Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tranh luận tại PTHS là sự biểu hiện tập trung cao độ nhất của quá trình tranh tụng dân chủ giữa bên buộc tội và bên bào chữa Tranh luận cũng là một thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự Thông qua hoạt động tranh luận, đối đáp được tiến hành một cách dân chủ, công khai và không bị giới hạn về thời gian tại phiên tòa giữa các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa, HĐXX có thể xác định đúng và đầy đủ về các tình tiết khách quan làm cơ sở để ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Tại Nghị quyết
số 08/NQ-TW ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 08-NQ/TW) đã chỉ
rõ: “…Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác …Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn,
bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…”
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 49-NQ/TW) tiếp tục
xác định một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp ở nước ta là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm
Trang 2của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lương tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”.
Trước khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, hoạt động thực hành quyền công tố của KSV tại PTHS chủ yếu tập trung vào việc đọc cáo trạng, trình bày lời luận tội mà chưa chú trọng đến việc tranh luận cũng như đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Nhằm khắc phục tình trạng này và kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2003 đã giành Chương XXI (từ Điều 217 - 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại PTHS Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên toà nói chung và của KSV nói riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét Hoạt động tranh luận, đối đáp của KSV để bác
bỏ các quan điểm không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không chỉ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan về các tình tiết của vụ án mà còn phần nào khắc phục được tình trạng xét
xử theo kiểu “án bỏ túi” tồn tại trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán gay gắt
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho thấy nhìn chung chất luợng, hiệu quả xét xử nói chung và hoạt động tranh luận tại các phiên toà hình sự nói riêng chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau như: BLTTHS hiện hành nói chung chưa quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng; các quy định về trình
tự, thủ tục tranh luận tại phiên toà nói riêng không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng; kỹ năng của đội ngũ TP, KSV
và LS còn nhiều hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao;…
Trang 3Liên quan đến vấn đề tranh luận tại PTHS đã có một số công trình khoa học quan tâm nghiên cứu ở phạm vi và mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề tranh luận như: về kỹ năng và văn hóa khi tranh luận; địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận; tranh luận tại PTHS sơ thẩm hoặc tại PTHS phúc thẩm,…mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
và đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về thủ tục tranh luận tại các PTHS Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và đầy đủ hơn về thủ tục tranh luận tại PTHS vẫn là cần thiết
Tất cả các luận cứ nêu trên chính là lý do để học viên lựa chọn đề tài
“Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự” để làm luận văn thạc sĩ luật học.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề tranh tụng nói chung và tranh luận tại PTHS nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau như: Luận văn
thạc sĩ luật học “Vấn đề tranh tụng trong Tố tụng hình sự” của Nguyễn Đức Mai (1996) ; “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” (2007) và “Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm” (2008) của TS Dương Thanh Biểu; Luận văn thạc sĩ luật học “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Nguyễn Hải Ninh (2003); Luận văn thạc sĩ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Bùi Thị Hà (2010) ; Luận văn thạc sĩ luật học “Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Hà Minh Hải (2007) ; “Hoàn thiện các quy
định củaBộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm - cơ sở lý luận và thực tiễn” Đề tài khoa học cấp cơ sở TANDTC
(2011), Chủ nhiệm - TS Nguyễn Đức Mai;…
Trang 4Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về
các vấn đề có liên quan đến tranh luận tại PTHS như: “Đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt Nam” của TS Nguyễn Đức Mai (2009),Tạp chí TAND,(23-24); “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về phạm vi tranh luận và chủ thể tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của ThS Hồ Đức Anh (2007), Tạp chí Kiểm sát,(20); “Cần nhận thức đúng đắn về tranh tụng và tranh luận để nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự” của ThS Nguyễn Hữu Hậu (2006), Tạp chí Kiểm sát, (8); “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của Th.s Phạm Quang Định (2009), Tạp chí Kiểm sát, (2); “Kỹ năng và văn hóa tranh luận tại phiên tòa” của LS Lê Đức Tiết (2005),Tạp chí Kiểm sát, (12); “Một số vấn đề về văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên tại phiên tòa” của TS Đinh Xuân Nam (2006), Tạp chí Kiểm sát,(8);…
Qua nghiên cứu các công trình nêu trên thấy rằng nhìn chung các tác giả mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh (nội dung) nhất định của vấn đề nghiên cứu như: về tranh luận của KSV, của người bào chữa nói chung hoặc
về tranh luận tại một PTHS (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ về vấn đề tranh luận tại các PTHS Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, đầy đủ hơn nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn tranh luận tại các PTHS qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS
và nâng cao chất lượng tranh luận tại các PTHS vẫn là nhiệm vụ rất cần thiết của khoa học luật TTHS
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trang 5Đề tài nghiên cứu những vấn lý luận về thủ tục tranh luận tại PTHS, chức năng và vai trò của các chủ thể trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, thực trạng tranh luận cũng như những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành để từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận tại PTHS.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thủ tục tranh luận tại PTHS, đưa
ra khái niệm tranh luận tại PTHS, chức năng và vai trò của các chủ thể cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại PTHS
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh luận tại PTHS; đánh giá thực trạng hoạt động tranh luận tại các PTHS và chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại PTHS
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ:
- Một số vấn đề lý luận về thủ tục tranh luận tại PTHS;
- Quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại PTHS;
- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các PTHS những năm gần đây và những bất cập, vướng mắc;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về thủ tục tranh luận cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại PTHS
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong nội dung của luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở một số vấn đề sau: Khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHS;
Trang 6chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận; nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại các PTHS và thực tiễn áp dụng Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành và nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên toà hình sự Mặt khác, để luận văn có tính chuyên sâu, tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu về tranh luận tại PTHS
sơ thẩm và phúc thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê
6 Kết quả nghiên cứu của đề tài
- Đưa ra khái niệm tranh luận tại PTHS; phân tích làm rõ chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận tại PTHS
- Thực trạng tranh luận và những vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về tranh luận tại PTHS
- Đề xuất sửa đổi một số quy định của BLTTHS và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng tranh luận tại PTHS
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về thủ tục tranh luận tại phiên tòa
hình sự
Chương 2 Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa hình sự và một số giải
pháp nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa hình sự
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TRANH LUẬN TẠI
PHIÊN TÒA HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự
1.1.1 Trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự
Trong phần tranh luận tại PTHS dưới sự giám sát của HĐXX và sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà, các chủ thể của bên buộc tội (KSV, người bị hại, nguyên đơn dân sự,…) và của bên bào chữa (người bào chữa, bị cáo, bị đơn dân sự,…) chính thức đưa ra các chứng cứ, các quan điểm, lập luận của mình
về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án để làm cơ sở cho HĐXX đưa ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy,
có thể nói tranh luận tại PTHS là phần trọng tâm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ quá trình xét xử vụ án Mặt khác, hoạt động tranh luận công khai của các bên tại PTHS còn là sự thể hiện rõ nét nhất bản chất dân chủ, bình đẳng và công bằng của tư pháp hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Để làm rõ tranh luận tại phiên toà, trước hết cần làm sáng tỏ các khái niệm, “thủ tục tranh luận” đồng thời cần phân biệt giữa hai khái niệm “tranh luận” và “tranh tụng” tại phiên toà hình sự
Theo Từ điển Luật học thì “Thủ tục tố tụng” là “Cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ
lý hoặc khởi tố theo quy định của pháp luật” [6, tr.729], còn “tranh luận” tại phiên toà là “Hoạt động của những người tham gia tố tụng (các bên) tại phiên toà, trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án” [6, tr.807] “Tranh luận trước Toà án là một phần xét xử vụ án tại phiên toà, trong đó Công tố viên, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ, người bào chữa
Trang 8(trường hợp không có người bào chữa thì bản thân bị cáo) phát biểu, phân tích các chứng cứ được đưa ra xem xét, trình bày kết luận của mình về vụ án” [30,
tr.251]
Như vậy, từ các nghĩa nêu trên thì “Trình tự tranh luận tại phiên toà hình sự có thể được hiểu là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành hoạt động tố tụng ở phần tranh luận tại phiên toà, trong đó các chủ thể của bên buộc tội và của bên bào chữa phát biểu ý kiến, phân tích các chứng cứ được đưa ra xem xét và trình bày kết luận của mình về vụ án” Hoạt động này của
các chủ thể tham gia tranh luận được xác định về mặt không gian, thời gian, được tiến hành theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định và chỉ kết thúc khi các chủ thể đã tìm ra lẽ phải - sự thật khách quan về vụ án
Thủ tục tranh luận tại các PTHS (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) được pháp luật quy định khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất xét xử vụ
án Theo nguyên tắc “Hai cấp xét xử”, sơ thẩm và phúc thẩm là hai cấp xét xử
vì vậy phần tranh luận tại hai phiên tòa này được nối tiếp sau khi kết thúc phần xét hỏi và bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội (tại phiên toà sơ thẩm) hoặc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án (tại phiên toà phúc thẩm) Tiếp theo bị cáo trình bày lời bào chữa sau đó nếu bị cáo có người bào chữa thì người này trình bày lời bào chữa và bị cáo bào chữa bổ sung; người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày, bổ sung ý kiến (Điều 217 và Điều 247 BLTTHS)
Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Mặt khác, việc triệu tập những người tham gia tố tụng không phải là bắt buộc mà chỉ khi xét thấy cần thiết, thì TA mới triệu tập họ đến phiên toà Vì vậy, trình tự tranh luận tại các phiên tòa này được quy định ngược lại so với ở phiên tòa sơ thẩm
Trang 9và phúc thẩm:…Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm (tái thẩm) phát biểu
ý kiến và đại diện VKS phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ
án Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi liên quan đến việc kháng nghị, thì họ có quyền trình bày ý kiến trước khi KSV phát biểu ý kiến…(Điều 282 và Điều 297 BLTTHS)
Luận tội là “xem xét, cân nhắc để định tội” [4, tr.1059] Như vậy, luận
tội của KSV được hiểu là hoạt động của KSV theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm Nếu cáo trạng (quan điểm của VKS truy tố bị can ra trước TA) là sự mở đầu cho giai đoạn xét xử vụ án hình sự, thì tại phiên toà sơ thẩm lời luận tội của KSV (hình thức pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án) là sự mở đầu cuộc tranh luận, đối đáp giữa các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa Ngoài việc trình bày lời luận tội, KSV còn phải đưa
ra những chứng cứ, lập luận của mình để đáp lại ý kiến của những người tham gia tranh luận về nội dung luận tội và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án
Theo Đại Từ điển TiếngViệt thì đối đáp là “trả lời lại” [11, tr.547] Như vậy, trong TTHS “đối đáp” được hiểu “là các quan điểm, luận cứ của Kiểm sát viên trong việc trả lời đối với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người tham gia tố tụng về luận tội; là sự trả lời đáp lại ý kiến giữa những người tham gia tranh luận” [9, tr.275]
Theo quy định tại Điều 218 và 247 BLTTHS thì KSV phải đáp lại tất
cả ý kiến của những người tham gia tranh luận đồng thời phải đưa ra những chứng cứ, lập luận của mình để phản bác ý kiến không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về lời luận tội (hoặc quan điểm về việc giải quyết vụ án) của VKS
Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ hoặc theo đề nghị của KSV, những người tham gia tranh luận hoặc Chủ tọa phiên tòa thấy
Trang 10cần phải quay trở lại việc xét hỏi thì HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi sau
đó việc tranh luận lại được thực hiện bình thường Tuy nhiên, để tránh kéo dài thời gian không cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể lưu ý đối với KSV và những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận những vấn đề mới phát sinh sau khi xét hỏi thêm Nếu những người tham gia tranh luận không còn ý kiến
gì khác, Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần tranh luận và cho phép bị cáo được nói lời sau cùng Như vậy, có thể nói rằng phần tranh luận tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm được kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng tức
là lời nói sau cùng của bị cáo không thuộc phần tranh luận tại phiên toà
Theo quy định tại Điều 280 và Điều 297 của BLTTHS, thì khi xét thấy cần thiết TA phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) Nếu đã triệu tập thì họ lại trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu Thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy các TA hầu như không triệu tập người bị kết án, người bào chữa và đương sự tham gia phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Như vậy, có thể rút ra một số nhận xét sau:
1) Tranh luận là một phần (bộ phận), một thủ tục bắt buộc của phiên toà
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình xét xử vụ án Các quan điểm khác nhau của các bên về vụ án giúp cho HĐXX có thể xác định được đầy đủ và toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án để có phán quyết đúng đắn, chính xác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án
2) Hoạt động tranh luận tại phiên toà được bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội (ở phiên toà sơ thẩm) hoặc quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án (ở phiên toà phúc thẩm) và kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng
Trang 113) Ý nghĩa và nội dung của tranh luận chỉ thể hiện một cách đầy đủ nhất tại phiên toà sơ thẩm Ở phiên toà phúc thẩm ý nghĩa và nội dung của nó bị hạn chế hơn (do phúc thẩm là cấp xét xử lại vụ án) Còn ở phiên toà giám đốc thẩm (tái thẩm) thì tranh luận hoàn toàn mang tính chất phiến diện (một chiều) do tính chất của nó là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào tính chất xét xử vụ án hình sự, có thể phân tranh luận tại phiên tòa thành: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm; Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm và tranh luận tại phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm)
1.1.2 Mục đích, phạm vi và nội dung tranh luận tại phiên tòa hình sự
* Mục đích: Mục đích của tranh luận tại PTHS là nhằm để tìm ra sự
thật khách quan của vụ án Dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, trên cơ
sở các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên toà và các quy định của pháp luật, các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận đề nghị của mình và bác bỏ quan điểm, lập luận của phía bên kia
Như vậy, có thể thấy rằng tranh luận tại PTHS có ý nghĩa và vai trò rất lớn đối với quá trình xét xử vụ án thể hiện ở một số điểm sau đây:
- Tranh luận tại phiên tòa thể hiện không chỉ tính minh bạch, công khai
và dân chủ của TTHS mà cả bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân,
do dân và vì dân
- Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn, góp phần xóa bỏ tình trạng xét xử theo kiểu “án bỏ túi’ đã tồn tại
Trang 12trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán, đồng thời nâng cao uy tín của VKS, TA cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý
* Phạm vi: Như đã trình bày ở trên, hoạt động tranh luận, đối đáp của
các chủ thể thuộc bên buộc tội và bào chữa tại PTHS được giới hạn về mặt không gian và thời gian Về mặt không gian, hoạt động tranh luận các chủ thể tại PTHS chỉ có thể được thực hiện tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự Về mặt thời gian thì thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV trình bày lời luận tội (ở phiên tòa
sơ thẩm) hoặc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án (tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm)
* Nội dung: Nội dung tranh luận tại PTHS bao gồm toàn bộ các quan
điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà đề nghị HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Phụ thuộc vào tính chất xét xử
vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) mà nội dung tranh luận này có thể khác nhau
Nội dung tranh luận của các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm hình sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án được quy định tại Điều 63 BLTTHS bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành
vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Tuy nhiên, tại phiên toà KSV có thể thay đổi nội dung buộc tội, tức là kết luận khác (so với quyết định truy tố) về nội dung, tính chất của hành vi
Trang 13phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, vai trò của bị cáo trong vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân điều kiện phạm tội, và đề xuất hướng giải quyết cụ thể về vụ
án Nội dung luận tội này của KSV (theo hướng có lợi cho bị cáo) là cơ sở để xác định giới hạn xét xử vụ án tại phiên toà Vì vậy, nội dung tranh luận, đối đáp của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chủ yếu tập trung vào các nội dung lời luận tội của KSV trình bày tại phiên toà
Nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm phụ thuộc vào nội dung kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản
án thì nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thẩm sẽ bao gồm tất cả vấn đề như ở phiên tòa sơ thẩm Trong trường hợp chỉ có kháng cáo, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm (về hình phạt, về phần dân sự hoặc xử lý vật chứng) thì nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thẩm chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn
đề liên quan đến phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, thì nội dung tranh luận này có thể bao gồm cả những vấn đề khác (ví dụ: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc có căn cứ để giảm nhẹ cho bị cáo, mặc dù trong kháng cáo, kháng nghị không đề cập đến vấn đề này)
Giám đốc thẩm (tái thẩm) không phải là một cấp xét xử mà chỉ là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Theo quy định của BLTTHS (Điều 282; Điều 297), nội dung tranh luận tại phiên toà này cũng bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị và được thể hiện trong quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án mà KSV trình bày trước Hội đồng giám đốc thẩm (tái thẩm) Trong trường hợp TA triệu tập người bị kết án, người bào chữa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị, thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu Các ý kiến này cũng chủ yếu xoay quanh nội dung kháng
Trang 14nghị Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm (tái thẩm)
vẫn tiến hành xét xử “Thực tiễn xét xử chỉ mới xảy ra một vài trường hợp Toà
án xét xử giám đốc thẩm người bị kết án, người bào chữa đến phiên tòa còn
những người khác thì chưa có” [23, tr.53] Như vậy, tại phiên tòa giám đốc
thẩm (tái thẩm) nội dung tranh luận cũng như phạm vi chủ thể tham gia tranh luận hẹp hơn rất nhiều so với phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm
Từ sự phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm về tranh luận tại PTHS
như sau: Tranh luận tại phiên tòa hình sự là một thủ tục (một phần) bắt buộc của phiên tòa hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm), trong đó các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập về hưóng giải quyết các vấn đề trong vụ án giúp cho Hội đồng xét xử ra phán quyết về
vụ án đúng pháp luật.
1.1.3 Tranh tụng và tranh luận tại phiên toà hình sự
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số NQ/TW, “tranh tụng” là một thuật ngữ, một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật của nước
08-ta (trước đây cũng như hiện nay) nói chung và trong BLTTHS năm 2003 nói riêng đều không đề cập gì về thuật ngữ này Vì vậy, trong khoa học luật TTHS có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về các khái niệm “tranh tụng”
và “tranh luận” tại phiên toà Có thể phân các quan điểm này thành ba nhóm
cơ bản sau đây:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng “Tranh tụng chính là quá trình tranh luận, trao đổi giữa các bên Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác nhau được cọ sát và chân lý khách quan xuất hiện” [12, tr.262 ] Theo quan
Trang 15điểm này thì “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa là hai khái niệm đồng nhất với sự tham gia đồng thời và đầy đủ của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và TA
- Quan điểm thứ hai cho rằng “Tranh tụng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ
để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định” [29, tr.2]
Còn “tranh luận” theo TS Nguyễn Thái Phúc được hiểu là :“Một thủ tục- một phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [19, tr.10]
Theo hai quan điểm này tranh tụng bao gồm không chỉ phần tranh luận tại phiên tòa mà còn cả các phần khác (xét hỏi và nghị án) của hoạt động xét
xử, trong đó phần tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện một cách tập trung và rõ nét nhất quá trình tranh tụng
- Quan điểm thứ ba cho rằng “tranh tụng” có nghĩa là “Sự kiện cáo nhau giữa hai bên (bên nguyên và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu
TA phân xử [31, tr.1288] “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm
và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài [6, tr.807-808] Chúng tôi
đồng tình với quan điểm này và cho rằng quá trình tranh tụng bao gồm toàn
Trang 16bộ quá trình xét xử vụ án tại PTHS bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi công bố phán quyết của Toà án [18, tr.12]
Như vậy, có thể khẳng định rằng “tranh tụng” và “tranh luận” tại PTHS
là các khái niệm không đồng nhất Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó “tranh tụng tại phiên tòa” là “cái chung” (tổng thể) và “tranh luận tại phiên tòa” là “cái riêng” (bộ phân cấu thành) Vì vậy, khái niệm
“tranh tụng tại phiên tòa” có nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các phần khác (thủ tục phiên toà, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá trình xét xử vụ án hình sự còn “tranh luận tại phiên toà” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng và là sự thể hiện một cách tập trung, rõ nét nhất của quá trình tranh tụng Sự khác nhau giữa hai khái niệm này được thể hiện ở
ba tiêu chí: về phạm vi (giới hạn), về chủ thể và về nội dung
* Về phạm vi: Tranh tụng tại PTHS được bắt đầu từ thời điểm khai mạc
phiên tòa và kết thúc sau khi HĐXX công bố phán quyết về vụ án Còn tranh luận tại PTHS được bắt đầu bằng lời luận tội hoặc phát biểu của KSV về quan điểm giải quyết vụ án và kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng
* Về chủ thể: Chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tại PTHS bao
gồm tất cả các chủ thể tham gia phiên toà: HĐXX; các chủ thể của bên buộc tội (KSV, bị hại, nguyên đơn dân sự,…); bên bào chữa (bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự,…) và những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền lợi của đương sự
So với các chủ thể tham gia tranh tụng, phạm vi các chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận tại PTHS hẹp hơn: chỉ bao gồm các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa dưới sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà Hội thẩm
và những người tham gia tố tụng khác không tham gia vào quá trình này
Trang 17* Về nội dung: Nội dung tranh tụng tại PTHS bao gồm tất cả các vấn
đề khác nhau cần giải quyết trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án (từ khi khai mạc cho đến khi kết thúc phiên toà) như: đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới, thay đổi thành viên HĐXX, KSV, Thư ký TA, người giám định, người phiên dịch, xem xét giải quyết việc hoãn phiên tòa,…(ở phần thủ tục phiên tòa); HĐXX
và các bên tham gia vào quá trình điều tra công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên toà (ở phần xét hỏi); các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình
về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật chứng,…) đề nghị HĐXX chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án (ở phần tranh luận); các thành viên HĐXX thảo luận về từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án, chấp nhận hay bác bỏ đề nghị cụ thể của các bên và ra phán quyết về vụ án theo quyết định đa số (ở phần nghị án)
So với tranh tụng, tranh luận tại PTHS có nội dung hẹp hơn rất nhiều và chỉ bao gồm các vấn đề mà các bên tranh luận, đối đáp với nhau ở phần tranh luận: quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật chứng,…) mà các bên đưa ra đề nghị HĐXX chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án
1.2 Chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận tại phiên tòa hình sự
Trong TTHS luôn luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản là: buộc tội, bào chữa và xét xử Mặt khác, tham gia vào quá trình TTHS nói chung và tại
Trang 18phiên toà hình sự nói riêng có rất nhiều chủ thể với vai trò, vị trí và tư cách tố tụng khác nhau cùng với các quyền, nghĩa vụ nhất định được pháp luật quy định Mỗi chủ thể này có thể tham gia (ở một mức nhất định) vào việc thực hiện một trong các chức năng cơ bản trong TTHS Ngoài ra, còn một số chủ thể khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) tham gia tố tụng không phải để thực hiện một chức năng cơ bản nào trong TTHS mà giúp cho các bên và Toà án trong quá trình giải quyết vụ án Vì vậy, theo căn cứ này có thể phân các chủ thể tham gia TTHS thành các nhóm cơ bản sau đây:
- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng buộc tội (bên buộc tội);
- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng bào chữa (bên bào chữa);
- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng xét xử (HĐXX);
- Các chủ thể tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…)
Tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên toà chỉ bao gồm các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và HĐXX để thực hiện ba chức năng cơ bản tương ứng trong TTHS là buộc tội, bào chữa và xét xử Tuy nhiên, ở phần này chỉ có hai chức năng buộc tội và bào chữa là được thực hiện một cách đầy đủ Còn chức năng xét xử mới được thực hiện một phần (làm trọng tài giữa hai bên tranh tụng), phần còn lại của chức năng xét xử (ra phán quyết về vụ án) chỉ được thực hiện khi nghị án
1.2.1 Chức năng và vai trò của Hội đồng xét xử trong tranh luận tại phiên tòa hình sự
Chức năng xét xử chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là TA Đây là vấn
đề không cần bàn cãi và được pháp luật của hầu hết các nước ghi nhận:
“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 BLTTHS) Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào hệ thống pháp luật và
cách thức tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nên vai trò của TA
Trang 19trong việc thực hiện chức năng xét xử được các quốc gia xác định không giống nhau Có thể phân hệ TTHS của các nước trên thế giới thành 3 mô hình (kiểu) tố tụng cơ bản là tố tụng tranh tụng, tố tụng thẩm vấn và tố tụng kết hợp (bán tranh tụng).
Tố tụng tranh tụng là mô hình được áp dụng chủ yếu ở các nước thuộc
hệ thống pháp luật án lệ như Anh, Mỹ,… Mô hình tố tụng này áp dụng triệt
để nguyên tắc tranh tụng, theo đó các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và xét xử) được phân định rõ ràng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và TA; TTHS chỉ bao gồm quá trình xét xử vụ án tại phiên toà Trách nhiệm chứng minh được phân đều cho các bên còn TA chỉ giữ vai trò là người trọng tài cầm trịch (điều khiển), giám sát quá trình tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết về
vụ án Bên cạnh ưu điểm (như thể hiện tính dân chủ, khách quan, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong TTHS) Mô hình tố tụng này cũng có nhược điểm là quá trình xét xử vụ án thường bị kéo dài; vai trò thụ động của TA; có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý oan người vô tội nếu không có khả năng tài chính để chi trả cho dịch vụ LS
Tố tụng thẩm vấn là mô hình tố tụng được áp dụng chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa như Đức, Pháp… Theo mô hình này, các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và xét xử) không được phân định rõ ràng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và TA; trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tư pháp hình sự; vai trò của Toà án không phải là người trọng tài cầm trịch (điều khiển), giám sát quá trình tranh tụng mà còn tích cực tham gia vào quá trình tranh tụng (ở phần xét hỏi) giữa các bên Kiểu
tố tụng này tuy có ưu điểm là điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng nhưng nó cũng bộc lộ nhược điểm là không bảo đảm tính dân chủ, khách quan, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa vì vậy dễ dẫn đến xử lý oan sai người
vô tội
Trang 20Nhằm khắc phục một số nhược điểm của hai kiểu tố tụng nêu trên, một
số nước như Nga, Pháp, Trung Quốc, Việt Nam, đã kết hợp một số yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng vào hệ tố tụng thẩm vấn truyền thống để tạo nên
mô hình tố tụng đan xen (bán tranh tụng) Theo mô hình này trách nhiệm chứng minh vẫn thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng vai trò của LS được coi trọng hơn TA chủ yếu là giữ vai trò điều hành quá trình điều tra công khai và tranh luận tại phiên toà thông qua hoạt động của các bên để xác định sự thật khách quan và ra phán quyết về vụ án
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chức năng xét xử của TA được thực hiện thông qua hoạt động của HĐXX trong đó Chủ tọa phiên toà có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm Tại phần tranh luận, vai trò của Chủ tọa phiên tòa thực sự là người trọng tài điều khiển để hướng hoạt động tranh luận, đối đáp của các bên (đưa ra chứng cứ, quan điểm, lập luận và đề nghị của mình) tập trung vào các vấn đề cần giải quyết trong vụ án Chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ điều khiển quá trình tranh luận, đối đáp theo đúng trình
tự pháp luật quy định và theo dõi chặt chẽ quá trình này để kịp thời yêu cầu KSV, người bào chữa,… đáp lại ý kiến của các chủ thể khác, nếu nó chưa được đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ khi tranh luận Ngoài ra, Chủ tọa phiên tòa còn phải ghi chép đầy đủ nội dung ý kiến của chủ thể tham gia tranh luận, không được hạn chế thời gian tranh luận của các bên nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến việc giải quyết vụ án
Các thành viên khác của HĐXX không tham gia vào quá trình này; không được thể hiện quan điểm của mình về bất cứ vấn đề gì thuộc các nội dung cần giải quyết trong vụ án mà có nhiệm vụ theo dõi, ghi chép ý kiến của các bên về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án; phát hiện và đề xuất kịp thời với Chủ tọa phiên tòa về những vấn đề các bên bỏ sót không tranh luận, đối
Trang 21đáp hoặc những tình tiết cần được xét hỏi bổ sung làm rõ Như vậy, với vai trò như là người trọng tài trong quá trình tranh luận, các thành viên HĐXX phải có thái độ khách quan, vô tư, tôn trọng và lắng nghe ý kiến trình bày của các bên mà không được có biểu hiện thiên vị hoặc định kiến với bất kỳ chủ thể nào; không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà KSV, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, cũng như không được nhận xét đúng hay sai ngay tại phiên tòa [32] Mọi ý kiến chấp nhận hay bác bỏ của HĐXX chỉ có thể được thể hiện trong phán quyết của mình về vụ án.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi
Nội dung tranh luận tại các phiên toà giám đốc thẩm (tái thẩm) phụ thuộc vào nội dung kháng nghị và ngoài Hội đồng giám đốc thẩm (tái thẩm), thông thường chỉ có đại diện VKS tham gia phiên toà (còn các thành phần khác ít khi được triệu tập) Vì vậy, vai trò của các thành viên HĐXX nói chung và của Chủ toạ phiên tòa nói riêng trong phần tranh luận rất hạn chế so với phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm
1.2.2 Chức năng và vai trò của các chủ thể thuộc bên buộc tội trong tranh luận tại phiên tòa hình sự.
Trong các chủ thể của bên buộc tội, KSV là chủ thể chính trong việc thực hiện chức năng buộc tội trong TTHS Tại phiên tòa KSV thay mặt Nhà nước thực hiện quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử Vì vậy, tranh luận và đáp lại ý kiến của các chủ thể khác tham gia tranh luận tại phiên toà không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của KSV
Trang 22Tại PTHS sơ thẩm, ngoài đọc bản cáo trạng và tham gia xét hỏi, mở đầu phần tranh luận KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn và đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án Như vậy, phụ thuộc vào diễn biến phiên toà tại phần xét hỏi, lời luận tội của KSV sẽ thực hiện theo một trong ba tình huống sau: giữ nguyên, thay đổi nội dung buộc tội (rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn) hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố
Có thể thấy rằng nếu quyết định truy tố (cáo trạng) của VKS là căn cứ phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thì lời luận tội của KSV tại phiên tòa sơ thẩm là cơ sở để các bên tiến hành tranh luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án Theo khoản 3 Điều 23 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC), thì việc luận tội phải đạt các yêu cầu sau:
- Phải hướng vào việc phân tích đánh giá các chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò, trách nhiệm và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đề xuất áp dụng pháp luật và vận dụng chính sách xử lý cho phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh bảo đảm logic và sắc bén
- Phải phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo; phân tích bác
bỏ những quan điểm không phù hợp với vụ án của những người tham gia tố tụng khác làm sáng tỏ sự thật, bảo vệ chính sách pháp luật, thể hiện tính đấu tranh và tính thuyết phục của luận tội Khi phân tích bác bỏ các quan điểm không phù hợp phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh Phải xác định
Trang 23nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật.
Ngoài việc luận tội KSV còn phải đưa ra chứng cứ, lập luận để bác bỏ ý kiến không có căn cứ của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tranh luận khác nhằm làm sáng tỏ các tình tiết và sự thật khách quan của vụ
án để bảo vệ quan điểm truy tố của VKS Việc đối đáp về từng vấn đề của KSV phải rõ ràng, chặt chẽ về pháp lý và có sức thuyết phục cao trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan, tránh suy luận chủ quan, mất bình tĩnh hoặc sử dụng lời lẽ không phù hợp với văn hoá pháp đình
Phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm được bắt đầu bằng lời phát biểu của KSV về quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án Nếu tại phiên tòa
sơ thẩm lời luận tội của KSV chủ yếu là bảo vệ quan điểm truy tố (cáo trạng) của VKS thì tại phiên tòa phúc thẩm quan điểm của KSV chủ yếu là đánh giá
về tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm, về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề xuất giải quyết vụ án (chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo) theo một trong các hướng: giữ nguyên, sửa hoặc hủy bản án
sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại hay đình chỉ vụ án Việc KSV đáp lại các ý kiến tranh luận của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng xoay quanh nội dung quan điểm của KSV về việc giải quyết vụ án Theo Điều 40 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC), thì quan điểm này phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
- Phải phân tích kháng cáo, kháng nghị có hợp lệ không? Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và việc xét hỏi tại phiên tòa để phân tích các nội dung được đề cập trong kháng cáo, kháng nghị và viện dẫn các quy
Trang 24định của pháp luật để đưa ra kết luận có căn cứ chấp nhận hay không chấp nhận đối với từng nội dung kháng cáo, kháng nghị;
- Phân tích, làm sáng rõ những vi phạm pháp luật về nội dung cũng như
về hình thức của bản án sơ thẩm; đánh giá về phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng thấy có căn cứ để xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo;
- Thể hiện rõ quan điểm của VKS về chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và nêu rõ lý do? Nếu chấp nhận (một phần hoặc toàn bộ) thì đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết đồng thời phải viện dẫn điều khoản cụ thể nào của BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác cần áp dụng
Ở phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) khi phát biểu quan điểm của VKS
về việc giải quyết vụ án, KSV tập trung phân tích về tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị
Ngoài KSV, các chủ thể khác thuộc bên buộc tội (người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng tham gia vào việc tranh luận Theo quy định của BLTTHS, những người này có các quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia tố tụng, trong đó có quyền trình bày
ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Thực tiễn cho thấy do hạn chế hiểu biết pháp luật và không có kỹ năng, kinh nghiệm nên việc tranh luận, đối đáp của các chủ thể này tại phiên toà có nhiều hạn chế (trừ trường hợp người bảo vệ quyền lợi của họ là LS)
1.2.3 Chức năng và vai trò của các chủ thể thuộc bên bào chữa trong tranh luận tại phiên tòa hình sự.
Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại PTHS bao gồm: bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ
Trang 25* Vai trò của bị cáo trong tranh luận tại phiên tòa hình sự:
So với các chủ thể khác thuộc bên bào chữa, thì bị can, bị cáo luôn là chủ thể giữ vị trí trung tâm và cũng là chủ thể có địa vị pháp lý bất lợi nhất
Vì vậy, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể này, pháp luật đã dành cho bị can, bị cáo rất nhiều quyền hạn trong quá trình TTHS nói chung
và ở tại PTHS nói riêng Theo quy định tại Điều 11 BLTTHS, thì bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa theo quy định của pháp luật Trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có khung hình phạt tử hình; bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn LS cử người bào chữa cho bị can, bị cáo (khoản 2 Điều 57 BLTTHS)
Trong phần tranh luận tại PTHS bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa Nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo và bị cáo có quyền bào chữa bổ sung Trường hợp bị cáo có nhiều người bào chữa thì một người trong số họ trình bày lời bào chữa và những người khác bào chữa bổ sung Thực tiễn cho thấy khả năng tự bào chữa của bị cáo tại phiên tòa có nhiều hạn chế do đa số họ đều là người dân bình thường, khả năng nhận thức
xã hội cũng như hiểu biết pháp luật còn hạn chế, điều kiện kinh tế khó khăn, tâm lý căng thẳng,…Vì vậy, sự giúp đỡ của người có trình độ chuyên môn và nắm vững pháp luật (LS) là một bảo đảm quan trọng để bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa của mình tại phiên toà hình sự nói chung và ở phần tranh luận nói riêng
* Vai trò của người bào chữa trong tranh luận tại phiên tòa hình sự:
Người bào chữa có thể là: LS; người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân (khoản 1 Điều 56 BLTTHS) Người
Trang 26bào chữa có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 BLTTHS Vai trò của người bào chữa (LS bào chữa) trong TTHS nói chung và tại phiên toà nói riêng rất quan trọng, đặc biệt là ở phần tranh luận Tại đây người bào chữa chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị cáo; giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN [13, tr.11] Ngoài ra,
sự tham gia của LS bào chữa tại phiên toà còn bảo đảm tính dân chủ, sự bình đẳng giữa các bên tranh tụng cũng như để mọi hành vi tố tụng được thực hiện tuân thủ các quy định của pháp luật
Khi tranh luận với KSV và những người tham gia tố tụng khác, người bào chữa đưa ra lí lẽ phân tích, đánh giá tính hợp pháp và độ tin cậy của các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên toà để làm cơ sở cho các lập luận của mình và đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của mình về sự
vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, về tội danh, điều khoản BLHS và hình phạt áp dụng; …, bác bỏ quan điểm của KSV và của các chủ thể khác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án
Ngoài bị cáo, người bào chữa, các chủ thể khác thuộc bên bào chữa (bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng có quyền tranh luận với KSV và các chủ thể khác về các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của mình Tuy nhiên, vai trò của họ trong việc thực hiện chức năng bào chữa nói chung và tranh luận tại PTHS nói riêng rất hạn chế (trừ người bảo vệ quyền lợi của họ là LS)
Tại phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) việc tranh luận giữa KSV và người bào chữa không đặt ra vì người bào chữa và những khác thường không được triệu tham gia phiên tòa Trường hợp có mặt thì người bào chữa được trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu
Trang 271.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa hình sự
Chất lượng và hiệu quả tranh luận tại các PTHS chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: sự hoàn thiện của pháp luật; trình độ chuyên môn; kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của TP, KSV; trình độ dân trí của những chủ thể khác tham gia tranh luận
1.3.1 Quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa hình sự
Như đã phân tích ở trên, PTHS nói chung và tranh luận tại phiên toà nói riêng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật TTHS quy định Nói cách khác các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên toà là cơ sở để các chủ thể tiến hành các hoạt động tố tụng khi tham gia vào quá trình tranh luận tại PTHS Các quy định này bao gồm không chỉ các quy định cụ thể về trình tự phát biểu khi tranh luận, đối đáp (Điều 217 và Điều 218) mà cả một số quy định mang tính nguyên tắc (các điều 9 - 11, 14, 19,…) và các quy định chung (các điều 37, 39, 40,…) của BLTTHS liên quan đến tranh luận tại PTHS Chúng tôi cho rằng các quy định của BLTTHS hiện hành có liên quan đến trình tự, thủ tục tranh luận, đối đáp tại PTHS có nhiều điểm không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong TTHS (ví dụ: quy định về việc Hội đồng vẫn tiến hành xét xử toàn bộ vụ án trong trường hợp tại phiên toà KSV rút một phần quyết định truy tố) hoặc chưa đầy
đủ, cụ thể và rõ ràng (ví dụ: trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội khi nào? sau KSV hay sau bị cáo (người bào chữa)? Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng các quy định này có nhiều bất cập và vướng mắc (chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ, cụ thể ở Chương 2) Điều đó không chỉ trực tiếp tác động đến hoạt động tranh tụng của các chủ thể mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả xét xử các vụ án nói chung
Trang 281.3.2 Trỡnh độ chuyờn mụn và kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phỏn, Kiểm sỏt viờn, Luật sư
Xét xử, thực hành quyền công tố, bảo vệ các quyền, lợi ích của thân chủ là nghề nghiệp của TP, KSV và LS - cỏc chủ thể giữ vai trũ quan trọng trong tranh luận tại phiờn tũa Vì vậy, để nâng cao chất lượng tranh tụng núi chung
và tranh luận tại PTHS núi riờng, các chủ thể này phải nắm vững kỹ năng nghề
nghiệp - “Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đú vào thực tế” [33, tr.501] Tuy nhiên, mỗi chủ thể này có chức năng,
nhiệm vụ khác nhau nên kỹ năng cụ thể của họ trong tranh luận tại PTHS cũng khác nhau, cụ thể là:
- Kỹ năng điều khiển quá trình tranh luận của Chủ toạ phiên toà;
- Kỹ năng trình bày lời luận tội và đối đáp của KSV;
- Kỹ năng trình bày lời bào chữa (hoặc bảo vệ quyền lợi cho đơng sự) và tranh luận với KSV và các chủ thể khác
Tuy nhiên, các kỹ năng nêu trên đều bao gồm hai yếu tố :
- Những hành vi tố tụng là những hành vi mà pháp luật quy định bắt
buộc chủ thể phải thực hiện tại phiên toà theo một trình tự nhất định (ví dụ: sau khi kết thúc phần xét hỏi, Chủ toạ yêu cầu KSV trình bày lời luận tội) mà không đợc thêm bớt hoặc thay đổi
- Những thao tác nghiệp vụ là những tác nghiệp cụ thể của chủ thể nhằm
cụ thể hoá các hành vi tố tụng (làm nh thế nào) để nâng cao chất lợng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Ví dụ: trình bày lời luận tội
là hành vi tố tụng bắt buộc đối với KSV còn trình bày lời luận tội nh thế nào là thao tác nghiệp vụ của KSV
Hai yếu tố trên liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển kỹ năng của chủ thể, trong đó các hành vi tố tụng
là cơ sở, nền tảng để phát triển các thao tác nghiệp vụ và ngợc lại các thao tác
Trang 29nghiệp vụ là sự cụ thể hoá hành vi tố tụng trong từng trờng hợp cụ thể Mặt khỏc, kỹ năng của mỗi chủ thể trên lại phụ thuộc vào trình độ chuyên môn (nhận thức pháp luật nội dung và tố tụng liên quan) của chủ thể đó Ngoài cỏc yếu tố đó phõn tớch trờn, chất lợng tranh luận tại phiên toà cũn bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khỏc như: đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của KSV, TP, LS; chế
độ đãi ngộ đối với họ; điều kiện làm việc; trỡnh độ dõn trớ của những người tham gia
tố tụng;…
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của luận văn tập trung phõn tớch một số vấn đề lý luận về thủ tục tranh luận tại PTHS: khỏi niệm tranh luận tại PTHS; chức năng, vai trũ của cỏc chủ thể trong tranh luận và cỏc yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiờn tũa
Trờn cơ sở làm rừ khỏi niệm thủ tục tranh luận tại PTHS, tỏc giả đi sõu phõn tớch về mục đớch, ý nghĩa, trỡnh tự, phạm vi và nội dung của tranh luận tại phiờn tũa; phõn biệt tranh tụng và tranh luận tại PTHS
Tỏc giả làm sỏng tỏ chức năng và vai trũ của từng chủ thể tham gia vào quỏ trỡnh tranh luận tại PTHS: cỏc thành viờn của HĐXX; cỏc chủ thể thuộc bờn buộc tội và cỏc chủ thể thuộc bờn bào chữa
Ngoài ra, trong Chương 1 tỏc giả cũn phõn tớch làm rừ một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của tranh luận tại PTHS làm cơ sở cho việc đỏnh giỏ những tồn tại, hạn chế của hoạt động này trong thực tiễn xột xử
ở Chương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TIỄN TRANH LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ
2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về tranh luận tại phiên tòa
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến khi ban hành BLTTHS năm 1988, các vấn đề (các nguyên tắc và quy định cụ thể) liên quan đến tranh tụng nói chung và tranh luận tại PTHS nói riêng được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau (chủ yếu là văn bản dưới luật) do Nhà nước ban hành như: Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946; Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980; Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960; Thông tư số 22/HCTP ngày 18/12/1957; Đề án về trình tự xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự năm 1964, Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974;… Các quy định trong các văn bản pháp luật này chính là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng nói chung và các quy định liên quan đến tranh tụng, tranh luận tại các PTHS nói riêng
BLTTHS năm 1988 (BLTTHS đầu tiên của nước ta) đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên, sau gần 15 năm thực hiện (mặc dù đã được 3 lần sửa đổi bổ sung vào các năm
1990, 1992 và 2000), các quy định của BLTTHS năm 1988 nói chung và các quy định liên quan đến tranh luận tại phiên toà nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế không đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước trong tình hình mới Vì vậy, ngày 26/11/2003 kỳ họp thứ 4 Quốc Hội khóa XI đã thông qua BLTTHS mới (gọi là BLTTHS năm 2003 gồm 08 phần, 37 chương, 346 điều) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Sau khi Bộ luật này được ban
Trang 31hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản dưới luật (các Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004, số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004, số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 hướng dẫn thi hành Phần thứ nhất “Những quy định chung”, Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm”, Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”;…) nhằm tạo sự thống nhất nhận thức
và áp dụng các quy định của Bộ luật này trong thực tiễn
Các quy định trong BLTTHS hiện hành liên quan đến tranh luận tại phiên tòa bao gồm: một số quy định mang tính nguyên tắc của TTHS, một số quy định chung và các quy định cụ thể tại Chương XXI (Điều 217-221) của
c«ng d©n trong TTHS nhằm đạt được mục đích đặt ra “Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” (Điều 1 BLTTHS), hoạt động TTHS
phải triệt để tuân thủ các nguyên tắc mà pháp luật quy định
Là một hoạt động tố tụng, tranh luận tại phiên tòa cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của TTHS, đặc biệt là một số nguyên tắc liên quan đến việc bảo đảm cho hoạt động tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa nhằm giúp HĐXX xác định được sự thật khách quan và ra phán quyết đúng đắn, chính xác và có tính thuyết phục cao về vụ án Các nguyên tắc bao gồm: Bảo đảm quyền bình đẳng trước TA; Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; xác định sự thật của TA; suy đoán vô tội;…
Trang 32- “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” (Điều 19 BLTTHS):
Nguyên tắc này là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc Hiến định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” và được thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn xét xử vụ án tại phiên tòa Theo nguyên tắc này thì “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu
và tranh luận dân chủ trước Tòa án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho
họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án” Nguyên tắc đòi hỏi TA phải tôn trọng quyền của những người tham gia tố tụng không phân biệt người đưa ra chứng cứ là KSV hay bị cáo, người bị hại… TA là người trọng tài công minh giữa bên buộc tội và bên bào chữa và phải có thái độ khách quan trong đánh giá toàn diện, đầy đủ các chứng cứ về
vụ án mà các bên đưa ra để có phán quyết phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án Quy định này phần nào đã khắc phục được tính hình thức, thiếu dân chủ và không bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trình xét xử nói chung và trong tranh luận tại phiên toà nói riêng
- “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (Điều
11 BLTTHS) Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 132 Hiến pháp 1992
(đã được sửa đổi, bổ sung) và “Có ý nghĩa quan trọng không chỉ để bảo vệ lợi ích của bị can, bị cáo mà còn để nâng cao uy tín của việc xét xử, để tạo sự tin tưởng đối với việc xét xử của Tòa án” [27, tr.15] Theo nguyên tắc này, thì
ngoài quyền tự bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có quyền nhờ người khác (LS, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân) bào chữa cho mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm để bị can, bị cáo có thể thực hiện được quyền này
Sự tham gia của người bào chữa (đặc biệt là LS) vào quá trình TTHS nói chung và tại phiên toà nói riêng không chỉ bảo đảm sự bình đẳng thực tế
Trang 33giữa bên buộc tội và bên bào chữa mà còn là điều kiện quan trọng để bị cáo
có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình trong quá trình xét xử vụ án cũng như trong tranh luận tại PTHS; bảo đảm để HĐXX có thể xác định được
sự thật khách quan và có phán quyết chính xác về vụ án; góp phần bảo vệ pháp chế XHCN
- “Xác định sự thật của Tòa án” (Điều 10 BLTTHS) Theo nguyên tắc
này thì “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo” Ngoài ra, nguyên tắc này còn xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội
Tuy nhiên, cần nhận thức đúng về trách nhiệm chứng minh của TA là nhằm thực hiện chức năng xét xử chứ không phải để buộc tội bị cáo Mặt khác, hoạt động chứng minh tại phiên toà là cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra, đánh giá độ tin cậy, tính khách quan và tính liên quan của tất cả chứng cứ được thu thập về vụ án làm cơ sở để HĐXX xác định sự thật khách quan và ra phán quyết chính xác về vụ án Vì vậy, HĐXX có thể thực hiện trách nhiệm này bằng cách trực tiếp xét hỏi hoặc gián tiếp thông qua hoạt động xét hỏi của các bên
- “Suy đoán vô tội” (Điều 9 BLTTHS): Nội dung của nguyên tắc này
“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” đòi hỏi sự khách quan, vô tư của HĐXX trong quá trình xét xử vụ
án tại phiên toà, không được phép định kiến về sự có tội của bị cáo cho đến khi bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật Nó bảo đảm tính khách quan, vô tư trong việc đánh giá chứng cứ, xem xét các ý kiến tranh luận của
Trang 34cỏc bờn cũng như khi HĐXX nghị ỏn để ra phỏn quyết Mọi chứng cứ về vụ
ỏn được thu thập hoặc được bổ sung tại phiờn tũa đều phải được thẩm tra cụng khai đầy đủ mà khụng được xem nhẹ chứng cứ nào; trong quỏ trỡnh xột xử cũng như tranh luận tại phiờn toà, cỏc thành viờn HĐXX phải tiến hành cỏc thủ tục theo đỳng quy định của phỏp luật và phải luụn coi bị cỏo là người khụng cú tội
Ngoài ra, cỏc nguyờn tắc khỏc của TTHS (như: Bảo đảm phỏp chế XHCN, tụn trọng và bảo vệ cỏc quyền cơ bản của cụng dõn; Thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong TTHS;…) cũng chi phối ở phạm vi và mức độ nhất định đến quỏ trỡnh xột xử vụ ỏn núi chung và tranh luận tại phiờn toà núi riờng
2.1.2 Cỏc quy định chung của Bộ luật Tố tụng hỡnh sự liờn quan đến tranh luận tại phiờn tũa hỡnh sự
Cỏc quy định chung này bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể tham gia tranh luận tại phiờn toà, cụ thể là:
- Điều 37 BLTTHS (quyền hạn và trỏch nhiệm của KSV tham gia phiờn
toà; thực hiện việc luận tội; phỏt biểu quan điểm về việc giải quyết vụ ỏn, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiờn toà; kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong hoạt động xột xử của TA, của những người tham gia tố tụng); Điều 39 và 40 (quyền hạn và trỏch nhiệm TP và Hội thẩm tham gia xột
xử cỏc vụ ỏn hỡnh sự; tiến hành cỏc hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của HĐXX);
- Các điều 50-54, 58 và 59 BLTTHS (quyền của bị cỏo, người bị hại, nguyờn đơn dõn sự, bị đơn dõn sự, người cú quyền lợi nghĩa vụ liờn quan đến
vụ ỏn; hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; quyền của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự);
Trang 35- Cỏc điều 63 - 78 BLTTHS (chứng cứ và chứng minh);
- Điều 98 và Điều 99 BLTTHS (ỏn phớ và trỏch nhiệm chịu ỏn phớ);
2.1.3 Cỏc quy định cụ thể tại Chương XXI của Bộ luật Tố tụng hỡnh sự về tranh luận tại phiờn tũa hỡnh sự
- Điều 217 Trỡnh tự phỏt biểu khi tranh luận: “1 Sau khi kết thỳc việc
xột hỏi tại phiờn tũa, Kiểm sỏt viờn trỡnh bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cỏo theo toàn bộ hay một phần nội dung cỏo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy khụng cú căn cứ để kết tội thỡ rỳt toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xột xử tuyờn bố bị cỏo khụng cú tội…
, nếu cú người bảo vệ quyền lợi cho họ thỡ người này cú quyền trỡnh bày, bổ sung ý kiến”
- Điều 218 Đối đáp: “Bị cáo, ngời bào chữa và những ngời tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến
….Chủ tọa phiờn tũa cú quyền đề nghị Kiểm sỏt viờn phải đỏp lại những ý kiến cú liờn quan đến vụ ỏn của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khỏc mà những ý kiến đú chưa được Kiểm sỏt viờn tranh luận”
- Điều 219 Trở lại việc xột hỏi: “Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem
xột thờm chứng cứ thỡ Hội đồng xột xử cú thể quyết định trở lại việc xột hỏi Xột hỏi xong phải tiếp tục tranh luận”
- Điều 221 Xem xột việc rỳt quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn: “1 Khi Kiểm sỏt viờn rỳt một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về
tội nhẹ hơn thỡ Hội đồng xột xử vẫn tiếp tục xột xử vụ ỏn