn sơ tuyển

1.4.4 Chọn giống cha mẹ

Công tác lai tạo giống cây trồng luôn luôn được thực hiện trong một hoàn cảnh kinh tế xã hội nhất định (Simmod, 1985) Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì việc chọn giống bố mẹ bao giờ cũng là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất Theo Phan Thanh Kiếm (2006), chọn giống bố mẹ có nhiều tính trạng tốt thì các gen trong các bố mẹ khác nhau có cơ hội tái tổ hợp để tạo thành những kiểu gen tốt Đối với cây cao su, tạo những DVT sản lượng cao, kết hợp các đặc tính phụ mong muốn là mục tiêu chủ đạo của bất kỳ chương trình cải tiến giống nào (Mercykutty và ctv, 2006) Sinh trưởng khỏe trong thời gian kiến thiết cơ bản là mục tiêu quan trọng kế tiếp và hầu như không tách rời nhằm rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, nâng cao hiệu quả kinh tế vườn cây Một số nghiên cứu đã khẳng định năng suất và sinh trưởng của cây cao su là tính trạng di truyền số lượng (Ligang và ctv, 2004), vì vậy tổ hợp lai giữa cha mẹ có năng suất cao sẽ làm tăng khả năng cho con lai có năng suất cao Thật vậy, thực hiện ước lượng tính di truyền và ưu thế lai dựa trên cây thực sinh non và DVT sau 6 năm khai thác được tạo tuyển trong chương trình lai hữu tính nhân tạo từ năm 1982 đến 1993 của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, Trần Thị Thúy Hoa và ctv (1997) đã kết luận: sản lượng, sinh trưởng và độ dày

vỏ có tính di truyền cao, hệ số di truyền theo nghĩa rộng biến thiên từ 0,31 - 0,93 về sản lượng, 0,31 - 0,69 về sinh trưởng và 0,22 - 0,79 về độ dày vỏ; ưu thế lai cao nhất về sản lượng có thể vượt hơn cha mẹ tốt nhất 252,7%

1.4.5 Các kiểu tổ hợp lai thường được thực hiện

Ngày đăng: 16/04/2015, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1 Diện tích và sản lượng cao su thế giới từ 2005 – 2011 (đơn vị 1000 tấn) - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU
th ị 1.1 Diện tích và sản lượng cao su thế giới từ 2005 – 2011 (đơn vị 1000 tấn) (Trang 6)
Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất cao su của Việt Nam - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU
Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất cao su của Việt Nam (Trang 6)
Hình 1.2 Lưu đồ cải tiến giống cao su cơ bản tại Việt Nam - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU
Hình 1.2 Lưu đồ cải tiến giống cao su cơ bản tại Việt Nam (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w