63 2.2.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ 3.1 NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC 3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH TRANG
THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH TRANG
THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH TRANG
THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2008
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI
1.1 KHÁI NIỆM THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM; VỊ TRÍ, VAI TRÕ, Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG
1.2.1 NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ XÉT XỬ CÓ HỘI
1.2.2 NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ
1.2.3 NGUYÊN TẮC TOÀ ÁN XÉT XỬ TẬP THỂ VÀ QUYẾT
1.2.5 NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC
Trang 51.3.2 THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ CỦA
CHƯƠNG 2:QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM VÀ
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG
2.1.3.1 CÁC Ý KIẾN PHÁT BIỂU KHI TRANH LUẬN 56
2.1.3.4 CÁC QUYẾT ĐỊNH TRONG PHẦN TRANH LUẬN 59
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003
VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
Trang 62.2.1 CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 63 2.2.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY
ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ
3.1 NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỦ TỤC
3.2.1 YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ
3.2.2.1 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ
3.2.2.2 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ
3.2.3.1 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ,
PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN
Trang 73.2.3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ,
3.2.3.3 PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƢ CẢ VỀ SỐ LƢỢNG,
CHẤT LƢỢNG, NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA LUẬT SƢ TRONG TỐ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự 61
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đều khẳng định chức năng của Toà án là cơ quan xét xử của nhà nước Điều 127 Hiến pháp hiện hành quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Toà án xét xử những vụ án hình
sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Chức năng xét xử vụ án hình sự của Toà án được thể hiện rõ ràng, tập trung nhất tại phiên toà Thông qua việc xét xử trực tiếp, công khai tại phiên toà, Toà án ra bản án, quyết định giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án hình sự Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau từ giai đoạn khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử đến giai đoạn thi hành bản án và do nhiều cơ quan tiến hành Các giai đoạn này đều có một vị trí, vai trò nhất định trong việc tìm ra sự thật của vụ án Trong đó, hoạt động xét xử của Toà án là rất quan trọng, được coi là trung tâm của quá trình tố tụng hình sự Tất cả các hoạt động khởi tố, điều tra nhằm phục vụ cho việc xét xử của Toà án và đều được thể hiện một cách công khai tại phiên toà
Một phiên toà nghiêm trang, được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định sẽ bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện được vai trò, vị thế của toà án “Nhân danh nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, không bỏ lọt tội phạm , không làm oan người vô tội
Thực tiễn cho thấy mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự mới ban hành năm
2003 đã có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, song vẫn còn nhiều
Trang 10điểm bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay Hiện tượng vi phạm các quy định về thủ tục tố tụng vẫn xảy ra ở nhiều phiên toà gây thiệt hại đến quyền , lợi ích của những người tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến kết quả xét xử
Một trong những nhiệm vụ của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay theo tinh thần của Nghị quyết số 49 ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đó là phải “Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp và thực trạng
tổ chức, tiến hành phiên toà hình sự, việc nghiên cứu đề tài :” thủ tục tố tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự” là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xét xử, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Toà án nhân dân là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước ở nước ta Do đó, có rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đã quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này Song các tác giả chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ về thẩm quyền xét xử của toà án, về vai trò, vị trí của toà án trong bộ máy nhà nước Đối với vấn đề về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, hiện nay mới chỉ có công trình nghiên cứu cấp bộ của Toà án nhân dân tối cao về “Vấn
đề tổ chức phiên toà và việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng tại phiên toà” Công trình này được hoàn thành vào năm 1999, tức là trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự mới năm 2003, do đó ít nhiều đã không còn
Trang 11Liên quan đến vấn đề này cũng có một số bài viết bao gồm: “ vai trò của hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên toà” của Thạc sỹ Đinh Văn Quế
- Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao (Tạp chí Toà án nhân dân số
1 tháng 1/2004); vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự của Ngô Hồng Phúc - Chánh toà hình sự- Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây (Tạp chí Toà án nhân dân số 2/2003); về việc thực hiện thủ tục xét hỏi kết hợp với tranh tụng tại phiên toà của Huỳnh Sáng- Chánh án toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà (Tạp chí Toà án nhân dân số 3 tháng 2/2004 ); thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Luận văn thạc sỹ luật học của Tôn Thất Cẩm Đoàn năm 2003)
Các bài viết của các tác giả nói trên mới chỉ đề cập đến một giai đoạn của quá trình xét xử vụ án hình sự Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về vấn đề thực hiện các quy định pháp luật tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự mới cũng như yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay bao gồm các giai đoạn xét hỏi, tranh luận, nghị án, tuyên án
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục đích chính sau đây:
- Thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn
đề lý luận về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm nhằm đưa ra khái niệm , lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm tố tụng; khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cũng như pháp luật một
số nước trên thế giới
- Đánh giá một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về thực trạng áp dụng các quy định về thủ tục tố tụng hình sự tại phiên toà sơ thẩm ở nước ta hiện nay
Trang 12- Thông qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đưa ra những kiến nghị giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm hoàn thiện các thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm phục vụ nhiệm vụ cải cách tư pháp ở nước ta
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Đề tài tập trung nghiên cứu về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, thực tiễn áp dụng các quy định đó và các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Luận văn đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn…
5 Cái mới về mặt khoa học:
- Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm
- Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này
Bố cục của luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục tố tụng tại phiên
toà xét xử vụ án hình sự
- Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thủ tục
tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng
Trang 13- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thủ tục tố tụng
tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN
TOÀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 KHÁI NIỆM THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM; VỊ TRÍ, VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm
Trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đem lại sự bình ổn cho
đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã sử dụng nhiều hình thức, biện pháp, công
cụ khác nhau Một trong những biện pháp tương đối hiệu quả có tác dụng răn
đe mạnh mẽ đó là việc ban hành các văn bản pháp luật quan trọng như đề ra các quy định về tội phạm và hình phạt trong Bộ luật Hình sự áp dụng đối với
những hành vi vi phạm và người vi phạm pháp luật và Bộ luật Tố tụng hình
sự quy định trình tự thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Thực hiện nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận
trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, bảo đảm “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”
(Điều 3 BLHS năm 1999) Bộ luật tố tụng hình sự đã khẳng định :”Mọi hoạt
động tố tụng hình sự phải tiến hành theo quy định của Bộ luật này” Như vậy
là để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật bắt buộc phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và do nhiều cơ quan khác nhau tiến hành Tất cả các hoạt động tố tụng của các cơ quan này đều phải được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật đã quy định
Trang 14Theo từ điển tiếng Việt năm 2004 của Viện ngôn ngữ học, thủ tục được
hiểu là “những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức“.[48]
Tố tụng là việc “Tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử các vụ án hình sự “
Phiên toà là “ Lần họp để xét xử cuả Toà án”
Sơ thẩm là “Xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp nhất”
Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như quyền lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Thông thường, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối với mọi vụ án hình sự Trên cơ sở Cáo trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, Toà
án cấp sơ thẩm lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể được đưa ra xét xử phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Dù ở giai đoạn nào thì việc xét xử cũng phải tuân theo một thủ tục nhất định đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi Toà án nhận được bản Cáo trạng và hồ sơ vụ án do Viện Kiểm sát chuyển sang Pháp luật tố tụng hình sự thường quy định một khoảng thời gian nhất định cho Toà án nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc mở phiên toà sơ thẩm Trước hết, Toà án phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét
xử của mình hay không Nếu qua nghiên cứu thấy không thuộc thẩm quyền, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà sẽ đề nghị Chánh án Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền Trong trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền, Toà án sẽ tiếp tục tiến hành các công việc khác và có thể ra một trong
Trang 15tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quá trình xét xử vụ án hình sự phải có sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Trong số những người này có những người mà sự có mặt của họ là bắt buộc, không thể thiếu nhưng cũng có những người họ có mặt tại phiên toà hay không cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc giải quyết vụ án Tính chất bắt buộc hay không bắt buộc đối với việc tham gia phiên toà cuả những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
có sự khác nhau giữa các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng và các nước theo mô hình tố tụng thẩm vấn Cần phải khẳng định rằng mô hình tố tụng của Việt Nam là kiểu tố tụng thẩm vấn có chứa đựng một số nội dung tranh tụng
Do đó, BLTTHS của chúng ta cũng có quy định về những người cần có mặt tại phiên toà khác với các nước khác BLTTHS năm 2003 quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm Các thành viên của Hội đồng xét xử phải có mặt từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà Nếu có thẩm phán hoặc Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử được thì phải có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết thay thế Những người này cũng phải có mặt tại phiên toà
từ đầu thì mới được tham gia xét xử Trong trường hợp không có thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết thay thế hoặc phải thay đổi chủ toạ phiên toà thì Toà án phải hoãn phiên toà và vụ án phải được xét xử lại từ đầu Quy định này nhằm bảo đảm cho thành phần Hội đồng xét xử phải có mặt xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án, có như vậy mới nắm bắt được toàn bộ diễn biến phiên toà, từ đó có được các quyết định đúng đắn
Sự tham gia của Kiểm sát viên trong phiên toà hình sự sơ thẩm cũng mang tính bắt buộc Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định:
“Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những quyền hạn sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
Trang 16hoạt động xét xử của Toà án nhân dân Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sảt các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật…” Như vậy, có thể thấy bên cạnh
quyền công tố, truy tố người phạm tội trước Toà án, Kiểm sát viên tham gia phiên toà còn có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tham gia tố tụng cũng như đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành đúng pháp luật Do đó, BLTTHS năm 2003 quy định kiểm sát viên cùng cấp phải tham gia phiên toà Nếu vụ
án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì có thể có hai kiểm sát viên cùng tham gia Trong trường hợp kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp
Sự có mặt của bị cáo tại phiên toà vừa là nghĩa vụ đồng thời cũng là quyền Họ có nghĩa vụ tham gia phiên toà vì họ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự Tuy nhiên, việc họ có mặt tại phiên toà cũng là quyền để họ có thể tự bào chữa cho mình trước Toà Vì vậy, Toà án phải triệu tập bị cáo đến phiên toà Nếu bị cáo không có mặt tại phiên toà thì chủ toạ phiên toà phải kiểm tra xem
họ đã nhận được giấy triệu tập hay chưa? Trường hợp họ không được giao giấy triệu tập hợp lệ và họ có yêu cầu thì Toà án phải hoãn phiên toà Nếu bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải Tuy nhiên, Toà án cũng có thể xử vắng mặt bị cáo trong trường hợp bị cáo trốn tránh và việc truy
nã không có kết quả; bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên toà; bị cáo đã được giao giấy triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt mà
sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử
Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên toà để làm nhiệm vụ bào chữa cho bị cáo, giúp đỡ bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định Sự có mặt của người bào chữa sẽ đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, đảm bảo cho việc tranh tụng công khai trước phiên
Trang 17mọi vụ án Chỉ trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc trường hợp bị cáo bị truy tố đưa ra xét
xử về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS năm
1999 thì bắt buộc phải có sự tham gia của ngưòi bào chữa Nếu người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp này nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần, nếu cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đều từ chối người bào chữa thì Toà án vẫn tiến hành xét xử không có người bào chữa Việc từ chối nhờ người bào chữa phải được ghi vào biên bản phiên toà Nếu chỉ có bị cáo hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án có sự tham gia của người bào chữa đã được cử Còn trong các trường hợp khác, người bào chữa
có thể gửi trước bản bào chữa cho Toà án và dù họ có vắng mặt thì Toà án vẫn mở phiên toà xét xử Tuy nhiên, nếu người bào chữa có lý do chính đáng như bị ốm, thiên tai, khó khăn về tàu xe…mà không thể có mặt tại phiên toà thì có quyền yêu cầu Toà án hoãn phiên toà Tuỳ từng vụ việc cụ thể, Toà án
sẽ quyết định có hoãn phiên toà hay không [12]
Pháp luật tố tụng hình sự quy định sự tham gia của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ nhằm bảo đảm cho những người này có điều kiện bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, trong trường hợp họ vắng mặt tại phiên toà thì tuỳ từng trường hợp cụ thể, Hội đồng xét xử có thể quyết định vẫn tiến hành xét xử nếu sự vắng mặt của người đó không trở ngại cho việc xét xử, họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra…Hội đồng xét xử cũng có thể quyết định hoãn phiên toà nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt mà gây trở ngại cho việc xét xử, lời khai của họ là quan trọng để giải quyết chính xác
Trang 18được vấn đề bồi thường thiệt hại và việc bồi thường đó không thể tách thành
vụ án dân sự thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà
Người làm chứng phải có mặt tại phiên toà nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, bảo đảm cho các chứng cứ được kiểm tra, xác minh trực tiếp, công khai Sự có mặt của người làm chứng tại phiên toà có vai trò rất quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án Do đó, nếu người làm chứng về những vấn
đề quan trọng vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử Trong thực tế, nếu vắng mặt người làm chứng thì Toà án có thể công bố những lời khai của họ tại cơ quan điều tra nếu lời khai này rõ ràng và Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ
Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên toà khi được Toà án triệu tập Như vậy, sự tham gia phiên toà của người giám định không phải là bắt buộc đối với mọi vụ án mà chỉ khi có yêu cầu của Toà án Thông thường, Toà
án triệu tập người giám định khi kết luận giám định chưa rõ ràng cần có sự giải thích thêm hoặc kết luận giám định mâu thuẫn với các chứng cứ khác có trong vụ án…Khi Toà án đã triệu tập mà người giám định vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử
Tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ điều khiển việc xét xử tại phiên toà lần lượt theo các thủ tục sau: thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên toà, thủ tục tranh luận tại phiên toà, thủ tục nghị án và thủ tục tuyên án Hầu hết các vụ án sự đều phải trải qua tất cả các thủ tục trên, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt được áp dụng thủ tục rút gọn Kết quả cuối cùng của việc xét xử tại phiên toà là Toà án ra bản án, quyết định tuyên bị cáo có phạm tội hay không, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác được áp dụng đối với bị cáo Có thể nói, bản án là văn bản
tố tụng có ý nghĩa chính trị, xã hội pháp lý quan trọng, làm phát sinh hiệu lực
Trang 19Cá nhân, cơ quan tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phảI chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án Do đó, bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án sau khi đã xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ cũng như nghe ý kiến của người tham gia
tố tụng, của kiểm sát viên
Phiên toà sơ thẩm ở các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng có nhiều điểm khác so với các nước theo mô hình tố tụng thẩm vấn Tại các nước theo
mô hình tố tụng tranh tụng, sự tham gia của luật sư vào mỗi phiên toà là bắt buộc bởi lẽ trong quá trình giải quyết vụ án theo kiểu tố tụng tranh tụng, quyền lực được san sẻ cho Công tố viên - đại diện cho bên buộc tội và Luật sư
- đại diện cho bên gỡ tội Tố tụng tranh tụng đề cao vai trò của luật sư và việc tranh luận giữa luật sư và công tố viên là hoạt động chủ yếu, là tâm điểm của một phiên toà Phiên toà xét xử chính là giai đoạn điều tra vụ án Do đó, Thẩm phán không được nghiên cứu hồ sơ vụ án trước mà mọi chứng cứ, lập luận đều được đưa ra tại phiên toà Thẩm phán sẽ ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ và các lý lẽ mà các bên đưa ra tại phiên toà Phiên toà sơ thẩm do đó cũng kéo dài hơn so với phiên toà sơ thẩm theo mô hình tố tụng thẩm vấn bởi thực chất phiên toà chính là hoạt động điều tra công khai và chứng minh của các bên Trong khi phiên toà sơ thẩm theo mô hình tố tụng thẩm vấn Thẩm phán được quyền nghiên cứu hồ sơ từ trước trên cơ sở kết luận điều tra của
Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát
Phiên toà sơ thẩm cũng có những nét khác biệt so với phiên toà phúc thẩm Để bảo đảm tính dân chủ, nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho Toà án cấp trên sửa chữa, khắc phục những sai lầm nếu có của Toà án cấp dưới, pháp luật tố tụng hình sự quy định sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ, người bào chữa có quyền kháng cáo Viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị đối với bản án hoặc một phần bản án đó Trên cơ sở đó, Toà án
Trang 20cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Khác với phiên toà sơ thẩm xem xét toàn bộ vụ án, phiên toà phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị
và chỉ xem xét toàn bộ vụ án nếu xét thấy cần thiết Do mục đích của cấp xét
xử phúc thẩm là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án sơ thẩm nên các thành viên của Hội đồng xét xử phải có trình độ chuyên môn cao BLTTHS năm 2003 quy định thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm phải gồm ba thẩm phán, trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm Giống như phiên toà sơ thẩm sự tham gia của kiểm sát viên cùng cấp là bắt buộc Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên toà Nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt, trong các trường hợp khác thì phải hoãn phiên toà Còn những người khác như người không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, người làm chứng…sự tham gia phiên toà của họ do Toà án cấp phúc thẩm quyết định, nếu thấy sự có mặt của
họ là cần thiết Phiên toà phúc thẩm cũng được tiến hành như phiên toà sơ thẩm tức là cũng bao gồm thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên toà, thủ tục nghị án, thủ tục tuyên án Tuy nhiên, ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà, Toà cấp phúc thẩm chỉ kiểm tra căn cước của bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị Trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên không đọc bản Cáo trạng mà một thành viên Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung
vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị Trong phần xét hỏi chủ yếu tập trung vào làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Tại phần tranh luận, kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ
Trang 21Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành Tuy nhiên, nếu những bản án này bị phát hiện có vi phạm pháp luật như việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ, kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố , xét xử…thì Chánh án Toà án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát từ cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên có quyền kháng nghị Khi đó, Toà án có thẩm quyền sẽ mở phiên toà giám đốc thẩm Khác với phiên toà sơ thẩm, tại phiên toà giám đốc thẩm, Toà án thường không bắt buộc phải triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà mà chỉ khi xét thấy cần thiết Phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp Phiên toà giám đốc thẩm không tiến hành tại phòng
xử án như đối với phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm mà được tiến hành như một phiên họp Do đó, thủ tục tố tụng của phiên toà giám đốc thẩm cũng có những điểm khác so với phiên toà sơ thẩm, tức là phiên toà giám đốc thẩm không chia thành các thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi, thủ tục tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án Phiên toà giám đốc thẩm được tiến hành theo trình tự sau: chủ toạ phiên toà tuyên bố bắt đầu phiên toà vầ vụ án nào được đưa ra xét xử Sau đó, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, nội dung kháng nghị Các thành viên khác của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến Trong trường hợp người bị kết
án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị được triệu tập thì những người này được trình bày ý kiến của mình Đại diện viện kiểm sát phát biểu kết luận về nội dung kháng nghị và hướng giải quyết vụ án Cuối cùng, các thành viên Hội đồng Giám đốc thẩm thảo luận về
vụ án và biểu quyết để ra quyết định
Cũng như Giám đốc thẩm, tái thẩm là một giai đoạn đặc biệt của tố tụng hình sự nhằm sửa chữa những sai lầm trong trường hợp bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết
Trang 22mới được phát hiện có thể làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định mà Toà án đã không biết được khi ra bản án, quyết định đó Việc xét xử theo thủ tục tái thẩm được tiến hành tương tự như thủ tục giám đốc thẩm
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu, thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự
sơ thẩm là quá trình giải quyết một vụ án theo một trình tự nhất định được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do Toà án có thẩm quyền sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án , lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên toà nhằm đưa ra bản án, quyết định xét xử đúng người, đúng tội
1.1.2 Vị trí, vai trò và ý nghĩa của xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự
1.1.2.1 Vị trí của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong tố tụng hình sự
Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã ghi nhận:“Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ“ Khẳng định quyền này, BLTTHS Việt Nam quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật “ (Điều 9 BLTTHS năm 2003)
Như đã đề cập ở phần 1.1.1, quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và cuối cùng là giai đoạn thi hành án
* Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
* Giai đoạn điều tra vụ án hình sự: là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do BLTTHS quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tộivà
Trang 23* Giai đoạn truy tố: Khi đã có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố bị can trước Toà án Quyết định đề nghị truy tố bị can trước Toà
án được chuyển đến cho Viện kiểm sát cùng toàn bộ hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ thấy đủ cơ sở thì quyết định truy tố người phạm tội ra trước Toà án bằng bản cáo trạng và gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định truy tố đến Toà án
* Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng, trong đó Toà án có thẩm quyền lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai trước phiên toà nhằm ra bản án, quyết định phù hợp
* Giai đoạn xét xử phúc thẩm: là giai đoạn tiếp theo khi bản án, quyết định cuả Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp sẽ mở phiên toà xem xét lại bản án, quyết định
đó
* Giai đoạn thi hành án: là một giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong đó các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành các công việc mà BLTTHS quy định nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế
Như vậy, có thể thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được xác định như
là một công đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng là một công đoạn đặc biệt quan trọng Việc xét xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi cơ quan điều tra đã điều tra vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố bị can ra trước Toà bằng một bản Cáo trạng Trên cơ sở hồ sơ vụ án và quyết định truy tố do Viện kiểm sát chuyển sang, Toà án lần đầu tiên sẽ nghiên cứu để quyết định có đưa vụ án
ra xét xử hay không? Như vậy, vụ án hình sự lần đầu tiên sẽ được đưa ra xem xét công khai tại phiên toà Tất cả các chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra cùng với các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên toà sẽ được kiểm tra, xem xét một cách khách quan, toàn diện, trực tiếp, công khai tại phiên toà Nếu như bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản cáo trạng của Viện
Trang 24kiểm sát chỉ là những kết luận sơ bộ về vụ án thì bản án của Toà án mới là kết luận chính thức và công khai về việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì bị cáo phạm tội gì , theo quy định tại điều nào, khoản nào của Bộ luật hình
sự và mức hình phạt cụ thể được áp dụng đối với bị cáo
Với vị trí là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình
sự, giai đoạn xét xử có mối quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng khác Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo, cụ thể là
cơ sở để cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra, viện kiểm sát ra quyết định truy tố và có như vậy, Toà án mới tiến hành xét xử được vụ án Không có các giai đoạn này, Toà án không thể đơn phương đưa vụ án ra xét
xử được Tuy nhiên, các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, điều tra chỉ nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, xét xử của Toà án Giai đoạn thi hành án chỉ có thể được thực hiện khi Toà án đã ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
1.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan
vụ án hình sự, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Với ý nghĩa là một cuộc điều tra công khai, tại phiên toà sơ thẩm Toà
án sẽ xem xét một cách toàn diện các chứng cứ đã được thu thập được trong giai đoạn điều tra Toà án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ đã được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên toà Trong thực tiễn không ít trường hợp sau khi xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã có những quyết định khác với đề nghị của Viện kiểm sát trong Cáo trạng như tuyên bố bị cáo không có tội, thay đổi tội danh theo hướng nhẹ hơn Bên
Trang 25chứng cứ đã có ở giai đoạn điều tra, Toà án cũng xem xét các chứng cứ mới được phát hiện trong quá trình xét xử Điều này sẽ góp phần làm sáng tỏ vụ
án, khắc phục những thiếu sót, sai lầm nếu có trong giai đoạn điều tra
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp và quyền tự do dân chủ của công dân Tại phiên toà, những người tham gia tố tụng được bình đẳng với nhau và bình đẳng cả với đại diện Viện kiểm sát trong việc xuất trình các chứng cứ, tranh luận và đưa ra các yêu cầu như đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu triệu tập thêm nhân chứng Người tham gia tố tụng được trực tiếp nghe lời khai, lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, được đối chất và tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra những lý lẽ để bảo vệ mình Có thể nói, phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là nơi thể hiện đầy đủ nhất quyền dân chủ của công dân
Bằng việc xét hỏi và tranh luận tại phiên toà và việc áp dụng nghiêm minh hình phạt đối với người phạm tội, người phạm tội và người tham dự phiên toà sẽ hiểu rõ các quy định của pháp luật, hiểu rõ quan điểm, chính sách của Nhà nước đối với người phạm tội để tránh vi phạm pháp luật Điều này giúp nâng cao ý thức pháp luật cuả công dân trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt buộc đối với bất kỳ vụ án nào Đây được coi là bước xét xử lần một của việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng trải qua hai cấp xét xử Việc xét xử phúc thẩm chỉ đặt ra khi có kháng cáo, kháng nghị Do đó, một phiên toà được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định, tạo điều kiện để người tham gia tố tụng được tranh luận công khai sẽ là cơ sở để có để có được bản án, quyết định khách quan, toàn diện, chính xác Điều này sẽ tạo được lòng tin trong nhân dân, làm giảm
tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật góp phần tiết kiệm được thời gian, tiền bạc của nhà nước
Trang 26và nhân dân, nâng cao chất lượng, uy tín của cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng
1.2 CÁC NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Từ điển tiếng Việt năm 2004 định nghĩa nguyên tắc là “Điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” Như vậy, nguyên
tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự được hiểu là “Những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự “ [ 18 ]
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã dành hẳn một chương quy định cụ thể về các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự từ Điều 3 đến Điều
32 Các nguyên tắc này chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động
tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến giai đoạn thi hành án Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc này khi giải quyết vụ án hình
sự sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm việc việc xét
xử đúng người, đúng tội
Giai đoạn xét xử tại phiên toà là một trong những giai đoạn tố tụng hình sự Do đó, việc xét xử tại phiên toà cũng phải tuân theo các nguyên tắc tố tụng nói chung, đó là các nguyên tắc: Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, tôn trọng và bảo vệ các quyền của công dân, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, bảo đảm sự vô
tư của người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng
Bên cạnh đó, việc xét xử tại phiên toà cũng có nhiệm vụ, nét đặc thù so với các giai đoạn tố tụng khác Vì vậy, phiên toà xét xử vụ án hình sự còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 271.2.1 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia ( Điều 224 )
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 15 BLTTHS Theo đó, việc xét
xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán
Đây là một nguyên tắc Hiến định, thể hiện tính dân chủ trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta Nội dung của nguyên tắc này là khi xét xử tại phiên toà, bên cạnh thẩm phán là người có trình độ pháp lý, được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án còn có hội thẩm nhân dân hoặc hội thẩm quân nhân Hội thẩm nhân dân, hội thẩm quân nhân là người được bầu hoặc
cử tham gia xét xử và có ngang quyền với thẩm phán
Nguyên tắc khi xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia không phải là nguyên tắc tố tụng nói chung mà chỉ là nguyên tắc đặc trưng của giai đoạn xét
xử và cũng không phải là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các giai đoạn xét
xử mà chỉ bắt buộc đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm Ở giai đoạn phúc thẩm, nguyên tắc này chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết ví dụ như do vụ
án có tính chất phức tạp như liên quan đến các vấn đề về tôn giáo, chính sách của Đảng, Nhà nước
1.2.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16)
Hiến pháp Việt Nam và BLTTHS đều khẳng định Toà án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định một người là có tội hay không có tội Không ai
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật Vì vậy, có thể nói quyết định của Toà án là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sinh mạng, danh dự của một con người Do đó, khi xét xử các vụ án hình sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào các quy định của pháp luật – cụ thể ở đây là bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự
Trang 28để xác định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội Không một ai, một
cơ quan nào có quyền can thiệp, yêu cầu Hội đồng xét xử phải làm trái các quy định của pháp luật
Sự độc lập của Hội đồng xét xử thể hiện ở việc độc lập giữa thẩm phán với hội thẩm trong việc xét xử và độc lập giữa Hội đồng xét xử với các cơ quan khác Các thành viên của Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận của mình không phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên khác Tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử đều được tham gia vào toàn bộ các hoạt động tố tụng tại phiên toà Cụ thể là khi xét hỏi bị cáo, người làm chứng cả chủ toạ phiên toà
và hội thẩm đều được đặt câu hỏi để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án Mỗi thành viên của hội đồng xét xử có quyền độc lập khi quyết định các vấn đề trong vụ án Mặc dù vụ án được giải quyết trên cơ
sở biểu quyết đa số nhưng người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án
Trong quan hệ giữa Toà án các cấp, thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập không chịu sự chỉ đạo của Toà án cấp trên Toà án cấp trên hướng dẫn Toà
án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật nhưng không được quyết định trước hay gợi ý cho Toà án cấp dưới chủ trương xét xử một vụ án cụ thể
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là cơ sở cho Toà án thực hiện tốt chức năng xét xử của mình, bảo đảm tính khách quan trong hoạt động xét xử đồng thời đề cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử
1.2.3 Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17)
Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số là một nguyên tắc dân chủ được quy định trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và được khẳng định lại tại Điều 17 BLTTHS năm 2003 Việc quy định nguyên
Trang 29tắc này nhằm huy động được trí tuệ của tập thể, đảm bảo cho việc xét xử được khách quan, thận trọng, chính xác, tránh độc đoán
Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án ở các cấp Toà án không phải do một thẩm phán tiến hành mà đều thực hiện theo chế độ Hội đồng Tuy nhiên, tuỳ theo các cấp xét xử mà thành phần Hội đồng xét xử có sự khác nhau Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm thường gồm một thẩm phán và hai hội thẩm, trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán, trường hợp cần thiết có thể có thêm hai hội thẩm Bất kỳ một vụ án nào cũng phải đảm bảo về số lượng thành phần Hội đồng xét xử như đã đề cập ở trên Trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng
về thủ tục tố tụng như thành phần Hội đồng xét xử không đúng luật định thì bản án có thể bị huỷ
Nguyên tắc này còn đòi hỏi khi giải quyết các vấn đề của vụ án, các thành viên Hội đồng xét xử phải biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án
1.2.4 Nguyên tắc xét xử công khai ( Điều 18 )
Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ của hoạt động xét xử Nội dung của nguyên tắc này được hiểu là phiên toà phải được tiến hành công khai, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền được dự và theo dõi diễn biến của phiên toà Để tạo điều kiện cho người dân có thể tham dự phiên toà, trước khi xét xử, Toà án phải niêm yết công khai nội dung, thời gian, địa điểm mở phiên toà Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt để giữ bí mật của nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai
Trang 30Việc xét xử công khai không chỉ áp dụng đối với phiên toà sơ thẩm mà còn được áp dụng đối với cả phiên toà xét xử phúc thẩm Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho nhân dân tham gia vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan xét xử, nâng cao trách nhiệm của Toà án trước nhân dân Xét xử công khai còn có tác dụng nâng cao trình độ của những người tiến hành tố tụng bởi lẽ các hoạt động của họ đều có sự giám sát của nhân dân
1.2.5 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án ( Điều 19 )
“Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật “ Đây là một nguyên tắc Hiến định đã được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta năm
1992 Quyền bình đẳng trước pháp luật có nội dung tương đối rộng lớn, trong
đó bao gồm cả quyền bình đẳng trước Toà án
Quyền bình đẳng trước Toà án chỉ được thực hiện ở giai đoạn xét xử Theo đó, kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, ngưòi bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Nguyên tắc này chỉ có thể thực hiện được khi chủ toạ phiên toà phải làm tốt nhiệm vụ là người điều khiển phiên toà, là trọng tài công minh giữa bên buộc tội (kiểm sát viên) và bên gỡ tội (bị cáo và người bào chữa của họ) Thành viên Hội đồng xét xử phải có thái độ khách quan, tôn trọng các chứng cứ, tranh luận mà các bên đưa ra để xem xét
và có các quyết định công minh
1.2.6 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo (Điều 11)
Quyền bào chữa chỉ là một trong số rất nhiều quyền mà bị cáo được
Trang 31biện pháp mà pháp luật quy định nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bị cáo có thể nhờ người khác bào chữa cho mình Trong một số trường hợp nhất định, mặc dù bị cáo không tự bào chữa
và cũng không nhờ người khác bào chữa thì Toà án phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo được cụ thể hoá trong các điều luật về quyền của bị cáo (Điều 50), về người bào chữa (Điều 56,57,58) Ngoài ra, BLTTHS còn quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện được quyền này:
“ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này“ (Điều 11)
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo được thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Để thực hiện quyền chính đáng của mình trong giai đoạn này, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch (Điều 202), được trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét (Điều 205) Bị cáo được tham gia tranh luận tại phiên toà, trình bày lời bào chữa và đáp lại ý kiến của người khác Tất cả những quyền này chính là cơ sở để bị cáo được thực hiện được quyền bào chữa của mình Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng không chỉ nhằm bảo
vệ lợi ích của bị cáo mà còn bảo đảm cho việc xét xử được khách quan, toàn diện, nâng cao uy tín trong việc xét xử của Toà án
1.2.7 Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 184)
Đây là một nguyên tắc đặc thù cho giai đoạn xét xử tại Toà án Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục là việc xét xử mà trong đó Toà án trực tiếp xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ ngay tại phiên toà bằng cách hỏi, trả lời
Trang 32và được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:
Khi xét xử, Toà án phải trực tiếp xác định các tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Như vậy, Toà án không chỉ căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án mà ngay tại phiên toà, Toà án trực tiếp kiểm tra, đánh giá các chứng cứ
đã thu thập được đồng thời trực tiếp xem xét các chứng cứ mới được đưa ra
để làm cơ sở cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà Do đó, tại phiên toà đòi hỏi sự có mặt của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Trong những trường hợp do BLTTHS quy định nếu họ vắng mặt thì phải hoãn phiên toà Trừ trường hợp sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định
sự thật của vụ án và họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra
Xét xử bằng lời nói thể hiện ở chỗ bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, kiểm sát viên khai báo, trình bày bằng miệng với Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử đặt những câu hỏi để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án Trong phần tranh luận giữa luật sư với kiểm sát viên cũng phải thực hiện bằng lời nói Nếu có người vắng mặt tại phiên toà thì Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra Đối với trường hợp có người tham gia tố tụng là người bị khuyết tật câm thì việc lấy lời khai của họ được thực hiện thông qua người biết ký hiệu ngôn ngữ của người câm
Xét xử liên tục là việc Toà án tiến hành xét xử một vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà Thủ tục tố tụng tại phiên toà bao gồm các
Trang 33bước này phải được diễn ra liên tục trừ thời gian nghỉ cần thiết như nghỉ trưa, nghỉ qua đêm, nghỉ ngày lễ… Trong thời gian xét xử, Hội đồng xét xử phải
có mặt liên tục tại phiên toà Khi chưa kết thúc một phiên toà thì Thẩm phán, hoặc Hội thẩm không được xét xử một vụ án khác
Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói, liên tục là một nguyên tắc quan trọng khi tiến hành phiên toà Các nguyên tắc này bảo đảm cho Hội đồng xét xử có thể tập trung ý trí khi giải quyết vụ án Bằng việc hỏi và trả lời giữa Hội đồng xét xử với người tham gia tố tụng, Toà án có thể thu thập, kiểm tra chứng cứ một cách trực tiếp tại phiên toà Nhờ đó, Toà án có thể ra bản án đúng pháp luật
1.3 THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Pháp luật của mỗi quốc gia đều có các quy định khác nhau về thủ tục xét xử một vụ án hình sự Sự khác nhau này tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán, hệ thống pháp luật cũng như bộ máy tổ chức của các cơ quan tư pháp Việc nghiên cứu về thủ tục tố tụng của các quốc gia khác nhau là rất cần thiết Từ đó, chúng ta có thể rút ra các bài học kinh nghịêm cũng như tiếp nhận các hạt nhân hợp lý trong việc đề ra các quy định về thủ tục tiến hành các hoạt động xét xử
1.3.1 Thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự của Toà án Hoa Kỳ:
Trình tự tố tụng hình sự ở Hoa Kỳ có sự khác nhau giữa pháp luật của liên bang và pháp luật của từng bang Ở cấp độ liên bang, các vụ án xét xử một người phạm tội đều do một đại bồi thẩm đoàn xem xét Còn ở các bang lại khác Chỉ một nửa số bang sử dụng đại bồi thẩm đoàn, một số bang áp dụng một phiên toà sơ bộ hoặc một phiên thẩm vấn
Đối với những bang không sử dụng đại bồi thẩm đoàn thì mở một phiên toà sơ bộ nhằm xác định xem có đưa bị cáo ra phiên toà chính thức hay không? Ở phiên toà này, công tố trình bày vụ kiện Các bị cáo có quyền đối
Trang 34chất các nhân chứng và đưa ra bằng chứng thoả đáng Thông thường, tại phiên toà sơ bộ, các luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận hoặc thường
từ bỏ phiên toà sơ bộ Nếu thẩm phán xác định cần đưa ra xét xử thì công tố phải đệ trình một đơn kiện lên toà án nơi việc xét xử sẽ được tiến hành
Ở Hoa Kỳ có một quy định rất đặc biệt Đó là trước ngày xử án, giữa công tố và luật sư bên bị có sự thương lượng về những lời buộc tội chính thức
sẽ được đưa ra và nội dung bản án mà bang sẽ khuyến nghị với Toà án Thường là sẽ có một cam kết về hình thức khoan dung để đổi lấy lời khai nhận tội Có ba loại thương lượng lời khai như giảm cáo trạng, xoá cáo trạng tăng nặng, thương lượng hình phạt Lúc này, vai trò của thẩm phán chỉ nhằm bảo đảm pháp lý về việc tuân thủ pháp luật
Trong trường hợp không có việc thương lượng lời khai và bị cáo khẳng định sự vô tội của mình thì một phiên toà chính thức sẽ được diễn ra Khi đó thủ tục tố tụng tại phiên toà được tiến hành như sau:
Trước tiên, sau khi phiên toà chính thức bắt đầu, cả công tố viên và luật
sư bào chữa đều đọc một tuyên bố khai mạc Sau đó, công tố viên sẽ xuất trình bằng chứng mà bang đã thu thập được để chống lại bị cáo Đa số các bằng chứng là lời khai của các nhân chứng thông qua việc hỏi và đáp Sau mỗi nhân chứng, luật sư có quyền đối chất Sau khi hoàn thành đối chất, công
tố có thể tiến hành kiểm tra lại để làm rõ một số điểm quan trọng trong quá trình đối chất Khi đã xuất trình tất cả các bằng chứng và nhân chứng, luật sư
sẽ tạm quay về chỗ nghỉ Công tố có quyền đưa ra bằng chứng bác bỏ Đến lượt mình, luật sư bào chữa đưa ra lời kháng biện, đập lại lời buộc tội của công tố Sau đó, mỗi bên đưa ra những lý lẽ cuối cùng nhằm trình các ý kiến của mình lên bồi thẩm đoàn
Theo pháp luật Hoa Kỳ, vai trò của thẩm phán trong quá trình xét xử tương đối thụ động Thẩm phán không đưa ra bằng chứng và cũng không thẩm vấn nhân chứng mà đơn thuần chỉ thực hiện việc giám sát về loại bằng
Trang 35và luật sư bào chữa Một số bang cũng cho phép thẩm phán được đặt ra những câu hỏi đối với nhân chứng và bình luận về mức độ tin cậy của bằng chứng đưa ra
Vai trò cuả các thành viên bồi thẩm đoàn trong quá trình giải quyết vụ
án rất thụ động Bồi thẩm đoàn lắng nghe các bên trình bày và đi đến phán quyết chỉ dựa trên bằng chứng được đưa ra.Thông thường các thành viên bồi thẩm đoàn không được đặt câu hỏi cho nhân chứng và thẩm phán
Sau khi các bên đã đưa ra lời phản biện của mình, các thành viên bồi thẩm đoàn rút vào phòng nghị án để quyết định số phận của bị cáo Bồi thẩm đoàn bàn bạc kín đáo và giải quyết vụ án bằng cách bỏ phiếu Nếu bồi thẩm đoàn không thể đi đến một phán quyết thì có thể báo cáo lên thẩm phán để thẩm phán quyết định giải tán bồi thẩm đoàn và triệu tập một phiên toà xét xử mới Trong trường hợp bồi thẩm đoàn đi đến quyết định, họ quay trở lại phòng xử án Chủ tịch bồi thẩm đoàn công bố công khai phán quyết
1.3.2 Thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự của Toà án Pháp
Quá trình giải quyết vụ án hình sự theo luật tố tụng của Pháp bao gồm nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau bao gồm : giai đoạn điều tra sơ bộ của Cảnh sát hoặc hiến binh; giai đoạn thẩm cứu hay điều tra tại Toà án (giai đoạn này không bắt buộc đối với tất cả các vụ án); giai đoạn xét xử; giai đoạn thi hành án hình sự
Giai đoạn xét xử được tiến hành theo lối buộc tội và gỡ tội Nguyên tắc xét xử là xét xử công khai, bằng lời, và tranh tụng đối kháng
Về cơ cấu và tổ chức của các Toà hình sự Pháp:
Tương ứng với 3 loại tội phạm là tội vi cảnh, khinh tội và trọng tội, Toà Hình sự Pháp bao gồm Toà Vi cảnh, Toà tiểu hình và Toà Đại hình Toà Vi cảnh xét xử tội vi cảnh, Toà tiểu hình xét xử khinh tội, còn các tội phạm nghiêm trọng, trọng tội do Toà Đại hình xét xử Ngoài các cơ quan xét xử
Trang 36thông thường trên, ở Pháp còn có một số cơ quan xét xử chuyên biệt gồm Toà
án vị thành niên, Toà án chính trị và Toà án quân sự
Một phiên toà đại hình thường diễn ra như sau:
Khi phiên toà khai mạc với Hội đồng xét xử và đoàn bồi thẩm, viên lục
sự đọc bản luận tội Bản luận tội là bản kết luận điều tra của Toà luận tội để đưa bị cáo ra trước Toà Đại hình xét xử
Trước tiên, chủ toạ phiên toà hỏi bị cáo về căn cước của họ nhằm xác định đúng người được xét xử tại phiên toà, sau đó sẽ đền cập đến nội dung của hồ sơ Chủ toạ phiên toà phải thẩm tra lại vụ việc bằng cách đặt các câu hỏi cho bị cáo
Viện Công tố và bên dân sự đại diện cho người bị hại có thể nêu các câu hỏi và lập luận của mình Nếu người làm chứng có mặt, họ có thể trình bày công khai trước phiên toà Sau đó, luật sư của bên dân sự trình bày các lập luận của mình Tiếp theo, Phó Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phúc thẩm, giữ vai trò công tố, nêu rõ lập luận lý do truy tố bị cáo và nhân danh xã hội đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Luật sư bào chữa của bị cáo
là người cuối cùng phát biểu ý kiến Luật sư cũng nêu ra những lý lẽ về sự việc Nếu bị cáo phản bác những tình tiết nào đó, luật sư phải đưa ra lập luận
bổ sung Trong trường hợp thấy nghi ngờ có vấn đề về mặt pháp luật, luật sư bào chữa cho bị cáo có thể nêu lên những căn cứ pháp lý Cuối cùng, luật sư bào chữa cho bị cáo nêu một số đặc điểm về nhân thân của bị cáo để bị cáo có thể được xem xét hưởng những tình tiết giảm nhẹ Bị cáo có quyền nói lời cuối cùng Sau đó, Hội đồng xét xử nghị án rồi tuyên án
1.3.3 Thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự của Toà án Australia
Hệ thống tố tụng hình sự của Australia có cơ chế phân loại án với nhiều hình thức xét xử khác nhau nhằm giảm bớt các thủ tục, thao tác tố tụng phức tạp, tránh gánh nặng cho hệ thống Toà án Ở đây, chúng ta chỉ xem xét phiên
Trang 37toà xét xử có Bồi thẩm đoàn – một điển hình cho hệ thống tố tụng tranh tụng của Australia
Thủ tục xét xử vụ án hình sự có Bồi thẩm đoàn tham gia của Toà án Australia được tiến hành như sau:
Thủ tục bắt đầu phiên toà: Bắt đầu phiên toà, Toà án hỏi tên bị cáo, trợ
lý thẩm phán đọc quyết định truy tố bị cáo của Viện Công tố và hỏi bị cáo có đồng ý với quyết định truy tố này không? Nếu ngay tại phiên toà, bị cáo đồng
ý với quyết định truy tố thì coi như bị cáo nhận tội Thẩm phán điều khiển phiên toà chấp nhận lời buộc tội và hỏi lại bị cáo có hiểu rõ ý nghĩa và hậu quả của việc nhận tội không? Công tố viên cũng có quyền từ chối không chấp nhận lời nhận tội đó nếu được thẩm phán điều khiển phiên toà đồng ý Trường hợp bị cáo chấp thuận lời buộc tội, chỉ còn thủ tục thẩm phán áp dụng hình phạt và phiên toà kết thúc Nếu bị cáo không nhận tội, phản đối quyết định truy tố, Bồi thẩm đoàn sẽ được triệu tập
Thủ tục buộc tội của Công tố viên: Công tố viên sẽ đưa ra nhân chứng, vật chứng của mình Diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo sẽ được mô tả khái quát để bồi thẩm đoàn nắm được
Thủ tục xét hỏi, thẩm vấn nhân chứng do Công tố viên tiến hành: Đầu tiên, Công tố viên có thể tiến hành việc xét hỏi, thẩm vấn viên cảnh sát đầu tiên có mặt tại hiện trường và hỏi các nhân chứng khác, xem xét các vật chứng Khi hỏi, bên buộc tội không được đặt các câu hỏi mang tính chất gợi ý
mà phải hỏi trực tiếp vào nội dung cần yêu cầu
Kết thúc giai đoạn thẩm vấn nhân chứng của Công tố viên, bị cáo hoặc luật sư của bị cáo sẽ đối chất, phản biện lại những nhân chứng do Công tố viên đưa ra Hoặc bên buộc tội cũng có thể đối chất các nhân chứng mà mình đưa ra Khác với việc thẩm vấn nhân chứng, trong giai đoạn này, bên gỡ tội
có thể đặt ra những câu hỏi có tính chất gợi ý đối với nhân chứng
Tiếp sau thủ tục đối chất nhân chứng là thủ tục hỏi lại của Công tố viên đối với nhân chứng của mình Công tố viên sẽ tóm tắt lại những nội dung
Trang 38buộc tội cần lưu ý với Toà án Giai đoạn buộc tội đến đây kết thúc, trừ trường hợp Công tố viên có yêu cầu đặc biệt để quay trở lại phần đối chất
Giai đoạn gỡ tội còn gọi là giai đoạn bào chữa: Bị cáo hoặc luật sư của
họ thông báo với bồi thẩm đoàn nhân chứng sẽ được gọi ra Thủ tục hỏi, đối chất, hỏi lại nhân chứng cũng diễn ra theo trình tự như ở giai đoạn buộc tội
Sau giai đoạn gỡ tội, các bên phát biểu kết luận toàn bộ về vụ án Thẩm phán tóm tắt lại vụ án cho Bồi thẩm đoàn, nêu những vấn đề các bên đưa ra, tình tiết nào còn mâu thuẫn, nhận xét về từng sự việc, các vấn đề về Luật nội dung và nói rõ Bồi thẩm đoàn có toàn quyền quyết định về vụ án về vụ án là
bị cáo có tội hay không có tội Sau đó, Bồi thẩm đoàn lui vào họp riêng Nếu cần thiết, Bồi thẩm đoàn có thể đề nghị Thẩm phán giải thích thêm về Luật hoặc cho trở lại phiên toà để hỏi lại nhân chứng Trong trường hợp bị cáo bị Bồi thẩm đoàn tuyên có tội, công việc còn lại của Thẩm phán là quyết định hình phạt thích hợp cho bị cáo Bị cáo có quyền kháng cáo, Công tố viên có quyền kháng nghị về hình phạt Nếu bị cáo được tuyên vô tội, vụ án coi như kết thúc, bị cáo được trả tự do ngay lập tức và không bao giờ bị xét xử về tội
đó nữa Trong quá trình xét xử, bị cáo có thể nhận tội bất cứ khi nào, khi đó, Bồi thẩm đoàn được yêu cầu ra phán quyết bị cáo có tội và thẩm phán sẽ cân nhắc việc giảm hình phạt cho bị cáo vì đã nhận tội
1.3.4 Thủ tục tố tụng tại Toà bồi thẩm ở Liên bang Nga
Bộ luật Tố tụng hình sự mới của Nga được thông qua vào ngày 22/11/2001 và có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/2002 Với sự ra đời của BLTTHS mới này, tố tụng hình sự của Liên bang Nga đã có sự thay đổi cơ bản từ mô hình tố tụng thẩm vấn chuyển sang mô hình tố tụng tranh tụng
Giống như pháp luật một số nước, việc xét xử vụ án hình sự ở Liên bang Nga có sự tham gia của Hội đồng Bồi thẩm nhưng việc thành lập Hội đồng bồi thẩm cũng như quyền hạn của Hội đồng Bồi thẩm ở Nga có nhiều
Trang 39xét xử với sự tham gia của Hội đồng bồi thẩm chỉ áp dụng đối với những vụ
án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Tối cao của nước Cộng hoà, Toà án vùng hoặc khu vực, Toà án thành phố trực thuộc liên bang; Toà án vùng tự trị và Toà án khu vực tự trị nếu có yêu cầu của bị cáo Nếu vụ án có nhiều bị cáo mà chỉ có một bị cáo yêu cầu thì toàn bộ vụ án sẽ được xét xử có
sự tham gia của Hội đồng bồi thẩm Nếu bị cáo không yêu cầu thì vụ án sẽ do Hội đồng xét xử khác tiến hành Hội đồng xét xử có Hội đồng bồi thẩm tham gia gồm 01 thẩm phán Toà án liên bang thẩm quyền chung và Đoàn bồi thẩm
12 thành viên
Thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Toà Bồi thẩm ở Liên bang Nga được tiến hành như sau:
Trước hết là việc điều tra tại phiên toà đươc tiến hành theo trình tự :
- Công tố viên phát biểu về bản chất lời buộc tội đề nghị thủ tục xem xét chứng cứ;
- Người bào chữa phát biểu quan điểm về nội dung buộc tội và đề nghị thủ tục xem xét chứng cứ;
- Các bên tiến hành thẩm vấn bị cáo, người bị hại, người làm chứng, giám định viên;
- Các thành viên Hội đồng bồi thẩm có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo, người bị hại, người làm chứng, giám định viên thông qua thẩm phán chủ toạ phiên toà Thẩm phán có thể không chấp nhận câu hỏi nếu nó không liên quan đến nội dung buộc tội
- Thẩm phán có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên xem xét vấn
đề loại trừ khỏi vụ án các chứng cứ không được chấp nhận Việc giải quyết vấn đề này không có sự tham gia của Hội đồng Bồi thẩm Sau khi nghe ý kiến của các bên, Thẩm phán ra quyết định loại trừ những chứng cứ bị coi là không được chấp nhận
Trang 40Quá trình điều tra tại phiên toà chỉ xem xét những tình tiết thực tế về vụ
án mà không xem xét các vấn đề về nhân thân của bị cáo, trừ những trường hợp cần thiết
Sau khi kết thúc việc điều tra tại phiên toà, Toà án chuyển sang phần tranh luận và đối đáp của các bên Trước tiên là người buộc tội phát biểu,
tiếp theo là người bào chữa, người bị hại và đại diện của họ Bị cáo, nguyên đơn, bị đơn dân sự và người đại diện của họ có quyền yêu cầu được tham gia vào quá trình tranh luận Việc tranh luận giữa các bên tại phiên toà chỉ tiến hành trong phạm vi các vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng bồi thẩm Nếu có những ý kiến tranh luận đề cập đến các tình tiết chỉ được xem xét sau khi có phán quyết của Hội đồng Bồi thẩm hoặc ý kiến dựa trên quan điểm của mình để đưa ra các chứng cứ không được chấp nhận thì chủ toạ phiên toà có quyền ngắt lời họ
Tất cả những người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác Người bào chữa và bị cáo có quyền đối đáp sau cùng Sau đó, bị cáo nói lời sau cùng
Căn cứ vào kết quả điều tra và ý kiến tranh luận của các bên tại phiên toà, Thẩm phán lập danh sách các câu hỏi mà Hội đồng bồi thẩm phải giải quyết rồi chuyển cho các bên Việc thảo luận và đặt các câu hỏi được tiến hành không có mặt của Hội đồng bồi thẩm Các bên có quyền nhận xét về hình thức và nội dung của câu hỏi, đề nghị bổ sung câu hỏi mới Thẩm phán không có quyền từ chối với những câu hỏi bổ sung của bị cáo, người bào chữa
về tình tiết giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự
Sau khi nghe ý kiến của các bên, Thẩm phán vào phòng nghị án chính thức đưa vào phiếu ghi các câu hỏi để Hội đồng bồi thẩm giải quyết Trước khi Hội đồng bồi thẩm vào phòng nghị án, chủ toạ phiên toà phát biểu với Hội đồng bồi thẩm về những vấn đề như nêu nội dung buộc tội của Viện Công tố, giải thích cho hội đồng bồi thẩm về chứng cứ, về nguyên tắc suy đoán vô