Độ dẫn điện của tế bào và mô trong những điều kiện nhất định là một đại lượng không đổi – đặc trưng cho trạng thái sinh lý và chức năng của tế bào. Nghiên cứu tính dẫn điện của tế bào và mô nhằm 2 mục đích chính: Tìm hiểu một số đặc tính vật lý của vật chất sống. Nghiên cứu sự biến đổi các thông số điện liên quan đến chức năng của hệ. Các đối tượng sinh vật thuộc loại các chất bán dẫn. Với dòng điện 1 chiều, điện trở của các tế bào động thực vật cũng như của các mô có giá trị khoảng 106 – 107 .cm, hồng cầu: 1012 .cm. Với dòng điện xoay chiều, điện trở của hệ sinh vật nhỏ hơn. Khi cho dòng điện không đổi chạy qua cơ thể sinh vật người ta thấy 1 số hiện tượng, quy luật tương tự như khi dòng điện không đổi chạy qua kim loại và chất điện ly.
Trang 1ĐỘ DẪN ĐIỆN CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ
Trang 2Mở đầu
Độ dẫn điện của tế bào và mô trong những điều kiện nhất định là một đại lượng không đổi – đặc trưng cho trạng thái sinh lý và
chức năng của tế bào.
Nghiên cứu tính dẫn điện của tế bào và mô nhằm 2 mục đích chính:
1 Tìm hiểu một số đặc tính vật lý của vật chất sống
2 Nghiên cứu sự biến đổi các thông số điện liên quan đến chức năng của
hệ
Hoberơ là người đầu tiên nghiên cứu độ dẫn điện của máu (TK 19), sau đó
Osterohout nghiên cứu độ dẫn điện của da ếch và tế bào thực vật
Trong những năm gần đây, phương pháp đo độ dẫn điện chủ yếu
được sử dụng để xác định các quá trình tổn thương của hệ sinh học.
Trang 3ĐỘ DẪN ĐIỆN CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ
Các đối tượng sinh vật thuộc loại các chất bán dẫn.
Với dòng điện 1 chiều, điện trở của các tế bào động thực vật cũng như của các mô có giá trị khoảng 106 – 107 Ω cm, hồng cầu: 1012
Ω cm.
Với dòng điện xoay chiều, điện trở của hệ sinh vật nhỏ hơn.
Khi cho dòng điện không đổi chạy qua
cơ thể sinh vật người ta thấy 1 số hiện
tượng, quy luật tương tự như khi dòng
điện không đổi chạy qua kim loại và
chất điện ly
Trang 4Dòng điện không đổi qua 1 vài môi trường
1 Dòng điện trong kim loại: dòng chuyển dời có hướng của các
electron tự do dưới tác dụng của điện trường ngoài.
Nguyên nhân của điện trở là sự cản trở chuyển động có hướng của
các electron gây ra bởi các nút tinh thể kim loại.
Điện trở của 1 dây dẫn kim loại phụ thuộc vào kích thước, bản chất và nhiệt
độ của nó Ta có mối liên hệ:
Trang 52 Dòng điện trong chất điện phân
Sự điện ly của các phân tử trong dung dịch
Những chất hòa tan có khả năng phân ly thành các ion trong dung môi gọi là
chất điện phân hay chât điện ly
Chỉ có các dung dịch mà các phân tử của chất hòa tan bị phân ly thành các ion âm và dương mới có khả năng dẫn điện
Song song với quá trình phân ly của các ion trong dung dịch điện ly, còn tồn tại sự tái hợp: sự va chạm của 2 ion âm và dương trong quá trình chuyển động nhiệt có thể kết hợp thành phân tử trung hòa
Trong dung dịch chất điện phân có sự cân bằng động của 2 quá trình phân ly và tái hợp
Trang 6ĐIỆN TRỞ CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ ĐỐI VỚI DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU.
Khi cho dòng điện 1 chiều đi qua tế bào và mô, người ta thấy cường độ
dòng điện (I) bị thay đổi – ngay sau khi nối mạch I giảm liên tục cho đến khi
đạt được 1 giá trị nào đó nhỏ hơn I ban đầu (tương tự như khi cho dòng
điện đi qua dung dịch chất điện phân)
I
P = f(t)
Sự phụ thuộc của cường độ dòng điện theo thời gian
Nguyên nhân: khi có dòng điện 1 chiều
chạy qua, trong hệ xuất hiện một dòng điện ngược chiều, dòng điện này lớn dần cho tới khi đạt được 1 giá trị không đổi
Định luật Ohm đối với hệ sinh học
Trang 7Hiện tượng này cũng giống khi cho dòng điện 1 chiều đi qua chất điện
phân Nguồn gốc của dòng điện ngược chiều trong dung dịch điện phân là hiện tượng phân cực hệ sống có khả năng phân cực
Lượng điện được tích lũy trong hệ sống không thể chỉ do điện dung tĩnh,
mà còn có điện dung phân cực tham gia
Đặc trưng của tế bào sống không bị tổn thương: có giá trị điện dung phân cực rất cao Nếu tế bào bị tổn thương hay chết thì điện dung phân cực nhỏ
ĐIỆN TRỞ CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ ĐỐI VỚI DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU
Các đối tượng sinh vật rất nhạy cảm với dòng điện 1 chiều.
Trang 8ĐIỆN TRỞ CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ ĐỐI VỚI DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
Đặc điểm của hệ sống:
• Điện trở của hệ đối với dòng điện xoay chiều thấp hơn dòng điện 1 chiều
• Điện trở không phụ thuộc vào cường độ dòng điện xoay chiều nếu
cường độ nhỏ hơn ngưỡng kích thích
• Ở trạng thái sinh lý bình thường, điện trở của hệ phụ thuộc vào cường
độ (trên ngưỡng) và phụ thuộc vào tần số của dòng điện xoay chiều
• Ở một tần số nhất định nào đó, điện trở của tế bào và mô không thay đổi
nếu trạng thái sinh lý của tế bào không thay đổi
Sự thay đổi điện trở ở các tần số khác nhau
(1920, Philipxôn, tế bào cơ)
Khi t bế ào bị tổn thương thì điện trở giảm
R
ω
Tính chất chung: Độ dẫn điện của hệ tăng
dần và đạt 1 giá trị cực đại khi tần số dòng điện xoay chiều tăng lên
Thông thường, độ dẫn điện cực đại ở 106Hz
Trang 9ĐIỆN TRỞ CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ ĐỐI VỚI DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
Sự phụ thuộc độ dẫn điện vào tần số cũng như khả năng phân cực chỉ
đặc trưng cho tế bào sống
Tế bào bị tổn thương càng nặng thì tính chất trên thể hiện càng yếu
Nghiên cứu điện trở của tế bào và mô ở các tần số khác nhau có thể đánh giá trạng thái sinh lý của tế bào và mô
mà không gây tổn thương – sử dụng khi cần cấy hoặc truyền vào cơ thể người
R
ω
Sự phụ thuộc điện trở của mô thực vật
vào trạng thái sinh lý
Bình thường
Đun ở 100 0 trong 20 phút Đun ở 50 0 trong 4 phút Đun ở 50 o trong 2 phút
Trang 10Trong cùng 1 cơ thể, k tỷ lệ với cường độ trao đổi chất của từng loại mô Ở
cơ quan có cường độ trao đổi chất cao (gan, lách) k có giá trị lớn Ở cơ, nơi
có cường độ trao đổi chất thấp hơn thì k có giá trị thấp hơn
k =
Trang 11Điện trở của mô ở các tần số khác nhau
Đo hệ số k của cơ ở các trạng thái sinh
lý khác nhau:
Ở vùng cao tần (ω>>0) – điện trở của
cơ không thay đổi trong vòng 30 giờ
Ở vùng âm tần: điện trở của cơ thay đổi
5 lần
Sự thay đổi độ dẫn điện của tế bào và mô là do khả năng
phân cực của chúng.
Trang 12TỔNG TRỞ CỦA TẾ BÀO VÀ MÔ
Trong hệ sống tồn tại cả điện trở Ohm và điện dung
Đối với dòng điện 1 chiều, điện trở của hệ lớn là do sự có mặt của thành phần điện dung, không cho dòng điện 1 chiều chạy
qua
Với dòng xoay chiều, phải xét cả 2 loại điện trở: điện trở thuần hầu như không phụ thuộc vào tần số dòng điện đi qua, còn điện trở kháng sẽ giảm khi tần số dòng điện tăng giảm trở của toàn
Trang 13Tuy vậy, việc xác định điện trở của tế bào và mô có ý nghĩa lớn về mặt
lý thuyết cũng như thực tiễn trong y học và sinh học.
Để xác định được thông số về điện trở thuần, điện trở kháng của các hệ thống sống là một việc làm không đơn giản Thông thường, ta gặp phải những khó khăn và phức tạp trong khi đo vì:
- Đối tượng sống là một hệ đa pha và tổ chức không đồng nhất về cấu trúc.
- Thể tích tế bào không cố định mà có thể biến đổi tuỳ theo trạng thái sinh lý của đối tượng khi khảo sát.
- Bề mặt tế bào có một lớp vỏ protéin bao bọc, lớp màng bảo vệ tế bào có độ
điện dẫn rất lớn.
- Ngoài ra, dòng điện đi vào mô chủ yếu chạy qua lớp gian bào có độ dẫn điện tôt
vì bản thân nó chứa nhiều loại ion với nồng độ rất cao.
- Các vi điện cực làm tổn thương màng
Trang 14Mô hình vật lý tương đương
CR
R- điện trở gian bào;
R i -điện trở nội bào
R m - điện trở màng
C- điện dung màng
Trang 15CƠ CHẾ PHÂN CỰC TRONG HỆ THỐNG SỐNG
Phân cực trên bề mặt tế bào
Phân cực trong toàn bộ thể tích tế bào
Sự phân cực không chỉ do các ion tham
Trang 16ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU SINH HỌC VÀ Y HỌC
Pp đo điện trở : sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu các quá trình xảy ra trong
tế bào và mô dưới tác dụng của các yếu tố vật lý, hoá học, trong quá trình bệnh lý (vd: quá trình viêm)
Nghiên cứu các tổn thương do tia phóng xạ ion hoá gây ra – ngay ở giai đoạn đầu tiên của tổn thương đã có sự thay đổi về tính dẫn điện của tế
Trang 17ỨNG DỤNG CỦA DÒNG ĐIỆN
TRONG ĐIỀU TRỊ
Trang 18ỨNG DỤNG CỦA DÒNG ĐIỆN TRONG ĐIỀU TRỊ
1 Các loại dòng điện dùng trong điều trị
• Dòng điện 1 chiều
• Dòng điện xoay chiều (các xung điện)
Xung vuông Xung Faradic
Trang 19a Điện giải liệu pháp:
• Xuất hiện các hiện tượng hóa học: xảy ra ở cực âm và cực
dương tác dụng điện hóa ứng dụng để điều trị bệnh.
• Đặt các điện cực trực tiếp vào vị trí cần điều trị, chọn điện cực phù hợp với mục đích (phân cực or không phân cực) và các phức hợp hóa chất thích hợp để điều trị các bệnh tương ứng
ứng dụng điều trị
Trang 20Ion liệu pháp dùng tính chất trên để đưa các thuốc cần thiết dưới dạng ion vào
cơ thể (Thí nghiệm Leduc)
Các ion vào cơ thể theo cách này không thấm sâu được có tác dụng tại
chỗ và nông (ngoài da)
Tuy nhiên, nhờ sự thâm nhập qua đường bạch huyết or mạch máu, cũng có thể xảy ra tác dụng sâu
Ví dụ: ion liệu pháp qua não tuỷ: đưa Ca+ vào trung ương thần kinh trong
điều trị bệnh liệt nửa người
Tẩm dung dịch CaCl 2 1%, 2 điện cực dương đặt trên 2 mắt, điện cực âm đặt ở gáy, và cho dòng điện 1-2 mA chạy qua
Trang 21Liệu pháp dựa trên tác dụng sinh lý gây ra khi cho dòng điện 1 chiều
đi qua hệ sống như:
•Làm giảm ngưỡng kích thích của sợi cơ vận động
•Giảm tính đáp ứng của thần kinh cảm giác giảm đau
•Gây giãn mạch
•Tăng cường trao đổi chất
Trang 222 Ứng dụng của dòng điện xoay chiều (hạ tần và trung tần) và tác dụng điều trị
•Kích thích co cơ: dòng xoay chiều có xung ngắn và tần số từ 40 – 180 Hz làm cơ co và mệt nhanh Tác dụng này được sử dụng trong điều trị các bệnh thoái hoá thần kinh vận động chống teo cơ Ngoài ra việc kích thích co
cơ cũng làm tăng lưu thông máu, hồi phục dinh dưỡng cơ
•Các xung vuông có tần số và cường độ thích hợp được dùng để gây
“choáng điện” – một cơn co giật nhân tạo bằng kích thích điện xuyên qua
sọ - trong điều trị một số bệnh tinh thần có chu kỳ
•Xung vuông biên độ 150V, kéo dài 1-2 ms có thể kích thích tim từ ngoài
lồng ngực dùng cấp cứu trong trường hợp ngừng tim
•Dùng kích thích tim trong trường hợp bệnh nhân bị đau tim: bệnh nhân
được gắn 1 máy đảm bảo nhịp tim thường xuyên (pacemaker) – một loại máy phát xung điện kích thích có kích thước nhỏ, chạy pin và các điện cực kích thích có thể bố trí ngay trên màng tim
Trang 233 Tác dụng của dòng điện cao tần và ứng dụng điều trị
•Năng lượng của dòng cao tần được biến thành nhiệt năng tại nơi có dòng điện đi qua
•Sự phân bố nhiệt trong cơ thể không đồng đều và phụ thuộc vào tần số, với sóng ngắn nhiệt giữ nhiều ở tổ chức mỡ và ít ở tổ chức cơ…
Tác dụng nhiệt làm tăng lưu thông máu, dịu đau, tăng cường chuyển hoá vật
chất, giảm ngưỡng kích thích vận động, thư giãn thần kinh, cơ
Dòng điện cao tần với bước sóng 200m cung cấp nhiệt năng cao Dòng
nhiệt điện thường được chỉ định để điều trị các bệnh viêm thần kinh,
bệnh ngoài da, hoặc giảm đau ở các khớp nông (sóng cực ngắn)
Cắt đốt bằng nhiệt điện: tiêu diệt các tổ chức sống do tác dụng nhiệt của dòng cao tần Khi dòng nhiệt điện chạy qua cơ thể, các đường sức điện tập trung vào điện nhỏ nhiệt lương lớn ở nơi tiếp xúc tiêu hủy các tổ chức
Trong phẫu thuật, dùng máy nhiệt điện có thể cắt đốt các tổ chức mà không gây chảy máu, không nhiễm trùng và để lại sẹo nhỏ trắng không dính