MụC ĐíCH NGHIÊN CøU Nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc khắc phục lỗi chính tả cho học sinh thành phố Đà Nẵng theo lý thuyết tâm biên nhằm đưa ra hệ thống những lỗi mà học sinh địap
Trang 39TRANG CÁ NHÂNTHOÁT LUẬN VĂN ĐỒ ÁN BÁO CÁO
MỞ ĐẦU
I Lý DO CHọN Đề TàI
1.Ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi cộng đồng dân tộc còng với mỗi người.Trong xã hội, một ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính tảthống nhất Bởi vì chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới thuậnlợi giữa các địa phương trong mét nước còng nh giữa các thời đại, các thế hệ với nhau.Chính tả thống nhất biểu hiện trình độ phát triển văn hoá của một dân tộc Vì chính tả
nh-có tầm quan trọng nh vậy nên bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng rất chú trọng đếnviệc dạy cho học sinh nắm và xem đó là chìa khoá để “đọc thông, viết thạo” ngôn ngữcủa dân tộc mình
2.Đất nước ta đang ngày càng đổi mới với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường
và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công cuộc đổi mới này đã chi phối ngànhgiáo dục, đòi hỏi ngành phải có những thay đổi cho phù hợp Vì vậy, Đảng và Nhànước ta đã đề ra những đường lối và chính sách nhằm đổi mới việc đào tạo, giáo dụccon người ở mọi ngành học, bậc học Văn kiện hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên Tăng cường tự lực của học sinh để giải quyết các vấn đề trong chương trình giáo dục và đào tạo” [41, 4]
Để thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục đã
có những bước chuyển mình đáng kể Điều này được thể hiện thông qua việc đổi mớichương trình và sách giáo khoa nhằm đổi mới căn bản về phương pháp giáo dục Cốtlõi của phương pháp đó là: phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của họcsinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
Trang 40kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh.
Là mét trong những môn học ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hìnhthành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết).Chính nhiệm vụ này đã góp phần tạo nên nội dung chương trình và chi phối cácnguyên tắc, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học
3 Phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt ởtrường tiểu học Phân môn này giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viếtđúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hoá,tiếng Việt chuẩn mực Viết tốt chính tả, học sinh sẽ có được công cụ để học tập tốt cácmôn học khác còng nh góp phần hình thành thái độ và thói quen giữ gìn sù trong sáng,giàu đẹp và thống nhất của tiếng Việt
Chính tả tiếng Việt về căn bản là một chính tả thống nhất Tuy nhiên, do tiếng Việt
có nhiều phương ngữ, thổ ngữ nên bên cạnh tính thống nhất, tiếng Việt cũng có nhữngnét dị biệt khá rõ trong cách phát âm, cách dùng từ giữa các vùng Đây là mét trongnhững nguyên nhân phổ biến dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả ở học sinh Vì vậy,việc chuẩn hoá tiếng Việt trong nhà trường là một công việc cần thiết, cấp bách và cótính thời sự rất cao
Hiện nay, vấn đề khắc phục lỗi chính tả do ảnh hưởng của phương ngữ đã đượcnhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Có nhiều giải pháp đưa ra song thực trạngdạy chính tả ở địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn, còn nhiều học sinh viết sai chính
tả Có nhiều hướng tiếp cận để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh, trong đó dạy chính
tả tần số được xem là mét trong những hướng đi đúng đắn Lý thuyết tâm biên đượcvận dụng để tính tần xuất sử dụng ngôn ngữ trên nhiều phương diện Trong luận vănnày, chúng tôi sử dụng lý thuyết tâm biên để giúp học sinh tiểu học Đà Nẵng khắc
phục lỗi chính tả địa phương Trên đây là lý do để chúng tôi chọn vấn đề: “Vận dụng
lý thuyết tâm biên để khắc phục lỗi
chính tả cho học sinh tiểu học Đà Nẵng”làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Trang 41II MụC ĐíCH NGHIÊN CøU
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc khắc phục lỗi chính tả cho học sinh thành
phố Đà Nẵng theo lý thuyết tâm biên nhằm đưa ra hệ thống những lỗi mà học sinh địaphương hay mắc phải, từ đó xây dựng hệ thống bài tập phù hợp, góp phần nâng caohiệu quả dạy học chính tả ở địa phương
III GIẢ THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Nếu vận dụng được lý thuyết tâm biên để xây dựng hệ thống bài tập phù hợp, đa
dạng thì có thể giúp học sinh thành phố Đà Nẵng tránh được những lỗi chính tả do ảnhhưởng của phương ngữ, kích thích hứng thú học tập và phát huy được vai trò tích cực,chủ động của các em trong học tập
IV LỊCH SỬ NGHIÊN CøU
Không phải đến nay, trong học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng mới
có hiện tượng mắc lỗi chính tả Lỗi chính tả luôn là vấn đề nổi cộm trong giao tiếp xãhội và trong nhà trường Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã quan tâm, nghiên cứu và đưa
ra nhiều giải pháp dạy học và chữa lỗi chính tả cho học sinh Có thể tóm tắt kết quảnghiên cứu của các nhà khoa học trên những bình diện sau:
Phát âm đúng để viết đúng chính tả:
Đây là biện pháp được nhiều người nói đến và đề cao Đặng Hiển trong tạp chí Văn học vàTuổi trẻ sè 34, năm 1999 cho rằng: “Trước nhất, muốn “chính tả” phải “chính âm”, đểghi nhớ chữ viết, trước hết phải phát âm cho đúng…Bởi vậy, sửa chữa phát âm là biệnpháp quan trọng, biện pháp đầu tiên để chữa lỗi chính tả” [34, 32]
Theo nghiên cứu của tác giả Lê A trong cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở tiểu học” thì năm
1942, Lê Văn Nựu trong “Lược khảo Việt ngữ” đã viết: “…trong mỗi giờ tập đọc, cáchọc sinh đều luyện tập các phát âm cho đúng thì
rồi dần dần chúng sẽ sửa chữa được những chỗ sai lầm và khi đã phát âm được đúng mỗivần, mỗi tiếng thì viết ra tự nhiên hợp cách không còn khó khăn, ngần ngại gìnữa” [150, 3]
Tác giả Phan Ngọc trong cuốn “Chữa lỗi chính tả cho học sinh” còng khẳng định: “Cáchchữa lỗi thường nói đến nhất là tập phát âm cho đúng” Tuy nhiên, ông cho rằng cách
Trang 42chữa lỗi này là “đặt cái cày trước con trâu” Bởi vì học sinh muốn phát âm đúng thìtrước hết phải biết chính tả, phải nhớ những chữ mà mình phát âm sai Nh vậy, họcsinh cần phải học cách viết chính tả đúng để từ đó đi đến cách phát âm chuẩn [6, 24]Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Đức Dương trong cuốn “ Tìm về linh hồn tiếng Việt” lại cho
rằng: “…bắt học sinh đọc đúng chuẩn là vô hình trung xui các em làm cái việc tệ hơn
cả “chửi cha” (người ta), … nhất là trong tình hình tiếng địa phương hiện còn đang rấtđược trọng vọng” [35, 11]
Học mẹo chính tả để viết đúng chính tả:
Theo tác giả Phan Ngọc còng trong cuốn “Chữa lỗi chính tả cho học sinh” thì cách đây 40năm, Nguyễn Đình đã nói đến luật hỏi/ ngã, Nguyễn Đình đã phát hiện quy luật hoàphối thanh điệu trong tõ láy tiếng Việt Đó chính là mét trong những cơ sở của mẹoluật chính tả [31, 24]
Theo nghiên cứu của tác giả Lê A thì năm 1954, Trần Văn Thanh cho ra đời cuốn “Đồng
âm dẫn giải và Mẹo luật chính tả” Tác giả đã đưa ra 26 mẹo, gồm mẹo về phụ âm đầu,vần, thanh cho tõ thuần Việt và từ Hán Việt [151, 3]
Đến năm 1972, Lê Ngọc Trụ đã biên soạn cuốn “Việt ngữ chính tả tự vị” Trong cuốn này,tác giả đã bổ sung thêm mét sè mẹo luật về hỏi/ ngã [152, 3]
Tác giả Phan Ngọc vào năm 1982 đã đưa ra 14 mẹo trong cuốn “Chữa lỗi chính tả cho họcsinh” Còng nh các công trình của các tác giả đi trước, Phan Ngọc giới thiệu mét sèmẹo và theo ông, những mẹo này giống nh “những nút bấm”, “cung cấp nhữngbiện pháp khiến người đọc làm việc thành công ngay lập tức”.[5, 24]
Năm 1994, Lê Trung Hoa đã biên soạn cuốn “Mẹo luật chính tả” Trong cuốn này, tácgiả đã tổng hợp những thành tựu về mẹo luật chính tả trước đó, hoàn thiện và sáng tạothêm, đưa vào công trình 36 mẹo luật chính tả [4, 16]
Gần đây, tác giả Nguyễn Đình Cao đã biên soạn cuốn “Sổ tay chính tả Tiếng Việt tiểuhọc” thống kê các từ ngữ mà học sinh dễ viết sai và cung cấp các thuật nhí hay cácmẹo chính tả giúp học sinh viết đúng một cách có hệ thống, có ý thức.[4, 5]
Học chính tả bằng cách nhớ từng chữ mét:
Trang 43Biện pháp này còn gọi là biện pháp tự nhiên Theo biện pháp này, trong cuốn “Chữa lỗichính tả cho học sinh”, tác giả Phan Ngọc đã cho rằng “Nói chung những người viếtchính tả đúng hiện nay đều dựa vào cách này Nhưng đòi hỏi những cố gắng quá lớn,tham gia tập dượt quá dài, lại không có thể xem là kết thúc”[7, 24].Nh vậy, tác giả vừakhẳng định vừa phê phán biện pháp này.
Tác giả Nguyễn Đức Dương trong cuốn “Tìm về linh hồn tiếng Việt” cho rằng: “…Đây làgiải pháp bị chỉ trích hết sức gay gắt và bị coi rẻ nhất ”[17, 11]Bởi cách dạy này buộchọc sinh phải thuộc lòng mặt chữ khoảng 6100 âm tiết mà tiếng Việt hiện dùng
Với biện pháp này, học sinh đọc và tập chép theo các mẫu cụ thể, tức là thực hành lặp đi lặplại các thao tác Việc ghi nhớ luôn phải lấy từ điển làm chỗ dựa và thu hẹp vào từng từ,từng chữ một, không liên hệ với các chữ khác tương tự Do đó, không tiết kiệm đượcthời gian và công sức, khâu luyện tập thường khá dài mà kết quả không dễ thấy
Nh vậy, khi nghiên cứu chính tả và chữa lỗi chính tả, các tác giả đều đi sâu nghiên cứu mặt
lí luận và giải pháp dạy học nói chung Phương ngữ, thổ ngữ từng khu vực nhá trongtổng thể vùng vẫn chưa được giải quyết một cách cụ thể Vận dụng những thành tựucủa khoa học, chóng tôi tìm hiểu lý thuyết tâm biên,
khảo sát, phân loại lỗi theo lý thuyết tâm biên và xây dựng hệ thống bài tập nhằm góp phầnkhắc phục lỗi chính tả cho học sinh thành phố Đà Nẵng
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CøU
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác định cơ sở lí luận của việc dạy học chính tả ở trường tiểu học và lý thuyết tâm biên
- Khảo sát thực trạng dạy học chính tả ở mét sè trường tiểu học ở thành phố Đà Nẵngbằng cách tìm hiểu thực tế dạy học chính tả ở khối lớp 4, thống kê, phân loại lỗi chính
tả mà học sinh địa phương mắc phải
- Trên cơ sở những lỗi chính tả mà học sinh thành phố Đà Nẵng mắc phải, chúng tôi phânloại lỗi theo lý thuyết tâm biên và xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với học sinhnhằm khắc phục các lỗi chính tả đó
- Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của hệ thống bài tập khắc phụclỗi chính tả theo lí thuyết tâm biên cho học sinh tiểu học thành phố Đà Nẵng
Trang 44VI ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CøU
1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động dạy học chính tả ở mét sè trường tiểu họcthuộc thành phố Đà Nẵng, nội dung dạy học và hệ thống bài tập chính tả để khắc phụclỗi chính tả cho học sinh địa phương
2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung dạy học chính tả, các lỗi chính tả được phân loại theo lý thuyết tâm biên
và xây dựng các bài tập nhằm giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả phương ngữ
VII PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CøU
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi thực hiện đề tài này với nhữngphương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc dạy học chính tả ở tiểu học,tài liệu về lí thuyết tâm biên Việc nghiên cứu các tài liệu này giúp chúng tôi có căn cứ
để viết phần cơ sở lý luận và thiết kế, xây dựng các bài tập chính tả theo lí thuyết tâmbiên phù hợp với học sinh
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Qua khảo sát các bài kiểm tra học kỳ I của học sinh, các bài tập học sinh thực hiện trênphiếu bài tập, chúng tôi tìm hiểu thực trạng dạy học chính tả ở trường tiểu học và tìm
ra những lỗi mà học sinh địa phươngmắc phải Như vậy, để thực hiện phương phápnày, chúng tôi sử dụng mét sè phương pháp cụ thể như: phương pháp điều tra, phươngpháp thống kê, phân loại
từ đó, xây dựng bài tập với nội dung phù hợp, phong phó góp phần khắc phục lỗi chính tảcho học sinh Đà Nẵng
3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
chúng tôi tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập được xây dựng trên cơ sở các lỗi đượcphân theo lí thuyết tâm biên nhằm kiểm tra tính đúng đắn của mục đích đề ra, hiệu quả
và tác dụng của các bài tập đó với học sinh tiểu học Đà Nẵng
Trang 45VIII CấU TRúC CủA LUậN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc khắc phục lỗi chính tả theo lý thuyết tâm biên.Chương II: Hệ thống bài tập chính tả phương ngữ cho học sinh thành phố Đà Nẵng
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 46Thanh điệu
Năm thành phần (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu) trên kết hợp vớinhau và cùng tham gia cấu thành âm tiết Sau đây, chúng ta lần lượt tìm hiểu từngthành phần của âm tiết tiếng Việt:
Ở vị trí này gồm các phụ âm gọi là phụ âm đầu Chức năng của âm đầu là mở đầu âm tiết,tạo ra âm sắc cho âm tiết lúc mở đầu Tiếng Việt có 22 phụ âm làm nhiệm vụ âm đầu(kể cả phụ âm /p/) :
Trong các âm vị trên có 4 âm vị được thể hiện không thống nhất Do có cách ghi khôngthống nhất nên học sinh dễ nhầm lẫn và viết sai chính tả Đó là các âm vị:
- /k/ được viết bằng 3 con chữ : c, k, q
Trang 47Âm chính
Tham gia vào vị trí âm chính là các nguyên âm Trong âm tiết tiếng Việt, vị trí này khôngthể khuyết Là hạt nhân của âm tiết, âm chính có chức năng quy định âm sắc chủ yếucủa âm tiết
Tiếng Việt có 14 nguyên âm làm âm chính :
11 nguyên âm đơn: /i/, /e/, /ɛ/, /Ɯ/, /Ƴ/, /Ƴ/, /a/, /ă/, /u/, /o/, /Ɔ/
3 nguyên âm đôi: /ie/, /uo/, /ƜƳ/
Thanh điệu là yếu tố siêu đoạn tính có chức năng khu biệt âm tiết về cao độ Nó quyết định
âm sắc của nguyên âm làm âm chính, có giá trị phân biệt nghĩa và nhận diện tõ Thanhđiệu bao giờ cũng có mặt trong âm tiết Tiếng Việt có 6 thanh điệu:
Thanh ngang : không dấu
Trang 48Bờn cạnh hệ thống ngữ õm mang tớnh chất chuẩn mực, trong tiếng Việt cũn tồn tại một số hệthống ngữ õm mang tớnh chất địa phương hay cũn gọi là phương ngữ Theo Hoàng Thị
Chõu “Phương ngữ là một thuật ngữ ngụn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngụn ngữ
toàn dõn ở một địa phương cụ thể với những nột khỏc biệt của nó so với ngụn ngữ toàn dõn hay với một phương ngữ khỏc ” [29, 10]
Theo Đỏi Xuõn Ninh – Nguyễn Đức Dõn – Nguyễn Quang – Vương Toàn:“Phương ngữ là
hỡnh thức ngụn ngữ cú hệ thống từ vựng, ngữ phỏp và ngữ õm riờng biệt được sử dụng
ở một phạm vi lónh thổ hay xó hội hẹp hơn là ngụn ngữ Là một hệ thống kớ hiệu và quy tắc kết hợp cú nguồn gốc chung với hệ thống khỏc được coi là ngụn ngữ (cho toàn dõn tộc) cỏc phương ngữ (cú người gọi là tiếng địa phương, phương ngụn) khỏc nhau trước hết là ở cỏch phỏt õm, sau đú là ở vốn từ vựng”.[275, 26]
Hệ thống phương ngữ cũn gọi là những biến thể tự do Đú là những biến thể khụng bị quyđịnh bởi điều kiện ngữ cảnh, mà được lựa chọn bởi cỏ nhõn người núi So với hệ thốngngữ õm toàn dõn, những biến thể tự do này được gọi là phương ngữ Theo tỏc giảHoàng Thị Chõu, sự xuất hiện của cỏc biến thể tự do hay sự ra đời của cỏc phương ngữ
“là kết quả của hai sự tỏc động: tỏc động thứ nhất là do từ bờn trong, từ cấu trỳc ngụn
ngữ đú, là do ngụn ngữ thay đổi trong hoạt động giao tiếp với tư cỏch là một tập hợp những tập quan núi năng, thứ hai là sự tỏc động của những nhõn tố ngoài ngụn ngữ như: địa lý, xó hội”.[40, 10] Những biến thể phỏt õm địa phương mang tớnh tự phỏt và
rất đa dạng Khỏi niệm phương ngữ trong phạm vi đề tài này trước hết nhằm vào sựkhỏc biệt về mặt ngữ õm chứ khụng nhằm vào sự khỏc biệt về mặt từ vựng
Do cú nhiều biến thể nờn việc xỏc định cỏc vựng phương ngữ vẫn là vấn đề chưa thốngnhất Xột về mặt biến thể phỏt õm mang tớnh chất hệ thống, chỳng ta cú 3 phương ngữlớn: Do có nhiều biến thể nên việc xác định các vùng
phơng ngữ vẫn là vấn đề cha thống nhất Xét về mặt biến thể phát âm mang tínhchất hệ thống, chúng ta có 3 phơng ngữ lớn:
Đặc trưng của phương ngữ này là khụng cú 3 phụ õm cong lưỡi : tr, s, r và 2 vần ưu, ươu