Đối với các em HSTHCS , mục đích của dạy học Tiếng Việt là nhằm hình thành cho các em kĩ năng dùng từ đúng chuẩn mực để vận dụng trong văn nói và văn viết một cách đúng đắn có hiệu quả..
Trang 1A- Đặt vấn đề :
Tiếng Việt là một thứ công cụ vô cùng quan trọng trong xã hội của chúng ta ngày nay Nó đã trở thành thứ ngôn ngữ chính dùng chung trong giao tiếp giữa các dân tộc trong cộng đồng ngời Việt
Trong nhà trờng phổ thông, Môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Nó là một thứ công cụ để tiến hành bất cứ một loại hình hoạt động dạy nào trong nhà trờng
So với môn học khác , Tiếng Việt vừa là đối tợng nhận thức, vừa là công cụ nhận thức Do vậy, dạy học tiếng Việt trong trờng phổ thông đợc coi là vấn đề khó khăn và phức tạp
Đối với các em HSTHCS , mục đích của dạy học Tiếng Việt là nhằm hình thành cho các em kĩ năng dùng từ đúng chuẩn mực để vận dụng trong văn nói và văn viết một cách đúng đắn có hiệu quả Ngợc lại nếu sử dụng từ không đúng chuẩn mực sẽ không đợc xã hội công nhận và đôi khi làm cho ngời khác hiểu sai nội dung thông tin trao đổi của mình dẫn đến hiệu quả giao tiếp không cao Trong giao tiếp hàng ngày không ít HS THCS nói chung và HS dân tộc Thái nói riêng vẫn còn bị mắc lỗi đặc biệt là lỗi chính tả Lỗi mắc suy cho cùng nó có quan hệ đến t duy thậm chí có quan hệ tới cả ý thức
Ví dụ : Dùng từ sai lỗi chính tả Một trong những nguyên nhân là do t duy không rành mạch hoặc thiếu ý thức về nó Viết bài văn mắc lỗi quá nhiều
là thiếu tôn trọng giáo viên
Bởi vậy việc chúng ta tìm cách khắc phục lỗi cho HS có tác dụng cùng với môn học khác việc rèn luyện năng lực t duy cho HS loại bỏ những ý thức sai , bồi d-ỡng nhữn ý thức đúng
Đặc biệt đối với HS huyện Mai Châu , là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình , dân số phần lớn là dân tộc Thái Vì vậy , tỉ lệ HS THCS là ngời dân tộc Thái chiếm khá lớn song không phải HS nào cũng có khả năng dùng từ một cách chính xác Ngợc lại do ảnh hởng của tiếng địa phơng và một số nguyên nhân khác nữa có ảnh hởng tới khả năng dùnh từ bị lệch chuẩn Có thể nói hiện nay việc dùng từ sai lỗi chính tả cha đợc quan tâm đúng mức nhng theo tôi đó là vấn
đề rất quan trọng bởi nó phản ánh phần nào trình độ văn hóa của con ngời trong xã hội Mặt khác, con đờng đến với Tiếng Việt của ngời dân tộc thiểu số có một
số điểm khác cơ bản so với ngời Kinh nh :Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của ngời Kinh chỉ cần nhắc đến một từ nào đó là các em đã hình dung đợc nghĩa gốc của
Trang 2nó từ đó hiểu sâu và phát triển vốn từ Còn với ngời dân tộc thiểu số cần phải nghe
để hiểu nghĩa sau đó nhớ mặt chữ thông thạo mới sử dụng nó
Vậy muốn khắc phục đợc , chúng ta cần phải chú ý đến : Ngời giáo viên có ý thức chữa lỗi cho HS hoặc có ý thức nhng do còn lúng túng trong việc phát hiện
và chữa lỗi
Vì vậy, bài viết này sẽ phần nào giúp giáo viên khắc phục những lúng túng chữa lỗi chính tả cho HS THCS nói chung và HS dân tộc Thái bậc THCS nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả dạy- học Tiếng Việt trong nhà trờng Từ đó giúp
HS dân tộc Thái huyện Mai Châu có kĩ năng dùng từ đúng chuẩn mực giúp cho sự nhận thức và hoạt động giao tiếp của các em có hiệu quả hơn
B- Nội dung :
Xuất phát từ nguyên tắc daỵ học Tiếng Việt là : Dạy Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp ( bằng ngôn ngữ ) ; từ đó phát hiện trình độ Tiếng Việt vốn có của học sinh để phát huy u thế và khắc phục những hạn chế trong cách dùmg từ của HS Bản chất của dạy học Tiếng Việt là dạy thực hành, nhng vẫn dựa trên cơ
sở lí luận chung
I - Lý thuyết giao tiếp và hoạt động giao tiếp :
1- Giao tiếp là gì ?
Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa một cá thể này với một cá thể khác trong một cộng đồng xã hội Nó là một hoạt động liên cá nhân Là hình thức thu nhỏ của một xã hội
Hoạt động giao tiếp là hoạt động tơng tác bằng lời giữa cá nhân này với một cá nhân khác để truyền tải thông tin, tạo lập quan hệ duy trì quan hệ, bộc lộ ( cá tính , đặc điểm tâm lí ) -Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng thực hiện một mục đích nhất định
Hoạt động giao tiếp bao gồm các nhân tố :
- Nhân vật giao tiếp ( vai giao tiếp )
-Hiện thực đợc nói tới
Phơng tiện giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp
Hoạt động giao tiếp đợc cụ thể hóa bằng sơ đồ sau:
Trang 3(4)
Hiện thực đợc nói tới
Phơng tiện giao tiếp
(3)
(2)
Ngời nói -Ngôn bản -Ngời nghe
(1)
Hoàn cảnh giao tiếp
Nh vậy , bất kì một hoạt động giao tiếp nào cũng đợc thực hiện bằng một thời gian, không gian nhất định Trong đó 3 nhân tố đầu tọa ra ngôn bản, yếu tố thứ 4 không tham gia trực tiếp mà nó chỉ ảnh đến ngôn bản
Bốn yếu tố trên còn gọi là ngữ cảnh Ngữ cảnh là toàn bộ những hiểu biết của ngời ta về các nhân tố trong giao tiếp
2- Hoạt động giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt :
Một trong những phơng pháp dạy học Tiếng Việt là sử dụng giao tiếp ngôn ngữ Đây là phơng pháp rất quan trọng và đặc trng trong dạy học Tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh để đạt đến mục tiêu
là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh Nói cách khác chỉ có trực tiếp sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp , các em mới có dịp quan sát , phát hiện , chiếm lĩnh đợc tri thức và hình thành kĩ năng sử dụng Tiếng Việt Ngời giáo viên cần phải tổ chức sao cho các em đợc nói nhiều , làm việc nhiều để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Vì thế ngời giáo viên cần biết đặt các em vào những tình huống , hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để từ
đó các em đợc tham gia hoạt động giao tiếp phát triển năng lực t duy , rèn luyện
kĩ năng nghe, nói và dần biết đọc , viết một cách có hiệu quả
Tiếng việt là công cụ đắc lực để học các môn học khác, nếu các em học tốt Tiếng Việt sẽ giúp các em tiếp thu những môn học khác một cách có hiệu quả Muốn vậy , các em cần phải nói đúng , viết đúng thì trong hoạt động giao tiếp mới
có hiệu quả
Trang 4Trong dạy học Tiếng Việt hiện nay vẫn còn một số giáo viên cha quan tâm thích
đáng đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh mà trớc hết là ở khâu rèn luyện kĩ năng có trong giao tiếp
ví dụ : Kĩ năng phát âm trong cách dùng từ đặt câu , dựng đoạn , tổ chức văn bản sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và phong cách giao tiếp Đặc biệt là
đối với học sinh là ngời dân tộc , do nhiều nguyên nhân khác em thờng mắc phải lỗi chính tả khi nói và khi viết dùng từ để đặt câu thiếu chính xác Bởi lẽ con đ -ờng đến với Tiếng Việt khó khăn hơn so với học sinh là ngời Kinh Vì thế ngời giáo viên cần chú ý hơn về rèn luyện kĩ năng trong nói , viết cho học sinh là ngời dân tộc
Ví dụ : Nếu một học sinh dân tộc Thái học đọc , viết chữ "C" trong từ "cá" của Tiếng Việt thì em đó phải biết nghĩa của từ này là gì Tức là phải dịch đợc trong
óc ra thành từ "pa" cả tiếng Thái ( có nghĩa là "cá") Các em phải làm hai việc : Vừa phải ghi nhớ phát âm , vừa phải thông hiểu ý nghĩa của từ tiếng Việt Nhng với học sinh ngời kinh học tiếng Việt thì khác trớc khi đến trờng các em đã biết
từ "cá "và đã từng sử dụng từ này khi ăn cơm thấy cá là món ăn hoặc khi xem phim nhìn thấy cá đang bơi dới biển chẳng hạn , đến lớp các em chỉ làm một việc
từ âm thanh đã có trong đầu các em chỉ cần phiên chuyển ra chữ viết ddngs chính tả tiếng Việt (C+á) không đợc viết sai thành (K=á) hoặc(C+ã) Trớc khi các em
đến trờng Tiểu học các em chỉ có vốn ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ (tiếng Thái) Chính vì đặc điểm trên mà học sinh ngời Thái thờng mắc phải lỗi dùng từ sai trong khi nói và viết
Nhng thứ tiếng dùng chung để giao tếp trong cộng đồng ngời Việt là tiếng Việt Vì thế, dạy Tiếng Việt trong trờng phổ thông là cần phải rèn cho học sinh kĩ năng nghe, nói, độc , viết đúng chuẩn mực Nh vậy chỉ thông qua hoạt động giao tiếp trong quá trình dạy học, đứng trớc những tình huống , hoàn cảnh cụ thể các
em mới có dịp bộc lộ vốn ngôn ngữ của mình để từ đó giáo viên chú ý phát hiện
và rèn luyện cho các em có ý thức tự sửa lỗi của mình để rồi tạo thói quen nói, viết đúng chuẩn mực nhằm đạt hiệu qủa cao trong giao tiếp
Từ lí luận trên, ta thấy rằng dạy học Tiếng Việt cho học sinh THCS là dạy cho học sinh cách thủ đắc kiến thức và thủ đắc các kién thức, kĩ xảo thực hành
3- Chính tả và chuẩn mực chính tả
Chính tả là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết , cách dùng các dấu câu, lối viết hoa
Trang 5* Chuẩn chính tả là vấn đề có tính bắt buộc phải viết đúng nói đúng trong giao tiếp Những ch viết có thể cha hợp lí nhng đả đợc thừa nhận Bởi vậy nó có tính
ổn định hàng thế kỷ thành ấn tợng, tạo nên một cái gì đó bất di bất dịch không có
sự thay đổi Tuy nhiên do sự phát triển của ngữ âm chính tả có sự biến động nhất
định Ví dụ : Nhân dân -> nhân zân ; kỹ thuật -> kĩ thuật
nhng về cơ bản là ổn định
Quy định chuẩn chính tả :
- Chuẩn về âm : + Thống nhất về nguyên âm
+ Thống nhất về phụ âm
- Cách viết hoa : + Tên riêng Tiếng Việt : Viết hoa tất cả khi không có gạch nối ví
dụ : Trần Quốc Toản, Võ Thị Sáu
+ Tên tổ chức cơ quan chỉ viết hoa âm tiết đầu Ví dụ : Phòng giáo dục Mai Châu, Bu điện
- Cách viết tên riêng không phải tiếng Việt : Nếu chữ nguyên ngữ là chữ cái La tinh thì giữ nguyên Ví vụ : Paris Những tên riêng có hình thức quen thuộc không phải thay đổi Ví dụ : Pháp, Anh, Nga
Có khi họ dùng hai trờng hợp nh : Pháp hoặc France , ý hoặc I-ta-li-a
- Ngoài ra còn thừa chữ cái đầu tiên sau dấu chấm (.) và khi xuống dòng lùi vào một chữ , viết hoa chữ cái đầu tiên
-Dùng dấu nối trong các trờng hợp :
+Trong các liên danh Ví dụ : Khoa học- Kĩ thuật , Giáo dục - Đào tạo +Khi phân biệt ngày tháng năm sinh Ví dụ : 26-3-1990
+Khi viết tên nớc ngoài Ví dụ: Lê- nin , Ma- ri-a
+Dùng nó chỉ giới hạn không gian thời gian Ví dụ:Giai đoạn 1930
-1945
Khi nói , viết chúng ta cần phải sử dụng từ đúng chuẩn mực chính tả vì đó là chuẩn mực đợc xã hội thừa nhận
Tóm lại dùng đúng chính tả thể hiện sự tôn trọng ngời dạy , thể hiện phần nào trình độ học vấn của ngời nói và có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp của ngời tham gia giao tiếp
Chơng II-Các lỗi về chính tả của sinh khi dùng từ:
Trong quá trình dạy -học môn Ngữ Văn, thông qua các giờ dạy -học văn ,
các bài tập làm văn, qua phơng pháp phát vấn đàm thoại, trên lớp , giờ học ngoại
Trang 6khóa tôi nhận thấy rằng : Do ảnh hởng cách nói của địa phơng , đặc điểm của tiếng mẹ đẻ (tiếng Thái) ngay từ khi sinh ra không phải ngời bố mẹ nào cũng nói tiếng Việt đúng chuẩn mực Vì thế, nó phần nào ảnh hởng đến nhận thức , cách phát âm của học sinh trong nói và viết Mặc dù khi đến trờng các em cũng đợc tiếp xúc với các bạn là ngời Kinh hoặc đợc các thầy cô giáo rèn luyện về cách dùng từ và cách phát âm nhng vẫn còn một số em cha ý thức đợc cách dùng từ Vì thế các em thờng mắc phải các lỗi chính tả nh:
1- Phát âm không chuẩn phụ âm đầu , hay nhầm lẫn các phụ âm: L/ Đ và V/
B Ví dụ : Khi dạy bài "Qua đèo Ngang"- Bà Huyện Thanh Quan Thao tác đọc
, muốn đọc diễn cảm trớc tiên phải đọc đúng :
"Bớc tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà "
Nếu học sinh đọc sai phụ âm L/Đ thì không những mất đi tính chính xác mà còn sai cả nghĩa dẫn đến cảm nhận sai về nội dung của câu thơ, làm mất đi giá trị thẩm mĩ của tiếng Việt
Hoặc trong giao tiếp nếu học sinh đặt câu :Cháu mời Bác Vào nhà Lại nói thành : Cháu mời vác bào nhà! Có thể trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể ngời nghe
sẽ hiểu đợc mục đích của ngời nói là mời Bác vào nhà nhng sẽ gây ra một tiếng
c-ời thầm hoặc họ sẽ đánh giá vào trình độ sử dụng ngôn ngữ của ngc-ời nói
2- Nói , viết sai dấu :Dấu (hỏi / nặng) , dấu ( ngã / sắc)
Ví dụ : Khi giáo viên hỏi : em chuẩn bị bài tập cha ?
Học sinh trả lời : Em chuận bị rồi ạ Các lỗi nêu trên là lỗi chung của
phần lớn ngời dân tộc Thái thờng xuyên xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là học sinh ở vùng Mai Hịch, Bao La
Theo tôi, việc học sinh mắc lỗi nguyên nhân là do :
_ ảnh hởng quá nhiều của tiếng mẹ đẻ (tiếng Thái)
_ Giáo viên không chú ý đến rèn luyện kĩ âm nói , viết cho học sinh , không h -ớng dẫn cách phát âm (sự hoạt động của cơ quan phát âm, cha dành lợng thời gian thích đáng cho việc sửa lỗi )
_ Học sinh cha có ý thức tự giác về việc tự rèn luyện cách dùng từ cho bản thân
Nh vậy, với tầm quan trọng của lỗi chính tả nh trên nó có ảnh hởng trực tiếp
đến quá trình nhận thức , hiệu quả của giao tiếp Ngời giáo viên cần phải nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề để vạch ra cách thức sửa lỗi chính tả cho học
Trang 7sinh một cách có hiệu quả nhất , nâng cao kĩ năng phát âm, viết đúng chính tả cho học sinh nói chung và học sinh dân tộc Thái nói riêng
Chơng III :Tổ chức hoạt động chữa lỗi chính tả cho học sinh
Ngời giáo viên cần chú ý các hoạt động cơ bản sau :
1) Xác định phơng hớng chữa lỗi :
- thống kê những lỗi có thật của học sinh diễn ra hằng ngày : Qua giao tiếp ngoài giờ học , trong giờ học chính khóa bằng phơng pháp phát vấn đàm thoại, qua các bài tập làm văn Giáo viên theo dõi phát hiện khả năng phát âm cũng nh kĩ năng dùng từ khi viết của học sinh, ghi vào sổ tay ghi chép cá nhân , dành thời gian chữa lỗi
- Chữa lỗi kết hợp với rèn luyện khâu chuẩn
Ngời giáo viên phải có trách nhiệm cao trong việc chữa lỗi và rèn luyện cho học sinh dùng từ chuẩn mực Không nên xem tiết chữa lỗi chính tả cho học sinh
là đơn giản mà thực hiện lớt qua Cần phát hiện những lỗi cơ bản nhất , tạo cơ hội cho học sinh viết nhiều, nói nhiều thông qua các bài tập Thậm chí nếu học sinh không thể phát âm chuẩn hoặc không thể viết đúng , giáo viên có thể phát âm mẫu , phân tích cấu trúc của âm tiết để cho học sinh nhớ về cấu tạo , sau đó ghi nhớ về nghĩa , thậm chí vẫn còn một số học sinh bậc THCS là ngời dân tộc còn cha hiểu hết đợc nghĩa của một số từ trong tiếng Việt , ngời giáo viên phải có nhiệm vụ cung cấp vốn từ cho học sinh Muốn vậy ngời giáo viên cần biết chọn các dạng bài tập liên quan đến lỗi của học sinh từ đó giúp các em ý thức tự sửa lỗi cho mình
Chữa lỗi cần phải kiên trì , chữa ở mọi lúc mọi nơi trong một thời gian lâu dài Công việc này đòi hỏi ngời giáo viên phải nhiệt tình
2) Quy trình chữa lỗi
Cho học sinh phát hiện lỗi bằng các hình thức khác nhau:
Khi viết :
+Giáo viên dùng một loạt từ giống nhau hoặc gần giống nhau để điền vào chỗ trống thích hợp
+ Điền các phụ âm thích hợp để tạo từ đúng nghĩa
+ Điền các dấu phù hợp vào các tiếng để tạo từ có nghĩa và đúng nghĩa
+ Cho học sinh phát triển câu , đoạn , đặc biệt là tận dụng triệt để các giờ trả bài Khi nói :
Trang 8Chú ý phát hiện khi học sinh đọc bài, trả lời các câu hỏi trên lớp, hoặc khi tham gia thảo luận , trong các giờ học ngoại khóa
3) Hình thức chữa lỗi :
Kết hợp với các giờ Tiếng Việt, Tập làm văn, dạy- học văn, ngoại khóa (Viết báo tờng , Hoạt động ngoài giờ lên lớp , Píc níc ) chữa ở bất kì chỗ nào , lúc nào , mọi lúc , mọi nơi
Tóm lại muốn tổ chức hoạt động chữa lỗi có hiệu quả cho học sinh , đòi hỏi ngời giáo viên cần phải chịu khó tìm tòi, phát hiện lỗi Cần có phơng pháp và biện pháp cụ thể, có tinh thần trách nhiệm cao thì dần dần sẽ nâng cao kĩ năng dùng từ đúng chuẩn mực cho học sinh THCS nói chung và học sinh dân tộc Thái nói riêng
Chơng IV: Vận dụng cụ thể cho tiết dạy :
Tiết 137- 138 :Chơng trìng địa phơng - Rèn chính tả Ngữ văn - 7
Định hớng về phơng pháp : Chủ yếu chữa lỗi bằng cách làm các bài tập thực hành , chia nhóm và thảo luận nhóm (Chia nhóm theo đặc điểm tiếng nói nhóm gồm các em học sinh là dân tộc Thái vào cùng nhóm) để lựa chọn các dạng bài tập
Về nội dung :Chủ yếu chữa lỗi thờng hay mắc phải nh:
A- Mục tiêu: Khắc phục đợc một số lỗi chính tả do ảnh hởng của cách phát âm
địa phơng
B- Chuẩn bị : Giáo viên chọn các dạng bài tập cần chữa lỗi cho từng nhóm
- Giáo viên phô tô các bài tập ra phiếu học tập
- Học sinh học thuộc lòng một số bài thơ hoặc một đoạn văn ngắn(khoảng 100 chữ) mà em thích nhất
C- Bài mới
-ổn định lớp:
- Vào bài :
- Bài mới
I- Rèn chính tả Viết đúng tiếng có phụ âm đầu dễ
Trang 9Giáo viên nêu một số lỗi các em thờng
hay mắc
Cách 1:Giáo viên đọc bài Qua đèo
Ngang”-Bà Huyện Thanh Quan Học
sinh nghe đọc rồi viết
Cách 2:Học sinh nhớ và ghi lại một
đoạn văn, bài thơ ngắn (khoảng 100
chữ ) Sau đó , cho 2 em ngồi gần
nhau tự soát lỗi cho nhau bằng cách
dùng bút chì gạch chân những âm và
dấu dùng sai rồi đa cho HS tự sửa lỗi
của mình sao cho đúng với văn bản có
sẵn
- Giáo viên phát phiếu học tập in sẵn
các bài tập cho học sinh thảo luận theo
nhóm và hoàn thành bài tập Sau đó
nhóm trởng nêu đáp án, nhóm khác
theo dõi nhận xét bổ sung Giáo viên
kết luận đáp án, học sinh tự sửa lỗi
mắc lỗi ở miền Bắc và học sinh dân tộc Thái nói riêng
ví dụ: âm: ch / tr , x/s, r/d/gi, l/n; l/đ;v/b
Dấu :hỏi -nặng , sắc-ngã
II- Luyện tập
*) Bài tập 1 :Viết những đoạn bài có
những âm , dấu dễ mắc lỗi
a) Nghe-viết:Bài“QuaĐèo Ngang”
b) Nhớ -viết: Một bài thơ hoặc một đoạn văn khoảng 100 chữ
*) Bài tập 2 :Điền vào chỗ trống
(Dành cho nhóm học sinh dân tộc)
a - Điền một chữ cái hoặc một dấu thanh vào chỗ trống:
- Điền l/đ cho phù hợp : i học, lao ộng , ao công, àm lụng, ến trờng,
- Điền b/v vào chỗ trống : bảo ệ, vất
ả, ào lớp, ao bì, ật ạ
- điền dấu ( hỏi / nặng), (ngã /sắc):
x lí, nga ba, gia sử, xét x, tiêu thuyết, cái châu
b - Điền một tiếng hoặc một từ chứa âm vần dễ mắc lỗi vào chỗ trống :
+ Chọn ( trung, chung ) vào :
Trang 10sức, thành, thủy,
đại,
+ Điền ( mãnh, mảnh) vào : dũng ,
trăng, liệt,
* - Điền vào chỗ trống:(Dành cho học sinh dân tộc Kinh)
a- Điền một chữ cái , một dấu thanh, một vần vào chỗ trống:
* điền TR/ CH vào:
ân lí, ân châu, ân trọng , ân thành, cá ê, con ỏ, kể uyện, câu uyện, tập uyện, oáng mặt
*- Điền X/S vào :
- Xó ỉnh, Xinh ẻo, Xỏ iên, xinh ắn, .ốt vang ốt, ôi ăn - ung túc , sùng ục, súc inh, su u
*- Điền D/ R / GI vào :
- i dân, giữ ìn, ậm chân, ập đầu , í dỏm,
dở ang , ông dài, dửng ng, dồn ập, răm ắp, rách ới, rác ởi, ung rinh
*- Điền L /Đ vào :
-Cầm ấy , đất ai, đi ứng, àng hoàng, từ áy,
* -Điền một tiếng hoặc một từ chứa âm , vần dễ mắc lỗi vào chỗ trống:
- Chọn (dành / giành) vào chỗ trống :