Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...6 2.4.3... Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường TN-MT, kết quả thống kê ch
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: Đặt vấn đề 1
Phần II: Nội dung 3
2.1 Khái niệm “Đất giáp ranh” 3
2.2 Khu vực đất giáp ranh 3
2.2.1 Khu vực đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 3
2.2.2 Khu vực đất giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 3
2.3 Định giá các loại đất cụ thể tại địa phương 3
2.3.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi định giá, điều chỉnh giá các loại đất cụ thể tại địa phương phải: 3
2.3.2 Phương pháp định giá cụ thể cho từng loại đất 4
2.4 Định giá đất tại khu vực giáp ranh 5
2.4.1 Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 5
2.4.2 Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 6
2.4.3 Ví dụ: Định giá đất tại khu vực giáp ranh của Hà Nội……… 7
2.5 Một số ví dụ về vấn đề còn tồn tại ở khu vực đất giáp ranh 9
Phần III: Kết luân 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 2Phần I: Đặt vấn đề
Chúng ta đã biết, không có đất thì không thể có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người Đất tồn tại như một vật thể lịch sử - tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống con người còn thấp, công năng chủ yếu tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Khi xã hội phát triển ở mức cao hơn, công năng của đất từng bước được mở rộng, sử dụng đất cũng phức tạp hơn Đất đai khong chỉ cung cấp cho con người các tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển mà còn cung cấp điều kiện cần thiết để hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại
Kinh tế xã hội phát triển mạnh hơn cùng với sự bùng nổ dân số làm cho mối quan hệ giữa con người với đất đai ngày càng trở nên căng thẳng Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, nhất là trong ngành sản xuất nông lâm nghiệp nhưng lại có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người Nếu con người sử dụng một cach hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao và lâu bền Nhưng những sai lầm có
ý thức hoặc vô ý thức của con người trong quá trình sử dụng đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và đang làm hủy hoại môi trường đất, làm thoái hóa đất đai Vấn đề tổ chức sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững càng trở nên quan trọng, bức xức và mang tính toàn cầu
Sự phát triển của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải tổ chức phân bố hợp lý lực lượng sản xuất trong từng vùng và trên phạm vi cả nước.Vì vậy, chúng ta cần có kế hoạch sử dụng đất hợp lý để tận dụng đất đai phục vụ cho cuộc sống của con người Tức là chúng ta phải xây dựng phương án quy hoạch sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, tiết kiệm và có hiệu quả cao
Gần đây, Đảng và nhà nước có chủ trương đổi mới nền kinh tế đất nước theo hướng
“phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước” Vì vậy, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định : “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
Trang 3Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), kết quả thống kê cho thấy, trong số đơn thư khiếu nại, tố cáo về các lĩnh vực mà Bộ quản lý có tới hơn 70% liên quan tới đất đai.Nguyên nhân chủ yếu là những bất cập giữa quy định của pháp luật với thực tế, nhất là về giá đất với việc áp dụng trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng…, tại nhiều khu vực, đặc biệt là khu vực đất giáp ranh.Vì vậy có quan niệm cho rằng: “Đất giáp ranh…tranh cãi dài ngày”.Có thể chỉ ra một số vấn đề nổi cộm như tại các quận, huyện có dự án nằm trên vùng đất nông nghiệp giáp ranh, người dân thuộc diện bị thu hồi đất thường không phản đối, khiếu kiện về dự án Khiếu kiện phức tạp kéo dài chỉ xuất hiện khi bồi thường Đa số thắc mắc của người dân nằm trong ba vấn đề:
Thứ nhất, tại sao cùng một dự án nhưng lại có hai mức giá bồi thường khác nhau? Thứ hai, vì sao được liệt vào danh sách xã giáp ranh nhưng không được bồi thường (đối với đất nông nghiệp) theo giá đất khu vực giáp ranh?
Thứ ba, cũng là vấn đề phổ biến, tại sao chỉ cách nhau một bờ ruộng nhưng một bên được bồi thường gần gấp ba lần bên kia?
Trong khi đó, lãnh đạo chính quyền các quận, huyện có những vụ khiếu kiện ấy luôn khẳng định rằng, mọi việc đều được làm theo đúng các quy định của Nhà nước, thậm chí còn vận dụng tối đa theo hướng có lợi nhất cho người dân Một điều hiển nhiên là họ không thể vượt qua quy định của pháp luật trong đền bù, GPMB
Vì vậy vấn đề đánh giá đất ở khu vực giáp ranh được xem là một yêu cầu quan trọng cần phải được thực hiện kịp thời Như thế sẽ đảm bảo được các yêu cầu của luật đất đai mà nhà nước đề ra, bên canh đó sẽ phù hợp và hài hòa với lợi ích của cả cộng đồng
Như Bộ trưởng Mai Ái Trực cho rằng để giải quyết vấn đề này, pháp luật được xây dựng để phục vụ nhân dân, nên nếu còn điểm nào bất cập, chưa phù hợp thì cần nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp, bảo đảm sự hài hòa lợi ích của cả cộng đồng
Trang 4Phần II: Nội dung 2.1 Khái niệm “Đất giáp ranh”.
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng: “Đất giáp ranh” là đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
2.2 Khu vực đất giáp ranh
2.2.1 Khu vực đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo nghị định của chính phủ 188/2004/NĐ-CP Về phương pháp xác định giá đất
và khung giá các loại đất ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004.
a) Đối với đất nông nghiệp tại khu vực đất giáp ranh được xác định từ đường phân địa giới hành chính giữa các tỉnh vào sâu địa phận mỗi tỉnh tối thiểu 500 mét
b) Đối với đất phi nông nghiệp ở nông thôn tại khu vực đất giáp ranh được xác định từ đường phân địa giới hành chính giữa các tỉnh vào sâu địa phận mỗi tỉnh tối thiểu 300 mét
c) Đối với đất phi nông nghiệp ở đô thị thuộc cùng một loại đô thị thì khu vực đất giáp ranh được xác định từ đường phân địa giới hành chính giữa các tỉnh vào sâu địa phận mỗi tỉnh tối thiểu 200 mét
d) Trường hợp khu vực đất giữa các tỉnh bị ngăn cách bởi sông, hồ, kênh có chiều rộng từ 100 mét trở xuống thì khu vực đất giáp ranh được xác định từ bờ sông, bờ hồ, bờ kênh của mỗi bên sông, bên hồ, bên kênh vào sâu địa giới của mỗi tỉnh theo quy định tại điểm a, b,
c khoản này Nếu chiều rộng của sông, hồ, kênh trên 100 mét thì không xếp loại đất giáp ranh
2.2.2 Khu vực đất giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định cụ thể khu vực đất giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã trong tỉnh, thành phố cho phù hợp.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vận dụng các nguyên tắc định giá đất tại khu vực đất giáp ranh quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy định và vận dụng các nguyên tắc định giá đất tại khu vực giáp ranh để quy định giá đất cụ thể tại khu vực đất giáp ranh cho phù hợp
2.3 Định giá các loại đất cụ thể tại địa phương
2.3.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi định giá, điều chỉnh giá các loại đất cụ thể tại địa phương phải:
a) Thực hiện việc phân vùng, hạng đất, loại đường phố và vị trí đất theo quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 theo nghị định của chính phủ 188/2004/NĐ-CP Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004
Trang 5b) Căn cứ vào nguyên tắc xác định giá đất quy định tại Điều 56 Luật Đất đai; phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6; các phương pháp định giá cho từng loại đất cụ thể tại Nghị định này và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế phổ biến trên thị trường trong điều kiện bình thường để xây dựng bảng giá các loại đất cụ thể tại địa phương, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến trước khi quyết định
2.3.2 Phương pháp định giá cụ thể cho từng loại đất.
Khi định giá cho loại đất nào thì áp dụng khung giá do Chính phủ quy định đối với loại đất đó Phương pháp định giá cụ thể cho từng loại đất theo khung giá như sau:
a) Đối với đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng và các loại đất nông nghiệp khác:
Đất hạng 1 của từng vùng (đồng bằng, trung du, miền núi) và từng loại đất có các yếu
tố chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu, thời tiết và các điều kiện tưới tiêu tốt nhất ứng với mức giá cao nhất, các hạng tiếp sau đó theo thứ tự từ hạng 2 trở đi có các yếu tố kém hơn ứng với các mức giá thấp hơn
b) Đối với đất làm muối: đất ở vị trí số 1 có mức giá cao nhất, các vị trí tiếp sau đó theo thứ tự từ vị trí thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn
c) Đối với đất ở, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và các loại đất phi nông nghiệp khác tại nông thôn:
Đất tại khu vực 1 có mức giá cao nhất, các khu vực đất tiếp sau đó theo thứ tự từ thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn
Trong từng khu vực đất, giá đất được định theo vị trí Đất ở vị trí số 1 thuộc khu vực 1
có mức giá cao nhất khu vực 1, các vị trí tiếp sau đó theo thứ tự từ thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn Tương tự, đất ở vị trí số 1 thuộc khu vực 2 có mức giá cao nhất trong khu vực 2, các vị trí tiếp sau đó theo thứ tự từ thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn; đất ở vị trí số 1 thuộc khu vực 3 có mức giá cao nhất trong khu vực 3, các vị trí tiếp sau đó theo thứ tự
từ thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn
d) Đối với đất vườn, ao nằm xen kẽ trong khu vực đất ở tại nông thôn nhưng không được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đất ở thì giá đất được quy định bằng mức giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất cùng vùng; đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức giá đất cao hơn, nhưng mức tối đa không được vượt quá 2 lần mức giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất cùng vùng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Trang 6đ) Đối với đất ở, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và các loại đất phi nông nghiệp khác tại đô thị:
Trong từng loại đô thị giá đất được định theo loại đường phố
Đất ở đường phố loại 1 thuộc khu trung tâm đô thị, trung tâm thương mại dịch vụ có mức giá cao nhất Đất ở các đường phố loại tiếp sau đó theo thứ tự từ loại 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn
Trong từng loại đường phố giá đất được định theo từng vị trí Đất ở vị trí 1 của đường phố loại 1 có mức giá cao nhất của đường phố loại 1; các vị trí tiếp sau đó theo thứ tự
từ thứ 2 trở đi ứng với các mức giá thấp hơn Tương tự, đất tại vị trí 1 của các loại đường phố tiếp sau có mức giá cao nhất theo từng loại đường phố; các vị trí tiếp sau ứng với mức giá thấp hơn theo từng loại đường phố
Trường hợp một loại đường phố gồm nhiều đoạn đường có khả năng sinh lợi khác nhau, có giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế khác nhau và mức độ hoàn thiện kết cấu hạ tầng khác nhau thì từng đoạn đường được xếp vào loại đường phố tương ứng để định giá cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
e) Đối với đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị không được quy hoạch là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác, thì giá đất được quy định bằng mức giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất cùng vùng; đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức giá đất cao hơn, nhưng mức tối đa không được vượt quá 2 lần mức giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất cùng vùng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
g) Đối với đất ở tại nông thôn ở các vị trí ven trục đường giao thông chính (quốc lộ, tỉnh lộ), các đầu mối giao thông, khu thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương để quy định giá đất tại các vị trí này cho phù hợp nhưng không vượt quá 3 lần mức giá tối đa của khung giá đất ở tại nông thôn do Chính phủ quy định tại khoản 1 Điều 6 theo nghị định của chính phủ 188/2004/NĐ-CP Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004
2.4 Định giá đất tại khu vực giáp ranh
Định giá đất tại khu vực giáp ranh được quy định tại Thông tư 145/2007/TT-BTC của
Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 188/2004/NĐ-CP2.4.1
Trang 72.4.1 Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
- Trường hợp đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo qui hoạch thì việc quy định giá đất thực hiện như sau:
+ Quy định ranh giới các loại đất khu vực giáp ranh căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP
+ Trước khi quyết định giá đất tại khu vực giáp ranh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các tỉnh có đất giáp ranh theo hướng dẫn trên phải tham khảo, trao đổi và thỏa thuận với nhau về mức giá dự kiến ban hành để đảm bảo việc quyết định mức giá đất cụ thể tại khu vực giáp ranh theo đúng quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP
+ Trường hợp các địa phương không thỏa thuận được với nhau về mức giá tại khu vực đất giáp ranh, thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định
- Trường hợp đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, mục đích sử dụng đất hiện tại, mục đích sử dụng đất theo qui hoạch khác nhau thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định giá đất cụ thể tại khu vực này căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương
2.4.2 Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, quy định giá đất tại các khu vực đất giáp ranh cho phù hợp theo nguyên tắc: Khoảng cách đất giáp ranh do tỉnh quy định nếu có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau
Trường hợp tại khu vực giáp ranh mà điều kiện kết cấu hạ tầng không như nhau thì giá đất tại khu vực đất giáp ranh được xác định căn cứ vào điều kiện thực tế của từng khu vực
Đối với đất ở tại nông thôn ở các vùng ven đô thị (bao gồm các xã tiếp giáp với nội thành phố và thị trấn thuộc đô thị đặc biệt và đô thị loại I và các thôn (ấp) tiếp giáp với nội thành phố, thị xã thị trấn của các đô thị còn lại), thì giá đất tại khu vực này được xác định theo nguyên tắc định giá cho các thửa đất liền kề và được vận dụng khung giá đất do Chính phủ qui định cho loại đô thị nằm liền kề
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh qui định cụ thể về giá đất ở tại nông thôn ở các vùng ven đô thị
Trang 82.4.3 Ví dụ: Định giá đất tại khu vực giáp ranh của Hà Nội.
a Phân khu vực
Xã giáp ranh nội thành
Huyện Từ Liêm gồm các xã: Trung Văn, Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Mễ Trì Huyện Thanh Trì gồm các xã: Tân Triều, Thanh Liệt, Tứ Hiệp, Tam Hiệp, Yên Mỹ Huyện Gia Lâm: Trâu Qùy, Cổ Bi, Đông Dư
Huyện Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa
Và thị xã Sơn Tây
b Phân loại đường và vị trí
UBND TP Hà Nội vừa có quyết định phân loại đường phố, phân loại đoạn giao thông
chính, phân loại các xã trên địa bàn thành phố để làm cơ sở thu thuế đất
Theo đó, các tuyến phố tại khu vực các quận, thị xã Sơn Tây, các xã giáp ranh thuộc huyện Từ Liêm, các thị trấn; các đường giao thông chính, các xã, các quốc lộ trên địa bàn Hà Nội sẽ được phân ra 4 loại khác nhau
Cụ thể, quận Ba Đình có 93 tuyến phố trong đó 23 tuyến phố được phân là đường loại
I, 70 tuyến phố còn lại gồm có 37 tuyến là đường loại II, 35 tuyến đường loại III và 3 tuyến phố là loại IV
Quận Cầu Giấy có 48 tuyến phố, trong đó tuyến Cát Linh là đường loại II, 23 tuyến loại III, 24 tuyến loại IV; quận Cầu Giấy không có đường loại I
Quận Đống Đa có 72 tuyến phố, trong đó 21 tuyến là đường loại II, 52 tuyến loại III,
2 tuyến loại IV; không có đường loại I Quận Hà Đông có 66/66 tuyến phố thuộc đường loại IV
Quận Hai Bà Trưng có 100 tuyến phố, trong đó có 18 tuyến là loại I, trong 82 tuyến phố còn lại có 40 tuyến thuộc đường loại II, 35 tuyến thuộc loại III, 24 tuyến thuộc loại IV Quận Hoàn Kiếm có 173 tuyến, trong đó 107 tuyến loại I; 66 tuyến phố còn lại có 48 tuyến loại II, 6 tuyến loại III, 8 tuyến loại IV
Quận Long Biên có 40 tuyến phố, trong đó 6 tuyến loại III, 36 tuyến loại IV Quận
Hoàng Mai có 47 tuyến, trong đó 5 tuyến loại III, 42 tuyến loại IV Quận Tây Hồ có 22 tuyến, trong đó duy nhất đường Thanh Niên là tuyến loại I, 21 tuyến còn lại có 5 tuyến loại II, 14
Trang 9tuyến loại III, 5 tuyến loại IV Quận Thanh Xuân có 43 tuyến, trong đó 9 tuyến loại III, 34 tuyến loại IV
Huyện Từ Liêm có 24 tuyến, trong đó 5 tuyến đường loại III, 19 tuyến loại IV Thị xã Sơn Tây có 19/19 tuyến là đường loại IV Huyện Ba Vì có 3 tuyến, cả 3 tuyến này đều là loại
II Huyện Chương Mỹ có 9 tuyến, trong đó 3 tuyến loại I, 6 tuyến loại II
Huyện Đan Phượng có 5 tuyến, trong đó 1 tuyến loại I, 4 tuyến loại II Huyện Đông Anh có 7 tuyến, 3 tuyến loại I, 4 tuyến loại II Gia Lâm có 12 tuyến, 6 tuyến loại II, 2 tuyến loại I Huyện Hoài Đức có 4 tuyến, 1 tuyến loại I, 3 tuyến loại II Huyện Mê Linh 4 tuyến, cả
4 tuyến đều là đường loại II
Huyện Mỹ Đức 2 tuyến, cả 2 tuyến đều thuộc loại II Huyện Phú Xuyên có 2 tuyến, cả hai tuyến này đều thuộc loại II (riêng quốc lộ 1A đoạn đối diện đường tàu Bắc - Nam là đường loại I) Huyện Phúc Thọ có 6 tuyến, trong đó 5 tuyến loại II, 1 tuyến loại I
Huyện Quốc Oai có 6 tuyến, trong đó 5 tuyến loại II, 1 tuyến loại I Sóc Sơn có 8 tuyến, trong đó 4 tuyến loại II, 3 tuyến loại I, Thạch Thất có 4 tuyến, cả 4 tuyến này đều là loại II Thanh Oai có 7 tuyến, 6 tuyến loại II, 1 tuyến loại I
Huyện Thanh Trì có 8 tuyến, 7 tuyến thuộc loại II, 1 tuyến loại I Thường Tín có 5 tuyến, 4 tuyến loại II, 1 tuyến loại I Từ Liêm có 8 tuyến, trong đó 6 tuyến loại II, 2 tuyến loại
I Ứng Hòa có 5 tuyến, 4 tuyến loại II, 1 tuyến loại I…
c Gíá quy định
Dự kiến ngày 10/12 HĐND thành phố Hà Nội sẽ thảo luận và quyết nghị về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo kết quả điều tra của UBND thành phố
Hà Nội, giá chuyển nhượng đất trên thị trường năm 2010 tại các quận, thị trấn, thị xã, huyện giáp ranh quận và trục đầu mối giao thông cao hơn giá đất ở quy định tại bảng giá đất năm
2010 Do đó, Hà Nội nhấn mạnh, bảng giá đất năm 2011 được điều chỉnh theo hướng dần dần tiếp cận với thị trường
Theo báo cáo mới nhất của UBND TP Hà Nội, giá đất tại các trục đường chính hướng tâm vào Thành phố được điều chỉnh theo hướng giảm dần từ trung tâm Hà Nội trở ra Như vậy, năm 2011 giá đất tại một số đường, phố sẽ cao hơn năm 2010, một số đường phố sẽ được giữ nguyên
Trang 10Theo đó, giá đất nằm trong mức tối thiểu là 2.340.000 đồng mỗi m2 (đường 72 qua phường Dương Nội, quận Hà Đông) Giá tối đa vẫn là 81.000.000 đồng mỗi m2 thuộc các phố Hàng Ngang, Hàng Đào (quận Hoàn Kiếm) như năm 2010
Thị trấn các huyện Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh, Hoài Đức, Đan Phượng, Thường Tín là các huyện giáp ranh và có mức độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh hơn thì điều chỉnh tăng theo hướng tiếp cận với các quận Sau khi điều chỉnh, giá tối thiểu là 1.670.000 đồng mỗi m2, giá tối đa là 26.400.000 đồng mỗi m2
Riêng các phường của thị xã Sơn Tây là đất đô thị nhưng do nằm cách xa trung tâm thành phố nên có điều chỉnh từng vị trí cho phù hợp với thực tế và có giá từ 1.513.000 đồng mỗi m2 đến 15.600.000 đồng mỗi m2
Các huyện Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì có vị trí giáp ranh với quận có hạ tầng được đầu tư đồng bộ, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tăng, có mức độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh Vì vậy, các quận liền kề cần phải điều chỉnh tăng theo tỷ lệ tương ứng Khu vực giáp ranh với Từ Liêm, Gia Lâm và Thanh Trì sau khi điều chỉnh có giá tối thiểu là 2.035.000 đồng mỗi m2, giá tối đa là 31.200.000 đồng
Giá đất ở khu vực đầu mối giao thông tại các huyện Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì, Hoài Đức, Đan phượng, Thường Tín, Đông Anh, Thanh Oai điều chỉnh tăng theo hướng tiếp cận với giá vượt khung tối đa của Chính phủ cho phép, theo đó mức giá đất tối đa là 11.250.000 đồng/m2 và giá tối thiểu là 433.000 đồng
Giá đất ở khu dân cư nông thôn tại các huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh, Quốc Oai điều chỉnh cục bộ theo hướng tiếp cận với giá vượt khung tối
đa của Chính phủ cho phép và có giá tối đa là 2.250.000 đồng mỗi m2
Giá đất nông nghiệp về cơ bản vẫn giữ nguyên năm 2010 Giá đất nông nghiệp trồng lúa nước, trồng cây hàng năm và trồng cây lâu năm có giá tối thiểu là 54.400 đồng mỗi m2, giá tối đa là 252.000 đồng Đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản có giá tối thiểu là 36.000 đồng mỗi m2, giá tối đa là 201.600 đồng mỗi m2 Giá đất rừng có giá tối thiểu là 30.000đồng, giá tối đa là 60.000 đồng
2.5 Một số ví dụ về vấn đề còn tồn tại ở khu vực đất giáp ranh
- Ví dụ 1: Đất giáp ranh không ai quản lý: Tại bản đồ hay chính quyền tắc trách?
Giáp ranh giữa xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) và phường Mộ Lao (Hà Đông) có một mảnh đất công diện tích khoảng 200m2 đang bị 4 gia đình ngang nhiên lấn chiếm, gây bức