• Những yêu cầu cần đạt được đối với môn học là nắm vững sự phát triển của khoa học quản trị, những nguyên tắc về quản trị, các chức năng của hoạt động quản trị và trang bị các kỹ năng l
Trang 2MỤC LỤC
Trang
2.7.2 Tài liệu tham khảo dùng bổ sung và mở rộng kiến thức 4
3.2 Chương 2: Tổng quan về sự phát triển của khoa học quản trị 57
Tài liệu hướng dẫn môn học: QUẢN TRỊ HỌC
1 Thông tin về giảng viên:
Học hàm, học vị – Tên họ: TS HOÀNG MẠNH DŨNG
Trang 3Địa chỉ cơ quan: Phòng Hành chính – Quản trị, Trường Đại học Mở Tp.HCM.
Điện thoại cơ quan: 08 9301285, E-mail: dungoupmu@yahoo.com.vn
Điện thoại cá nhân: 0903831122
Truy cập đề cương: http://sites.google.com/site/hoangmanhdungou/quan-tri-hoc
2 Thông tin tổng quát về môn học:
2.2 Mục tiêu và yêu cầu đối với môn học:
• Quản trị giữ vai trò quan trọng đối với mọi sự thành công của từng tổ chức (vĩ mô lẫn vi mô) Tìm hiểu và nghiên cứu về môn học góp phần mang lại những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực năng suất – chất lượng - hiệu quả đối với tất cả các tổ chức Trong xu thế hội nhập kinh tế, hoạt động quản trị càng có ý nghĩa lớn lao nhằm phát triển bền vững các tổ chức trước những sự thay đổi nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật Môn học cung cấp bộ khung kiến thức cơ bản về công tác điều hành quản lý một tổ chức Nội dung chủ yếu của môn học nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng cũng như những kinh nghiệm trong công tác quản lý đã được tổng kết từ những năm đầu của thế kỷ 20 Thông qua những tiếp thu của môn học, người học có thể vận dụng vào công việc hàng ngày; đặc biệt khi đảm nhận cương vị là nhà quản trị ở tất cả các cấp Quản trị học cung cấp một
tư duy khoa học về điều hành, một "ngôn ngữ chung" khi lãnh đạo, một phương pháp điều hành sáng tạo, có hiệu quả và luôn hướng đến hoàn thành các mục tiêu
mà tổ chức đã đề ra
• Môn học yêu cầu người học liên hệ các nội dung lý thuyết đã học nhằm so sánh với thực trạng đã và đang xẩy ra Qua đó tự đúc kết thành những bài học kinh nghiệm khi ra quyết định và giải quyết vần đề trong quản lý Để tổng kết thành lý luận vững chắc đòi hỏi người học cần đọc nhiều sách giáo khoa, tài liệu khoa học,
… Do vậy, người học cần tìm hiểu các sự kiện, có óc phân tích – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, tư duy hệ thống và một phương pháp giải quyết vấn đề hết sức khoa học
• Những yêu cầu cần đạt được đối với môn học là nắm vững sự phát triển của khoa học quản trị, những nguyên tắc về quản trị, các chức năng của hoạt động quản trị
và trang bị các kỹ năng làm việc cơ bản đối với một nhà quản trị khi phải ứng xử trước các tình huống phát sinh Quản trị vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật nên đòi hỏi người học phải biết vận dụng sáng tạo nhằm hình thành các bí quyết, mưu lược độc đáo khi tham gia giải quyết vấn đề của từng tổ chức Hiệu quả là thước đo của hoạt động quản trị nên mọi hành động của nhà quản trị đều phải cân nhắc sao cho đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất tương ứng với các nguồn lực của tổ chức luôn hữu hạn
2.3 Số đơn vị học trình: 03 – 45 tiết lý thuyết.
2.4 Phân bố thời gian: 45.00.00 hoặc 60.00.00
1 Chương 1: Khái quát về quản trị
Trang 42 Chương 1: Khái quát về quản trị
3 Chương 1: Khái quát về quản trị
4 Chương 2: Tổng quan sự phát triển của khoa học quản trị
5 Chương 2: Tổng quan sự phát triển của khoa học quản trị
2.5 Các kiến thức căn bản cần học trước:
• Đây là môn học cơ sở của nhiều ngành học nên yêu cầu người học có kiến thức tốt nghiệp phổ thông trung học
2.6 Hình thức giảng dạy chính môn học:
• Diễn giảng, nêu vấn đề, thuyết trình và thảo luận
2.7 Giáo trình, tài liệu:
2.7.1 Tài liệu chính dùng để dạy:
• Trần Anh Tuấn và tập thể, Tài liệu hướng dẫn học tập Quản trị học, Trường Đại
học Mở Tp.HCM, 2006
• Vũ Thế Phú, Quản trị học, Trường Đại học Mở Tp.HCM, 2003.
• Nguyễn Thị Liên Diệp, Quản trị học, Nxb Thống kê, 2006.
2.7.2 Tài liệu tham khảo dùng bổ sung và mở rộng kiến thức:
• Viện kinh tế thế giới, Mô hình quản lý xí nghiệp Nhật Bản – Sự thách thức đối với
Mỹ và Tây Au – Thuyết Z, Hà Nội, 1987.
• Nguyễn Hiển Lê dịch, Đắc nhân tâm, Nxb Tổng hợp An Giang, 1998
• Licosaxuba, Tư tưởng quản trị kinh doanh hiện đại, TT xuất bản Hà Nội, 1990.
• Nguyễn Hữu Thân và tập thể, Chiến lược cạnh tranh thị trường, 1990.
• Kaizen – Chìa khóa của sự thành công của Nhật Bản, Nxb Tp.HCM, 1992
• Vũ Thiếu và tập thể biên dịch, Những vấn đề cốt lõi của quản lý, Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, 1993
• Hải Minh, Bản sắc dân tộc và công tác quản trị nhân sự trong các đại công ty
Nhật Bản, 1993.
• Trần Anh Tuấn, Quản trị học, 1994.
• Lê Văn Tâm chủ biên, Quản trị doanh nghiệp, Nxb gio dục, 1995.
• Nguyễn Tấn Phước, Quản trị học – Những vấn đề cơ bản, Nxb Thống kê, 1995.
Trang 5• Lê Thanh Hà chủ biên, Quản trị học, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM, 1996.
• Vũ Tiến Phúc dịch, Tái lập công ty, Nxb Tp.HCM, 1996.
• Nguyễn Minh Đình và tập thể biên dịch, Quản lý có hiệu quả theo phương pháp
Deming, Nxb Thống kê, 1996.
• Chu Tiến Anh, Tạo dựng một nền văn minh mới, Nxb chính trị quốc gia, 1996.
• Khoa Khoa học quản lý, Lý thuyết quản trị kinh doanh, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, 1997
• Nguyễn thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, Chiến lược &chính sách kinh doanh, Nxb
Thống kê, 1997
• Trần Sĩ Hải, Quản trị học, Nxb Thống kê, 1997.
• Đỗ Quang Thái, 12 bí quyết thành công của Công ty Microsoft, Nxb Thống kê,
• Ngọc Minh, Thuật thuyết phục lòng người, Nxb Thanh Hóa, 1999.
• Vũ Đức Thắng, Quản lý hiệu quả, Nxb Thống kê, 2000.
• Nguyễn Quang A, Thế giới phẳng, Nxb Trẻ, 2005.
• Nguyễn Hữu Thân, Quản trị nhân sự, Trường Đại học Mở Tp.HCM, 2006.
• Các trang web trên internet
2.8 Các công cụ hỗ trợ môn học: Multimedia Projector.
3 Nội dung môn học
Chương 1: Khái quát về quản trị
Số tiết dự kiến: 06 tiết
Trang 6Mục tiêu của chương:
• Nắm bắt bối cảnh và các quan điểm về quản lý trong điều kiện hiện nay
• Hiểu mục đích và hiệu quả của hoạt động quản trị
• Quán triệt các chức năng của hoạt động quản trị
• Am tường quản trị là một khoa học và là một nghệ thuật
• Vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học quản trị
Chi tiết các đề mục của chương:
1 Bối cảnh quản lý trước tình hình hiện nay.
1.1 Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới
Toàn cầu hóa (globalization) là một thuật ngữ thường được nói đến trong cuộc sống hàng ngày Ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được đề cập khi thực hiện chính sách đổi mới năm 1986 Vào thời kỳ phong kiến; biên giới kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các quốc gia trở nên khó bền vững hơn mặc dù độc lập lãnh thổ, bản sắc riêng của mỗi dân tộc vẫn được tôn trọng và bảo vệ Với sự hợp tác quân sự của các nước đồng minh trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ II và những phát triển vượt bậc của khoa học
kỹ thuật từ nửa sau thế kỷ 20; thế giới dường như được thu hẹp lại về cả thời gian lẫn không gian cho dù còn nhiều nơi và dân tộc khác vẫn còn cô lập với thế giới hiện đại
Lần đầu tiên vào năm 1944, từ điển Merriam Webster đã công nhận động từ “toàn cầu
hóa” (globalize) Với sự phát triển và chuyển giao khoa học xảy ra trên quy mô lớn thúc đẩy các nước xích lại gần nhau hơn và hợp tác trong nhiều lĩnh vực Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), vào tháng 1 năm 1999, khẳng định toàn cầu hóa trở thành một thực tế mang nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia Hoạt động nổi bật của toàn cầu hóa là sự hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ ngoại giao của các quốc gia Tiến trình này thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trên thế giới với sự gia tăng GDP toàn cầu từ 2,7 lần vào nửa đầu thế kỷ 20 đến 5,2 lần vào nửa cuối thế kỷ 20 và tốc độ tăng trưởng GDP thế giới đạt đến 3,6%/năm Đối với Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ thương mại với 160 nước và thu hút đầu tư trực tiếp từ các công ty, tập đoàn kinh tế của hơn 70 quốc gia Sự ra đời của WTO, ASEAN, APEC, ASEM, EU, UN, UNESCO hay các khu vực thương mại tự do (FTA) và các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) là những minh chứng của tiến trình này Sự hợp tác kinh tế
và sản xuất quốc tế thể hiện khi tham gia sản xuất máy bay Airbus Đôi cánh của Airbus được sản xuất tại Anh; thân và đuôi của Đức; cửa máy bay do Tây Ban Nha sản xuất; Pháp thiết kế buồng lái và công đoạn lắp ráp cuối cùng Ngoài ra, Airbus còn ký hợp đồng với 27 quốc gia khác để sản xuất các thiết bị cần thiết với khoảng 35% các chi tiết trong máy bay do hơn 500 công ty của Mỹ cung cấp
Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa và quá trình phát triển Mặc dù, nhiều người vẫn quan niệm toàn cầu hóa giống như quốc tế hóa ở sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng sản xuất và sự hợp tác xuyên quốc gia trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên không chỉ đơn thuần là sự xích lại gần nhau của các nước, toàn cầu hóa là tiến trình bao gồm một hoặc nhiều sự kiện và hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa hay môi trường có tác động vừa tích cực lẫn tiêu cực giữa các quốc gia Đây được xem như kết quả của sự phát triển sản xuất và phân công lao động trên bình diện quốc tế Những tác động này đã và đang làm thay đổi cấu trúc, quan hệ xã hội, trật tự thế giới và gia tăng mối quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội quốc tế
Trang 7Có ba quan điểm khác nhau về hiện tượng toàn cầu hóa Hầu hết các quốc gia xem cạnh tranh buộc các cá nhân, tập đoàn kinh tế và chính phủ phải chấp nhận cũng như tìm cách đối phó và khai thác lợi ích Nhờ vào những sự phát triển của công nghệ thông tin, viễn thông nên con người, hàng hóa, ý tưởng và đồng vốn đã dịch chuyển xuyên quốc gia Theo quan điểm này, toàn cầu hóa được xem như cơ hội và thách thức trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các nguồn tài chính hai chiều với các quốc gia Những phát minh và chuyển giao công nghệ nhanh chóng đem lại nhiều lợi ích khi phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu kinh tế và kiến thức mới cho các quốc gia đang phát triển
Một số học giả như Pierre Bourdieu, Namoi Klien hay Loic Wacquant từng lên tiếng chỉ trích tiến trình toàn cầu hóa Họ đồng hóa với quan niệm đây là quá trình “Mỹ hóa” (Americanization), là bề mặt của chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ và các nước tư bản phương Tây Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Mỹ và các nước khác máy móc lấy các kiểu mẫu hay chính sách của Mỹ để làm thước đo cho riêng mình hay cho các hoạt động kinh tế quốc tế Quan điểm bảo thủ dường như quá lạm dụng những mỹ từ như “toàn cầu hóa”, “đa văn hóa”, “thời đại mới” hay “hậu hiện đại” nhưng lại thiếu hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa tư bản hay bất công và phân tầng trong xã hội Họ tranh cãi với các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng chung châu Âu (EU)… chẳng qua là những tổ chức do các cường quốc sáng lập, phương tiện để họ bảo vệ lấy mình, thực thi quyền lực gây ảnh hưởng lên các nước đang phát triển Các tập đoàn quốc tế này thao túng sự cô lập biên giới kinh tế và chính trị giữa các quốc gia, làm mờ nhạt vai trò của nhà nước và chính phủ Quan điểm của các học giả này là bênh vực các nước nghèo đến mức thái quá trong cuộc chạy marathon không cân sức này Họ vẫn đúng khi cả thế giới đang ở đỉnh cao của sự phân cực Theo báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc) năm 1997, tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thế giới ở các nước giàu và 20% ở các nước nghèo là 1:30 vào năm 1960, 1:60 năm 1990 và 1:74 vào năm 1997 Vào năm 1985, thu nhập bình quân tính theo đầu người ở các nước giàu gấp 76 lần so với các nước nghèo Nhưng đến năm 1997, chỉ số này tăng lên 288 lần Hiện nay, ba tỷ người trên thế giới có mức sống dưới 2 USD/ngày và 1,3 tỷ người có thu nhập dưới 1 USD/ngày
Một quan điểm khác về toàn cầu hóa mang tính trung lập Họ gồm những nhóm người ít quan tâm đến hiệu ứng của hiện tượng này và xem như một sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại Quan điểm đáng trân trọng của trường phái này là đang cố gắng bênh vực nhóm người bất lợi về mặt sinh lý, địa lý, xã hội, giáo dục, tôn giáo, thu nhập
và dân tộc Đây là những người ít có tiếng nói hay cơ hội tiếp xúc với thế giới hiện đại
Vì thế, họ không thể trực tiếp tham gia vào tiến trình này Nhưng đồng thời vẫn có các tổ chức và cá nhân khác cố gắng bênh vực thông qua các tổ chức nhân đạo, phi chính phủ, các diễn đàn thế giới dành cho người nghèo, khuyết tật… Những hoạt động của các tổ chức này đang được sự đồng tình của cộng đồng thế giới và dần có tiếng nói mạnh mẽ Theo quan điểm này, toàn cầu hóa không còn là một xu thế phát triển một chiều từ các quốc gia đã phát triển áp đặt lên các nước đang phát triển nữa Tiến trình này đã có khuynh hướng di chuyển đa chiều giữa các quốc gia
Toàn cầu hóa được đề cập nhiều trong lĩnh vực kinh tế vì đây là quá trình làm gia tăng mối quan hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Nó được xem như sự tự do hóa các hoạt động kinh tế và thương mại quốc tế với sự điều hành của chính phủ từng quốc gia và các tổ chức quốc tế Đặc điểm nổi bật của hiện tượng này là
sự dịch chuyển (hay còn gọi là “dòng chảy”) của bốn yếu tố: hàng hóa – dịch vụ, di – nhập cư, khoa học kỹ thuật và tiền tệ trong tự do thương mại
Trang 8Có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hóa dựa trên sự tiến hóa của nhân loại Tiến trình này luôn bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật Ở từng thời kỳ, toàn cầu hóa đều có bản chất khác nhau và ảnh
hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống con người Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc
biệt trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin; nửa sau thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19
đã thật sự thay đổi đời sống con người lẫn thế giới: tàu thủy chạy bằng hơi nước được phát minh năm 1807; tàu thủy vượt Đại Tây Dương được đóng năm 1817; đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được chế tạo ở Anh năm 1802; xe lửa chạy trên đường sắt kéo nhiều toa với tốc độ nhanh hơn trước được chế tạo năm 1814; máy điện tín được phát minh ở Nga và Mỹ vào giữa thế kỷ 19 giúp nhân loại tiết kiệm nhiều thời gian trong thông tin liên lạc Trong lĩnh vực nông nghiệp, phân hóa học lần đầu tiên được sử dụng vào thế kỷ 19 Đối với ngành công nghiệp, phương pháp sản xuất nhôm nhanh và rẻ được phát minh vào cuối thế kỷ 19 Những phát minh trong thế kỷ 20 như ti vi, máy vi tính, máy bay, xe hơi, kỹ thuật lai tạo trong công nghệ di truyền, giúp nhân loại thu hẹp lại khoảng cách và thời gian, tạo điều kiện cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức (với bốn cột trụ là công nghệ sinh học, công nghệ ngoài không gian, công nghệ thông tin, và vật liệu mới) và kinh tế sáng tạo (chủ yếu dựa trên nghiên cứu và phát triển) Biên giới kinh
tế, văn hóa và xã hội của từng quốc gia riêng biệt trở nên mỏng manh và nhân loại có xu hướng xích lại gần nhau hơn
Với lý thuyết về dịch chuyển lao động và sự phát triển của thuyết tự do mới,
các tác giả như Mittelman (2000), Giáo sư Dapice (2002) khẳng định toàn cầu hóa trải
qua ba thời kỳ chính Thời kỳ thứ nhất xuất hiện cách đây khoảng 5.000 năm khi một
số nhóm người đã bắt đầu vượt khỏi biên giới của bộ tộc hay lãnh thổ để xâm chiếm dân
tộc khác hay chỉ để trao đổi hàng hóa và tìm nơi định cư mới Thời kỳ thứ hai bắt đầu
cùng với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, tư bản và công nghiệp hóa xảy ra cách đây khoảng 400 năm và kéo dài đến thập niên 1970 Trong suốt thế kỷ 18, thế giới đã chứng kiến một sự di dân ồ ạt của khoảng 10 triệu nô lệ da đen sang các nước thực dân Các nước thuộc địa của Anh và Pháp bị khai thác do tình trạng thiếu lao động ở các nước này Đầu những năm thế kỷ 20, hàng triệu người đổ xô đến các “vùng đất hứa” ở Mỹ hay
Úc để đào vàng Nguyên nhân chính vẫn là do sự đói nghèo, sự đe dọa về chiến tranh và hạn chế về cơ hội nghề nghiệp ở các nước châu Âu Đến 1960, Mỹ bắt đầu vươn mình trở thành siêu cường quốc sau thế chiến thứ hai và một lần nữa chứng kiến sự di chuyển
ào ạt lực lượng lao động từ các nước châu Âu sang Bắc Mỹ, gây ra chảy máu chất xám
đến mức Liên Hợp Quốc phải lên tiếng báo động vào năm 1967 Thời kỳ thứ ba xảy ra
kể từ những năm 1970, các nước tư bản phải đối phó với sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods (được 44 quốc gia thành lập vào năm 1944 và chấm dứt hoạt động vào tháng 8 năm 1971 do lạm phát kéo dài của nền kinh tế Mỹ trong suốt thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam kéo theo sự tuột giá dolar Mỹ) và sự khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng xảy ra tại châu Âu Các nước đã và đang phát triển áp dụng các chiến lược phát triển kinh tế mới, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, tận dụng đồng vốn đầu tư từ nước ngoài và
tư nhân Những khái niệm cô lập hoạt động kinh tế từ thập niên 60 để bảo vệ nền kinh tế nội địa ở các nước đang phát triển bắt đầu bị phê bình Các nhà kinh tế thuộc trường phái
tự do mới (với cao trào xuất hiện vào những năm cuối thập niên 70) tin giữa các quốc gia, bất kể là nước giàu hay nghèo, đều có chung những qui luật phát triển kinh tế Theo quan điểm này, chính phủ các nước phải giảm vai trò kiềm chế cứng nhắc trong hoạt động kinh tế; đồng thời khuyến khích tự do mậu dịch và áp dụng các qui tắc về lợi thế so sánh Mặc dù, quan điểm tự do mới bị chỉ trích gay gắt về tính nhân văn trong cạnh tranh Thời kỳ này được xem là giai đoạn chuyển tiếp của toàn cầu hóa sang một bước
Trang 9phát triển mới kể từ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ và thế giới được sắp xếp lại theo một trật tự mới.
Theo quan điểm về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân, hiện tượng toàn cầu
hóa trải qua ba thời kỳ với lần một xảy ra vào thế kỷ 16, lần hai vào thế kỷ 19 và lần
ba kéo dài trong những năm cuối thế kỷ 20 Cả hai làn sóng đầu tiên đều xuất phát từ
tham vọng bành trướng đất đai của những người lãnh đạo châu Âu Hiện tượng này dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa thực dân đầu tiên ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, kế tiếp đến Anh và Pháp Sự kiện lịch sử quan trọng nhất giữa hai giai đoạn này là thực dân châu Âu xâm chiếm châu Mỹ, châu Úc và châu Phi Lịch sử này khiến người Mayas, Aztecs và thổ dân Aborigines ở Úc mất hết đất đai và trở thành nô lệ cho người da trắng Những nước kém phát triển khác như Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Algeria, Maroc… trở thành thuộc địa của Anh và Pháp Với những thành quả của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất của Anh vào nửa cuối thế kỷ 18; giai cấp tư bản châu Âu trở thành lực lượng chủ yếu thúc đẩy tiềm lực kinh tế trong xã hội bên cạnh bần cùng hóa giai cấp vô sản Sự phân biệt giàu nghèo xảy ra không chỉ tại các nước tư bản thực dân
mà còn tạo sự cách biệt thu nhập trên thế giới Vào cuối những năm 1890, thu nhập bình quân của các nước Tây Âu cao hơn các nước Đông Âu gấp 80% Cuối thế kỷ 19, Anh
từng tự hào với sức mạnh quân đội và cho rằng “Mặt trời chưa bao giờ lặn ở Anh” khi
thuộc địa của họ trải rộng khắp nơi trên địa cầu Vào những năm 1800, châu Âu chiếm được khoảng 35% lãnh thổ trên thế giới và con số này tăng lên 67% vào năm 1878 và 85% năm 1914 Tuy vậy, thực dân phương Tây vẫn luôn đối mặt với các sự phản kháng mãnh liệt từ các nước thuộc địa, gây ra biết bao thiệt hại về con người và vật chất Trong những năm 1910 chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của 38 triệu người Chiến tranh thế giới thứ nhất đã khiến cho hành tinh bị tàn phá thảm hại
Đến sau thế chiến thứ II, Mỹ trở thành cường quốc số một với tham vọng bá chủ toàn cầu Đến cuối thế kỷ 20, toàn cầu hóa không còn được xem như sự xâm chiếm lãnh thổ mang tính vũ trang nữa mà là sự hội nhập và lấn át giữa các nền kinh tế, mâu thuẫn kinh tế và chính trị hầu như được giải quyết trong hòa bình, ngoại trừ những nạn khủng
bố của nhiều nhóm chính trị cực đoan Kể từ cuối thập niên 80, có bốn sự kiện lớn ảnh hưởng đến tiến trình toàn cầu hóa:
• Sự lớn mạnh của các công ty xuyên quốc gia nhờ vào sự phát triển của khoa học
kỹ thuật như Toyota, Boeing, Sony, LG,
• Sự giảm thiểu vai trò điều hành của chính phủ các nước phương Tây trong hoạt động kinh tế tài chính Chính phủ chuyển sang vai trò tích cực điều hòa và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế quốc tế
• Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu
• Sự ảnh hưởng về mặt tài chính đến lĩnh vực chính trị ở các quốc gia đã phát triển
Nếu nói theo lý thuyết về sự phát triển thương mại quốc tế và những tổ chức kinh tế quốc tế, các nhà kinh tế - sử học phân chia quá trình phát triển của toàn cầu hóa
dựa trên bốn giai đoạn lịch sử kể từ thế kỷ 14 Giai đoạn một bắt đầu từ 1350 khi mạng
lưới thương mại, trao đổi động vật, hàng hóa (gồm vải vóc, đồ gốm sứ, hồ tiêu, quế…) giữa châu Âu và Trung Quốc phát triển mạnh Mạng lưới này kéo dài từ Pháp và Ý dọc theo biển Địa Trung Hải đến Ai Cập Sau đó theo đường bộ xuyên khắp Trung Á đến Trung Quốc Thương mại đường biển cũng kéo dài từ biển Đỏ, qua Ấn Độ Dương, vòng qua eo Malacca đến bờ biển Trung Quốc Sự phát triển mạnh từ cuối thế kỷ 15 khi châu
Mỹ được tìm ra một cách tình cờ trong quá trình tìm ra một con đường tơ lụa bằng đường biển của thực dân châu Âu cũ Trao đổi thương mại giữa các quốc gia trong thời
kỳ này được sự bảo hộ của quân đội nhà nước để tránh cướp bóc Bù lại, các thương
Trang 10nhân phải trả thuế mỗi khi họ vận chuyển ngang một vùng lãnh thổ mới Giao thương trong thời kỳ này được xem như “chuỗi ngọc trai” khi từng phần địa lý kết nối lại để tạo
nên hệ thống kinh thương quốc tế Giai đoạn hai bắt đầu từ 1500 đến 1700 khi các nhà
cầm quyền châu Âu (điển hình là Bồ Đào Nha, sau này liên kết với Hà Lan, Pháp và Anh) xâm chiếm châu Phi Với hệ thống hải quân mạnh mẽ họ bắt buộc các thương nhân trả thuế dọc tuyến đường Ấn Độ Dương Đến 1700, trao đổi hàng hóa trên thế giới trở nên chuyên nghiệp khi thương nhân và chính phủ châu Âu sáng lập ra các công ty thương mại vận tải biển đầu tiên để mua bán sỉ và lẻ có huê hồng theo tuyến Âu – Á
Thời kỳ thứ ba bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, khi khoa học kỹ thuật với
hệ thống đường sắt và tàu thủy hơi nước phát triển giúp con người tiến lại gần nhau hơn Nhưng đồng thời, châu Âu dần dần mất vai trò kiểm soát châu Mỹ, đầu tiên ở phía Bắc, sau lan rộng đến miền Nam nước này Với cuộc cách mạng giành độc lập ở Mỹ với Hiệp ước Versailles năm 1783, các cuộc phản kháng ở Haiti và Pháp, các nước thuộc địa bắt đầu nhận thức rõ hơn về quyền độc lập lãnh thổ và kinh tế của họ Trong suốt thời kỳ này, chính phủ phải giữ vai trò điều hành kinh tế thông qua các đạo luật thương mại Từ thời kỳ Thế chiến thứ hai kéo dài đến giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh, các nước tư bản và
kể cả các nước kém phát triển Từ đó bắt đầu bước lại gần nhau trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và cho ra đời hàng loạt các tổ chức quốc tế và khu vực
Một quan điểm khác cho rằng toàn cầu hóa trải qua ba thời kỳ Lần thứ nhất xảy
ra từ 1870 đến 1914 khi có khoảng 60 triệu người (chiếm 10% lực lượng lao động trên thế giới lúc đó) di cư từ châu Âu đến Mỹ để tìm vàng, hay để tìm cuộc sống tốt hơn ở vùng đất mới được khám phá này Sự di cư này càng kích thích sự phát triển của giao thông và thông tin, khiến cho hàng hóa, sức lao động và tiền bạc được di chuyển giữa
các quốc gia Làn sóng thứ hai xảy ra từ năm 1950 đến 1980 khi thế chiến thứ II kết
thúc, và kinh tế – chính trị thế giới được phân chia thành hai cực: tư bản và xã hội chủ nghĩa Bộ ba Mỹ, Tây Âu và Nhật đã liên kết chặt chẽ để đẩy mạnh kinh tế tư bản lên một tầm mới thông qua các tổ chức quốc tế và các vòng đàm phán thương mại như GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch, và vòng đàm phán Uruguay của GATT kéo dài trong 8 năm từ 1986 đến 1994 đã dẫn đến hiệp ước thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO) hay IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế) Trong thời kỳ từ 1950 đến 1960, các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới cũng bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ vào các nước đang phát triển không thuộc khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở
các nước Mỹ La-tinh Kể từ sau 1980 được xem là thời kỳ thứ ba của toàn cầu hóa khi
quốc gia đã bắt đầu ký kết hiệp định song và đa phương về mặt kinh tế thông qua sự điều hành của các tổ chức quốc tế, mà điển hình là WTO Trong thời kỳ này, các công ty đa quốc gia dần dần có ảnh hưởng mạnh đến vai trò điều hành của chính phủ
Toàn cầu hóa đã thu hút nhiều sự quan tâm đặc biệt kể từ thời kỳ hậu Chiến
tranh lạnh (sau 1989) khi các nước tiến lại gần nhau hơn về mặt hợp tác kinh tế Một
mặt, vì lo ngại bị tụt hậu trong cuộc đua marathon này, chính phủ các nước nhanh chóng tận dụng khoa học công nghệ, mở cửa nền kinh tế, tăng cường thương mại và đầu tư Mặt khác, các quốc gia cũng phải đối mặt với các tệ nạn như di – nhập cư bất hợp pháp,
cá cược – bài bạc, tin tặc, mua bán ma túy, khủng bố, mãi dâm hay rửa tiền Một điều gây đau đầu các nhà quản trị là những tệ nạn này, trực tiếp hay gián tiếp, đều đóng góp vào GDP của họ và tạo nên một nền “kinh tế tội phạm” Theo báo cáo của UNDP năm
1999, chỉ số an toàn của nhân loại đã có chiều hướng giảm xuống trong các lĩnh vực cá nhân, sức khỏe, môi trường và chính trị Gần đây trên thế giới có khoảng 200 triệu người
sử dụng chất ma túy, nửa triệu phụ nữ và các em gái ở các nước đang phát triển bị bán sang các nước Tây Âu Các cơn bão El Nino và La Nina do sự tăng nhiệt độ của địa cầu
Trang 11đã khiến 22.000 người chết, 118 triệu người bị thương, gây thiệt hại 33 tỷ đô-la Nhân loại bắt đầu quan tâm về những vấn đề của từng quốc gia có thể ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu và luôn tìm ra những giải pháp và chiến lược phát triển mang tính bền vững Toàn cầu hóa thật sự làm thay đổi mọi mặt trong đời sống con người.
Thật ra, kể từ những năm 1980 kinh tế thế giới đã bắt đầu bước vào ngưỡng cửa chung toàn cầu Giai đoạn này đã chứng kiến sự lớn mạnh của vận tải hàng không, container hóa, thông tin liên lạc, công nghệ sinh học và Internet Những thành tựu khoa học này giúp cho thế giới thu hẹp lại rất nhiều bằng “tốc độ cao, khoảng cách nhỏ, mật
độ cao và cường độ lớn” Tận dụng sự chêch lệch của múi giờ và khả năng vận tải siêu tốc của máy bay, thương nhân họp ở Singapore vào buổi sáng và dự một cuộc họp báo tại Thành phố Hồ Chí Minh vào buổi chiều cùng ngày Thông tin dự báo về thiên tai được phát đi khẩn cấp trước một tuần và các nước hay lãnh thổ lân cận cũng được cảnh báo nhờ vào các thiết bị vệ tinh Thông qua mạng truyền thông báo chí, những vấn đề hay nhân vật trên thế giới mà trước đây chúng ta chưa hề biết đến nay lại trở thành tiêu điểm thảo luận hàng ngày như bầu cử ở Mỹ, đại dịch SARS hay cuộc thánh chiến của Bin Laden Dường như thế giới xích lại gần nhau hơn về kinh tế khi lịch sử co cụm kinh
tế sẽ dẫn đến sự sụp đổ tất yếu về chính trị xã hội Mở cửa kinh tế và thị trường hóa các hoạt động kinh tế giúp cho nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo nghèo đói và lạc hậu để vươn mình vào thị trường quốc tế Một trong những yếu
tố dẫn đến sự nhảy vọt về kinh tế và nâng cao chuẩn mực sống của các nước là khả năng truy cập, sử dụng thông tin, kiến thức nhanh và hữu hiệu nhất Kiến thức ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và thịnh vượng chung của một quốc gia Điều này đã tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp – thông tin lần thứ ba trên phạm vi toàn cầu Kinh tế tri thức chiếm khoảng 45 – 50% GDP ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, khoảng hơn 50% ở các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) Với bốn ngành chủ đạo của nền kinh tế tri thức gồm công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ ngoài không gian và kỹ thuật vật liệu mới, đã phá vỡ những rào cản kiến thức, giúp nhân loại tiến lên một tầm văn minh mới, cùng nghiên cứu và sản sinh ra kiến thức mới hơn
Tóm lại, có nhiều giả thuyết khác nhau về lịch sử của toàn cầu hóa, tiến trình này
gắn chặt với sự tiến hóa lịch sử của nhân loại mà trong đó thương mại quốc tế gia tăng với sự dịch chuyển của hàng hóa - dịch vụ, con người, ý tưởng - phát minh - kiến thức,
và tiền tệ theo hướng tiêu cực lẫn tích cực Tiến trình này làm giảm sút vai trò điều hành của các chính phủ trong các hoạt động kinh tế bên cạnh sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức và tập đoàn quốc tế với các chuẩn mực được thành lập và áp dụng (ví dụ như ISO) Bởi toàn cầu hóa luôn bao gồm tính hai mặt như tính quốc tế - quốc gia, toàn cầu - địa phương, truyền thống - ngoại lai, tích cực - tiêu cực Sự thâm nhập những sản phẩm văn hóa nước ngoài dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa đa văn hóa, đồng hóa và lai căng là điều không thể tránh khỏi ở nhiều nước Tiến trình này cũng làm phân cực giàu - nghèo và phân tầng xã hội càng trở nên phổ biến hơn Toàn cầu hóa như vấn đề “thời tiết” không thể tránh khỏi Chúng ta phải dự báo nó đúng lúc, chính xác, am hiểu qui luật vận động
để tận dụng thời cơ hay tìm ra biện pháp thích hợp để phòng ngừa các ảnh hưởng xấu (Nguồn: NGUYỄN HỒNG CHÍ, 24/07/2006, http://vietsciences.org)
1.2 Thích nghi với mọi sự thay đổi
Khi nhìn vào tốc độ thay đổi không ngừng gia tăng trong môi trường làm việc ngày nay, có lẽ không có kỹ năng nào quan trọng bằng khả năng thích ứng thành công trước sự thay đổi Đôi khi, thích ứng với sự thay đổi diễn ra rất dễ dàng Nhà quản trị sẽ thích thú trước thử thách và cơ hội làm thay đổi những gì hiện có Đôi khi nhà
Trang 12quản trị lại thấy bản thân chống lại sự thay đổi khi chỉ tập trung vào những gì bị mất mà không tập trung vào những gì đạt được từ sự thay đổi Khả năng thích ứng với sự thay đổi ở môi trường làm việc thường được quan sát tỉ mỉ bởi những nhà quản trị cấp trên
và các thành viên trong nhóm Vì thế, thích ứng một cách có năng suất và tích cực là rất quan trọng cho dù nhà quản trị cảm nhận như thế nào về sự thay đổi đó
Các năng lực cần được tập trung chủ yếu là:
• Khả năng thích nghi, cởi mở với những ý tưởng mới Thể hiện khả năng linh động khi đối mặt với những thay đổi trong các kỳ vọng và môi trường làm việc Đáp lại các tình huống và duy trì thái độ tích cực đồng thời
• Kiểm soát thay đổi, chủ động tìm kiếm các cơ hội để điều chỉnh lại bản thân, người khác và tổ chức nhằm đạt được các kết quả mong muốn
• Kiểm soát căng thẳng, phân biệt giữa căng thẳng tích cực và căng thẳng tiêu cực Duy trì sự cân bằng giữa các thái độ và hành vi có năng suất và không năng suất
• Tư duy sáng tạo, đổi mới biết kết hợp chặt chẽ những ý tưởng hiện có với những ý tưởng mới theo một phương pháp tiếp cận độc đáo nhằm giải quyết các vấn đề và tận dụng các cơ hội
Câu truyện mô tả về sự thích nghi trong bối cảnh toàn cầu hóa: Trong một khu
rừng rậm có một bầy sư tử và một bầy linh dương Mỗi đêm trước khi đi ngủ, sư tử đều lo nghĩ là sáng hôm sau, khi mặt trời mọc, liệu có đủ sức để đuổi cho kịp những con linh dương nhỏ yếu, nếu không sẽ phải chịu đói Và mỗi đêm khi đi ngủ, linh dương đều lo nghĩ xem sáng hôm sau, khi mặt trời mọc, liệu có đủ sức để chạy cho nhanh, thoát khỏi những hàm sư tử, nếu không sẽ bị mất mạng Có một điểm tương đồng giữa hai bên đó là vào sáng hôm sau, khi mặt trời mọc, cả hai bên đều ra sức mà chạy cho nhanh Trong câu truyện ai là sư tử và ai là linh dương? Linh dương là tốc
độ toàn cầu hóa và sư tử là mỗi cá nhân, mỗi công ty trên thế giới này Con sư tử nào chạy chậm so với toàn cầu hóa sẽ bị đói; con nào chạy kịp sẽ hưởng lợi từ toàn cầu hóa Vậy ta muốn làm sư tử đói hay là sư tử no? Trước đây, người ta chạy chầm chậm vì cả xã hội đều chạy như vậy, con nào chạy nhanh cũng được hưởng bằng con chạy chậm nhất Khoảng cách thu nhập giữa con chạy nhanh nhất và con chạy chậm nhất rất gần nhau Ngày nay, toàn cầu hóa đang điều chỉnh lại cả thế giới, chạy chậm đồng nghĩa với đói và chạy nhanh sẽ no Giả sử ta chạy nhanh, ta cũng sẽ bị đói nếu
ta chạy lung tung mà không theo đường thẳng Sư tử làm sao đuổi được linh dương nếu như sư tử cứ chạy zic-zac vì linh dương lúc nào cũng chạy thẳng Thế giới ngày nay đã khác rất nhiều rồi
Các doanh nghiệp nước ngoài đang vào Việt Nam thu mua hạt cà phê của nông dân Do có giá tốt và làm ăn chuyên nghiệp, nông dân bán cà phê cho các doanh nghiệp nước ngoài Giá do các doanh nghiệp nước ngoài cao và nhờ vậy nông dân được hưởng lợi Doanh nghiệp thu mua trong nước cho rằng lãi ngân hàng đang phải chịu là 20%; trong khi đó, doanh nghiệp nước ngoài chỉ phải chịu lãi ngân hàng 3% Khoản chênh này được dùng để tăng giá mua từ nông dân Đại diện doanh nghiệp đề nghị cấm doanh nghiệp nước ngoài thu mua cà phê ở Việt Nam nếu không các doanh nghiệp thu mua trong nước sẽ phá sản và đề nghị nhà nước cần có chính sách hỗ trợ
và hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài thu mua Nội dung câu chuyện không có gì mới Các doanh nghiệp trong nước bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp nước ngoài quay ra đòi nhà nước phải có chính sách bảo hộ Người hưởng lợi ở đây là các doanh nghiệp trong nước, họ đẩy chi phí do hệ thống quản trị yếu kém sang cho người tiêu dùng Doanh nghiệp cung cấp nước bị thất thoát 38% nước sạch trên đường tới hộ gia
Trang 13đình, chi phí này được cộng vào giá thành bán cho người tiêu dùng Tương tự với điện, viễn thông, đóng tàu, và giờ là các doanh nghiệp thu mua nông sản Từ trước đến nay, người tiêu dùng luôn là người thiệt thòi Ngân hàng huy động vốn bao nhiêu chỉ cần cộng phần lãi chắc chắn để cho vay ra với bất cứ hoàn cảnh nào Người bán hàng nhập bao nhiêu cộng lãi an toàn rồi bán cho người tiều dùng, chẳng cần biết người tiêu dùng ra sao ? Toàn cầu hóa mang lại sự minh bạch trong thông tin, không còn có tình trạng bưng bít để kiếm lời nữa, không có chuyện độc quyền nữa Nhìn ở góc độ doanh nghiệp sẽ không còn dễ kiếm tiền như hồi xưa nữa đâu (Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/dungiso)
1.3 Tri thức trong thời kỳ mới.
Bất cứ tổ chức nào cũng cần có tri thức Tri thức nằm trong đầu của nhân viên
Tri thức được thể hiện qua kỹ năng, văn hóa của các thành viên, trong các dữ liệu hoạt động, các chính sách hay quy trình tác nghiệp, Rất nhiều tổ chức "không hề biết
mình có những gì" trong khi họ đang quản lý cả một nguồn tài sản vô hình rất giá trị - đó
là tri thức Ngày nay, tri thức nghiễm nhiên trở thành một tài sản quan trọng đối với các
tổ chức Khi tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, giá nhân công không còn rẻ mạt Tỷ lệ
giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong kỷ nguyên công nghiệp là 75-25 nay đã chuyển thành 25-75 trong kỷ nguyên tri thức Các thước đo giá trị của một tổ chức cũng
đã thay đổi theo hướng đem lại lợi ích thỏa mãn nhiều đối tượng liên quan khác nhau như cổ đông, nhân viên, nhà nước, người cung ứng, đối tác và cộng đồng Tuy nhiên, thuật ngữ “tri thức” dễ bị nhầm lẫn trong quản lý tri thức Hiện nay, “thông tin” và “dữ liệu” thường được đánh đồng với “tri thức” Tri thức được hình thành từ trí não con người Người ta sử dụng tri thức để tư duy Trong các tổ chức, tri thức thường gắn liền với hệ thống tài liệu, các công việc hàng ngày, các quá trình hoạt động và các chuẩn mực kiểm tra đánh giá, Các thông tin về khách hàng được kết hợp với những thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh và các kinh nghiệm để đưa ra những chính sách thích hợp về thị trường, giá cả,… Tất cả sẽ trở thành tri thức của tổ chức Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của từng cá nhân học được từ trường đại học, thị trường, các tổ chức mà họ đã trải qua cũng trở thành tri thức của tổ chức mà họ đang đóng góp
Quản lý tri thức (QTTT): Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Platon, Aristote
Nó được nghiên cứu nhiều bởi các học giả hiện đại như Macheal Polanyi (1958, 1967), Daniell Bell (1973), Alvin Toffler (1970, 1980), Peter Drucker (1993) và Ikujiro Nonaka (1991, 1995) Các học giả này đã đưa ra khái niệm tri thức là nguồn vốn hay tài sản trí tuệ của các tổ chức Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sự thông thái của tổ chức cũng được phát triển bởi các học giả trên Khái niệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm 80 Melissie C Rumizen, tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to knowledge management”, cho rằng TS Karl-Erik Sveiby (Thụy Điển) là người đầu tiên đưa ra khái niệm tri thức tổ chức vào năm 1979 nhưng không được đón nhận Một báo cáo gần đây của Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng TS Karl M Wiig (Viện nghiên cứu tri thức - KRI) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quản lý tri thức trong một bài phát biểu tại Tổ chức lao động quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO) vào năm 1986 Đến đầu những năm 90, quản lý tri thức thực sự khai thông như một công cụ mới trong quản lý Thomas A Stewart là người đầu tiên viết về quản lý tri thức với bài viết
“Brainpower” trên tạp chí “Fortune” vào năm 1991 Tiếp theo đó là một chuỗi cuộc tranh luận giữa các trường phái khác nhau về quản lý tri thức Hàng trăm trang web về quản lý tri thức ra đời Đến nay các quan niệm khác nhau về vấn đề này vẫn tồn tại như:
Trang 14• “Quản lý tri thức là một quá trình thu nhận, tổ chức, chia sẻ và sử dụng thông tin trong một tổ chức”.
• “Quản lý tri thức thực chất là bạn đang cạnh tranh dựa trên tri thức của đội ngũ nhân viên, bất kể bạn đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào.”
• Hiệp hội quản lý tri thức Nhật Bản (JKMA) định nghĩa: “Quản lý tri thức là kiểm
soát, cấu trúc có hệ thống và hiệu quả một cơ chế cho phép sử dụng đúng người
vào đúng công việc và đúng thời điểm, chia sẻ và sử dụng thông tin một cách
thông suốt, hướng đến mục tiêu của tổ chức Có hệ thống có nghĩa là từng bước
chọn lọc, tìm hiểu, phân tích, chia sẻ và sử dụng thông tin để tạo ra giá trị”
• Lotus (một công ty của IBM) định nghĩa: “Quản lý tri thức là một động lực thúc đẩy sử dụng thông tin và kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống nhằm nâng cao tính hiệu quả, năng lực, sự sáng tạo, đổi mới và khả năng phản hồi nhanh chóng của tổ chức.”
Từ những quan điểm nêu trên, ta nên nhìn nhận “Quản lý tri thức là quá trình kiến tạo, chia sẻ, khai thác, sử dụng và phát triển nguồn tài sản tri thức trong tổ chức và biến những tài sản vô hình đó thành những giá trị kinh tế hay vật chất cho tổ chức”.
Lý do phải quản lý tri thức: Trong suốt 60 năm qua, kinh tế thế giới đã có
những bước chuyển rõ rệt từ nền tảng sản xuất thuần túy sang hệ thống sản xuất dựa vào
kỹ năng và tri thức Ở Mỹ, chỉ trong vòng 40 năm, số người lao động thuần túy đã giảm gần một nửa (34% lực lượng lao động vào năm 1980 so với 57% vào năm 1940) Các nhà đầu tư cũng nghiêng về các công ty có năng lực quản lý tốt và khả năng thích nghi nhanh chóng với những thay đổi của thị trường thay vì chỉ chú trọng đến giá trị tài sản của họ Ngày nay, tương lai và giá trị của một tổ chức phụ thuộc vào khả năng phát triển các sản phẩm/dịch vụ mới, kịp thời bắt nhịp với những nhu cầu luôn thay đổi Các tổ chức xem QLTT như một yếu tố để giữ vững lợi thế cạnh tranh bằng thỏa mãn khách hàng Tóm lại, có 4 lý do dẫn đến sự xuất hiện của quản lý tri thức:
• Cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi mỗi tổ chức phải liên tục đổi mới sản phẩm và cải tiến hoạt động dựa trên nguồn tri thức của mọi người
• Nhu cầu học hỏi trong một tổ chức luôn tồn tại nhưng thời lượng bồi bổ kinh nghiệm và kiến thức lại giảm đi rất nhiều do phải chú trọng vào các tác nghiệp hàng ngày Do vậy, các tổ chức cần kiến tạo và sử dụng tri thức một cách thông minh nhất để không bị tụt hậu
• Cơ chế thị trường tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho người lao động Nhu cầu thay đổi nơi làm việc của người lao động có trình độ và kỹ nâng cao là nguy cơ suy giảm nguồn tri thức của tổ chức Khi ra đi, họ không chỉ làm giảm năng suất
mà còn mang theo những tri thức của tổ chức
• Các tổ chức thành công do nắm bắt nhanh, kịp thời, và xử lý chính xác các nguồn thông tin (thị trường, khách hàng, sản phẩm,…) Hoạt động biến các thông tin đó thành tri thức là lợi thế cạnh tranh mà không phải nhà quản lý nào cũng làm được
Lợi ích của quản lý tri thức gồm
• Tăng năng suất
• Thúc đẩy hoạt động đổi mới
• Cải thiện hiệu quả quản lý
• Nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng
• Thu hút và khai thác nhân tài
• Khuyến khích học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm
Trang 15Các quan điểm mới về tri thức trong điều kiện quản trị hiện nay.
Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh doanh không đơn thuần là trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các tổ chức, giữa các quốc gia Trái lại, nó trở thành cuộc chiến toàn diện để giữ vững tự chủ kinh tế và khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế Ba quan điểm
về tri thức mới chi phối trong quản lý đương đại bao gồm:
Học thuyết biên giới mềm: Biên giới giữa các quốc gia không đơn thuần chỉ là ranh
qui định bởi đất liền, biển mà còn biên giới của hàng hóa Các cường quốc sử dụng
lý thuyết này để bành trướng biên giới và tầm ảnh hưởng của mình bằng cách mở rộng thị trường hàng hóa - dịch vụ ra nước khác Đối với các nước đang phát triển cần ý thức vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh khốc liệt và phải có tầm nhìn thế giới trước bối cảnh hiện nay
Quan điểm phân tích chuỗi giá trị và dòng chảy giá trị gia tăng toàn cầu: Chuỗi
phân tích giá trị gồm ba phân khúc là nghiên cứu & phát triển - sở hữu trí tuệ, sản xuất, xây dựng thương hiệu và thương mại Trong đó; hai phân khúc đầu và cuối tạo
ra nhiều giá trị gia tăng hơn cả Đây là các phân khúc mà các cường quốc đang nắm giữ Họ từ bỏ phân khúc làm nhiều nhưng không tạo ra giá trị gia tăng cho các nước đang phát triển Thực tế cho thấy, các quốc gia công nghiệp hàng đầu sở hữu những thương hiệu, tập đoàn bán lẻ và nắm giữ hầu hết các phát minh sáng chế của thế giới
Từ đó, dòng chảy giá trị gia tăng chỉ chảy một chiều từ các quốc gia nghèo đến giàu; chứ không có dòng ngược lại Các quốc gia chậm và đang phát triển nếu không biết chọn mục tiêu sống còn vào hai phân khúc trên sẽ tạo ra nguy cơ tụt hậu là tất yếu
Quan điểm về quyền lực mềm: Đây là những ảnh hưởng mạnh mẽ của bản sắc văn
hóa của một đất nước truyền tải qua hàng hóa - dịch vụ để đến các quốc gia khác Quan điểm học thuyết này thiên về lợi ích tinh thần Nó khác hoàn toàn với quyền lực cứng về quân sự Các nước Châu Á đang có lợi thế nhiều hơn đối với các nước phương tây Những tác động của quyền lực mềm được cụ thể thông qua phim hoạt hình, truyện tranh của Nhật Bản, phim truyện truyền hình nhiều tập của Hàn quốc,
võ thuật Trung Hoa, Ngày nay, sức trỗi dậy mạnh mẽ của quyền lực mềm Châu
Á đang làm rung chuyển nền văn hóa đại chúng của cường quốc số một là Mỹ (Nguồn: Đặng Lê Nguyên Vũ, Báo Thanh Niên số 61 (3722) ngày 02/03/2006, tr.1
và tr.17)
2 Định nghĩa quản trị
• Định nghĩa của Frederick Winslow Taylor: Quản trị là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó được hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
• Định nghĩa của Henry Fayol: Quản trị là dự báo – lập kế hoạch, tổ chức, điều
khiển, phối hợp và kiểm tra
• Định nghĩa của Stephen Robbins: Quản trị là tiến hành hoàn thành công việc một
cách hiệu quả thông qua và cùng với người khác
• Theo Robert Kreitner: “Quản trị là tiến trình làm việc với con người và thông
qua họ để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức đã đề ra trong một môi trường luôn thay đổi Trọng tâm của tiến trình này là sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn”
Trang 16Nguồn: Vũ Thế Phú, Quản trị học, Trường Đại học Mở Tp.HCM, 2003 tr7.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị gồm môi trường vĩ mô - vi
mô, sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn, làm việc với người khác và tất cả hướng về mục tiêu đã đề ra
Môi trường vĩ mô (tổng quát) gồm yếu tố kinh tế, chính trị - chính phủ, xã hội,
tự nhiên, kỹ thuật – công nghệ:
Yếu tố kinh tế:
Năm 1986, đất nước từng trải qua thời kỳ cơn bão lạm phát 774,7% Từ một nước đói nghèo, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình; từ chỗ phải nhập khẩu mọi thứ, hàng hóa Việt Nam hiện nay đã đến với 160 nước và vùng lãnh thổ, nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu với nhiều mặt hàng đứng tốp đầu trên thị trường thế giới Những dữ liệu về xuất khẩu gạo của việt Nam đã cho thấy sự nỗ lực rất lớn
Năm Số lượng gạo xuất khẩu Giá trị xuất khẩu
khi chất lượng tăng trưởng thấp với ICOR năm 2009 lên tới 8,2 (ICOR - Incremental
Capital - Output Rate - là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong
một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư ICOR được gọi
là hệ số sử dụng vốn hay hệ số đầu tư tăng trưởng hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng
thêm); lạm phát vẫn tăng cao; xuất khẩu khá nhưng nhập siêu luôn có xu hướng gia tăng;
đầu tư công lớn, hiệu quả thấp và lãng phí cao; khả năng hấp thụ vốn FDI, ODA quá hạn chế; … Sự bất hợp lý được thể hiện qua nền kinh tế quy mô 119 tỷ USD nhưng lại có đến 100 cảng biển (trong đó có 20 cảng biển quốc tế); 100 ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài; 22 sân bay (trong đó có 08 sân bay quốc tế);
22 khu kinh tế cửa khẩu; 18 khu kinh tế cửa biển; 260 khu công nghiệp; 650 cụm công nghiệp Vào cuối năm 2011 đã xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt từ thị trường gạo cấp thấp bởi gạo của Ấn Độ, Myanmar và Pakistan Thị trường gạo xuất khẩu gạo Việt Nam tập
Trang 17trung tại Châu Á chiếm 67% và Châu phi chiếm 23% Dự báo năm 2012 có thể bị mất trắng 20% thị trường gạo xuất khẩu tại Châu phi.
Nợ công (bao gồm nợ của Chính phủ các cấp và nợ do Chính phủ bảo lãnh
nhưng không tính nợ DNNN không được Chính phủ bảo lãnh) các nước giàu tăng liên tục so với GDP trong nhiều năm qua Đến cuối năm 2010, tỷ lệ nợ công/GDP tính bình quân cho nhóm này lên đến 100% (so với trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009
là 73%) Nợ công của các nước đang phát triển và mới nổi đang có mức bình quân 39% vào cuối năm 2010 và theo dự báo của IMF sẽ giảm xuống 30% vào năm 2015 – 2016
Xu thế nợ công của Việt Nam những năm gần đây như sau:
Năng suất lao động ở Việt Nam: Mặc dù có tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn
nhiều nước trong suốt hai thập kỷ đổi mới vừa qua (1986-2006) nhưng khoảng cách phát triển của Việt Nam so với các nước phát triển vẫn cách xa nhau (lấy thước đo là chỉ số GDP/người) Năng suất lao động ở Việt Nam còn thấp hơn từ 2 đến 15 lần so với nhiều nước và vùng lãnh thổ ở châu Á Năng suất lao động trong ngành thực phẩm của Việt Nam (là một nước có truyền thống về trồng trọt, chăn nuôi) chỉ bằng 7% của Đài Loan, 13% của Malaixia, 6% của Hàn Quốc và 67% của Trung Quốc
Báo cáo về "Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010" do Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Tổng cục Thống kê phát hành vào tháng 6-2011, đã công bố biểu "Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật thời kỳ 2007-2010" dưới đây:
Những con số trên cho thấy, có lẽ đã đến lúc chúng ta phải rà soát lại toàn bộ cơ chế, chính sách và cả công tác quản lý ở các lĩnh vực liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực Điều gì đã dẫn tới thực trạng là tỷ trọng lao động Việt Nam có trình độ chuyên môn
kỹ thuật đã giảm sút trầm trọng trong vòng ba năm qua (2007-2010), từ con số 17,7% xuống còn 14,7%? Và với tỷ trọng 85,3% lực lượng lao động chưa qua đào tạo nghề
Trang 18phản ánh giấc mơ "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" sẽ trở nên ngày càng xa vời Quy chuẩn về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động khu vực châu Á hiện nay là:
1 đại học/4 cao đẳng/10 trung cấp Nếu lấy tỷ lệ này đối chiếu với thực trạng trình độ lao động Việt Nam ở thời điểm năm 2010 là: 5,7 đại học/1,7 cao đẳng/3,5 trung cấp, chúng
ta sẽ thấy hết sự méo mó về cơ cấu trình độ của lao động Việt Nam, khi lực lượng chuyên viên kỹ thuật bậc cao đẳng - một mắt xích quan trọng trong cơ cấu lực lượng lao động - chỉ còn chiếm tỷ lệ 1,7% Theo thống kê năm học 2010-2011 của Bộ GD-ĐT, cả nước có 726.219 sinh viên hệ cao đẳng, còn hệ đại học là 1.435.887 Như vậy, ngay khu vực đào tạo đã méo mó về cơ cấu Chúng ta đã làm ngược lại: 2 đại học/1 cao đẳng Đó
là nói về con số, trên thực tiễn quản lý, ai cũng thấy mỗi năm học, Bộ GD-ĐT đã "chìm đắm" ít nhất ba tháng cho công tác tuyển sinh đại học Nhìn lại, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang giai đoạn phấn đấu "công nghiệp hóa", nào đã dám mơ đến "nền kinh tế tri thức" nơi mà "công nhân cổ trắng" với trình độ đại học chiếm đa số Một nền kinh tế muốn hoạt động trơn tru không thể thiếu lực lượng chuyên viên kỹ thuật Với sự thiếu hụt trầm trọng lực lượng này, Việt Nam sẽ lấy nhân lực ở đâu để bù đắp, đảm bảo cho nền kinh tế vận hành? Phải chăng, chính nguồn nhân lực trình độ đại học có chất lượng yếu lại đang đảm nhận thay vai trò của các chuyên viên kỹ thuật cao đẳng ? Một khảo sát của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP Hồ Chí Minh cho biết khoảng 40% sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp tìm được việc làm đúng trình độ ngành nghề, 40% làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp, việc làm chưa thực sự
ổn định và có thể chuyển việc khác Còn 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm phải chuyển đổi ngành học hoặc làm những công việc thấp hơn trình độ đào tạo
Đó là bi kịch cho nền kinh tế lẫn công tác đào tạo Bởi, hệ đại học đào tạo nặng về nghiên cứu lý thuyết, còn hệ cao đẳng hướng tới đào tạo những chuyên viên kỹ thuật lành nghề Hai hướng đào tạo hoàn toàn khác nhau Thực trạng trên cũng đã lý giải kết quả phát triển của nền kinh tế Việt Nam vừa qua, đó là năng suất lao động rất thấp, chỉ bằng một nửa của các nước ASEAN Và cũng lý giải luôn cho tình trạng giảm chỉ số cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế Năm 2008-2009, Việt Nam xếp hạng 70/133 quốc gia về chỉ số cạnh tranh, năm 2009-2010 tụt xuống hạng 75
Không chỉ thiếu trầm trọng chuyên viên kỹ thuật, mà ngay lực lượng chuyên viên
đã được đào tạo, chất lượng cũng rất yếu Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam có khoảng 60% lao động tốt nghiệp từ các trường cao đẳng và dạy nghề cần được đào tạo lại sau khi tuyển dụng Năm học 2009-2010, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng thuộc Bộ GD&ĐT đã đánh giá, cho điểm về lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục của 224 trường cao đẳng, trong đó 56 trường chưa thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo chất lượng đào tạo Trong khi đó, hoạt động kiểm định chất lượng của các trường
Trang 19cao đẳng nghề trực thuộc Tổng cục Dạy nghề, theo kế hoạch lại phải chờ đến năm 2020 mới thực hiện nổi Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đàm Hữu Đắc đã thừa nhận, tuy quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng không cân đối với điều kiện bảo đảm chất lượng như đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và thiết bị, chương trình giáo trình còn nhiều bất cập, trong đó khâu kiểm định chất lượng bị buông lỏng Do đó còn khoảng cách khá
xa giữa đào tạo và thực tế sử dụng lao động đã qua đào tạo Quả là một cái giá lãng phí quá lớn về nhân tài, vật lực trong xây dựng chất lượng nguồn nhân lực quốc gia (Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-09-09-chuyen-vien-ky-thuat-ngay-cang-thieu-va-yeu)
Yếu tố xã hội:
“Chiếm phố Wall” khởi phát với một nhóm nhỏ sinh viên khoảng một chục người tại công viên Zuccotti, thành phố New York ngày 17/9/2011 Sau mấy tuần phát động, phong trào đã lan ra trên mười tiểu bang ở Mỹ, rồi đến hàng trăm thành phố ở nhiều nước Họ đòi đánh thuế người giàu nhiều hơn nữa; chấm dứt cho phép ngân hàng tịch thu nhà vì chủ nhân không còn khả năng trả nợ; rút quân Mỹ về, chuyển ngân sách chiến tranh qua cho giáo dục; chống tăng học phí đại học; việc làm
Phong trào “99%”, tức là 99% dân là người nghèo hay chỉ đủ ăn, trong khi đó 1% người cực giàu điều khiển guồng máy kinh tế tài chính Mỹ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mọi người Thực tế hiện nay, 1% người giàu nhất nước Mỹ làm chủ 40% tài sản của Mỹ Trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước
Mỹ Một phần tư thế kỉ trước, 33% tài sản quốc gia do 1% giới giàu làm chủ Về thu nhập, 1% người có mức lương cao chiếm 24% tổng số thu nhập của toàn dân Nhiều người cho rằng cách biệt giàu nghèo như thế là bất công xã hội và nhận định phong trào
“Chiếm phố Wall” đang khởi xướng một cuộc chiến tranh giai cấp tại Mỹ Phong trào này không có mục tiêu rõ ràng, dù rằng những người này giận dữ lên tiếng chống lại sự tham lam của “1% những ông chủ giàu có của các công ty hay ngân hàng lớn,” hệ thống thuế khóa thiếu công bằng, nạn thất nghiệp tăng cao hay cách biệt thu nhập quá lớn Khi phong trào lan sang thủ đô Washington, những người tham gia biểu tình mang theo một tinh thần khác Họ không chỉ lên án sự tham lam của một bộ phận giàu có mà còn chỉ trích Chính phủ không giải quyết được những bức xúc của người dân Tuy không có một mục tiêu hay lịch trình cụ thể, nhưng phong trào này lại không ngừng tăng lên về con số
và họ ngày càng có tổ chức hơn Cuộc biểu tình từ New York đã lan rộng ra nhiều thành phố lớn ở nước Mỹ từ bờ Đông sang bờ Tây như Boston, Washington DC, Denver, San Francisco, L.A… và thậm chí còn lan sang các nước khác trên thế giới như tại Canada, Anh, Italia, Tây Ban Nha, Ireland, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc Cuộc biểu tình từ New York đã dẫn đến “một ngày toàn cầu” hôm 15/10, gồm các cuộc phản đối trên nhiều nơi khắp thế giới, hối thúc các chính trị gia lắng nghe người dân mà không phải là nghe các “tài phiệt ngân hàng” Tại Mỹ, phong trào phản kháng tập trung vào tình trạng thất nghiệp, những ưu đãi mà chính quyền đã dành cho giới ngân hàng và tài chính ở Phố Wall Phong trào chống đối tại châu Âu chủ yếu phản đối các chính sách cắt giảm chi tiêu công đặc biệt là tại các nước đang gặp khó khăn kinh tế, tài chính nghiêm trọng nhất trong khối euro
Yếu tố kỹ thuật và công nghệ:
Để đánh giá về trình độ công nghệ của Việt Nam sử dụng phép so sánh với các
nước trong khu vực châu Á về các mặt như:
• Năng lực công nghệ của Việt Nam đứng cuối bảng so với các nước trong khu
vực châu Á, xếp thứ 92/104 (năm 2004) và 92/117 (năm 2005); thua Thái Lan 49
Trang 20bậc, Malaysia 65 bậc và Singapore 81 bậc Số đơn đăng ký sáng chế của Thái
Lan năm 1998: 477, năm 2002: 3030 Việt Nam năm 1998: 25 đơn, năm 2002: 69 đơn Giai đoạn 2001-2005, Việt Nam có 11 đơn đăng ký sáng chế quốc tế Trong khi đó, Malaysia: 147; Philippines: 85; Thái Lan: 39; Indonesia: 36; Hàn Quốc:
15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710 Về sản phẩm công nghệ cao, tỷ lệ xuất
khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm 1,7% trong tổng lượng hàng công nghiệp xuất khẩu, trong khi chỉ số này là 23,2% với Trung Quốc và 30,2%
với Thái Lan Tỷ lệ doanh nghiệp trên số dân ở Việt Nam: 300 người/doanh
nghiệp (trong khi ở Mỹ là 10/1; Hồng Công là 5/1; trung bình các nước là 80/1) Hầu hết doanh nghiệp vừa và nhỏ của ta năng lực tài chính có hạn, tiếp cận với các nguồn vốn trung và dài hạn rất khó khăn vì phải thế chấp bằng nhà - đất hoặc
không đủ mức để đầu tư "đổi mới công nghệ" Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học
ở Việt Nam: 0,18/100 dân (tỷ lệ cán bộ R&D(5) chỉ 0,05/100 dân); Hàn Quốc:
2,19 (gấp 12,2 lần); Mỹ: 3,67 (gấp 20,4 lần) Chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ của chúng ta còn kém so vói nhiều nước trong khu vực Ở nước ta, một
cán bộ R&D, hằng năm bình quân chỉ đạt được 0,06 công trình; trong khi đó ở Thái Lan: 0,20, Hà Lan: 1,29, Mỹ: 0,75, Malaysia: 0,37, Nhật Bản: 0,32, Nga: 0,31, Ấn Độ: 0,31, Pakistan: 0,13 Hàng năm, Thái Lan bỏ ra khoảng 0,75% của
GDP để mua công nghệ; Malaysia: 0,69%, Trung Quốc là 0,17% Việt Nam và Indonesia không có số liệu về chỉ số này Mức chi cho khoa học và công nghệ tính trên đầu người ở Việt Nam: 1.25 USD/người/năm; Hàn Quốc: 212
USD/người/năm (gấp 170 lần); CHLB Đức: 511 USD/người/năm (gấp 400 lần);
Mỹ: 794 USD/người/năm (gấp 635 lần) Chi phí cho R&D của Nhật Bản: 3,04%
GDP, Hàn Quốc: 2,44%, Singapore: 2,03%, Trung Quốc: 1,03% Riêng tại Việt Nam, chi phí chung cho sự nghiệp khoa học và công nghệ là 0,4% (chỉ tính riêng
đầu tư từ chi ngân sách Nhà nước) Mức đầu tư bình quân của các doanh nghiệp cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chỉ không quá 0,25%
doanh thu; trong khi các nước công nghiệp tỉ lệ này thường 5-6%, còn các nước phát triển đến 10%; đối với các ngành công nghệ cao, đầu tư cho R&D chiếm từ 10-20% doanh thu
• Qui mô xuất khẩu của Việt Nam nhỏ bé so với các nước châu Á: Năm 2004, xuất
khẩu của Trung Quốc lớn gấp hơn 20 lần, Hàn Quốc 10 lần, Thái Lan gần 4 lần,
Indonesia 2,7 lần, Philippines 1,4 lần Độ hội nhập kinh tế quốc tế (đo bằng tỷ
trọng của tổng thương mại trên GDP) của Việt Nam khá cao (140%), cao hơn so với Indonesia (27%) và Philippines (100%) Tuy nhiên, mức độ thâm hụt thương mại của Việt Nam khá nghiêm trọng, thể hiện qua chỉ số (Xuất khẩu-Nhập khẩu)/GDP = -7,3%, trong khi các nước so sánh đều có thặng dư thương mại khá cao so với GDP (trừ Ấn Độ và Philippines) Giải quyết thâm hụt cán cân thương mại phụ thuộc nhiều vào năng lực nội sinh hay tốc độ cải thiện trình độ công nghệ
quốc gia Giá trị xuất khẩu tuy khá cao nhưng hiệu quả kém Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nông sản ít qua chế biến và nguyên liệu thô Tỷ lệ sản phẩm chế
biến chiếm 24% (trong khi ở Trung Quốc là 88%)
• Chỉ số phát triển nhân lực (HDI) của Việt Nam:
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam xếp thứ 108/173, năm 2007 xếp thứ 105/173 Sự cải thiện về thứ hạng chỉ số này chủ yếu là do tăng tuổi thọ và GDP bình quân đầu người Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm là chỉ số giáo dục của Việt Nam bị giảm từ 0,825 xuống 0,815 Báo cáo tại Hội thảo về Chất lượng giáo dục (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 11/2003) cho thấy chỉ số tổng hợp về chất lượng
Trang 21giáo dục và nguồn nhân lực chỉ đạt 3,79 (tính theo thang điểm 10); sự thành thạo
về tiếng Anh đạt 2,62; sự thành thạo công nghệ cao đạt 2,50 Trong số 12 nước châu Á đưa vào bảng thống kê, Việt Nam đứng thứ 11 Hàn Quốc đứng đầu với chỉ số tổng hợp chất lượng giáo dục là 6,91 điểm; Singapore thứ hai (6,81), song lại dẫn đầu về thành thạo tiếng Anh (8,33) và thành thạo công nghệ cao (7,83) Trong các nước ASEAN, nhóm ngành công nghệ cao của ta chiếm 21% trong tổng sản phẩm sản xuất, con số này của Thái Lan gấp Việt Nam 1,5 lần, của Malaysia gấp 2,5 lần, của Singapore gấp 3,5 lần Như vậy, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ để có vị trí ngang bằng với các nước ASEAN đang là vấn đề
cấp thiết Công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật phục vụ các ngành công
nghệ cao ở nước ta còn thiếu nghiêm trọng Trong đội ngũ lao động, số người đã qua đào tạo mới đạt xấp xỉ 20% tương đương khoảng 7,5 triệu (trong đó trình độ công nhân kỹ thuật, kể cả đào tạo ngắn hạn: 4,9 triệu; trung học chuyên nghiệp: 1,47 triệu)
Báo cáo phát triển con người mà Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố ngày 09/11/2011 cho thấy chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam ở nhóm trung bình, xếp bậc 128/187 quốc gia Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Lào và Campuchia, xếp sau tất cả các nước còn lại Chưa hết, trong ba chỉ số quan trọng, chỉ số phát triển giáo dục của chúng ta
có giá trị khá thấp Chỉ số phát triển con người (HDI) là trung bình nhân của chỉ
số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II):
Các chỉ số này đều được tính theo một công thức chung:
Các giá trị tối đa và tối thiểu được chọn như sau:
• Với LEI: mức tuổi thọ trung bình tối đa là 83,4 tuổi (ứng với Nhật Bản), mức
tối thiểu được chọn là 20 Với EI: số năm học trung bình tối đa là 13,1 (ứng với Cộng hòa Czech), số năm học kỳ vọng tối đa chọn được là 18; số năm học tối thiểu được chọn là 0 Với II: mức thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương tối đa là 107.721 USD (ứng với Qatar) và mức tối thiểu được chọn là 100 USD
• Với Việt Nam, năm 2011, ước tính tuổi thọ trung bình đạt mức 75,2 tuổi; số
năm học trung bình là 5,5 năm; số năm học kỳ vọng là 10,4 năm; thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là 2.805 USD Do đó, các chỉ số sẽ có giá trị như sau:
Trang 22Khi đó, HDI của Việt Nam sẽ có giá trị:
Nguồn: biểu đồ: http://hdrstats.undp.org/en/countries/profiles/VNM.html
Từ năm 2010, UNDP sử dụng phương pháp tính HDI mới; trong đó giá trị của HDI được tính là trung bình nhân của chỉ số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II) So với thời điểm trước năm 2010, phương pháp tính mới này có thêm vào chỉ số nghèo đói đa chiều (MPI) Trong đó thay vì tính mức nghèo đói theo một định lượng duy nhất là thu nhập trung bình tính theo đầu người, chỉ số này còn phản ánh mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế - giáo dục và chất lượng cuộc sống qua việc sử dụng điện, nước, nhà vệ sinh, diện tích nhà ở, tài sản
sở hữu, mức độ suy dinh dưỡng của trẻ em Như vậy, chỉ số nghèo đói đa chiều phản ánh toàn diện hơn mức sống của người dân Theo chỉ số này, tỉ lệ nghèo đói
đa chiều ở Việt Nam đã tăng lên mức 23,3%, thay vì mức 14,5% là tỉ lệ nghèo đói quốc gia nếu chỉ tính theo mức thu nhập trung bình Nhìn vào giá trị của các chỉ
số này thấy rằng chỉ số thu nhập đạt giá trị rất thấp (0,478) Điều này cũng dễ hiểu
vì Việt Nam vừa ra khỏi nhóm nước chậm phát triển năm 2008 Tuy nhiên, chỉ số giáo dục cũng có giá trị rất thấp Nguyên nhân chính làm chỉ số này có giá trị thấp, theo tính toán ở trên, là số năm đến trường trung bình của người dân (từ 25 tuổi trở lên) chỉ đạt mức 5,5 năm, tức là vừa qua bậc tiểu học được nửa năm Từ năm 2000, Việt Nam đã công bố đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập
Trang 23tiểu học Năm học 2002-2003, tỉ lệ biết chữ ở người trong độ tuổi 15-24 đạt mức 95% với số năm học trung bình là 7,3 năm Nhìn vào xu hướng thay đổi của các chỉ số phát triển thấy rằng trong thập niên 2000-2011, HDI của Việt Nam đã tăng chậm hơn so với mức trung bình của thập niên trước đó, đạt mức 1,06%/năm so với mức 1,5% của cả giai đoạn 1990-2011 Trong khoảng thời gian 2006-2011, Việt Nam chỉ tăng được một bậc trong bảng xếp hạng của HDI Đây là những dấu hiệu đáng lo ngại Ngoài ra, báo cáo phát triển con người năm nay nhấn mạnh đến hai yếu tố: bình đẳng và bền vững, được phản ánh rõ trong tiêu đề: “Bình đẳng và bền vững: Một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người” Tuy nhiên, cả hai tiêu chí bình đẳng và bền vững này lại là những tồn tại lớn của Việt Nam Chính sách phát triển kinh tế theo bề rộng: phát triển do tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên
và xuất khẩu nguyên liệu thô, không chú trọng bảo vệ môi trường, chất lượng giáo dục thấp đã không giúp Việt Nam phát triển bền vững Con số 8% người dân sống trên các vùng đất thoái hóa (năm 2010), cao hơn nhiều nước châu Phi có chỉ số HDI thấp hơn cũng gợi lên nhiều lo ngại Ngoài ra, các số liệu trong báo cáo cho thấy Việt Nam có sự bất bình đẳng lớn giữa các vùng miền Nếu xét đến sự bất bình đẳng, HDI của Việt Nam giảm 14%, trong khi chỉ số giáo dục giảm 17,1% Như vậy, đã có sự bất bình đẳng lớn hơn mức trung bình đối với chỉ số giáo dục Nếu dựa vào số liệu của báo cáo phát triển con người của UNDP, thành tích giáo dục của Việt Nam đang thụt lùi: số năm đi học trung bình trong báo cáo (5,5 năm: năm 2011) thấp hơn so với con số công bố trong nước trước đó (7,3 năm trong khoảng 2002-2003) Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do thống kê của Việt Nam và UNDP không giống nhau, hoặc đích xác là chất lượng giáo dục đã thật sự thụt lùi: trẻ em bỏ học tăng, tỉ lệ tái mù chữ cao Có một điều không thể phủ nhận dưới con mắt của các chuyên gia quốc tế, trình độ giáo dục của Việt Nam đang ở mức rất thấp Tính trung bình, người Việt Nam trưởng thành chỉ có trình độ giáo dục ở mức tiểu học (số năm đi học trung bình là 5,5 năm), trong khi
kỳ vọng chung đối với Việt Nam, người trưởng thành phải có mức giáo dục đạt trình độ giữa phổ thông trung học (số năm học trung bình là 10,4 năm) Như vậy, giáo dục của Việt Nam quả là đáng lo Để cải thiện tình trạng này, Việt Nam trước hết cần ngăn chặn bỏ học quá sớm nhằm gia tăng số năm đến trường của trẻ Thay
vì theo đuổi những mục tiêu xa vời, ngành giáo dục hãy đưa trẻ đến trường và ngăn chặn tình trạng bỏ học giữa chừng Nếu không giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu như cảnh báo và Việt Nam sẽ rất khó phát triển bền vững, nhất là khi Việt Nam đang đặt ra mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020
Sẽ rất khó hình dung một nước công nghiệp hóa khi tính theo trung bình, người dân chỉ mới trải qua bậc học tiểu học Bà Ingrid Fitzgerald, cho rằng: “Việt Nam
sẽ rất khó cạnh tranh hiệu quả trong một thị trường ngày càng toàn cầu hóa cao,
và khó tránh khỏi bẫy thu nhập trung bình nếu không thể cải thiện các kết quả giáo dục và trình độ kỹ năng một cách bền vững” Nhận định này hoàn toàn trùng khớp với khuyến nghị của giới chuyên môn và các nhà làm chính sách trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua Chẳng hạn, ông Lý Quang Diệu trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007 đã cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực chính là nút
cổ chai phát triển mà Việt Nam phải đương đầu” Giáo sư Hoàng Tụy cùng một số trí thức trong và ngoài nước cũng có những nhận xét và đề xuất tương tự về cải cách giáo dục, trong nhiều năm liên tiếp với nhiều ý kiến tâm huyết Tiếc thay, chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn không cải thiện Trong khoảng thời gian 1990-2011, nếu chỉ số tuổi thọ tăng ấn tượng do phát triển kinh tế thì chỉ số giáo
Trang 24dục tăng không đáng kể Vì thế, đã đến lúc ngành giáo dục nghiêm túc nhìn lại mình (Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-de-Su-kien/467555/Vi-sao-chi-so-giao-duc-cua-Viet-Nam-van-o-nhom-trung-binh.html).
Tóm lại, công nghệ Việt Nam với những nhận xét như sau:
• Nền kinh tế nước ta dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động theo kiểu truyền thống, năng suất và giá trị do tri thức tạo ra trong lao động còn thấp Cơ cấu kinh
tế vẫn còn nặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên, thuộc loại cơ cấu kinh tế kém hiệu quả của các nước chậm phát triển Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam yếu, khả năng hội nhập vào thị trường nước ngoài kém
• Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là do vốn với tỷ lệ là 64%, nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) chỉ đóng góp có 19% Trong khi đó, giai đoạn đầu công nghiệp hóa của các nước NICs, mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng: 60%; vốn: 21%
• Nguồn nhân lực tuy dồi dào về số lượng nhưng năng lực đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thiếu nhiều điều kiện Ở nông thôn chỉ có khoảng 60-70% lực lượng lao động có việc làm Ngay trong số lao động này mới sử dụng hết 60-70% thời gian lao động, tỷ lệ được đào tạo rất thấp
• Hệ số ICOR trong những năm gần đây lên đến 8,2 (ở các nước phát triển nhanh thường là 2,5 - 3) vẫn có xu hướng là nền kinh tế vay mượn (http://tuyengiao.vn)
Yếu tố kinh tế - chính trị:
Mỹ, EU, Nhật kiện Trung Quốc lên WTO vì đất hiếm Họ đã “tuyên chiến” với Trung Quốc khi áp dụng chính sách hạn chế xuất khẩu đất hiếm Trong đơn khiếu nại gửi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 13/03/2012, ba siêu cường thương mại này đã cáo buộc Bắc Kinh cố tình hạn chế xuất khẩu đất hiếm nhằm hạ giá loại khoáng sản này ở Trung Quốc, tăng giá xuất khẩu và buộc các hãng sản xuất quốc tế phải chuyển hoạt động đến Trung Quốc Reuters dẫn lời Tổng thống Mỹ Obama khẳng định Trung Quốc đang giở chiêu cạnh tranh không công bằng và nhấn mạnh Trung Quốc cần phải chơi đúng Luật thương mại quốc
tế Cao ủy Thương mại EU Karel De Gucht cũng cho rằng chính sách của Trung Quốc đã làm tổn thương các ngành công nghệ cao của châu Âu Là nước gần như nắm giữ độc quyền về xuất khẩu đất hiếm - chiếm hơn 95% nhu cầu toàn cầu Trung Quốc đang áp hạn ngạch xuất khẩu đất hiếm ở mức 30.000 tấn trong năm
2012 Trung Quốc đang dùng đất hiếm như là một vũ khí kinh tế - chính trị buộc
cả Mỹ, Nhật và EU phải đau đầu “Người lao động và các doanh nghiệp Mỹ đang
bị đối xử không công bằng” - theo ông Obama, chính sách của Trung Quốc khiến các công ty nước ngoài từ Mỹ, châu Âu, Nhật phải mua đất hiếm với giá cao ngất ngưởng Do đó, các sản phẩm công nghệ cao từ Mỹ, EU và Nhật mất lợi thế cạnh tranh về giá so với sản phẩm của các công ty Trung Quốc trên thị trường quốc tế Theo báo Wall Street Journal, năm 2011 Bắc Kinh đã đặt hạn ngạch xuất khẩu 33.353 tấn, song họ chỉ xuất khẩu 18.586 tấn Giới chuyên gia phương Tây cho rằng vị trí gần như độc quyền về đất hiếm đã cho phép Trung Quốc làm mưa làm gió trên thị trường này, nhất là đẩy giá xuất khẩu đất hiếm tăng 300% kể từ năm
2008 Và cũng như đối với các nguyên liệu khác nắm giữ, Trung Quốc đang kiểm soát mức xuất khẩu và qua từng năm lại liên tục giảm bớt các hạn ngạch xuất khẩu Điều này khiến các nhà sản xuất nước ngoài lao đao, điêu đứng Phản ứng lại, Bắc Kinh khẳng định đã chơi đúng luật WTO và biện minh rằng chính sách
Trang 25hạn chế xuất khẩu đất hiếm giúp bảo vệ môi trường Các mỏ khai thác và tinh lọc đất hiếm tiêu tốn nhiều axit và thải ra môi trường phóng xạ có nồng độ thấp Tân Hoa xã dẫn tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc “Những cáo buộc nhắm vào các chính sách hạn chế xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc là vô lý Nhu cầu thế giới chỉ bằng 50% hạn ngạch xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc năm 2011” Theo AFP, Trung Quốc có 10 ngày để phản ứng với WTO về vụ kiện trên và có
60 ngày để thương thuyết với Mỹ, EU và Nhật Nếu đàm phán không thành, Mỹ
sẽ yêu cầu WTO thành lập một ủy ban giải quyết tranh chấp để phân xử Vụ việc
có thể kéo dài hai năm nếu Bắc Kinh kháng án Vụ kiện Trung Quốc lên WTO phản ánh những căng thẳng thương mại đang ngày một tăng lên giữa Trung Quốc
và phương Tây Đất hiếm đã không còn hiếm: Đất hiếm, được phát hiện từ thế
kỷ 18, bao gồm 17 loại khoáng sản (như lanthane, néodyme, dysprosium, thulium, tungstene, molybdène, cérium, lithium ) cần cho các ngành công nghệ cao như chế tạo màn hình phẳng, điện thoại di động hay một số loại vũ khí Trung Quốc đến nay đang được biết đến như một nước hiện kiểm soát hơn 95%, thậm chí đến 97% xuất khẩu đất hiếm trên thế giới (120.000 tấn/năm) Thật ra, dù hiện nắm giữ độc quyền về khai thác đất hiếm, song Trung Quốc chỉ kiểm soát 1/3 (36%) trữ lượng đất hiếm thế giới Trữ lượng đất hiếm được phân bố đồng đều giữa các đại lục Theo ước tính của Cơ quan Khảo sát địa lý của Mỹ năm 2007, Mỹ chiếm 13% trữ lượng thế giới, Nga 22% và Úc khoảng 5% Những năm đầu thập niên
1980, sản lượng đất hiếm của Trung Quốc là không đáng kể khi Mỹ cung ứng một nửa sản lượng đất hiếm cho thị trường thế giới Trước khi dysprosium và thulium trở thành những loại khoáng sản chiến lược cho ngành công nghiệp mũi nhọn thì vào giữa những năm 1990, Trung Quốc đã tăng sản lượng đất hiếm do họ khai thác Trong khi đó, các nước khác lại lần lượt đóng cửa các mỏ khai thác đất hiếm của mình do sinh lợi kém so với đối thủ Trung Quốc Ngoài ra, hoạt động tinh lọc các loại khoáng chất gây ô nhiễm và đất hiếm lại thường gắn với các loại khoáng sản có nguy cơ nhiễm xạ, hoạt động xuất khẩu lại gây nên những rắc rối về chất thải nhiễm xạ Malaysia đã đóng cửa mỏ khai thác đất hiếm của mình vào năm
1992 vì lý do này Sự kiện Trung Quốc hạn chế xuất khẩu các loại khoáng sản của mình đã khiến giá cả tăng vọt Chẳng hạn, giá néodyme đã tăng gấp bốn lần vào năm 2010, đạt mức 200 USD/kg Do giá cả tăng cao và mức cầu thế giới tăng vọt, các tập đoàn khai thác khoáng sản thế giới đã bắt tay khai thác trở lại Molycorp
đã bắt đầu khai thác tại Mountain Pass, một địa điểm trong sa mạc của California
và sản lượng cung ứng 40.000 tấn trên tổng nhu cầu 100.000 tấn/năm của thế giới (không kể của Trung Quốc) Canada, Malaysia và Nam Phi cũng đang gia tăng các dự án khai thác đất hiếm Theo Figaro, các nhà khoa học Nhật Bản cũng vừa phát hiện dưới đáy Thái Bình Dương có những trữ lượng đất hiếm khổng lồ, khoảng 80-100 tỉ tấn, nhiều gấp hàng ngàn lần so với trên mặt đất Nhưng vấn đề
vẫn là làm thế nào để khai thác có lợi? (Nguồn: MỸ LOAN - T.N
hiem.html)
http://tuoitre.vn/Kinh-te/482339/My-EU-Nhat-kien-Trung-Quoc-len-WTO-vi-dat-Môi trường vi mô (đặc thù) gồm các đối thủ mới tiềm ẩn, khách hàng, sản phẩm thay thế, người cung cấp, đối thủ cạnh tranh.
Trang 26Nguồn: Nguyễn Thị Liên Diệp, Quản trị học, Nxb Thống kê, 2006, tr 113
Nguy cơ xâm nhập từ các đối thủ tiềm năng: Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ
thuộc vào các rào cản xâm nhập thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới cần dự đoán Nếu các rào cản hay có sự trả đũa quyết liệt của các nhà cạnh tranh hiện hữu đang quyết tâm phòng thủ dẫn đến khả năng xâm nhập của các đối thủ mới rất thấp Theo Michael Porter, có sáu rào cản xâm nhập chủ yếu Đó
là lợi thế kinh tế theo quy mô, sự khác biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận với kênh phân phối và những bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô
Áp lực cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành: Tính chất và cường độ của
cuộc cạnh tranh giữa các công ty hiện tại trong ngành phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Số lượng các đối thủ cạnh tranh
• Tốc độ tăng trưởng của ngành
• Chi phí cố định và chi phí lưu kho cao
• Sự nghèo nàn về tính khác biệt của sản phẩm và các chi phí chuyển đổi
• Ngành có năng lực dư thừa
• Tính đa dạng của ngành
• Sự tham gia vào ngành cao
• Các rào cản rút lui
Áp lực từ các sản phẩm thay thế: hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành
bằng cách đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các công ty trong ngành có thể kinh doanh có lãi Do các loại sản phẩm có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự canh tranh trên thị trường Khi giá của sản phẩm chính tăng sẽ khuyến khích xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế và ngược lại Do đó, phân biệt sản phẩm là chính hay là sản phẩm thay thế chỉ mang tính tương đối
Áp lực từ phía khách hàng: chủ yếu có hai dạng là đòi hỏi giảm giá hay mặc cả để có
chất lượng phục vụ tốt hơn Điều này làm cho các đối thủ chống lại nhau, dẫn tới làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành Áp lực từ khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau:
• Khi số lượng người mua là nhỏ
• Khi người mua mua một lượng lớn sản phẩm và tập trung
• Khi người mua chiếm một tỷ trọng lớn trong sản lượng của người bán
• Các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản
• Khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau
• Sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất lượng sản phẩm từ người mua
• Khách hàng có đầy đủ thông tin
Áp lực của nhà cung ứng: Nhà cung ứng khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe
dọa tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm/ dịch vụ cung ứng Do đó, nhà cung ứng chèn ép lợi nhuận của một ngành khi ngành đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng
Trang 27lên trong giá thành sản xuất Những điều kiện làm tăng áp lực từ nhà cung ứng có xu hướng ngược với các điều kiện làm tăng quyền lực của người mua Áp lực từ nhà cung ứng sẽ tăng lên nếu:
• Chỉ có một số ít các nhà cung ứng
• Khi sản phẩm thay thế không có sẵn
• Khi sản phẩm của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động của khách hàng
• Khi sản phẩm của nhà cung ứng có tính khác biệt và được đánh giá cao bởi các đối thủ của người mua
• Khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng
• Khi các nhà cung ứng đe dọa hội nhập về phía trước (Nguồn: http://www.mbavn.org/view_news.php?id=1082)
Chiến lược kinh doanh hiệu quả – Cơ cấu năm tác động theo Michael Porter: Đến nay, cơ cấu của Porter vẫn còn là một công cụ hữu ích để phân tích tình hình cạnh tranh và các yếu tố kinh tế cơ bản trong một ngành công nghiệp Cơ cấu này khuyến khích nhà chiến nhìn ra bên ngoài vòng tròn nhỏ hẹp các đối thủ cạnh tranh hiện tại để xem những đối thủ khác và các ảnh hưởng quyết định đến sự tăng trưởng và khả năng sinh lợi tiềm năng. Không cuộc thảo luận nào về môi trường cạnh tranh lại hoàn chỉnh nếu không bàn về cơ cấu năm tác động theo Michael Porter Cơ cấu này được giới thiệu lần đầu tiên là vào năm 1979 trong một bài báo đăng trên Harvard Business Review Đến nay, cơ cấu theo Porter vẫn còn là một công cụ hữu ích để phân tích tình hình cạnh tranh và các yếu tố kinh tế cơ bản trong một ngành công nghiệp Porter đã xác định năm tác động mạnh chi phối sự cạnh tranh trong một ngành công nghiệp:
• Mối đe dọa của các đối thủ mới
• Khả năng thương lượng của các nhà cung ứng
• Việc sử dụng mánh lới để chiếm vị thế giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại
• Khả năng thương lượng của các khách hàng
• Mối đe dọa của sản phẩm hay dịch vụ thay thế
Porter viết: “Sức mạnh tổng hợp của năm tác động này quyết định tiềm năng lợi nhuận cuối cùng của một ngành công nghiệp” Từ những yếu tố này dẫn đến tiềm năng lợi nhuận sẽ khác nhau giữa các ngành công nghiệp Các công ty thuộc ngành viễn thông phải đối mặt với tiềm năng lợi nhuận yếu vì nhiều yếu tố hiệp lực chống lại các nhà cung cấp hiện tại: những người tham gia vào ngành công nghiệp này phải liên tục cạnh tranh
để giành khách hàng từ đối thủ, thường là bằng cách giảm giá và mở rộng dịch vụ Khách hàng tự do chuyển đổi nhà cung cấp dễ dàng và lại có sẵn nhiều lựa chọn thông tin liên lạc như điện thoại hữu tuyến, điện thoại di động, e-mail, tin nhắn và dịch vụ điện thoại qua Internet Hơn nữa, tốc độ thay đổi công nghệ nhanh chóng buộc các nhà cung cấp hiện tại phải bỏ nhiều chi phí để duy trì ưu thế Trong khi đó, những người tham gia vào các ngành công nghiệp khác cũng đối mặt với sự kết hợp năm tác động này theo hướng thuận lợi hơn nhiều Theo Porter, điều cốt yếu để phát triển và tồn tại là dùng kiến thức về năm tác động này để “giành được một vị thế ít bị tấn công bởi các đối thủ đối đầu, dù đó là đối thủ mới hay đã định hình và ít bị ảnh hưởng tiêu cực từ định hướng của khách hàng, nhà cung ứng và các sản phẩm thay thế” Theo Ông để đạt được một vị thế như vậy bằng cách củng cố các mối quan hệ với những khách hàng mang lại lợi nhuận, làm cho sản phẩm khác biệt (thông qua thiết kế lại hoặc marketing), kết hợp các hoạt động, hoặc có được sự dẫn đầu về công nghệ Phát hiện các mối đe dọa và cơ hội là một
Trang 28khâu chuẩn bị mà nhà quản trị phải làm trước khi thảo luận về các kế hoạch chiến lược Các công ty lớn thường cho nhân viên tham đự những cuộc hội thảo chuyên nghiệp và đặt mua các tờ báo chuyên ngành quan trọng Họ luôn giữ liên hệ với các khách hàng hiện tại và tiềm năng thông qua các nhóm tập trung và các cuộc phỏng vấn với những người sử dụng tiên phong – tức là những công ty và cá nhân có nhu cầu đi trước những người sử dụng thông thường Một số công ty thậm chí còn lập các tổ “tình báo” để theo dõi thông tin từ báo chí và chuyên đề kỹ thuật, lưu ý đến các quy định được đề xuất, Những công ty này luôn nhận thức thế giới bên ngoài để biết các mối đe dọa và cơ hội tác động đến họ (Nguồn: http://gomm.com.vn/15821-chien-luoc-kinh-doanh-hieu-qua-co-cau-nam-tac-dong-cua-porter/)
Mô hình năm tác lực cạnh tranh của Michael Porter
(Nguồn: Michael Porter, “Competitive Strategy”, 1980, trang 4).
Ứng phó với đối thủ cạnh tranh:
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, thể thao đỉnh cao và chiến đấu có một đặc điểm tương đồng: Đó thật sự là các trận đấu bao gồm đấu trí và đấu lực Chính vì vậy, các ý tưởng và chiến lược của thể thao và chiến tranh được nghiên cứu rộng rãi và được
áp dụng vào trong kinh doanh và đem lại những kết quả to lớn Gần đây hai tác giả người Mỹ đã nghiên cứu nguyên lí và chiến thuật của môn võ Judo (nhu đạo) và áp dụng trong kinh doanh (gọi tắt là chiến thuật Judo) Họ đã xuất bản cuốn “Chiến lược Judo: Biến sức mạnh của đối thủ cạnh tranh thành lợi thế cho mình” Judo bắt nguồn từ Jujisto, một môn phái của các võ sĩ Samurai trong các triều đại phong kiến của Nhật Bản Cốt lõi của môn võ Judo thể hiện: "Ju" có nghĩa là nhường bước và "Do" có nghĩa là mềm dẻo Thực tế khi xem các võ sĩ Judo thi đấu đều nhận định môn võ này không chỉ mềm dẻo Theo Kano, tổ sư của môn võ này, Judo trước hết nhường bước để giành thắng lợi cuối cùng Judo là trận đấu về kỹ năng chứ không phải sức mạnh Các đấu thủ kinh doanh thường dùng lực cần thiết tối thiểu khi ra đòn Sử dụng toàn bộ sức mạnh để quật ngã đối thủ là trái với nguyên tắc của môn võ này
Các nguyên tắt của môn võ Judo: Để chiến thắng Judo cần có 3 kĩ năng:
• Di chuyển là để đối thủ yếu thế đi vì mất thăng bằng không ra đòn được
• Giữ thế thăng bằng khi phòng thủ
• Sử dụng đòn bẩy để tăng sức mạnh
Các võ sĩ ngày xưa di chuyển để đưa đối thủ của mình vào vị trí mà mình để ra đòn thuận lợi nhưng lại cản trở đối phương ra đòn Tuy nhiên, đối thủ cũng dùng các biện pháp tương tự thì sao ? Vào tình thế đó, đấu thủ Judo sẽ "chủ động ngã," ngã là một
Trang 29cách an toàn để sau đó nhanh chóng lấy lại thế công Đối thủ Judo áp dụng kĩ năng tạo đòn bẩy để nhân sức mạnh khi quật ngã đối thủ.
Chiến lược Judo trong kinh doanh: Các nguyên tắc của Judo được phát triển
thành các chiến lược kinh doanh để tạo lợi thế trong cạnh tranh tấn công các công ty lớn
mạnh hơn và phòng thủ khi bị các công ty khác tấn công Ba chiến thuật di chuyển gồm:
• Dấu kín các bước đi: Khi mới ra nhập thị trường và sức còn yếu, doanh
nghiệp không nên thu hút quá nhiều sự chú ý của các đối thủ Hãy giữ kín lực lượng tránh đối đầu với các đối thủ khi mình chưa đủ sức Điều này đặc biệt sử dụng trong các ngành có chi phí cố định lớn; doanh nghiệp rất kỹ chuyện doanh thu giảm hay chi phí cơ hội của các tấn công các đối thủ mới xuất hiện thấp Các đối thủ được chọn tấn công sẽ là các công ty gây chú ý nhiều nhất Tuy nhiên, doanh nghiệp mới muốn phát triển được khách hàng, đối tác biết đến và như vậy có sự mâu thuẫn Song áp luận trên cơ bản vẫn đúng, doanh nghiệp vẫn có cách khéo léo để tạo được uy tín và danh tiếng cho mình mà không lo liệu có khiêu khích đối thủ để bị tấn công hay không Doanh nghiệp mới nên tạo một dáng dấp hiền lành đến mức có thể làm cho đối thủ không nhận ra hoặc nhận ra nhưng lại cho là không nguy hiểm Công ty Transmentada dấu kín các kế hoạch và hoạt động của công ty từ khi ra đời năm 1995 đến tháng giêng năm 2000 tổ chức một chiến lược rầm rộ giới thiệu bộ xử lý crusoe Lãnh đạo công ty giải thích sở
dĩ họ phải im hơi lặng tiếng trong nhiều năm như vậy vì họ đang cạnh tranh với Intel một "đại ca của các đại ca trong làng cạnh tranh." Cuối năm
2000, Transmentada được niêm yết trên thị trường chứng khoán với giá trị thị trường lên tới 6 tỉ đô la
• Xác định lại nội dung cạnh tranh: Giấu kín lực lượng về cơ bản là phòng
thủ Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển phải chuyển sang chiến lược tấn công Đa số các nhà vô địch trong thể thao và kinh doanh đều thành công nhờ một vài thế mạnh và cạnh tranh với họ trên các thế mạnh này là rất khó Tuy nhiên, họ sẽ có những điểm yếu vì đã tập trung đầu tư tự nhiên vào thế mạnh Muốn đánh bại họ phải tìm ra các điểm yếu này và tập trung vào đó Doanh nghiệp phải chuyển cuộc chiến ra khỏi lãnh địa của đối thủ, tạo ra những luật lệ cạnh tranh mới, đưa ra các tiêu chuẩn mới, nhằm vào các khách hàng mới, dùng các kênh phân phối mới Công ty Intuit chuyên sản xuất phần mềm quản lý tài chính cá nhân là một
ví dụ áp dụng thành công chiêu thức này Công ty không có tạo ra sản phẩm với nhiều thuộc tính khác nhau mà chỉ tập trung vào một số ít các công cụ chính thường xuyên sử dụng và tạo ra một sản phẩm có tác dụng nhanh và dễ sử dụng Khách hàng đổ xô vào mua sản phẩm của Intuit trong khi các đối thủ vẫn mắc kẹt trong cung cách tư duy càng nhiều càng tốt
• Nhanh chóng xung phong: Dùng hai chiêu thức trên sẽ tạo ra cho doanh
nghiệp cơ hội và phải tận dụng cơ hội trước khi đối thủ lớn hơn nhận ra sự nguy hiểm và sử dụng thế mạnh áp dụng để triệt tiêu Doanh nghiệp cần có địa vị thị trường bằng cách tấn công cấp tốc và nhanh chóng Công ty Palm chuyên sản xuất đóng máy tính cầm tay vẫn dùng rất thành công chiêu thức này Để luôn đi trước Microsoft, Palm cố gắng di chuyển bằng cách ít nhất hàng năm đưa ra sản phẩm mới Công ty không đưa ra những đột phá trong sản phẩm mới mà chỉ cải tiến từng bước
Bốn chiến thuật giữ thế thăng bằng:
Trang 30• Ghìm giữ đối thủ: Bằng cách ghìm giữ đối thủ, doanh nghiệp tấn công
trong cạnh tranh nhờ tránh đối đầu không cần thiết Có nhiều cách để ghìm giữ đối thủ Để tránh đối đầu trong tương lai doanh nghiệp của mình Nếu doanh nghiệp muốn hạn chế đối thủ phát triển năng lực cần tìm cách để họ
sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Các hãng sản xuất đồ điện tử dân dụng Nhật bản đã ghìm giữ được đối thủ Mỹ mạnh khi để sản phẩm của mình dưới nhãn hiệu của đối thủ
• Tránh ăn miếng trả miếng: Dù doanh nghiệp tránh đối đầu, đối thủ vẫn
tấn công Khi đó giữ thế thăng bằng sẽ khó vì doanh nghiệp có xu hướng giảng trả các đòn tấn công của đối thủ Tuy nhiên, đối đầu trực tiếp dẫn đến một cuộc chiến ăn miếng trả miếng Đây chỉ là giải pháp cuối cùng trong chiến lược Judo Doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ đối thủ và năng lực của mình để tìm ra các biện pháp đáp trả có lợi nhất Chọn các phương án phát huy được thế mạnh của mình và không ảnh hưởng đến các thế mạnh đó Chỉ đáp trả lại đối thủ khi không dẫn dến tình trạng đối đầu leo thang Ebay
đã thành công khi tránh đối đầu với các đối thủ như Yahoo!, Amazon và giữ được thăng bằng khi cạnh tranh theo cách của mình Ebay không theo các bước đi của đối thủ, ví dụ như Yahoo! cho miễn phí dịch vụ đấu giá hay không quảng cáo tràn lan trên mạng như các đối thủ khác Công ty chọn cách như tăng cường marketing trực tiếp Bằng cách đó, Ebay kiểm soát được chi phí, duy trì tình hình tài chính lành mạnh và đến năm 2000, mức giao dịch của Ebay cao gấp 25 lần so với Yahoo!
• Đẩy khi bị kéo: Hai chiến thuật ghìm giữ đối thủ và tránh ăn miếng trả
miếng giúp doanh nghiệp giảm khả năng bị tấn công hoặc hạn chế tồn tại khi bị tấn công Chiến thuật đẩy khi bị kéo giúp doanh nghiệp sử dụng bằng cách dùng sản phẩm, dich vụ hoặc công nghệ của đối thủ phản công lại đối thủ Một ví dụ điển hình của dùng thành công chiến lược này là công ty Drypers chuyên sản xuất tã trẻ em Công ty này ra đời vào những năm 80 và thách thức P&G là công ty lớn nhất trên thị trường Khi Drypers tiếp cận thị trường bang Texas; P&G đã phản ứng quyết liệt bằng cách in
và phân phối rộng rãi Cupon Khách hàng mua mới gói tã trẻ em trình ra một Cupon sẽ được giảm giá 2 đôla Rõ ràng P&G quyết định tiêu diệt Drypers Drypers không thể in và phân phát một lượng lớn Cupon như P&G đã làm Giám đốc điều hành Dave Pittasi sau khi đọc xong một cuốn
về món võ Judo đã đưa ra một chiêu thức đối phó vô cùng lợi hại Công ty cho quảng cáo trên ti vi rằng khi mua tã Drypers mà có Cupon của P&G thì khách hàng cũng được giảm giá như khi mua của P&G Ngay sau đó, doanh thu của Drypers tăng vọt và công ty phải sản xuất hết công suất mởi
đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng
• Chủ động ngã: Khi một hoạt động kinh doanh gặp quá nhiều khó khăn
hoặc khi bị đối thủ chèn ép, doanh nghiệp cần chủ động rút lui để tìm hướng đi mới Cả doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp nhỏ đều nên chủ động ngã khi cần thiết Khi Ryanair ra đời năm 1986 đã đề ra chiến lược thâm nhập thi trường bằng giá thấp hơn đối thủ Tuy nhiên, sau đó các đối thủ mạnh là British và Aerlingus đã phát động một cuộc chiến về giá và đồng loạt giảm giá 20% Đến năm 1992, công ty duy trì được tình hình này trong suốt những năm 90 Bài học mà Ryanair là: “Hãy rút lui trên mặt trận
bị thua và mở ra một mặt trận khác”
Trang 31Ba chiến thuật sử dụng đòn bẩy:
• Dùng tài sản của đối thủ làm đòn bẩy: Các tài sản của đối thủ dù là hữu
hình như máy móc, nhà xưởng hay vô hình như nhãn hiệu hay bản quyền đều sử dụng để chống lại chính đối thủ đó Các tài sản phải đầu tư lớn đều tạo ra rào cản đối với thay đổi và doanh nghiệp dùng rào cản này làm đòn bẩy Đầu những năm 80 công ty Nitendo có 80% thị phần trên thị trường trò chơi điện tử ở Mỹ; trong khi đó Sega chỉ chiếm 7% Một tài sản lớn của Nitendo là nhãn hiệu với tư cách là nhà sản xuất các phần mềm có tính giáo dục không bạo lực và là phần mềm gia đình phù hợp với tất cả các lứa tuổi Sega đã lợi dụng tài sản này của Nitendo làm đòn bẩy giành thị phần Sega cho ra đời các phần mềm có tính bạo lực thậm chí hơi khiêu dâm nhẹ nhàng nhưng hấp dẫn hơn đối với các đối tượng là thiếu niên và người lớn Nitendo gặp phải tình thế tiến thoái lưỡng nan: nếu làm theo Sega sẽ tự phá hoại nhãn hiệu của mình với tư cách là nhà sản xuất tin cậy các gia đình, chuyên sản xuất các trò chơi lành mạnh còn nếu không sẽ mất thị phần vào tay đối thủ Phải 2 năm sau Nitendo mới quyết định định vị lại thị trường khi đó Sega đã kịp mang thị phần của mình lên 50%
• Dùng đối tác của đối thủ làm đòn bẩy: Các đối thủ lớn thường có một số
lượng lớn các đối tác, các nhà phân phối, nhà sản xuất sản phẩm dùng kèm,
… và đấy cũng chính là một nguồn tạo thế mạnh cho họ Bằng cách tạo ra mâu thuẫn giữa họ với đối tác, doanh nghiệp hoàn toàn có thể chiến thắng khi tạo đòn bẩy để tiến lên Một ví dụ kinh điển là thành công của Pepsi Coca với Coca Cola khi ra thị trường những năm 30 thế kỉ trước Coca Cola khi đó rất mạnh và có nhiều đối tác thực hiện đóng chai cho công ty Pepsi đưa ra thị trường loại chai to hơn Coca Cola và nhanh chóng tăng thị phần Tuy nhiên, Coca Cola không thể làm như thế được vì hầu hết các đối tác của Coca Cola đã đầu tư rất nhiều vào các thiết bị đóng chai cỡ nhỏ và nếu tìm các nhà đóng chai mới sẽ làm mất lòng các nhà đóng chai hiện có
• Dùng đối thủ của đối thủ cạnh tranh làm đòn bẩy: Kẻ thù của kẻ thù là
bạn Có thể dùng rất nhiều cách để sử dụng đối thủ của các đối thủ cạnh tranh làm đòn bẩy Doanh nghiệp gia tăng giá trị sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như Netcape dã sản xuất một phần mềm chạy trên hệ điều hành Unit, đối thủ cạnh tranh chính của Windows NY Doanh nghiệp liên kết mình với đối thủ của đối thủ cạnh tranh như trường hợp JVC liên kết với các đối thủ của Sony như Hatachi, Sharp, Sanyo, Toshiba để chống lại Sony
Các chiến thuật minh họa vận dụng chiến lược Judo trong kinh doanh Để thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải tự tìm ra nhiều chiến thuật mới và luôn biến hóa khi áp dụng các chiến thuật (Nguồn: http://acro.vn/kien-thuc/quan-tri-doanh-nghiep/chien-luoc-canh-tranh-va-chien-luoc-judo-trong-canh-tranh.aspx)
Trang 32Ứng phó với đối thủ tiềm ẩn mới:
Trong nhiều năm qua, sự tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam luôn là tâm điểm chú ý của các chuyên gia, các tổ chức, đặc biệt là các tập đoàn bán lẻ nước ngoài Theo báo cáo xếp hạng thường niên của Planet Retail trên thị trường bán lẻ toàn cầu, tính đến tháng 6/2010, Việt Nam đạt 43,30 tỷ USD, vượt lên trên cả Singapore, Hongkong, Phần Lan.Thậm chí nhiều dự đoán còn cho rằng, năm 2012, doanh số bán lẻ ở nước ta có thể đạt mức 85 tỷ USD Vốn mang nhiều tham vọng khi tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã không chần chừ và bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để mở rộng hoạt động, gia tăng doanh số và lợi nhuận Năm 2010, nhà bán lẻ lớn đến
từ Pháp là Big C đã khai trương thêm 5 siêu thị nâng tổng số siêu thị Big C tại Việt Nam lên 14 siêu thị Tương tự, chỉ trong vòng khoảng 2 năm, tập đoàn Lotte của Hàn Quốc đã
sở hữu 2 siêu thị lớn tại Việt Nam và đang quyết liệt săn lùng mặt bằng để thực hiện kế hoạch mở 30 siêu thị tại nước ta cho đến năm 2018 Thêm vào đó, sự xuất hiện ngày càng nhiều của các đối thủ mới với tiềm lực mạnh, quyết liệt hơn cũng đang đẩy các doanh nghiệp bán lẻ nước ta đứng trước nhiều thách thức Năm 2010, hệ thống bán lẻ Family Mart Nhật Bản chính thức vào Việt Nam với rất nhiều nét khác biệt như kinh doanh 24/24 giờ với 70% chủng loại sản phẩm và dịch vụ khác hẳn các đối thủ Tháng 7/2011, EMart - tập đoàn bán lẻ lớn của Hàn Quốc cũng chính thức vào Việt Nam với kế hoạch thiết lập hệ thống chuỗi 52 siêu thị, cửa hàng và tổng đầu tư sẽ tăng dần đến 1 tỉ USD Với tiềm lực mạnh, kinh nghiệm thị trường các tập đoàn bán lẻ đang tỏ rõ họ có nhiều ưu thế hơn các doanh nghiệp nước ta Nhưng điều đó không có nghĩa là các doanh nghiệp nước ta chịu đứng im để mất thị phần mà thay vào đó nhiều doanh nghiệp đã đối mặt trực tiếp với các đối thủ ngoại Theo kế hoạch đến hết năm 2011, Co.op Mart sẽ khai trương thêm ít nhất 10 siêu thị và 30 cửa hàng tiện ích Đồng thời, Co.op Mart còn kết hợp với Đài truyền hình TP.HCM cho ra đời kênh mua sắm mới qua truyền hình Sài gòn Co.op phát triển kênh bán hàng lưu động phục vụ bà con vùng sâu, vùng xa, khu công nghiệp với hơn 1000 chuyến bán hàng mỗi năm Mặc dù quyết tâm nhưng trong cuộc chiến này các doanh nghiệp trong nước còn nhiều điểm yếu như vốn nhỏ, kinh nghiệm thiếu, công nghệ lạc hậu, quản trị nhân lực yếu, chiến lược cạnh tranh rất mơ hồ, thiếu đột phá và chưa đồng bộ Các doanh nghiệp của ta đang xem nhẹ xây dựng mối liên kết chặt chẽ với bạn hàng và các nhà cung cấp Đây là nguyên nhân khiến nhiều chuyên gia
Trang 33đưa ra cảnh báo “thị trường bán lẻ trong nước có nguy cơ rơi vào tay đối thủ ngoại” (Nguồn: http://chiakhoathanhcong.mquiz.net).
Dịch vụ thay thế: Hòm thư Facebook - mối đe dọa lớn của các dịch vụ mail
Thay vì phải sử dụng tài khoản trung gian như Gmail, Yahoo Mail, Hotmail như trước, 500 triệu thành viên của mạng xã hội lớn nhất thế giới sẽ có thể đăng ký địa chỉ e-
mail có đuôi @facebook.com Nhà sáng lập Mark Zuckerberg cho biết dịch vụ thư điện
tử mới của họ đơn giản là một phần mới trong Facebook Messages, tập hợp e-mail, thông điệp, tin nhắn SMS, chat trong cùng một giao diện để người dùng dễ quản lý hơn Hòm thư Facebook hoạt động đa nền tảng, cho phép nhận và gửi e-mail, tin nhắn IM đến người sử dụng thuộc các nền tảng khác như Gmail, thay vì bó hẹp trong mạng xã hội này như hiện nay Các cuộc hội thoại giữa hai người sẽ không bị tách rời ra, kể cả khi tiêu đề khác nhau, mà được gộp lại thành một chuỗi trao đổi dài Hệ thống cũng phân tích dữ liệu về thành viên để phân loại e-mail, tin nhắn quan trọng và thiết lập chế độ ưu tiên trong thư mục đặc biệt
Các tính năng quan trọng của hòm thư Facebook: hoạt động đa
nền tảng, hội thoại liền mạch và chế độ ưu tiên cho e-mail quan
trọng
Zuckerberg chia sẻ, 15 kỹ sư của họ đã phát triển dự án này suốt một năm và dịch
vụ mới sẽ được triển khai trong một vài tháng tới Tại trang Messages, người dùng sẽ nhận được thông báo mời họ "đặt trước" địa chỉ e-mail, chẳng hạn nếu URL tài khoản
của họ là facebook.com/vnexpress, họ chọn địa chỉ thư điện tử là
vnexpress@facebook.com
Các thông điệp không còn bó hẹp trong môi trường Facebook và
Trang 34có thể gửi tới các địa chỉ e-mail bên ngoài.
Động thái này là lời thách đấu mới nhất của Facebook với Google trong cuộc đua trở thành nền tảng mà người dùng đầu tư nhiều thời gian nhất trên Internet Google đang dẫn đầu nhưng Facebook đã chứng minh rằng mạng xã hội đầy hấp dẫn khiến người ta không thể rời mắt khỏi màn hình trong vài giờ Đây là điều có ý nghĩa quan trọng với quảng cáo - nguồn doanh thu chính của cả hai công ty "Chúng tôi không mong các thành viên sẽ lập tức đóng tài khoản Gmail Chúng tôi chỉ hy vọng trong một vài tháng hay một vài năm nữa, mọi người sẽ nhìn vào hòm thư Facebook và nói: Ồ, các thông điệp phải
được thể hiện theo cách như thế này mới đúng" (Nguồn: Lê Nguyên,
http://vnexpress.net/gl/vi-tinh/2010/11/3ba2300d/).
Ứng phó với khách hàng
Giữ chân khách hàng quen thuộc bao giờ cũng dễ dàng và đơn giản hơn thu hút khách hàng mới Thế nhưng làm cách nào để giữ được họ ở lại với mình lại là một vấn
đề không đơn giản Tổ chức thử tìm hiểu những cách thức duy trì khách hàng sau đây:
• Hãy nói với khách hàng rằng tổ chức đánh giá cao công việc của họ: Mọi
người đều thích làm việc với những người coi trọng công việc và bản thân họ Tuy nhiên, khách hàng không thể tự nhiên mà biết được tổ chức đánh giá cao họ Vậy tổ chức đừng quên biểu lộ cho khách hàng biết sự trân trọng đối với công việc của họ Khi kết thúc một cuộc họp hay điện thoại, tổ chức biết cảm ơn khách hàng vì đã hợp tác với mình
• Trả lời điện thoại và gọi lại: Mặc dù có nhiều người nghĩ rằng làm như vậy sẽ vi
phạm quy tắc quản lý thời gian hiệu quả của các nhà quản trị nhưng điều này là không hoàn toàn đúng Nếu tổ chức đi tới các cuộc họp hoặc hội thảo, người ta sẽ nói: Đừng trả lời điện thoại hay đừng để khách hàng gặp được Họ nói thời gian là tiền Nhưng nếu không có khách hàng, tổ chức sẽ không có tiền Đấy là lý do tại sao nên đặt mục tiêu là sẽ gọi lại 99% số cuộc điện thoại trong ngày và 100% trong vòng 12 giờ sau
• Quan tâm tới những gì khách hàng muốn, không phải những gì tổ chức muốn: Hiện nay, khách hàng đang có xu hướng tìm kiếm đối tác mới thay thế
cho đối tác cũ 80% trong số đó cho biết họ thay đổi không phải vì hiệu quả công việc, mà bởi vì quan hệ không tốt với nhân viên chúng ta Khách hàng thường hay mất lòng tin ở nhân viên tư vấn hay dịch vụ khách hàng do đặt lợi ích cụ thể là sản phẩm và doanh thu, cao hơn lợi ích của khách hàng Cách giải quyết hãy chú ý vào phong cách phục vụ Khách hàng muốn được phục vụ hơn là chỉ giao dịch đơn thuần Khách hàng muốn tổ chức hiểu được hoàn cảnh, dành thời gian để tiếp xúc, coi trọng thái độ của họ và giúp họ giải quyết vấn đề Đừng quên là tổ chức đang bán dịch vụ và khách hàng là người mua Tổ chức nên thường xuyên tự đặt câu hỏi: “ Liệu mục đích cao nhất của tôi là kiếm tiền hay làm cho khách hàng có cái nhìn tốt đẹp về công ty?” Nếu câu trả lời nghiêng về phía khách hàng, có nghĩa là tổ chức sắp có thêm một khách hàng trung thành rồi đó
• Làm cho khách hàng cảm thấy họ rất quan trọng: Tổ chức giữ khách hàng
bằng cách chuyển mối quan hệ đối tác thành mối quan hệ cá nhân Tổ chức cố gắng duy trì lượng khách hàng bằng những cách làm khá đơn giản mà hiệu quả như gửi thiệp chúc mừng nhân dịp lễ tết và thiệp cảm ơn tới khách hàng, mua những quyển sách mới nhất về các nhân vật nổi tiếng làm quà, tặng hoa trong những dịp sinh nhật, thậm chí nói cho tất cả mọi người biết được hôm nay là ngày
Trang 35quan trọng của khách hàng Như thế, khách hàng luôn cảm nhận được sự quan tâm, tôn trọng một cách thân tình của bạn Kết quả là tổ chức không chỉ giữ đươc khách hàng mà còn có thêm nhiều khách hàng mới từ những lời tiến cử của các khách hàng thỏa mãn.
• Đừng lãng quên khách hàng của tổ chức: Tổ chức có nhận thấy khách hàng
đang thưa dần không? Có phải tổ chức đã mất liên lạc với khách hàng của mình không? Nếu đúng, tổ chức đã sơ suất rồi đó Khi khách hàng không xuất hiện, tổ chức hãy chủ động liên lạc và giữ thói quen gọi điện thoại hay thỉnh thoảng tới thăm họ
• Định hướng cho khách hàng của tổ chức: Tổ chức không nên tự bào chữa
khách hàng sẽ tự biết họ mong muốn điều gì và ngồi đợi để khách hàng tự tìm đến Ngược lại, tổ chức giữ được khách hàng bằng cách định hướng cho họ Tổ chức hãy giữ liên lạc với khách hàng ít nhất hai lần/năm để cung cấp những thông tin mới nhất bao gồm những chính sách mới của công ty, thay đổi trên thị trường, thông tin về sản phẩm… Khách hàng sẽ vui và tin tưởng bạn hơn khi họ nhận được những thông tin từ chính tổ chức, chứ không phải là từ những phương tiện truyền thông hay qua lời đồn thổi nào đó Những thông tin mới nhất gửi tới sẽ giúp khách hàng biết được họ có lợi ích gì khi hợp tác với tổ chức Khách hàng được hướng dẫn kỹ lưỡng về sản phẩm, họ biết cần mua sắm thứ gì rồi từ đó đưa
ra quyết định Đây là lý do tại sao khách hàng muốn làm việc với chúng ta (http://www.khoinghiep.info/dieu-hanh-doanh-nghiep/khach-hang/2170-giu-chan-khach-hang-bang-cach-nao.htmly).
4 Mục đích của hoạt động quản trị: Năng suất - Chất lượng - Hiệu quả.
4.1 Năng suất
4.1.1 Khái niệm về năng suất
Theo khái niệm cổ điển, năng suất là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực Khái niệm này xuất hiện trong bối cảnh giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, trong đó yếu tố lao động đóng vai trò quan trọng nhất Qua thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng trong hoạt động của tổ chức Quan điểm này thúc đẩy giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả Năng suất ở giai đoạn này đồng nghĩa sản xuất nhiều hơn với chi phí thấp hơn Đây là thời điểm Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc Tuy nhiên, quan điểm năng suất chỉ dừng lại ở nguồn lực chỉ là một khía cạnh Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong nhiều năm đã đưa ra quan điểm tiến bộ hơn Đó là sử dụng có hiệu quả những nguồn lực vốn, đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng, thông tin và thời gian chứ không chỉ bó hẹp trong yếu tố lao động Năng suất chỉ xét đến các yếu tố đầu vào mà chưa đề cập đến giá trị đầu
ra Qua đó bộc lộ thiếu sót khi quyết định khả năng cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh
tế Năng suất theo cách tiếp cận mới là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được
sử dụng để hình thành đầu ra đó Theo cách định nghĩa này, nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào Thuật ngữ đầu vào (lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý), đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật Ở cấp vĩ mô thường sử dụng tổng
Trang 36giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng đến cải tiến và vận dụng những mong muốn thành các hành động cụ thể Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay Điều này thực hiện được nhờ vào các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn, phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng, thị
phần và mức sống cao hơn Các yếu tố tác động đến tăng năng suất lao động gồm chất
lượng nguồn nhân lực và tác phong làm việc của người lao động; khoa học, kỹ thuật và công nghệ; tổ chức và cơ cấu sản xuất; quản lý lao động; tài nguyên thiên nhiên và khí hậu; ổn định chính trị xã hội quốc gia và ổn định của doanh nghiệp, Trong các yếu tố
đó, chất lượng nguồn nhân lực và tác phong làm việc của người lao động có tác động mạnh nhất đến năng suất lao động Trình độ lành nghề và tác phong làm việc của người lao động được thể hiện ra khi họ sử dụng các công cụ sản xuất, đáp ứng những yêu cầu
về chất lượng sản phẩm Người lao động có trình độ không những cần có kỹ năng lao động mà còn phải có sáng tạo trong quá trình sản xuất Thực tế cho thấy chỉ khi nào người lao động có kiến thức và trình độ nghề nghiệp mới, nhanh chóng tiếp thu, vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, có ý thức và tinh thần sáng tạo Thành tựu trong sản xuất nông nghiệp của nước ta trong hơn 20 năm qua quan trọng nhất chính là do tăng năng suất lao động xã hội mà có Gắn liền với người lao động để tăng năng suất lao động là công cụ sản xuất với trang bị công nghệ và kỹ thuật ngày càng cao Máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất tiên tiến cùng các quy trình sản xuất và quản lý hiện đại, giảm bớt những chi phí trung gian Khoa học, công nghệ, kỹ thuật luôn gắn với tổ chức bộ máy quản lý, quá trình hợp lý hoá sản xuất nhằm thúc đẩy sản xuất mang tính cạnh tranh và người lao động làm việc hiệu quả, sản phẩm, chất lượng, tiêu thụ được nhiều hơn Tăng năng suất lao động xã hội có tác động đến cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới quản lý và thực hiện những chính sách an sinh xã hội (Nguồn:http://vpc.org.vn/PortletBlank.aspx/3AB0FEA5A0C5424CA36F0DC719E62269/View/N/Nang_suat/?print=1639147674)
Cạnh tranh được quan tâm trước hết ở cấp doanh nghiệp thể hiện trên hàng hoá dịch vụ Ở tầm quốc gia, khả năng cạnh tranh chủ yếu được tích tụ từ sức cạnh tranh của các doanh nghiệp kết hợp với một số yếu tố khác như chiến lược, chính sách và những vấn đề quản lý vĩ mô Diễn đàn kinh tế thế giới (1999) đã đưa ra 08 nhóm cấu thành năng lực cạnh tranh của các quốc gia với các trọng số khác nhau: Chính phủ, tài chính, độ mở cửa, lao động, công nghệ, cơ sở hạ tầng, thể chế, quản lý Hiện có 02 nhóm chỉ tiêu đánh giá: Chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (GCI), đánh giá các nhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế đo bằng tỷ lệ thay đổi của GDP/người Chỉ số cạnh tranh hiện tại (CCI), xác định các nhân tố nền móng tạo ra năng suất hiện tại được
đo bằng GDP/người Với các doanh nghiệp, yếu tố cạnh tranh thường liên quan tới cơ sở
hạ tầng, công nghệ, lao động, vốn, thị trường, quản lý Mức độ ưu thế và ưu thế tích hợp của các yếu tố ấy là tiềm lực để tạo nên sức cạnh tranh cao hay thấp Các chỉ tiêu được quan tâm xem xét là năng suất (năng suất lao động, năng suất vốn, năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP); mức độ trang bị công nghệ hiện đại; hiệu quả sản xuất và tiêu thụ hàng hoá dịch vụ bao gồm mức chất lượng, hàm lượng công nghệ, giá trị thương hiệu, sản phẩm mới,…; giá và độ linh hoạt về giá,…; hệ thống phân phối; sự ổn định các nguồn cung ứng đầu vào
Trang 374.1.2 Đặc điểm của năng suất trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay
a Đầu ra là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng năng suất: Trong bối
cảnh cạnh tranh, các tổ chức xem tính hiệu quả của sản phẩm và dịch vụ thay
vì chỉ quan tâm đến sản lượng Xác định tính hiệu quả là trả lời câu hỏi:
“chúng ta có làm đúng việc không?” và “chúng ta đang sản xuất ra hàng hoá
và dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng không?” Để tăng tính hiệu quả của sản phẩm và dịch vụ phải đạt được các tiêu chí sau:
• Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng: Sản phẩm được sản xuất ra,
dù với hiệu suất rất cao nhưng không bán được hoặc không phải là những sản phẩm mà khách hàng cần cũng không mang lại giá trị Vì vậy, bất kỳ khái niệm năng suất nào đều phải tính đến yếu tố khách hàng Sản phẩm và dịch vụ phải được thiết kế, sản xuất theo cách thoả mãn về độ tin cậy, độ bền, giá cả và khả năng giao hàng Trong chiến lược năng suất phải bắt đầu bằng cách hiểu rõ ai là đối tượng khách hàng, họ cần gì, tại sao họ lại cần những sản phẩm đó, với mức giá nào
họ sẵn sàng chi trả để mua sản phẩm
• Giảm thiếu tác động xấu tới môi trường: Ngoài đáp ứng yêu cầu của
khách hàng; sản phẩm và dịch vụ cung cấp phải đóng góp vào các mục tiêu kinh tế - xã hội như sức khoẻ, giáo dục, giảm thiểu ô nhiễm và những tác động không mong muốn Kết hợp hai khái niệm bảo vệ môi trường và cải tiến năng suất, APO (Tổ chức Năng suất Châu Á) đã phát triển thuật ngữ gọi là “Năng suất xanh” Đó là chiến lược nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường cho sự phát triển kinh tế xã hội Thông qua áp dụng công nghệ phù hợp và kỹ thuật quản trị hợp lý tạo ra những hàng hoá và dịch vụ thân thiện với môi trường, nâng cao năng suất và khả năng sinh lợi Theo đó cần thiết lập ra mục tiêu thiết kế những sản phẩm và dịch vụ không tác động xấu tới môi trường (sản phẩm xanh), giảm thiểu lãng phí hoặc không tạo ra chất thải trong quá trình sản xuất, sử dụng và bảo trì sản phẩm mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chức năng và thẩm mỹ, giảm chi phí chu kỳ sống của sản phẩm bằng cách thiết kế ra những sản phẩm tái sử dụng hoặc tái chế Cải tiến năng suất phải đi đôi với áp dụng các chiến lược giảm thiểu sử dụng các nguồn lực tự nhiên, phòng ngừa chất thải và phát thải ngay tại nguồn, giảm sử dụng các chất độc hại nghĩa là nâng cao cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả môi trường
• Khuyến khích người lao động: Đầu ra mang tính vô hình được đề cập
tới trong khái niệm năng suất là đáp ứng những mong muốn của người lao động Những yếu tố tác động của quá trình sản xuất sẽ ảnh hưởng đến thái độ làm việc của nhân viên trong một tổ chức Qua đó ảnh hưởng đến năng suất Một nơi làm việc thoả mãn sẽ dẫn đến thái độ làm việc tích cực, khuyến khích được người lao động và cải tiến được năng suất Điều kiện làm việc an toàn, lành mạnh, văn hoá làm việc tích cực
và phong cách quản lý hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến năng suất theo khía cạnh này
b Để nâng cao năng suất cần tiếp tục nhấn mạnh vào giảm lãng phí: Quyết
định sản xuất sản phẩm và dịch vụ dựa vào nguyên vật liệu sử dụng và công nghệ ứng dụng là khía cạnh hiệu suất trong khái niệm năng suất Giảm lãng phí trong mọi hình thức là trọng tâm của cải tiến năng suất Để nhận biết được
Trang 38các lãng phí đòi hỏi xem xét tất cả các yếu tố trong một tổ chức Mọi hoạt động, nguyên vật liệu, không gian, máy móc thiết bị, nhân lực không được
sử dụng hoặc không tạo ra giá trị gia tăng đều được gọi là lãng phí
c Năng suất là tạo ra giá trị gia tăng: Năng suất nhấn mạnh vào định hướng
thị trường và kết quả đầu ra nên trong khái niệm năng suất cần xét đến giá trị gia tăng Đây là giá trị được quyết định bởi khách hàng và cộng đồng Nói cách khác, giá trị gia tăng là lượng của cải tạo ra, phản ánh sử dụng hiệu quả các tài sản của tổ chức; đặc biệt là kiến thức, kỹ năng của người lao động và người quản trị khi biến nguyên vật liệu thô thành sản phẩm cung cấp cho khách hàng Nhà quản trị, người lao động cùng chia sẻ giá trị đạt được Khái niệm này đã làm thay đổi quan điểm trước đây xem công nhân là một dạng chi phí Quan điểm xem con người là một thành viên và phải được chia sẻ những giá trị mà tổ chức đạt được Giá trị gia tăng được nâng lên thông qua nâng cao giá trị cho khách hàng hoặc giảm chi phí và lãng phí
d Năng suất là đem lại giá trị: Để bắt kịp những đòi hỏi cấp bách, điểm trọng
tâm trong cải tiến năng suất cần chuyển sang hướng tạo ra giá trị hay đổi mới
Đó là những nỗ phát triển những đổi mới đối với những thay đổi của thị trường, thông qua thử nghiệm sản phẩm, đổi mới quản lý và phương thức hoạt động mới để thoả mãn được nhu cầu hiện có và tương lai (Nguồn: http://nangsuatchatluong.vn/nang-suat-chat-luong/38-tin/548-nang-suat-yeu-to-co-ban-cua-tang-truong-va-phat-trien-kinh-te)
4.1.3 Những thách thức trong cải tiến năng suất
Trong điều kiện hiện nay cùng với khái niệm năng suất theo cách tiếp cận mới, cải tiến năng suất cần xét đến các khía cạnh sau:
• Đầu ra ngày càng được chú trọng nhiều hơn nên nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến năng suất, đạt được lợi thế cạnh tranh chủ yếu thông qua sản phẩm tốt hơn, giao hàng nhanh hơn chứ không chỉ là giảm chi phí Hàng hoá và dịch vụ cần được thiết kế và sản xuất nhằm thoả mãn được khách hàng về chất lượng, chi phí, giao hàng; đồng thời nâng cao được chất lượng cuộc sống Điều đó phản ánh đầu
ra không tạo ra tác động xấu tới xã hội (ô nhiễm trong sản xuất, sử dụng và duy trì) và thoả mãn yêu cầu về sức khoẻ, giáo dục của người dân cũng như đóng góp vào các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước
• Các nguồn lực vô hình như thái độ, sự huy động, thông tin, kiến thức và thời gian ngày càng trở nên quan trọng Con người cùng với khả năng tư duy sáng tạo giúp thiết lập xây dựng và thực hiện các thay đổi là nguồn lực cơ bản trong cải tiến năng suất
• Chất lượng quản lý lập ra sắc thái và phương hướng của tổ chức thông qua đưa ra tầm nhìn chiến lược, các chính sách và phương thức hoạt động để đáp ứng kịp thời những thay đổi không ngừng Sự năng động của quản trị đóng vai trò quan trọng khi đưa ra phương thức làm việc và cải thiện môi trường Kết quả người lao động được động viên và thích ứng với những thay đổi không ngừng của môi trường kinh tế – xã hội – công nghệ
• Tập trung vào tầm nhìn chiến lược toàn cầu để giải quyết các vấn đề năng suất trong xã hội Điều đó đòi hỏi quản lý hệ thống bao trùm mọi hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, sản xuất và giao hàng đến tận tay khách hàng, các hoạt động nghiên cứu, phát triển Nhấn mạnh vào tối thiểu hoá các chi phí trong chu kỳ sống của sản phẩm bằng cách thiết kế các sản phẩm tái sử dụng hoặc tái tạo
Trang 39• Năng suất hợp nhất với phát triển bền vững thông qua khuyến khích thiết kế “sản phẩm xanh” và “hệ thống sản xuất sạch” Kinh nghiệm cho thấy phương pháp phòng ngừa ô nhiễm là phương pháp tiết kiệm, hiệu quả và khả thi Các nỗ lực được tạo ra nhằm giảm tạo ô nhiễm ngay tại nguồn bằng cách cải tiến công nghệ
và thay đổi thiết kế
• Cải tiến năng suất được thực hiện theo hướng nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phong cách sống lành mạnh Nâng cao chất lượng cuộc sống không chỉ cung cấp nhiều hàng hoá mà còn có ý nghĩa cho phép mỗi cá nhân tìm kiếm hạnh phúc và hoàn thành sứ mạng trong cuộc sống Năng suất trong tương lai không những nhằm thoả mãn vật chất mà còn thoả mãn tinh thần của con người Xem xét các vấn đề môi trường và cách tiếp cận định hướng đầu ra là các bước đi theo hướng này Phong cách sống biểu hiện bằng sự tiêu dùng và loại thải của cộng đồng cần được xem xét lại Nhiệm vụ của cư dân toàn cầu là xây dựng nền văn minh thế kỷ 21 biểu hiện bằng tiêu dùng thích hợp, tối thiểu hoá loại thải, tái chế chất thải, bảo toàn năng lượng và tăng thời gian sống của sản phẩm Vì thế đòi hỏi tất cả chúng ta phải bắt đầu có một tư duy mới về khái niệm và cách tiếp cận cải tiến năng suất để giải quyết các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mỗi
người (Nguồn: Nguyễn Thị Lê Hoa, vpc.org.vn)
4.1.4 Các giải pháp nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam: Trong thời gian
2001 – 2008, năng suất lao động ở Việt Nam tăng gấp năm lần, nhưng còn nhỏ bé vì GDP và thu nhập bình quân đầu người thấp Năng suất lao động tuy tăng nhưng không
ổn định, không đều ở các ngành và thành phần kinh tế Năng suất lao động ở thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm sút, thành phần kinh tế ngoài nhà nước tăng liên tục với mức cao, thành phần kinh tế nhà nước tăng nhưng không ổn định So với các nước, năng suất lao động ở nước ta còn thấp, thí dụ năm 2006, so với Singapore chỉ bằng 4,5%, so với Mỹ bằng 4,2% và bằng 53,2% so với Trung Quốc và với Lào chỉ bằng 82,3% Để năng suất lao động tăng tốc có ý nghĩa tiên quyết là nhận thức đầy đủ vai trò của năng suất lao động trong điều kiện mới Năng suất lao động quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời kỳ dài, chứ không chỉ trong ngắn hạn Suốt mấy thập kỷ qua, nền kinh tế nước ta chủ yếu phát triển theo chiều rộng, dựa trên khai thác lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên, tăng cường độ lao động và tăng vốn đầu tư chứ chưa thật
sự tính toán đầy nên dẫn đến năng lực cạnh tranh quốc gia thấp Từ những thay đổi nhận thức này, chúng ta cần phải thay đổi những chính sách để cho nền kinh tế phát triển theo chiều sâu và bền vững Phải cơ cấu lại kinh tế của từng ngành và toàn bộ nền kinh tế, thay đổi cơ cấu đầu tư và chính sách sử dụng nguồn nhân lực cũng như thay đổi một cách căn bản để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
đi vào kinh tế tri thức Hiện nay, cơ cấu lại nền kinh tế đặt ra rất bức thiết vì sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hoá đang gặp khó khăn Do vậy phải đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế trong các ngành kinh tế, nghề, sản phẩm, thành phần kinh tế, vùng kinh tế và cả về mô hình phát triển kinh tế theo hướng đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng của dân cư và tiêu dùng của Nhà nước ngày một tăng (tiêu dùng nội địa) và nhu cầu xuất khẩu Tái cơ cấu kinh tế cần xuất phát từ lợi thế có tầm nhìn dài hạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp nhiều cho xã hội, tăng thu nhập cho người lao động để tái sản xuất sức lao động Coi trọng cơ cấu lại kinh
tế của các ngành vì năng suất lao động đóng góp hơn 55% Quá trình xuất phát từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành có năng suất lao động thấp sang cao Trong bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế; nhà nước, các ngành chức năng cần nghiên cứu để bổ sung
Trang 40những chính sách, luật pháp liên quan đến người lao động ở mọi thành phần kinh tế, nhất
là kinh tế ngoài nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động cũng như của những chủ sở hữu Những chính sách phù hợp này có tác dụng khuyến khích người lao động làm việc có năng suất cao, thêm thu nhập, hạn chế được đình công, lãng công
và động viên những chủ sở hữu đầu tư máy móc và công nghệ để làm ra các sản phẩm mới có chất lượng Đối với nguồn nhân lực cần tập trung nâng cao chất lượng và đẩy nhanh sử dụng Những năm qua tại các thành phố, các khu công nghiệp đã thu hút, sử dụng khá nhiều lao động Tỷ lệ thất nghiệp năm 2000 là 6,42% đến năm 2008 giảm còn 4,6% Trong thời gian tới cần đẩy nhanh sử dụng lao động trên cơ sở phát triển các ngành kinh tế và dịch vụ mới, gắn liền với nâng cao trình độ tay nghề và tác phong làm việc của lao động Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, với nền tảng đổi mới đào tạo bậc đại học và dạy nghề theo hướng đào tạo nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, chú trọng một số ngành, nghề mới đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
(Nguồn: Phạm Văn Khánh, Nhandan Online) Ngày 14/02/2012, tại Hà Nội, theo các
chuyên gia thế giới cần nâng cao năng lực quản trị và nhất là năng suất lao động cần tăng lên 1,5 lần mới đảm bảo tái cấu trúc các tập đoàn tài chính – bảo hiểm tại Việt Nam (Nguồn: Hội thảo về tái cấu trúc các tập đoàn tài chính – bảo hiểm tại Việt Nam).
Phân chia loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ
Quy mô Doanh nghiệp
siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn
vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo ra những thách thức mới
trong kinh doanh Sản phẩm được thiết kế tại một quốc gia, sản xuất, lắp ráp tại quốc gia khác, thị trường là toàn cầu Các nhà sản xuất, phân phối và khách hàng ngày nay có quyền lựa chọn sản phẩm hàng hóa có chất lượng với giá cả phù hợp ở tất cả mọi nơi trên thế giới Xoá bỏ các hàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại làm cho các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại phát triển phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với qui
mô và phạm vi ngày càng lớn Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh Tình hình trên đã khiến cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chất lượng đã trở thành một “ngôn ngữ” phổ biến Để thu hút khách hàng, các tổ chức cần đưa chất lượng