Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 08 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “ Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng…”.
Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 đã xây dựng một chương mới (chương XXXIV) gồm 7 điều, từ Điều 318 đếnĐiều 324 quy định về thủ tục rút gọn, đánh dấu bước phát triển mới của tố tụng hình
sự Việt Nam Tuy nhiên, những quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục rút gọn(TTRG) lại có nhiều điểm chưa hợp lý, một số quy định còn chung chung, chưa cụthể, rõ ràng trong khi hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn áp dụng các quyđịnh này, do đó hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao, chưa đạt được mục đích
mà BLTTHS đề ra khi quy định áp dụng thủ tục này
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 48 –NQ/TW ngày 25/5/2005 về Chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật ViệtNam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ việc cần phải tiếptục sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS, nâng cao chất lượng côngtác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng.Những quy định của BLTTHS về TTRG cần phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung
để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm được nhanh chóng, kịp thời,không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Mặt khác, Bộ luật hình sự(BLHS) năm 1999 đã phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, tính chấtphức tạp của các vụ án hình sự cũng khác nhau, do đó việc BLTTHS năm 2003 quyđịnh các hình thức tố tụng khác nhau để giải quyết là hoàn toàn hợp lý và có cơ sởkhoa học
Một chế định về TTRG trong pháp luật tố tụng hình sự đầy đủ, hoàn thiện vàhợp lý hiện nay vẫn là một yêu cầu với các nhà lập pháp nước ta Tuy nhiên nhữngnghiên cứu toàn diện về TTRG trong tố tụng hình sự Việt Nam lại chưa nhiều Các
Trang 2quan điểm khoa học về TTRG trong tố tụng hình sự chưa thống nhất Ý kiến hoànthiện pháp luật về TTRG còn theo nhiều chiều hướng khác nhau do xuất phát từ cácphương diện nghiên cứu khác nhau.
Với những lý do trên, luận văn thạc sỹ với đề tài: “ Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam” mong muốn đưa ra một cái nhìn cơ bản và toàn diện về
thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Là một thủ tục tố tụng tiến bộ với nhiều ưu điểm được BLTTHS năm 2003quy định trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định trước đây, TTRG được cácnhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn quan tâm và nghiên cứu Có thể chiacác công trình nghiên cứu về TTRG thành ba nhóm lớn sau:
Nhóm luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học: trong nhóm các công
trình nghiên cứu này phải kể đến Luận văn thạc sỹ Luật học “ Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, 2001 của
Nguyễn Minh Quang; Luận văn thạc sỹ Luật học “ Thủ tục rút gọn trong tố tụnghình sự Việt Nam”, Hà Nội, 2004 của Nguyễn Văn Hiển; Trường Đại học Luật Hà
Nội “ Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự” đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
năm 2008 Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến sự cần thiết phải xây chếđịnh TTRG trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và các vấn đề cơ bản củaTTRG Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở các vấn đềmang tính lý luận mà chưa đề cập đến thực tiễn áp dụng thủ tục này
Nhóm giáo trình, sách bình luận chuyên khảo về vấn đề này gồm có cuốn sách
“ Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, NXB Tư pháp, Hà Nội
2004 của tác giả Nguyễn Văn Hiển Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2009; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2003, PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nhà xuất bản Công an
nhân dân, 2004… Các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luậncác quy định của BLTTHS năm 2003 về TTRG và cũng chưa đề cập đến thực tiễn
áp dụng các quy định này
Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: trong nhóm này có thể kể đến
các bài viết như: “Thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự ” của TS Khuất
Trang 3Văn Nga và ThS Trần Đại Thắng (Tạp chí Kiểm sát số 7/2004); “Thủ tục rút gọn”
của tác giả Đỗ Văn Chỉnh (Tạp chí Toà án nhân dân (TAND) số 11 tháng 6/2004);
“Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự từ sự quy định của pháp luật tới thực tiễn áp dụng” của PGS.TS Phạm Hồng Hải (Tạp chí Kiểm sát số 4/2006); “Về thủ tục rút gọn và những bất cập trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử” của tác giả Lê Quốc Thể (Tạp chí TAND số 13 tháng 7/2007); “Bàn về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định BLTTHS năm 2003” của ThS Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2008); “Giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn - Thực trạng và những kiến nghị đề xuất” của tác giả Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2008); “ Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Nguyễn Đức Mai (Tạp chí TAND số 15 tháng 8/2008), “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của ThS Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Kiểm sát số 18&20 tháng 9&10 /2008); “Một số ý kiến về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần Quốc Văn (Tạp chí Kiểm sát số 13 tháng 7/2009); “ Những vướng mắc khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và một số kiến nghị” của TS Phạm Minh Tuyên (Tạp chí TAND số 1 tháng 1/2011)…Các bài viết
kể trên đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của TTRG, một số ít bài viết đề cập đếnthực tiễn áp dụng cũng như những bất cập, vướng mắc khi giải quyết án hình sựtheo thủ tục này tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở phạm vi một số địa phương.Như vậy, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cáchtoàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về TTRG trên cả hai phương diện lýluận và thực tiễn Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quy định củapháp luật tố tụng hình sự về TTRG, thực tiễn thi hành ít được quan tâm nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận và thựctiễn về TTRG trong pháp luật tố tụng hình sự, tìm ra những bất cập trong quy định
về TTRG của BLTTHS năm 2003 nhằm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quyđịnh của BLTTHS về TTRG và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tụcnày trong tố tụng hình sự
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:
Trang 4- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn như: khái niệmthủ tục rút gọn, ý nghĩa của thủ tục rút gọn…
- Nghiên cứu và đánh giá các quy định của BLTTHS năm 2003 về TTRG;
- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục rútgọn; xác định nguyên nhân của thực trạng đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu và hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong
đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm:
- Những vấn đề lý luận về TTRG trong tố tụng hình sự
- Những quy định về TTRG theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một
số nước trên thế giới
- Thực tiễn áp dụng TTRG trong tố tụng hình sự Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Với những đối tượng nghiên cứu nêu trên, phạm vi nghiên cứu đề tài được xácđịnh như sau:
- Những quy định về TTRG trong BLTTHS năm 2003 của Việt Nam và một
số nước trên thế giới
- Thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2003 về TTRG từ năm 2006đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận, quan điểm duy vật lịch sử,duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về cải cách tư pháp
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương phápphân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, phương pháp kết hợp giữa lý luận vàthực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của TTRG trong tố tụnghình sự, xây dựng khái niệm về TTRG, nêu lên mục đích, ý nghĩa của TTRG gópphần thống nhất nhận thức về vấn đề này
Trang 5- Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành vềTTRG, thực tiễn áp dụng TTRG trong thời gian qua, đưa ra những nhận xét, đánhgiá, xác định nguyên nhân của thực trạng áp dụng TTRG, xác định những bất cậptrong các quy định của pháp luật về TTRG cần được hoàn thiện, những vướng mắctrong việc áp dụng TTRG cần được giải quyết.
- Luận văn đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định củaBLTTHS năm 2003 về TTRG và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụngthủ tục này trong thực tiễn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo,nghiên cứu khoa học và những người quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: phần mở đầu, phần nội dung và kết luận; danh mục tài liệutham khảo; danh mục từ viết tắt
Phần nội dung của luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam.Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn và một số giải pháp nâng caohiệu quả việc áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 6
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự
Thủ tục tố tụng hình sự được hiểu là cách thức, trình tự được áp dụng để pháthiện và xử lý tội phạm nhằm mục đích cơ bản là phát hiện chính xác, nhanh chóng
và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội
Luật tố tụng hình sự nói chung cũng như ở Việt Nam, ngoài thủ tục thôngthường còn có những thủ tục đặc biệt khác để giải quyết vụ án hình sự đáp ứng yêucầu đấu tranh phòng chống tội phạm Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003, ngoài hình thức tố tụng thông thường, còn có một số thủ tục đặc biệtđược quy định tại phần thứ 7, trong đó gồm có thủ tục tố tụng đối với người chưathành niên, thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự,được rút ngắn về thời gian tố tụng, giản lược một số thủ tục nhất định nhưng vẫn
đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhằm giúp cho việc điều tra,
truy tố, xét xử được nhanh chóng đối với những vụ án nhất định [1, tr.728] Tuynhiên, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về thủ tục tố tụng đặc biệt này
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được tiến
hành trên cơ sở vẫn tuân theo những nguyên tắc cơ bản và các giai đoạn của tố tụnghình sự nhưng một số thủ tục được giản lược và thời hạn của các giai đoạn tố tụngđược rút ngắn để việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, kịp thời đối vớicác loại vụ án đơn giản, rõ ràng, đảm bảo cho cuộc đấu tranh chống tội phạm đượckịp thời và sắc bén, góp phần bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân khitham gia các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự [15, Tr.65]
Quan điểm thứ hai cho rằng: Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng hình sự được
rút ngắn về thời gian tố tụng, giản lược một số thủ tục nhất định nhưng vẫn đảm bảonhững nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhằm giúp việc điều tra, truy tố, xét
xử được nhanh chóng đối với những vụ án nhất định (thường là những vụ án có tính
Trang 7chất đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ lai lịch của người phạm tội rõ ràng) gópphần đấu tranh, phòng chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự [6, tr.13].
Hai quan điểm trên đã đưa ra khái niệm về thủ tục rút gọn, phản ánh đầy đủ,
cụ thể các đặc điểm của thủ tục rút gọn nhưng quá dài, các dấu hiệu khác chưa đượcnêu bật do quá chú trọng đến mục đích, ở quan điểm thứ hai sử dụng thuật ngữ “người phạm tội” là chưa hoàn toàn chính xác
Quan điểm thứ ba cho rằng: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một hình
thức tố tụng đặc biệt được áp dụng đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng,
có khung hình phạt thấp, theo đó có sự rút ngắn về thời gian và giản lược về thủ tụcnhằm giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo cho hoạt động đấutranh phòng chống tội phạm hiệu quả, góp phần bảo vệ các quyền tự do dân chủ củacông dân [7, Tr.7]
Quan điểm thứ tư cho rằng: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là thủ tục
đặc biệt trong đó thời hạn và các thủ tục tố tụng đã được rút ngắn và giản lược đểviệc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảmbảo tính chính xác và đúng đắn [14]
Quan điểm thứ ba và quan điểm thứ tư đã đưa ra được khái niệm ngắn gọn,súc tích, thể hiện được bản chất của thủ tục rút gọn Tuy nhiên, quan điểm thứ bavẫn đề cao yếu tố mục đích so với các yếu tố khác và cả hai quan điểm đều chưa chỉ
ra được nguyên tắc cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự
Quan điểm thứ năm cho rằng: Thủ tục rút gọn là một trình tự tố tụng đặc biệt
do Viện kiểm sát quyết định khi có đủ các điều kiện theo quy định của BLTTHS; làtrình tự được rút ngắn về thời gian và giản lược một số thủ tục trong hoạt động điềutra, truy tố và xét xử sơ thẩm nhưng vẫn tuân thủ theo các nguyên tắc chung củaBLTTHS, nhằm xử lý một số loại vụ án được nhanh chóng và hiệu quả [16, tr.63] Quan điểm trên cho rằng TTRG do VKS quyết định áp dụng là một đặc điểmcủa TTRG là chưa chuẩn xác BLTTHS Việt Nam quy định chủ thể có thẩm quyền
áp dụng thủ tục đặc biệt này là VKS BLTTHS của một số nước như: Nhật Bản,Hàn Quốc, Pháp…cũng quy định, chủ thể có thẩm quyền áp dụng là Công tố viên(Cơ quan công tố) Tuy nhiên ở một số nước mà pháp luật tố tụng hình sự có quy
Trang 8định áp dụng TTRG thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng thủ tục này có thể là Tòa ánhoặc Cảnh sát viên giữ quyền công tố nhà nước, ví dụ: BLTTHS Cộng hòa nhândân (CHND) Trung Hoa quy định: tòa án nhân dân có thể áp dụng TTRG do mộtThẩm phán xét xử [48, Điều 174]; BLTTHS năm 1995 của Tây Úc quy định: đốivới những vấn đề có thể được xét xử theo trình tự TTRG thì Cảnh sát có toàn quyềnquyết định việc truy tố, nếu cảnh sát quyết định giải quyết vụ việc theo trình tự rútgọn thì vụ án sẽ được xét xử theo TTRG [48]
Để đưa ra khái niệm về TTRG trong tố tụng hình sự, cần nghiên cứu nhữngđặc điểm cơ bản của thủ tục này Dưới góc độ là một thủ tục đặc biệt trong tố tụnghình sự, TTRG có những đặc điểm sau:
+ Rút ngắn về thời gian tố tụng
Một đặc điểm đặc trưng của TTRG là thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tụcnày có sự rút ngắn so với thủ tục thông thường Trong thủ tục thông thường, nhàlàm luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạt động tố tụng ởnhững giai đoạn tố tụng nhất định nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án chính xác,kịp thời, đúng pháp luật Tuy nhiên, với một số vụ án nhất định có thể cho phép giảiquyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp dụng thời hạn chung để giảiquyết thì có thể gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức của các cơ quantiến hành tố tụng Với những vụ án đó, pháp luật quy định một thời gian tố tụngngắn hơn thời hạn thông thường, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ ánnhanh chóng nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Nghiên cứupháp luật của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể hiểu rõ hơn đặc điểm này.Tại Đức, đối với những vụ án thích hợp cho việc xét xử trực tiếp (theo thủ tục xét
xử nhanh với những vụ án đơn giản hoặc chứng cứ rõ ràng), khi có đề nghị của Cơquan công tố, phiên toà chính sẽ được mở ngay lập tức [44, Điều 418] Ở Pháp,trong trường hợp phạm tội quả tang, nếu phạt tù cao nhất theo luật định là từ mộtnăm đến bảy năm và nếu Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm thấy cácyếu tố đòi hỏi phải đưa bị cáo ra toà ngay thì Viện trưởng Viện công tố bên cạnhToà sơ thẩm có thể quyết định đưa bị cáo ra Toà ngay trong cùng ngày [13, Điều395] Ở Trung Quốc, đối với vụ án được xét xử theo TTRG, Toà án nhân dân phảikết thúc trong thời hạn 20 ngày sau khi thụ lý vụ án [49, Điều 178] Tại Liên bang
Trang 9Nga, việc giải quyết vụ án theo TTRG được tiến hành trong thời hạn không quá bốnmươi tư ngày (Cơ quan điều tra ban đầu trong thời hạn mười ngày phải xác định cáctình tiết về tội đã phạm và nhân thân người phạm tội, thu thập các chứng cứ cầnthiết cho việc xét xử vụ án; trong trường hợp cần điều tra làm rõ các tình tiết của tộiphạm thì Cơ quan điều tra ban đầu tiến hành các thủ tục điều tra không quá haimươi ngày; thời hạn tối đa cho việc xét xử tại Toà án là mười bốn ngày [47].
BLTTHS năm 2003 của Việt Nam quy định thời hạn tối đa cho việc giải quyết
vụ án theo TTRG là không quá ba mươi ngày, theo đó thời hạn điều tra là mười haingày, thời hạn truy tố là bốn ngày và thời hạn xét xử là mười bốn ngày Như vậy,thời hạn này so với thủ tục thông thường đã được rút ngắn rất nhiều
+ Giản lược về thủ tục tố tụng
Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với một số vụ án nhất định, do có sự rút ngắn vềthời gian so với thủ tục thông thường nên để phù hợp với sự rút ngắn về thời gian
đó pháp luật cho phép người tiến hành tố tụng không phải tiến hành một số hoạtđộng tố tụng nhất định và vì vậy nên lược bớt được một số thủ tục tố tụng trong quátrình giải quyết vụ án Tại Đức, Cơ quan công tố sẽ gửi đề nghị bằng văn bản hoặcbằng lời cho Thẩm phán Toà hình sự và Toà án có thẩm phán không chuyên để cóquyết định áp dụng thủ tục xét xử nhanh Khi cơ quan công tố gửi đề nghị, phiên toàchính thức sẽ được mở ngay lập tức với thông báo ngắn gọn mà không cần phải raquyết định mở phiên toà chính thức Cơ quan Công tố cũng không nhất thiết phảigửi cáo trạng đến Toà án trước khi mở phiên toà chính thức mà có thể đưa ra cáobuộc ngay khi bắt đầu phiên toà chính thức, nội dung cáo buộc sẽ được ghi lại trongbiên bản phiên toà [44, Điều 417, Điều 418] Ở Nhật Bản, hệ thống Toà án giảnlược giải quyết vụ án theo trình tự giản lược chỉ có một Thẩm phán tiến hành tốtụng Đối với những vụ án giải quyết theo trình tự giản lược thì theo yêu cầu củaCông tố viên, một Thẩm phán của Toà án giản lược xem xét hồ sơ do Công tố viên
đệ trình quyết định một khoản tiền nộp phạt thích hợp cho người phạm tội màkhông cần tổ chức xét xử công khai Nếu không đồng ý lệnh nộp phạt thì trong thờihạn mười bốn ngày kể từ ngày nhận được thông báo về lệnh xử phạt theo thủ tụcgiản lược, người phạm tội có thể đề nghị xét xử vụ án theo thủ tục thông thường[46, Điều 461, Điều 463] Tại Trung Quốc, Toà án nhân dân có thể áp dụng thủ tục
Trang 10rút gọn do một Thẩm phán xét xử [49, điều 174] Ở Pháp, nếu quyết định áp dụngTTRG thì Viện công tố chuyển hồ sơ truy tố và các kết luận của mình cho Thẩmphán Toà vi cảnh Thẩm phán ra quyết định hình sự tha bổng hoặc phạt tiền bị cáo
mà không cần tiến hành xét hỏi trước và Thẩm phán không phải nêu căn cứ củaquyết định Việc xét xử theo TTRG tại Toà vi cảnh do một Thẩm phán tiến hành[13, Điều 525, Điều 526] BLTTHS Hàn Quốc quy định: “Bản án theo thủ tục rútgọn có thể viết bằng văn bản cùng lúc với việc truy tố của Phòng Công tố” mà
“không cần phải tiến hành thủ tục xét xử thông thường” [45, Điều 448, Điều 449].Theo BLTTHS năm 2001 của Nga, TTRG ở cấp sơ thẩm có hai hình thức: Thủ tục
ra bản án mà không cần tiến hành xét xử theo thủ tục chung và thủ tục xét xử domột Thẩm phán tiến hành [ 47, Điều 314, Điều 318]
Sự giản lược về mặt thủ tục trong TTRG theo BLTTHS năm 2003 của ViệtNam được thể hiện: Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra (CQĐT) quyết định đềnghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho VKS mà không phải làm bản kết luận điều tra;việc truy tố bị can trước Toà án cũng chỉ bằng quyết định truy tố thay cho Bản cáotrạng Như vậy, ở các nước khác nhau, quy định giản lược về thủ tục tố tụng theoTTRG cũng khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều quy định việc giải quyết vụ
án giản lược hơn
+ Nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc áp dụng TTRGvẫn phải đảm bảo tôn trọng nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự quy định tạichương II, BLTTHS năm 2003 như: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyêntắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; nguyên tắc không ai bị coi
là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật; nguyên tắcđảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; nguyên tắc xét xửcông khai; nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia Thẩm phán vàHội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xét xử tập thể vàquyết định theo đa số… Sở dĩ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như phápluật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới không quy định hệ thống nguyên tắcriêng đối với TTRG vì về bản chất TTRG vẫn là một thủ tục tố tụng trong hệ thống
tố tụng hình sự của một quốc gia Việc quy định TTRG phải tuân thủ các nguyên
Trang 11tắc cơ bản như thủ tục thông thường hay các hình thức tố tụng đặc biệt khác sẽ đảmbảo tính thống nhất cho pháp luật tố tụng hình sự quốc gia, đảm bảo sự bình đẳngtrước pháp luật cho mọi công dân, đảm bảo dù áp dụng hình thức tố tụng chung hayhình thức tố tụng đặc biệt thì quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ phápluật tố tụng về cơ bản là như nhau.
+ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Pháp luật tố tụng hình sự quy định việc áp dụng TTRG để giải quyết một sốloại án nhất định Khi áp dụng TTRG thời gian được rút ngắn, thủ tục tố tụng đượcgiản lược nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời Tuy nhiên, dù giải quyết vụ
án hình sự theo TTRG hay theo thủ tục chung thì một trong những yêu cầu đặt rađối với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải đảm bảo vụ án được giải quyết mộtcách chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế sai sótxảy ra (do thời gian giải quyết ngắn) Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một
số nước trên thế giới cho thấy, pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia quy định điềukiện áp dụng TTRG có sự khác nhau nhưng về cơ bản chỉ áp dụng thủ tục này vớinhững tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội đơn giản, rõ ràng, mức hình phạt
áp dụng không cao, hậu quả pháp lý mà bị can, bị cáo phải gánh chịu không lớn vànếu có xảy ra sai sót trong việc giải quyết vụ án thì hậu quả cũng dễ khắc phục TạiĐức, thủ tục xét xử nhanh được áp dụng đối với những vụ án đơn giản hoặc cóchứng cứ rõ ràng (Điều 417) Ở Trung QuốC, TTRG có thể được áp dụng đối vớinhững vụ án: có tình tiết rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, có mức phạt tù không quá banăm, bị giam, giám sát hoặc phạt tiền (Điều 174) Ở Nhật Bản, các loại tội phạm
bị phạt tiền từ 500.000 Yên trở xuống, người bị tình nghi sẵn sàng chấp nhận bản ánphạt tiền và không phản đối thủ tục giản lược thì Công tố viên quyết định giải quyết
vụ án theo trình tự rút gọn (Điều 461) Tại Pháp, mọi hành vi phạm tội vi cảnh, dù
là hành vi tái phạm đều có thể được xét xử theo TTRG (Điều 524) Tại Nga, tộiphạm có thể bị xử lý theo TTRG là các tội phạm ít nghiêm trọng, hình phạt áp dụngkhông cao, có thể áp dụng các biện pháp tác động xã hội đối với người phạm tội nếu
có nhiều tình tiết giảm nhẹ (Điều 414)
Theo BLTTHS năm 2003 của Việt Nam, TTRG chỉ áp dụng khi có đủ cácđiều kiện sau: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội
Trang 12đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.
vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Từ những dấu hiệu của thủ tục rút gọn đã phân tích trên đây, có thể đưa ra mộtkhái niệm về thủ tục rút gọn như sau
Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt có sự rút ngắn về thời gian, giản lược về thủ tục, áp dụng đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, có tính chất ít nghiêm trọng nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
1.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn
Ý nghĩa chính trị
Việc áp dụng TTRG nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số
vụ án hình sự nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm đồng thời cũng góp phần hoàn thành một trong những mục tiêuquan trọng của cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị quyết số
48 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 vàNghị quyết số 49– NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra là: tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tộiphạm, bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự
Việc rút ngắn thời gian, giản lược một số thủ tục tố tụng nhất định, tạo điềukiện giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhưng vẫn đảm bảo
Trang 13được những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là không để lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng phápluật góp phần thiết thực vào việc thực hiện định hướng mà Nghị quyết số 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
đã đề ra là: “hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”
Với quy định bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nạiquyết định áp dụng TTRG của VKS Trong trường hợp có khiếu nại, VKS phải giảiquyết khiếu nại này và CQĐT chỉ được áp dụng TTRG khi đã có quyết định giảiquyết khiếu nại của VKS, TTRG trong BLTTHS năm 2003 đã góp phần đề cao vấn
đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự
Ý nghĩa pháp lý
Quy định về TTRG là sự kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục rútngắn trong các văn bản trước đây của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thờicũng là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp nước ta khi quy định về thủ tụcnày không được ghi nhận tại BLTTHS đầu tiên của nước ta năm 1988 Chế địnhTTRG trong BLTTHS năm 2003 có sự tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến bộ củapháp luật nước ngoài và phù hợp với nền lập pháp nước ta về thủ tục này, đáp ứngyêu cầu xu thế quốc tế hoá mọi mặt của đất nước hiện nay
Quy định về TTRG trong BLTTHS năm 2003 là cơ sở pháp lý để các cơ quantiến hành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ítnghiêm trọng, có tính chất quả tang, đơn giản rõ ràng không cần phải mất nhiều thờigian, không phải thực hiện nhiều thủ tục tố tụng
Thủ tục rút gọn góp phần nhanh chóng khôi phục quan hệ xã hội bị xâm phạm,tội phạm sớm được xét xử, người bị hại sớm được khôi phục quyền lợi, người phạm
Trang 14tội sớm phải chịu hình phạt nên cũng sớm trở về hoà nhập cuộc sống, từ đó gópphần nhanh chóng ổn định trật tự xã hội.
Ngoài ra, TTRG còn là biện pháp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức choviệc điều tra, truy tố, xét xử một số tội phạm nhất định; giảm tải gánh nặng côngviệc cho các cơ quan tư pháp; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm;đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian cho những người tham gia tố tụng vì thờigian giải quyết vụ án ngắn nên người tham gia tố tụng không phải mất nhiều thờigian cho vụ án
Với việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án nhất định nhưng vẫnđảm bảo được những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, TTRG góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật, hệthống cơ quan tư pháp nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung Thủ tục rút gọntrong tố tụng hình sự góp phần giải quyết nhanh chóng các vụ án hình sự sẽ củng cốthêm lòng tin của người dân vào sự công bằng của pháp luật, sự công tâm của cán
bộ công tác trong ngành tư pháp, hiệu quả công tác tư pháp sẽ được nâng cao, đảmbảo hiệu quả và hiệu lực
1.3 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn 1.3.1 Quy định về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn 1.3.1.1 Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn là giới hạn luật định cho phép thủ tục rút gọnđược áp dụng trong những giai đoạn nhất định của tố tụng hình sự Điều 318BLTTHS năm 2003 quy định về phạm vi áp dụng TTRG như sau: thủ tục rút gọnđối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm được áp dụng theo quy định củachương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái vớinhững quy định của chương này
Với quy định như trên, TTRG không áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng
mà chỉ được áp dụng trong ba giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm Đây làcác giai đoạn trung tâm của trình tự tố tụng, thể hiện rõ nét nhất chức năng củaCQĐT, VKS và Tòa án cũng như mối quan hệ phối hợp và chế ước của ba cơ quannày Theo quy định tại Điều 320 BLTTHS năm 2003, các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 15được áp dụng TTRG để giải quyết vụ án sau khi có quyết định áp dụng TTRG củaVKS, quyết định này được ban hành sau khi khởi tố vụ án, tức là trong giai đoạnđiều tra vụ án Sở dĩ pháp luật không quy định áp dụng TTRG ở ngay giai đoạnkhởi tố vụ án vì ở giai đoạn này các dấu hiệu của tội phạm mới đang được xác định,
cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể xác định được các điều kiện áp dụng TTRG theoquy định của pháp luật Thủ tục rút gọn cũng không được áp dụng ở các giai đoạnsau khi xét xử sơ thẩm như: xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết địnhchưa có hiệu lực pháp luật, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục thi hành án Nếu vụ án phải xét xửlại theo thủ tục phúc thẩm thì tính chất “ sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõràng” không còn nữa mà vụ án đã trở thành phức tạp vì “ khi bản án, quyết định củaToà án cấp sơ thẩm đã bị kháng cáo, kháng nghị là đã có sự không thống nhất giữaToà án với VKS hoặc giữa Toà án với những người tham gia tố tụng có quyềnkháng cáo trong việc giải quyết vụ án” [11] và vụ án được áp dụng thủ tục chung đểgiải quyết sẽ đảm bảo các tình tiết của vụ án được xem xét toàn diện, đầy đủ và tỉ
mỉ hơn Do đó, BLTTHS năm 2003 quy định TTRG gọn chỉ được áp dụng tronggiai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm
Tuy nhiên, việc BLTTHS năm 2003 quy định không áp dụng TTRG đối vớiviệc xét xử phúc thẩm là bó hẹp phạm vi áp dụng của thủ tục này Về mặt lý luậncũng như thực tiễn xét xử cho phép nhận định có những trường hợp việc kháng cáocủa bị cáo không làm cho tính chất của vụ án trở nên phức tạp Đa số các bị cáothực hiện quyền kháng cáo để xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt với tâm lýcầu may, nhiều trường hợp người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bịcáo vì họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống với bị cáo hoặc vì thông cảm, tha thứ,không muốn gây thù oán với bị cáo chứ không phải vì phản đối việc giải quyết vụ
án của tòa án cấp sơ thẩm, cũng không phải vì bản án, quyết định của tòa án cấp sơthẩm không đảm bảo tính hợp pháp hay tính không có căn cứ [11] Với nhữngtrường hợp trên thì thực chất không có vấn đề cần xem xét thêm các tình tiết thuộcnội dung vụ án, cũng không cần xem xét lại việc áp dụng pháp luật của tòa án cấp
sơ thẩm mà chỉ xem xét có thể giảm hơn nữa mức án cho bị cáo hay không mà thôi
Vì vậy, trong trường hợp này, nếu như vụ án đã có đủ điều kiện để xét xử sơ thẩm
Trang 16theo TTRG thì những điều kiện đó vẫn được duy trì sau khi bản án bị kháng cáo,hoàn toàn có thể áp dụng TTRG để xét xử phúc thẩm những vụ án này mà khôngảnh hưởng đến chất lượng xét xử và vẫn bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của bịcáo Việc hạn chế áp dụng TTRG trong xét xử phúc thẩm trong những trường hợpnày là không cần thiết Mặt khác, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có kháng cáo hoặckháng nghị theo trình tự phúc thẩm thì vẫn phải áp dụng theo thủ tục chung mà theoquy định tại Điều 242 về thời hạn xét xử phúc thẩm thì “ Tòa án nhân dân cấp tỉnh,Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60ngày…” Như vậy, tổng số thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo TTRG là
30 ngày trong khi thời hạn xét xử phúc thẩm là 60 ngày, đây là điều không hợp lýlàm mất đi ý nghĩa của TTRG [27]
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới cho thấyphạm vi áp dụng TTRG trong tố tụng hình sự có sự khác nhau Một số nước giớihạn trong một giai đoạn tố tụng nhất định ví dụ: BLTTHS CHND Trung Hoa,BLTTHS Cộng hòa Pháp, BLTTHS Liên bang Nga quy định TTRG chỉ được ápdụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, không áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy
tố Một số nước quy định áp dụng TTRG trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử ví
dụ như: BLTTHS Tây Úc, BLTTHS Việt Nam Một số nước có quy định mở rộngphạm vi áp dụng TTRG đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm, ví dụ: tại khoản 4,khoản 5 Điều 364 BLTTHS Hàn Quốc quy định: khi Tòa án thấy rằng rõ ràng đơnkháng cáo không có cơ sở, Tòa án có thể bác đơn kháng cáo bằng bản án mà khôngcần tố tụng miệng, bằng cách thẩm tra đơn kháng cáo, bản trình bày lý do kháng cáohoặc bất kỳ tài liệu nào của vụ án; Điều 408 BLTTHS Nhật Bản quy định: Trườnghợp Tòa án phúc thẩm Jokoku, sau khi xem xét bản trình bày lý do kháng nghịJokoku đã tìm thấy những tài liệu khác chứng tỏ rằng việc kháng nghị là không thểchứng minh được, thì Tòa án có thể bác kháng nghị bằng một bản án mà không cầnphải tiến hành thủ tục xét xử bằng lời nói
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước đây cũng có quy định về việc ápdụng TTRG ở cấp phúc thẩm, cụ thể tại Thông tư số 19/TT – TATC ngày12/10/1974 của Tòa án nhân dân tối cao đã quy định về điều kiện, trình tự áp dụngTTRG để xét xử ở giai đoạn phúc thẩm Các quy định đó vẫn có những điểm hợp lý
Trang 17cần được tiếp tục kế thừa và phát triển
Như vậy, xét về lịch sử lập pháp các quy định về phạm vi áp dụng TTRG củaViệt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản có những điểm tương đồng, đây là vấn đề cần đượcxem xét khi sửa đổi bổ sung BLTTHS về thủ tục đặc biệt này
1.3.1.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là những căn cứ mà BLTTHS quy định cần
và đủ để có thể áp dụng thủ tục này Theo quy định tại Điều 319 BLTTHS năm
2003 thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang
Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạmthì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ ngườinào cũng có quyền bắt và giải ngay đến các cơ quan Công an, VKS hoặc Ủy bannhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắtđến CQĐT có thẩm quyền Theo quy định trên thì phạm tội quả tang là trường hợpngười thực hiện hành vi phạm tội bị bắt khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay saukhi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Như vậy, phạm tội quả tanggồm các trường hợp: trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và
bị bắt giữ; trường hợp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ
và trường hợp đang bị đuổi bắt vì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạm hoặcngay sau khi thực hiện tội phạm
- Trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ.Người đang thực hiện tội phạm được hiểu là người đang thực hiện những hành vikhách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Đang thực hiện tội phạm có thểlà: đang thực hiện những hành vi làm cơ sở tiền đề liền trước hành vi phạm tội,những hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội mà đây là những hành
vi rất gần, không thể tách ra được với hành vi khách quan trong cấu thành tội phạmnên được coi là hành vi thực hiện tội phạm Ví dụ như: hành vi giơ dao để đâm, lắpđạn vào súng để bắn…[28, tr.156, tr.157, tr.204, tr.205];đã thực hiện hành vi kháchquan của tội phạm nhưng chưa thực hiện được hết các hành vi mô tả trong cấuthành tội phạm, hoặc mới thực hiện được một trong số những hành vi quy địnhtrong cấu thành tội phạm …[28, tr.156, tr.157, tr.204, tr.205], ví dụ như: đang dùng
Trang 18vũ lực với nạn nhân để giao cấu với nạn nhân, đang uy hiếp tinh thần nạn nhân đểchiếm đoạt tài sản,…hành vi đang thực hiện có thể đã gây ra hậu quả hoặc chưa, cóthể diễn ra trong một thời gian ngắn (như hành vi cướp tài sản) hoặc có thể diễn ratrong một thời gian dài (như hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng).
- Trường hợp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ.Trường hợp này các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã được thựchiện hết, đã thoã mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, tội phạm vừa mớiđược hoàn thành nhưng người thực hiện hành vi phạm tội chưa kịp chạy trốn hoặcđang cất dấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xoá những dấu vết của tội phạmtrước khi chạy trốn thì bị phát hiện và bị bắt giữ Thời điểm bị bắt giữ có sự tiếp liền
về mặt thời gian với thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện, người thực hiệnhành vi phạm tội chưa rời khỏi hiện trường vụ án
- Trường hợp đang bị đuổi bắt vì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạmhoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm Đây là trường hợp người phạm tội đang thựchiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạytrốn và bị đuổi bắt Việc thực hiện tội phạm, chạy trốn và đuổi bắt có sự liên tục,không có sự gián đoạn về mặt thời gian và diễn biến của sự việc
Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng, ai trôngthấy cũng có thể biết đó là tội phạm Các vụ án mà người phạm tội bị bắt quả tangthông thường là những trường hợp chứng cứ tang vật của vụ án được thu giữ đầy
đủ, người làm chứng, người bị hại cũng được xác định cụ thể nên người phạm tộikhông thể chối cãi về hành vi mà mình đã hoặc đang thực hiện, do đó việc xác địnhtội phạm được nhanh chóng
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết án hình sự cho thấy không phải chỉ có trườnghợp phạm tội quả tang việc xác định tội phạm mới được nhanh chóng, chính xác mà
có nhiều trường hợp vụ án tuy không phải thuộc trường hợp quả tang, song sự việcphạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cướclai lịch của bị can rõ ràng nhưng không được áp dụng TTRG vì không phải làtrường hợp phạm tội quả tang Ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hômsau trên đường A đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo công an bắt giữ, A thừa nhậnhành vi trộm cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B Hoặc có
Trang 19những trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú về hành vi phạm tội của mình màhành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, việc chứng minh tội phạmvẫn đảm bảo yếu tố nhanh chóng, chính xác nhưng vì cũng không phải là trườnghợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng TTRG [27] Do vậy, việcBLTTHS năm 2003 quy định điều kiện người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quảtang thực chất chỉ có ý nghĩa khoanh vùng, hạn chế các vụ án được áp dụng theoTTRG một cách cơ học Mặt khác, mục đích của TTRG là làm giảm áp lực, giảm sựquá tải về số lượng án phải giải quyết theo thủ tục thông thường Cho nên, việc quyđịnh điều kiện người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang là bó hẹp so vớithực tiễn, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Điều kiện thứ hai: sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
Điều kiện “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” mang tính định tính.
Pháp luật tố tụng hình sự hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là “sựviệc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” Vấn đề này trước đây đã được đề cập tạiThông tư số 10 – TATC ngày 8/7/1974 của Toà án nhân dân Tối cao: “Tội phạmđơn giản, rõ ràng là: vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh,
bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo” Tuy nhiên, văn bảnnày hiện nay đã không còn hiệu lực Do vậy, không thể dựa vào quy định tại Thông
tư số 10 – TATC ngày 8/7/1974 để áp dụng cho vấn đề này Điều kiện “sự việcphạm tội đơn giản, rõ ràng” gồm hai dấu hiệu: sự việc phạm tội đơn giản và sự việcphạm tội có chứng cứ rõ ràng Căn cứ vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, cóthể hiểu điều kiện này như sau:
- Sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong
vụ án không phức tạp và dễ xác định Điều 63 BLTTHS quy định những vấn đề cầnchứng minh gồm: 1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm vànhững tình tiết khác của hành vi phạm tội; 2 Ai là người thực hiện hành vi phạmtội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay do vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sựhay không; mục đích, động cơ phạm tội; 3 Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự của bị can bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị cáo; 4.Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Cụ thể:
Trang 20+ Hành vi phạm tội thường do một người thực hiện hoặc có thể có nhiều ngườithực hiện nhưng là trường hợp đồng phạm giản đơn, việc xác định vai trò, vị trí củatừng đối tượng dễ dàng mà không phải trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồngphạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng Tội phạm được thựchiện tại một địa điểm nhất định, không liên quan đến nhiều địa bàn khác.
+ Người thực hiện hành vi phạm tội thường là người đã thành niên, có đủ nănglực trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp có nghi ngờ về năng lực tráchnhiệm hình sự của họ Hành vi mà họ thực hiện thường do lỗi cố ý, yếu tố lỗi đượcthể hiện rõ ràng và dễ xác định
+ Mục đích phạm tội thường là lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi mang tính nhấtthời, dễ xác định
+ Sự việc phạm tội không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, không liênquan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề chínhtrị, an ninh, kinh tế… phức tạp khác Việc giải quyết vụ án cũng không đòi hỏi phảitiến hành những hoạt động điều tra phức tạp khác
- Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng
Chứng cứ rõ ràng có thể được hiểu là những chứng cứ phản ánh đầy đủ, chínhxác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án Vụ án thuộc trườnghợp phạm tội quả tang nên chứng cứ của vụ án được thu thập tương đối đầy đủ ngaysau khi bắt người thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai củangười bị bắt giữ, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng trực tiếpchứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu được tại hiện trường…các chứng cứcần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ án được thu thập nhanh chóng, đầy
đủ Chứng cứ của vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình
tự, thủ tục mà pháp luật quy định, có giá trị chứng minh trực tiếp, khách quan vàhợp pháp Chứng cứ rõ ràng là một yếu tố quan trọng để xác định vụ việc phạm tội
là đơn giản, đồng thời rút ngắn quá trình điều tra, xác minh của cơ quan tiến hành tốtụng, tạo điều kiện để giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác
Trong thực tiễn áp dụng TTRG để giải quyết vụ án hình sự thì hai yếu tố sựviệc phạm tội đơn giản và chứng cứ rõ ràng có mối liên hệ lôgíc với nhau Trongkhái niệm sự việc phạm tội đơn giản có bao hàm cả yếu tố chứng cứ rõ ràng và
Trang 21ngược lại Tính chất sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng phải luôn tồn tạitrong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Nếu trong quátrình giải quyết vụ án theo TTRG mà phát hiện có những tình tiết phức tạp, phảiđiều tra bổ sung, cần thời gian để xác minh thêm thì TTRG bị huỷ bỏ, vụ án phảigiải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều kiện thứ ba: tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng.
BLHS sửa đổi năm 2009 phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, baogồm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
“ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội màmức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù” (Khoản 3 Điều 8BLHS năm 2009)
Theo quy định này để xác định tội phạm ít nghiêm trọng phải dựa trên hai dấuhiệu: dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội và dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý.Dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội là tính nguy hiểm cho xã hội Tội phạm ítnghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội Dấu hiệu về mặt hậuquả pháp lý là tính chịu hình phạt Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức caonhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến ba năm tù
Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lý mà người thựchiện tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải gánh chịu là không lớn nên việc xử lý cóthể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp việc xử lý có sai sót thì hậuquả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các trường hợp thực hiện tội phạmkhác và việc khắc phục hậu quả cũng dễ dàng hơn
BLHS năm 2009 có 149/267 điều luật có quy định về tội phạm ít nghiêm trọngTuy nhiên không phải tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng TTRG
vì còn phụ thuộc vào các điều kiện khác, đặc biệt là điều kiện “ sự việc phạm tộiđơn giản, chứng cứ rõ ràng”, nhiều vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng lạiphức tạp trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ như các tội gây rối trật tự côngcộng, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp… thì cũng không thể áp dụng TTRG đểgiải quyết Do đó, số lượng án ít nghiêm trọng được áp dụng để giải quyết theoTTRG là rất hạn chế Trong khi thực tiễn xét xử lại có nhiều vụ án phạm tội nghiêm
Trang 22trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1,2,4 quy định tại Điều 319 song không thể
áp dụng được TTRG vì không thỏa mãn với điều kiện “ tội phạm đã thực hiện là tộiphạm ít nghiêm trọng”
Việc phân loại tội phạm trong BLHS của nước ta hiện nay chủ yếu dựa vàomức độ gây nguy hại của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt có thể ápdụng đối với hành vi phạm tội đó chứ không phân loại tội phạm theo mức độ đơngiản hay phức tạp của hành vi phạm tội Do đó, việc xác định điều kiện áp dụngTTRG chỉ với tội phạm ít nghiêm trọng là không phù hợp về cơ sở lý luận và thựctiễn
Điều kiện thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng
Vấn đề căn cước, lai lịch của bị can, bị cáo là một trong những vấn đề cầnchứng minh của vụ án hình sự theo quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003, vấn
đề này có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án: Lý lịch của bị can, bị cáo liênquan đến năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, liên quan đến việc quyếtđịnh hình phạt (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo)
… Căn cước lai lịch của người phạm tội đã rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh
có thể được rút ngắn và từ đó bảo đảm thời gian tố tụng
Đặc điểm về căn cước, lai lịch của người phạm tội được hiểu một cách chungnhất là đặc điểm về nhân thân của người phạm tội Nhân thân của người phạm tộibao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, thành phần xã hội,trình độ văn hoá, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hành cảhn gia đình, quá trìnhhoạt động chính trị, xã hội, tiền án, tiền sự…[6, tr.38]
Khi quyết định áp dụng TTRG để giải quyết vụ án, việc xác định căn cước, lailịch của bị can rõ ràng hay không có thể dựa vào lời khai ban đầu của bị can về lýlịch của họ Đối với vụ án giải quyết theo TTRG thì không những lý lịch bị can, bịcáo phải rõ ràng, có giấy tờ chứng minh hợp pháp, những thông tin về vấn đề này cụthể, độ tin cậy cao mà còn đòi hỏi việc xác minh căn cước, lai lịch của người phạmtội dễ dàng, nhanh chóng không ảnh hưởng tới thời hạn áp dụng [6, tr.42]
Bốn điều kiện trên đây một mặt độc lập với nhau, mặt khác lại có mối quan hệ
bổ trợ nhau Ví dụ: không phải mọi tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụngTTRG, vì có nhiều tội danh tuy là ít nghiêm trọng nhưng lại hết sức phức tạp trong
Trang 23thu thập và đánh giá chứng cứ như các tội về môi trường, tội phạm chức vụ, tộiphạm xâm phạm các hoạt động tư pháp [17].Điều kiện về người thực hiện hành viphạm tội bị bắt quả tang và điều kiện người thực hiện tội phạm có căn cước, lai lịch
rõ ràng là tiền đề xác định điều kiện sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
Vì thế khi xem xét áp dụng TTRG cần phân tích đánh giá từng điều kiện trong mốiliên hệ tổng thể với các điều kiện khác và chỉ quyết định giải quyết vụ án theoTTRG khi cả bốn tiêu chí trên đều đảm bảo Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
sơ thẩm vụ án theo TTRG nếu một trong các điều kiện này mất đi thì vụ án phảichuyển về thủ tục thông thường để giải quyết
1.3.1.3 Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại Điều 320BLTTHS năm 2003:
1 Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án
có đủ các điều kiện quy định tại điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể raquyết định áp dụng thủ tục rút gọn
2 Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho cơ quan điều tra và bịcan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyếtđịnh áp dụng thủ tục rút gọn
3 Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại Bị can hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn;thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định Khiếu nại được gửiđến Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyếttrong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại
Theo quy định này, hiện nay chỉ có VKSND cùng cấp với CQĐT đang thụ lý
vụ án là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất là có thẩm quyền quyết định áp dụngTTRG Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2003 về thẩm quyềnđiều tra và khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền xét xử của Toà áncác cấp, vụ án ít nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp huyện.Điều 36 BLTTHS năm 2003 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm củaViện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, theo đó Viện trưởng VKSND có quyền “ ra cácquyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện
Trang 24kiểm sát” Như vậy, người có thẩm quyền ký quyết định áp dụng TTRG là Việntrưởng VKSND cấp huyện, khi Viện trưởng VKS vắng mặt một Phó viện trưởngđược Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng.
VKS sẽ ra quyết định áp dụng TTRG trong hai trường hợp: Một là, theo đềnghị của CQĐT Trong quá trình thụ lý vụ án, xét thấy có đủ điều kiện áp dụng theoTTRG theo quy định của BLTTHS năm 2003, CQĐT sẽ đề nghị VKS ra quyếtđịnh Trên cơ sở đề nghị này và những tài liệu mà cơ quan điều tra chuyển sang,VKS thấy vụ án có đủ điều kiện quy định tại điều 319 BLTTHS năm 2003 thì raquyết định áp dụng TTRG để giải quyết vụ án Hai là, VKS tự ra quyết định ápdụng TTRG mà không cần phải có đề nghị của CQĐT Chức năng của VKS là “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi tráchnhiệm do luật định” [18, Điều 137] Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sáthoạt động khởi tố vụ án của CQĐT, VKS nhận thấy có đủ điều kiện theo luật địnhthì có thể tự mình ra quyết định áp dụng TTRG
Trong cả hai trường hợp trên VKS chỉ có thể áp dụng TTRG “sau khi khởi tố
vụ án” và “ quyết định áp dụng TTRG phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị canhoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định
án dụng TTRG” Quyết định này có thể bị khiếu nại, người có quyền khiếu nại là bịcan hoặc người đại diện hợp pháp của họ Thời hạn khiếu nại là 3 ngày kể từ ngàynhận quyết định Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền, thời hạn giảiquyết khiếu nại, chứ không quy định căn cứ, cách thức giải quyết khiếu nại và hậuquả của việc giải quyết khiếu nại Tuy nhiên chúng ta có thể nhận định nếu khiếunại được chấp nhận thì VKS sẽ ra quyết định huỷ quyết định áp dụng TTRG, vụ ángiải quyết theo thủ tục thông thường, còn nếu VKS nhận thấy khiếu nại không có cơ
sở thì TTRG được áp dụng để giải quyết vụ án
Việc quy định thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG thuộc về VKS, CQĐTchỉ có quyền đề nghị trong khi CQĐT lại là chủ thể chịu trách nhiệm chính trongviệc thu thập chứng cứ và tài liệu của vụ án Mặt khác, lại có thêm một thủ tục làCQĐT phải làm văn bản đề nghị VKS ra quyết định áp dụng TTRG Điều nàykhông những không giản lược thủ tục mà còn phức tạp thêm Do đó, quy định thẩmquyền ra quyết định áp dụng TTRG như pháp luật hiện hành là chưa phù hợp
Trang 25Thực tiễn giải quyết án hình sự theo TTRG cho thấy các cơ quan tiến hành tốtụng chưa thực sự quan tâm đến việc áp dụng thủ tục này Một mặt, do thời hạn giảiquyết vụ án theo TTRG quá ngắn (đặc biệt là trong giai đoạn điều tra, truy tố), mặtkhác pháp luật cũng không quy định bắt buộc phải áp dụng TTRG khi vụ án có đủđiều kiện luật định nên việc áp dụng TTRG chưa đi vào ý thức của những ngườitiến hành tố tụng, vẫn còn quan niệm áp dụng cũng được không áp dụng cũng được.Cho nên, ĐTV và CQĐT ở hầu hết các quận huyện chưa chủ động trong việc đềnghị áp dụng TTRG, KSV và VKS ở một số nơi vẫn không mấy quan tâm đến thủtục này [43] Thực tế trên dẫn đến tình trạng việc áp dụng TTRG để giải quyết các
vụ án có đủ điều kiện luật định còn rất hạn chế
1.3.2 Quy định về thời hạn và thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn.
1.3.2.1 Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn.
Thời hạn trong tố tụng hình sự được hiểu là khoảng thời gian tối đa màBLTTHS cho phép tiến hành tố tụng đối với vụ án Một đặc điểm cơ bản của TTRGtrong tố tụng hình sự là sự rút ngắn về thời hạn tố tụng một cách đáng kể so với thủtục thông thường BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơthẩm theo TTRG như sau:
Thời hạn điều tra: Do tính chất đơn giản của vụ án, hoạt động điều tra theo
TTRG không quá phức tạp, tốn kém thời gian và công sức của CQĐT Cho nên thờihạn điều tra theo thủ tục này được rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường.Thời hạn điều tra theo TTRG là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ
án Thời hạn điều tra được tính dựa theo quy định chung tại khoản 1 Điều 119BLTTHS năm 2003 là “kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra” Việcquy định thời hạn điều tra rút ngắn như vậy là để cho việc điều tra được tiến hànhkhẩn trương, nhanh chóng đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp của bị can và nhữngngười tham gia tố tụng khác
Thời hạn truy tố: Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì trong thời hạn 4
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, VKS phải ra một trong những quyết địnhsau đây…” Sau khi nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án củaCQĐT, VKS tiến hành xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án và trong thời hạn không quá
Trang 26bốn ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, VKS phải ra một trong các quyết định sau:truy tố bị can trước Toà án bằng quyết định truy tố, trả hồ sơ để điều tra bổ sung,tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án Thời hạn truy tố được quy định rấtngắn nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm của VKS cũng như đảm bảo sớm đưa vụ án
ra xét xử đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm là phải kịp thời, nhanh chóng, kiênquyết, chính xác
Thời hạn xét xử sơ thẩm là mười bốn ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụnghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tốtụng, tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà “Trong thời hạnbảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án…” Nhưvậy, thời hạn xét xử theo TTRG là mười bốn ngày
Theo những quy định trên thời hạn tiến hành tố tụng theo TTRG là ba mươingày trong đó: Thời hạn điều tra là mười hai ngày, thời hạn truy tố là bốn ngày, thờihạn xét xử sơ thẩm là mười bốn ngày Tất cả những thời hạn này đều không đượcgia hạn
Việc quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm rút ngắn rất nhiều sovới thủ tục thông thường một mặt nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đượcnhanh chóng, kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, mặt khácnhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng Tuy nhiên,thời hạn điều tra, truy tố theo TTRG như hiện nay là quá ngắn, tạo ra áp lực lớn vềthời hạn tố tụng đối với ĐTV, KSV trong khi đó thủ tục tố tụng trong giai đoạn điềutra, truy tố thì giản lược rất ít Với thời hạn điều tra là mười hai ngày, ĐTV phải làmviệc hết sức khẩn trương mới có thể kết thúc điều tra theo đúng thời hạn Trên thực
tế, với 3 ngày tạm giữ ĐTV chủ yếu chỉ kịp củng cố về hành vi phạm tội thực tế của
bị can và xác định cơ bản các điều kiện áp dụng TTRG Tuy nhiên, nhiều vụ án vớithời hạn này không đủ thời gian để điều tra xem xét các điều kiện áp dụng TTRG, vídụ: xác minh trường hợp bị can có tiền án, tiền án đó đã được xóa hay chưa, trườnghợp định giá tài sản… để xác định bị can phạm tội ít nghiêm trọng hay nghiêmtrọng, nhất là đối với những vụ án mà bị can bị tạm giữ vào ngày thứ 6, thứ 7 trongtuần Vì vậy, một số vụ án sau khi gia hạn tạm giữ mới xác định được đủ điều kiện
Trang 27áp dụng TTRG nhưng lại không thể áp dụng được vì nếu áp dụng sẽ vi phạm tốtụng Với 9 ngày còn lại họ phải hoàn tất các thủ tục và điều tra xác minh tiếp,nhiều thủ tục cần phải có thời gian bởi phải phụ thuộc vào các cơ quan khác như cơquan cấp trích báo tái phạm, xác minh bản án, xác minh việc thi hành án dânsự….Với thời hạn truy tố là 4 ngày chỉ đủ để Viện kiểm sát xem xét quyết địnhđường lối xử lý vụ án Do đó, trong thực tế giải quyết án rút gọn KSV phải theo sátquá trình điều tra ngay từ khi ban hành quyết định áp dụng TTRG giải quyết vụ án,
đề ra yêu cầu điều tra và phối hợp với ĐTV trong quá trình thu thập tài liệu chứng
cứ, KSV phải nghiên cứu hồ sơ ngay trước khi kết thúc điều tra Khi hồ sơ đượcchuyển đến VKS đề nghị ra quyết định truy tố thì KSV về cơ bản đã nắm bắt đượcnội dung vụ án và quan điểm của CQĐT nên việc ra quyết định truy tố không cóvướng mắc nhiều Tuy nhiên, với thời hạn nêu trên, việc giao hồ sơ vụ án và quyếtđịnh truy tố lại có những vướng mắc: pháp luật không có quy định rõ khi nào thìVKS phải giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, khi nào thì phải giao quyết định truy tố cho
bị can, nếu áp dùng thời hạn giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, giao quyết định truy tốcho bị can theo quy định chung thì lại không hợp lý
1.3.2.2 Thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Khi áp dụng TTRG, pháp luật tố tụng hình sự không những có quy định rútngắn về thời gian tố tụng để giải quyết vụ án hình sự mà còn có quy định giản lượccác thủ tục tố tụng cho phù hợp với thời hạn tiến hành tố tụng đã quy định Vụ án ápdụng TTRG là vụ án ít nghiêm trọng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quảtang, hành vi phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên pháp luật cho phép các cơquan tiến hành tố tụng không phải thực hiện một số thủ tục tố tụng không cần thiếttrong quá trình giải quyết vụ án
* Thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra
Theo Điều 321 BLTTHS năm 2003 thì: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn
là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; Khi kết thúc điều tra, Cơquan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố
và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
Để xử lý vụ án theo TTRG các hoạt động điều tra do CQĐT tiến hành chủ yếulà: xác minh căn cước, lý lịch của bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai của
Trang 28người bị hại…; các hoạt động điều tra phức tạp như: trưng cầu giám định, thựcnghiệm điều tra, đối chất … hầu như không phải tiến hành
Khi kết thúc điều tra, CQĐT ra quyết định đề nghị truy tố bị can với nội dung:tóm tắt sự việc, đề nghị truy tố theo điều khoản nào của BLHS, đề nghị mức bồithường thiệt hại về dân sự (nếu có) và gửi hồ sơ cho VKS Việc không phải làm bảnkết luận điều tra để mô tả lại toàn bộ nội dung vụ án là hoàn toàn hợp lý vì vụ ánphạm tội quả tang, tính chất vụ án không phức tạp, chứng cứ rõ ràng, nội dung sựviệc đã được phản ánh đầy đủ trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, hồ sơ tàiliệu không nhiều, việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ không phức tạp Vì vậy, khôngcần thiết phải làm bản kết luận điều tra
Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ mà CQĐT tra gửi sang VKS gồm: Biên bảnbắt người phạm tội quả tang, biên bản giao nhận người bị bắt (nếu có), biên bản hỏicung bị can, biên bản lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng (nếu có), bản
lý lịch của bị can, trích lục tiền án, tiền sự của bị can (nếu có), yêu cầu bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quyết định đề nghị truy tố
Như vậy, ở giai đoạn điều tra, chỉ có khi kết thúc điều tra, CQĐT không phảilàm bản kết luận điều tra mà ra quyết định truy tố, các thủ tục tố tụng và các hành vi
tố tụng khác được thực hiện như một vụ án thông thường, theo đó CQĐT ra quyếtđịnh khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi biện pháp ngănchặn và phải có công văn đề nghị VKS phê chuẩn Điều tra viên phải xây dựng lýlịch bị can, xác minh lý lịch, trích lục tiền án, tiền sự, lấy lời khai của người bị hại,người làm chứng trước và sau khi khởi tố, định giá tài sản…Thậm chí, còn phải bổsung thêm một số thủ tục như: công văn đề nghị áp dụng TTRG, biên bản giaoquyết định áp dụng TTRG cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ Thủ tụctrong giai đoạn điều tra giản lược rất ít, thời hạn điều tra lại rút ngắn rất nhiều so vớithủ tục thông thường, điều này đã gây áp lực đối với ĐTV, gây tâm lý ngại áp dụngthủ tục rút gọn để giải quyết án hình sự
* Thủ tục tố tụng trong giai đoạn truy tố
Trong thời hạn bốn ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án VKS phải ra mộttrong những quyết định sau đây:
Quyết định truy tố bị can ra trước Toà án
Trang 29Trên cơ sở xem xét đầy đủ hồ sơ vụ án cùng quyết định đề nghị truy tố củaCQĐT, xét thấy có đủ căn cứ để xác định bị can đã thực hiện hành vi phạm tội, cácvấn đề cần chứng minh của vụ án đã được làm rõ như: Có hành vi phạm tội xảy ra,thời gian, địa điểm phạm tội đã được xác định, người thực hiện hành vi phạm tội cónăng lực trách nhiệm hình sự, xác định rõ lỗi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị can, nhân thân của bị can đã được làm rõ, mức độ thiệt hại dohành vi phạm tội gây ra đã được xác định; các chứng cứ của vụ án đã được thu thậpđầy đủ; các thủ tục khởi tố vụ án, điều tra vụ án đều hợp pháp; không có căn cứ đểtrả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án thì VKS quyết định truy
tố bị can trước Toà án bằng quyết định truy tố
Quyết định truy tố ngắn gọn hơn bản cáo trạng trong đó chỉ cần xác định rõ:ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; người thực hiện hành vi phạm tội;tội danh bị truy tố; theo điều khoản nào của BLHS và trách nhiệm dân sự (nếu có).Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ,người bào chữa biết về việc ra quyết định này để thực hiện quyền bào chữa
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung khinghiên cứu vụ án phát hiện thấy: còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ
án mà VKS không tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tộiphạm khác hoặc có người đồng phạm khác; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tốtụng
Để đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án thật sự khách quan, toàn diện,đầy đủ, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV phải kiểm tra tính hợp pháp vàtính có căn cứ của quá trình điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án
Nếu thấy hồ sơ chưa đầy đủ, còn lọt người, lọt tội hoặc có vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, KSV phải làm quyết định để trả hồ sơyêu cầu điều tra bổ sung nhằm kịp thời khắc phục những thiếu sót và vi phạm củaCQĐT, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách kịp thời và đúng đắn
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của VKS phải nêu rõ lý do (căn cứ)
và những vấn đề cần được CQĐT bổ sung Cùng với việc ra quyết định trả hồ sơyêu cầu điều tra bổ sung thì VKS cũng phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp
Trang 30dụng TTRG và vụ án được giải quyết theo thủ tục thông thường (khoản 2 Điều 323BLTTHS) Quy định này là hợp lý bởi lẽ khi có một trong những căn cứ nêu trên thìbản chất của vụ án không còn đơn giản nữa, việc điều tra bổ sung sẽ làm cho thờihạn tố tụng theo TTRG không còn được đảm bảo
Quyết định tạm đình chỉ vụ án
Theo quy định tại khoản 2 Điều 169 BLTTHS, VKS ra quyết định tạm đìnhchỉ vụ án khi: bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứngnhận của Hội đồng giám định pháp y; khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị canđang ở đâu; trong trường hợp này phải yêu cầu CQĐT truy nã bị can
Pháp luật tố tụng hình sự cũng quy định, khi có căn cứ tạm đình chỉ vụ ánVKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, đồng thời ra quyết định huỷ bỏ quyết định ápdụng TTRG, chuyển vụ án về thủ tục chung vì trường hợp này vụ án sẽ không thểtiến hành đúng thời hạn theo TTRG
Quyết định đình chỉ vụ án
Khoản 1 Điều 169 BLTTHS quy định VKS ra quyết định đình chỉ vụ án khi cócác căn cứ sau đây: khi vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà người đãyêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm; không có sự việcphạm tội; khi có căn cứ cho rằng bị can đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội;khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can; người phạm tội được miễntrách nhiệm hình sự khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do diễn biến của tìnhhình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm nữa; khingười phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhát hậu quả của tội phạm; khi
có quyết định đại xá; khi có căn cứ cho thấy người thực hiện hành vi phạm tội bị bắtquả tang là người chưa thành niên thuộc trường hợp có thể được miễn trách nhiệmhình sự vì người đó phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc tội nghiêm trọng, gây hại khônglớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giámsát, giáo dục
Tóm lại, các căn cứ để VKS ra một trong những quyết định trên vẫn phải tuânthủ theo các quy định chung của BLTTHS, thủ tục ra các quyết định này chỉ khácthủ tục chung ở quyết định truy tố thay cho bản cáo trạng trong trường hợp VKS
Trang 31quyết định truy tố bị can ra trước Toà án, còn hình thức của các quyết định kháckhông thay đổi, và khi ra các quyết định không phải là quyết định truy tố bị can ratrước Toà án, VKS còn phải ra quyết định huỷ bỏ áp dụng TTRG.
Thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Khoản 1 Điều 324 BLTTHS quy định: Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngàynhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra mộttrong các quyết định sau đây: đưa vụ án ra xét xử theo TTRG; trả hồ sơ để điều tra
xử theo TTRG thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải
mở phiên toà xét xử vụ án Việc xét xử sơ thẩm vụ án tiến hành theo thủ tục chung.Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, Thẩm phán đượcphân công chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo nhữngcăn cứ quy định tại Điều 179 BLTTHS, quyết định nêu rõ những vấn đề cần phảiđiều tra bổ sung Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quyđịnh tại Điều 160 BLTTHS Sau khi ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung,hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án Toà án chuyển hồ sơ cho VKS và vụ án đượcgiải quyết theo thủ tục chung (khoản 3 Điều 324 BLTTHS)
Trường hợp ra quyết định đình chỉ vụ án phải căn cứ vào Điều 180 BLTTHS,nội dung của quyết định đình chỉ vụ án phải tuân theo quy định tại khoản 3 Điều
164 BLTTHS
Như vậy các thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theoTTRG về cơ bản giống như thủ tục tố tụng chung
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, một vướng mắc được thực tiễn nêu ra là Tòa
án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử lúc nào? Điều 324 BLTTHS không quy địnhTòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa
Trang 32bao lâu mà chỉ yêu cầu phải mở phiên tòa trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử Như vậy, có thể hiểu: Tòa án giao quyết định đưa vụ án raxét xử bất cứ lúc nào, thậm chí chỉ một ngày trước phiên xét xử mà vẫn không bịxem là vi phạm Điều này có thể ảnh hưởng đến việc bị cáo không có thời gian nhờluật sư, sắp xếp công việc để ra Tòa (nếu bị cáo tại ngoại), không kịp xin thay đổingười tiến hành tố tụng…làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ [51].
Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự áp dụng TTRG vẫn phải tuân thủ mọiquy định chung như đối với các vụ án khác: xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liêntục, thành phần Hội đồng xét xử gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm, sự có mặtcủa bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa (nếu có), người làm chứng, và một số vấn
đề khác Phiên toà vẫn phải tiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tụcxét hỏi tại phiên toà, tranh luận tại toà, nghị án và tuyên án Vì không có bản cáotrạng để truy tố bị can nên tại phiên toà thay vì đọc bản cáo trạng đại diện VKS sẽđọc quyết định truy tố bị can trước Toà khi bắt đầu phần xét hỏi
Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơthẩm theo TTRG được tiến hành theo thủ tục chung
Nếu như ở giai đoạn điều tra và truy tố theo TTRG, thủ tục tố tụng có sự giảnlược, thì ở giai đoạn xét xử sơ thẩm pháp luật chỉ quy định rút ngắn về thời hạn tốtụng mà không có sự giản lược về thủ tục tố tụng Quy định của pháp luật tố tụnghiện hành là không hợp lý Bởi lẽ, vụ án áp dụng TTRG để giải quyết là vụ án quảtang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng nhưng việc xét xử vẫn tiến hànhtheo thủ tục chung, có nghĩa là phiên tòa vẫn phải được tiến hành với đầy đủ các thủtục từ phần khai mạc phiên tòa, giải thích quyền, nghĩa vụ của những người thamgia tố tụng, xét hỏi, tranh luận mặc dù vụ án không có nhiều vướng mắc để giảiquyết Các phiên tòa xét xử án rút gọn trên thực tế thường diễn ra như sau: Thẩmphán phiên tòa hỏi đến đâu bị cáo nhận đến đó, đầy đủ, không chối tội, Hội thẩmnhân dân, KSV không có gì phải hỏi, nếu có hỏi thì dễ lặp lại nội dung mà Thẩmphán đã thẩm vấn, lời luận tội của KSV được bị cáo chấp nhận nên không có gì phảitranh luận, thủ tục nghị án cũng chỉ là hình thức, chỉ kéo dài thời gian xét xử màthôi, gây lãng phí về thời gian cho các cơ quan tiến hành tố tụng Theo bài báo viết
về một phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo TTRG ở thành phố Hồ Chí Minh thì
Trang 33phiên tòa này diễn ra chưa đầy 20 phút [51] Thực tiễn trên cho thấy việc xét xử sơthẩm đối với vụ án áp dụng TTRG để giải quyết theo BLTTHS năm 2003 là chưahợp lý.
1.3.3 Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được ápdụng đối với bị can, bị cáo người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi
tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành
vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh phápluật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành ánhình sự [29, tr.193]
Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự bao gồm: bắt, tạm giữ, tạmgiam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo.CQĐT, VKS, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người cóthẩm quyền theo quy định của BLTTHS năm 2003 áp dụng một trong các biện phápngăn chặn nêu trên khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việcđiều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc có căn cứ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạmtội (điều 79 BLTTHS) Trong TTRG, các biện pháp này đều có thể được áp dụng(trừ bắt người trong trường hợp khẩn cấp vì vụ án theo TTRG chỉ là bắt người phạmtội quả tang)
Thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án phạm tội quả tang nên trongthực tế tạm giữ là biện pháp được áp dụng phổ biến đối với các vụ án Các quy định
về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ được tiến hành theothủ tục chung Thời hạn tạm giữ tối đa không quá ba ngày, kể từ ngày CQĐT nhậnngười bị bắt, không được gia hạn tạm giữ
Việc áp dụng biện pháp tạm giam cũng phải tuân thủ các quy định về căn cứ,trình tự, thủ tục, thẩm quyền như trường hợp tạm giam thông thường Về nguyêntắc thời hạn tạm giam không được vượt quá thời hạn tiến hành điều tra, truy tố, xét
xử BLTTHS quy định thời hạn tiến hành tố tụng theo TTRG là 30 ngày, trong đóđiều tra là 12 ngày, truy tố là 4 ngày, xét xử 14 ngày Do đó thời hạn tạm giam tối
đa là 30 ngày
Trang 34Kết luận chương 1
Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở
kế thừa và phát huy những quy định của pháp luật trước đây, BLTTHS năm 2003 đãxây dựng TTRG thành một chế định riêng, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiếnhành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án nhất định đểnhững cơ quan này có điều kiện giải quyết các vụ án khác phức tạp hơn
Quy định về TTRG trong BLTTHS năm 2003 về cơ bản tương đối toàn diệnnhưng chưa đầy đủ và cụ thể Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 vềthủ tục này cho thấy vẫn còn có nhiều điểm chưa hợp lý: thời hạn tố tụng được rútngắn rất nhiều so với thủ tục chung, tuy nhiên thủ tục tố tụng lại giản lược rất ít.Các quy định về thủ tục này còn chưa đầy đủ, mang tính hình thức, chưa có sự đồng
bộ giữa thủ tục rút gọn và các thủ tục tố tụng có liên quan, thực tiễn áp dụng bộc lộnhiều khó khăn, vướng mắc
Cùng với việc nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục rútgọn, việc nghiên cứu thực tiễn, đưa ra những đánh giá nhận xét, tìm ra nhữngnguyên nhân làm giảm hiệu quả việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn, đồng thờiđưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp liên quan khắc phục những nguyênnhân đó nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn là hết sứccần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tronggiai đoạn hiện nay
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
có vụ án nào vượt quá thời hạn tố tụng luật định [43]
Tiếp đến, năm 2005, TAND quận Thanh Khê (Đà Nẵng), xử sơ thẩm một vụtrộm cắp tài sản Từ khi hành vi phạm tội bị phát hiện cho đến khi đưa ra xử sơthẩm chỉ gói gọn trong vòng một tháng, trong đó thời gian khởi tố, điều tra, truy tốchỉ mất đúng…14 ngày [53] Sau đó, nhiều nơi như Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh… cũng đã thực hiện việc giải quyết một số vụ án theo TTRG
Căn cứ vào số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩmtrên toàn quốc của TANDTC trong thời gian từ năm 2006 đến 2010 có thể thấy,TTRG đã được áp dụng trong thực tiễn, mặc dù tỷ lệ áp dụng không nhiều
Quý IV/2006, toàn quốc thụ lý 18.609 vụ/32.952 bị cáo, giải quyết 13.941 vụ/23.690 bị cáo, trong đó xét xử 12.842 vụ/ 21.111 bị cáo, số vụ án xét xử theo TTRG
là 56 vụ, chiếm tỷ lệ 0,45 % tổng số vụ án đã xét xử [31]
Năm 2007, toàn quốc thụ lý 61.813 vụ /107.696 bị cáo, giải quyết 60.483vụ/104.578 bị cáo, trong đó xét xử 55.299 vụ/ 92.260 bị cáo, số vụ án xét xử theoTTRG là 343 vụ, chiếm tỷ lệ 0,62 % tổng số vụ án đã xét xử [32]
Năm 2008, toàn quốc thụ lý 64.381 vụ/112.387 bị cáo, giải quyết 63.004 vụ /109.338 bị cáo, trong đó xét xử 58.449 vụ/ 98.741 bị cáo, số vụ án xét xử theoTTRG là 265 vụ, chiếm tỷ lệ 0,45 % tổng số vụ án đã xét xử [33]
Năm 2009, toàn quốc thụ lý 66.919 vụ/117.867 bị cáo, giải quyết 65.462vụ/114.344 bị cáo, trong đó xét xử 60.433 vụ/ 102.577 bị cáo, số vụ án xét xử theoTTRG là 345 vụ, chiếm tỷ lệ 0,57 % tổng số vụ án đã xét xử [34]