giâi quyết vụ ấn hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng bị cản trở, dẫn tới sai lệch, không đáp ứng được đúng các thời hạn tố tụns theo quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến việc giữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
T ôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được a i công b ố trong bất kỳ công trìn h nào khác.
Nguyễn Xuân Hà
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương I TỘI CHE GIẤU TÔI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH s ự 10
VIỆT N A M V À MỘT s ố NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
tội che giấu tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lẻ cho đến trước Cách mạng 10
tháng Tám nảm 19451.1.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám nãm 1945 thành 18
công cho đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời1.1.3 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời cho 21
đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 19991.1.4 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 23cho đến nay
1.2.2 Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội che 28giấu tội phạm và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội
hình sự một số nước trên thế giới
Chương 2 TÌN H HÌNH, NGUYÊN NHÂN V À ĐIỀU KIỆN CỦA 44
TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM
2.1.1 Tinh trạng, động thái của tội che giấu tội phạm 462.1.2 Nhân thân người phạm tội che giấu tội phạm 57
3
Trang 42.2.1 Những nguyên nhủn, điéu kiện thuộc về bán thân chú
thể của tội pham
2.2.2 Những nguyên nhân, điều kiện thuộc vé cơ chế, chính
sách, pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm2.2.3 Những nguyên nhàn, điếu kiện thuộc về tồn tại, hạn chế
trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật
2.3 Dự báo tình hình tội che giấu tội phạm thời gian tới
Chương 3 QUAN ĐDẾiM v à g i ả i p h á p đ ấ u t r a n h p h ò n g ,
CHỐNG TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM
3.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước cần quán triệ t
trong đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm
3.2 M ột số giải pháp nàng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội che giấu tội phạm
3.2.1 Hòan thiện những quy định pháp luật làm cơ sở pháp lý
đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm3.2.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ
pháp luật: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án và Tư pháp3.2.3 Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi cán bộ
và quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm
3.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng,
chống tội che giấu tội phạmKẾT LUẬN
DANH MỤC T À I LEỆƯ TH A M KHẢO
69
74
7783
4
Trang 5M Ớ ĐẨU
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đần của Đảng và Nhà nước,
đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khản, thách thức và đạt được nhiêu thành tựu quan trọng trong quá trình thực hiện Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế-xã hội Nển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu đã phát huy được tính tích cực, thu nhập quốc dân tiếp trẻn đà tăng trưởng mạnh, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tiềm lực kinh tế, cơ sờ vật chất kỹ thuật được tăng cường đáng kể; khả năng nội lực, tính độc ỉập tự chủ trong phát triển kinh tế được phát hay, đẩy mạnh Đời sống văn hóa-xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, cuộc sống của nhân dân được cải thiện cả vể vật chất lẫn tinh thần; nhiểu chính sách xã hội như:
chương trình xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người lao động được thực hiện và đạt kết quả nổi bật Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm, hội nhập kinh tế quốc tế, đối ngoại phát triển và có những bước tiến mới rất quan trọng, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt
Tuy nhiên, những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua còn dưới mức khả nâng phát triển của đất nước, hoạt động kinh tế一xã hội còn nhiều yếu kém, bất cập Bên cạnh đó, tình hình an ninh trật tự xã hội còn có những diễn biến phức tạp, tội phạm tiếp tục xuất hiện và xảy ra nhiểu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tình hình tội che giấu tội phạm đã và đang diễn ra, gây cản trở không nhỏ đến hoạt động phát hiện, điểu tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng đã trở thành mối quan tâm, lo ngại của toàn xã hội Tội che giấu tội phạm không những xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho cồng tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhằm xử [ý người phạm tội và tội phạm, mà còn có ảnh hưởng xấu, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội Những hành vi che giấu tội phạm đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, khiến cho các hoạt động tố tụng
1 T ín h cấp th iế t của đề tài
Trang 6giâi quyết vụ ấn hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng bị cản trở, dẫn tới sai lệch, không đáp ứng được đúng các thời hạn tố tụns theo quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến việc giữ chuẩn mực cán cân công lý, làm mất uy tín cua Đàng và Nhà nước ta.
Thực ĩiễn điểu tra, truy tố, xét xử trong những năm qua cho thấy, một số khòng ít những cá nhàn trong xã hội không những không làm tròn nghĩa vụ của công dân, thực hiện đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà trái lại có hành vi che giấu, chứa chấp, nuôi dưỡng, cung cấp các điều kiện vật chất cho người phạm tội
để họ trốn tránh khỏi sự phát hiện của các cơ quan chức năng Thậm chí, một số người là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp đã có hành
vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử
lý người phạm tội, dùng quyền hành khống chế người phát hiện tội phạm, không chịu cung cấp tài liệu có liên quan đến vụ án hình sự, gây khó khăn cho hoạt động xử lý người phạm tội Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm cũng đã đặt ra nhiểu vấn để vướng mắc, đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết như khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội che giấu tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm -.Về mặt lý luận, xung quanh vấn để đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm, còn nhiểu quan điểm khác nhau cần phải được nghiên cứu để phục vụ các yêu cầu của thực tiễn
Với các lý do nẻu trên, việc nghiên cứu để tài: “ Tội che giấu tội phạm: một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học” là vấn để mang tính cấp
thiết, không những nhằm phục vụ yêu cầu nghiên cứu vể mặt lý luận, mà còn là
để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm trong tình hình hiện nay
2 T in h hình nghiẻn cứu đề tài
Từ trước đến nay, tội che giấu tội phạm mạc dù ít được các nhà luật học quan tâm, nghiên cứu sâu, nhưng ở bình diện chung đã được đề cập trong một số sách báo pháp lý như: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà N ộ i-1987,tái bản
6
Trang 7nam 1992,1997); ThS Phạm Thanh Bình và TS Nguyễn Vạn Nguyên có công trình "Cúc tộ i xám phạm hoạt dộng n (p h á p " (Nhà xuất bàn Chính trị quốc gia,
Hà N ộ i-1997); Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tộ i phạm) của Khoa
Luật,Đại học quốc gia Hà Nội (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà N ộ i-1997);
Giáo trình lu ật hình sự Việt Nam, Tập I I của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà
xuất bản Công an nhân dân,Hà Nộ卜 1998); Giáo trình luật hỉnh sự Việt Nam
của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội- 2000); Bỉnh luận khoa học Bộ luật hình sự năm ỉ 999 (Phần các tộ i phạm) của
tập thể tác giả: TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Van Luyện, LS ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ (Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội-2001); PGS TS Nguyễn Xuân Yêm có công trình “ T ội phạm học hiện đại và phòng ngừa tộ i p h ạ m ” (Nhà xuất bản Cống an nhàn dân, Hà Nội-2001); Giáo trình luật hình sự Việt Nam ị Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội-2002); tác giả Thái Văn Đoàn có bài viết: "M ộ t số bất hợp lý trong các quy định về tộ i che giấu tội phạm và tội không tố giác tộ i phạm” (Tạp chí
Tòa án nhân dân tháng 10-2005,số 19)….Các công trình này ít nhiều đã đề cập đến tội che giấu tội phạm, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội che giấu tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình
sự và tội phạm học
3- M ục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghỉẻn cứu của luận văn
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm, để xuất hệ thống những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này ờ nước ta
Để đạt được mục đích trên, tác giả đạt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định vể tội che giấu tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội
7
Trang 8che giấu tội phạm trong Bộ luật hình sự nảm 1999; phân tích các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội phạm này.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình tội che giấu tội phạm, nguyên nhân của thực trạng đó; dự báo tình hình tội che giấu tội phạm trong thời gian tới ở nước ta
- Để xuất hê thống các giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm
Đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội che giấu tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình
sự và tội phạm học ở V iệt Nam, trong thời gian từ nảm 1997 đến năm 2005
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin,tư tưởng Hổ Chí M inh và của Đảng Cộng sản V iệt Nam về xây đựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và đấu tranh phòng, chống tội phạm; những thành tựu của các khoa học: triết học, tội phạm học, luật hình sự, tâm lý xã hội, xã hội học…
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án vé tội che giấu tội phạm; số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan chức nâng khác vể tội phạm này
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong khi thực hiện để tài, tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, hệ thống, lịch sử,lồgíc, thống kê
và k ế t h ợ p v ớ i c á c p h ư ơ n g phá p kh á c n h ư so sánh, đ iể u tra x ã h ộ i…
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam
ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và
có hệ thống về tội che giấu tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm học Có thể xem những nội dung sau đây là nhữìig đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
8
Trang 9- Phần tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định vé tội
che giấu tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
- Làm sáng tỏ những vấn để lý luận chung về tội che giấu tội phạm; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội che giấu tội phạm trong pháp luật hình sự hiện hành
- Phân tích, đánh giá những quy đinh vé tội che giấu tội phạm trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những kinh nghiệm, giá trị hợp iý về lập pháp hình sự vể tội che giấu tội phạm nhằm áp dụng có chọn iọc
và điều kiện cụ thể của nước ta
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình tội che giấu tội phạm ở Việt Nam,
phân tích, làm rỗ nguyên nhân và điểu kiện của thực trạng đó
- Để xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm
6* Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là cồng trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mật lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn Nhung kết luận về tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội che giấu tội phạm và kiến nghị của tác giả trong luận văn về các giải pháp đồng bộ đấu tranh phòng, chống loại tội này có ý nghĩa quan trọng đối với việc
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm ở nước ta
Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất trong luận văn,tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc tổng kết, phát triển lý luận vể đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm
Luận văn có thể được sử đụng làm tài liệu tham khảo cho cồng tác nghiên cứu, giảng dạy vể khoa học luật hình sự, tội phạm học nói chung vẻ tội che giấu tội phạm nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan Công
an, Viện lciểm sát, Tòa án
7 K ết cấu của luận vãn
Luận văn gồm 123 trang Ngoài phần M ở đầu, Kết luận và Đanh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3 chương, 8 mục
9
Trang 10T Ộ I CH E G IẤ U T Ộ I P H Ạ M TRONG L U Ậ T H ÌN H s ự V IỆ T N A M, 4 ■ 備 攀 籲
VÀ M Ộ T SỐ NƯỚC TR ÊN T H Ế G IỚ I
LI KHÁI LƯỢC Sự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH
VỂ TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM
Trải qua hàng nghìn năm đựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đạt được nhiểa thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước độc lập, tự chủ với một nền pháp luật đầy tính sáng tạo, phù hợp với điểu kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử Cùng với quá trình phát triển của đất nước, lịch sử luật hình sự Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài từ khi bắt đầu hình thành nhà nước đầu tiên-Nhà nước Wãn Lang-thời kỳ
Hùng Vương, chúng ta đã có luật pháp, lần lượt qua các thời kỳ dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê,Nguyễn, luật hình sự nước ta ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiên cho tới ngày nay
Do còn rất ít tài liệu được lưu trữ, để lại, nên việc nghiên cứu lịch sử các quy định của pháp luật hình sự Việt nam nói chung, những quy định về tội che giấu tội phạm nói riêng dưới các triều đại thời kỳ phong kiến gập rất nhiều khó khãn,hạn chế, Do vậy, trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ cố gắng đề câp tới lịch sử hình thành và phát triển những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về tội che giấu tội phạm trong nhũng giai đoạn mà kỹ thuật lập pháp hình sự nước nhà đạt trình độ phát triển nổi bật nhất thời kỳ này Tiêu biểu là Quốc triều hình luật (Bộ ỉuật Hổng Đức) dưới thời nhà Lê và Hoàng Việt ỉuật lệ dưới thời nhà Nguyễn là hai bộ luật thể hiện rõ nhất những thành tựu và kinh nghiệm đáng chú ý trong lập pháp hình sự của dân tộc qua các bước thăng trầm của lịch sứ
L l l G iai đoạn từ thời kỳ nhà Lê cho đến trước Cách mạng tháng
Trang 11Đức) dược các quan đại thần đời Lê Thánh Tông biên soạn công phu, áp dụng vào công quyền Việt Nam suốt mấy thế ký Bộ luật đã trở thành một khuôn mảu cho cổ luật Việt Nam trong suốt mấy trảm năm và làm rạng danh cho nền vân hiến Việt Nam.
Từ nảm 1418,cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo với
sự giúp sức của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi chống quân xâm lược nhà Minh đã giành nhiều thắng lợi và cho đến năm 1428,đã đánh đuổi được quân xàm lược, giành lại độc iập cho đất nước Từ khi lẻn nắm quyền, hoạt động xây
dựng pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng đã được nhà Lê quan tâm,
chú trọng Thành công nhất, đời vua Lê Thánh Tông đã ban hành Quốc triều hình luật (Bộ luật Hổng Đức) nổi tiếng vào năm 1483,được chia làm 6 quyển với 13 chương, bao gồm 722 điều [32, tr 27-29]
Tội che giấu tội phạm được đề cập trong luật hình sự Việt Nam ngay từ thời kỳ này, Tại Điều 298,Chương Hộ hôn của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hổng Đức) quy định:
Những trấn, trường, châu, huyện, sách, thôn và trang không được chứa chấp, che giấu những quản dân các lộ khác đến trốn tránh
dù là do việc công mà đến (xong việc rói, còn dùng dằng ờ lại quá 20 ngày là trốn tránh) trái luật này thì bất tội quan cai quản địa phương ấy; dân từ 1 người đến 5 người thì xử tội biếm hay đồ, 6 người đến 10
người, thì xử tội lưu, 15 người trờ lẽn thì tội cũng chỉ đến lưu đi châu xa; quàn từ 3 người trờ lên thì xử tội đổ, 5 người trở lên thì xử tội lưu,
10 người trở lên thì tội cũng chỉ đến lưu đi châu xa Dung nhận kẻ có tội trốn tránh, thì phải thêm tội một bậc, và truy thu tiển khoá dịch nộp vào kho Còn người lưu ngụ ở nơi khác đến, thì các trấn qưan (tướng, suý và quan văn) phải nã bắt và giao về bản quán hay bản quàn để chịu sai dịch Nếu trấn quan không đốc xét truy bắt trong trấn
có nhiều kẻ phạm tội ẩn nấp, thì xử tội biếm hay bãi chức [33, tr 117- 118]
Điểu 301 Chương Hộ hôn của Bộ luật còn quy định : “ Các chùa quán và
11
Trang 12nhà dân, có sư,đạo sỹ hay người làng khác đến trú ngụ, quá 5 ngày mà không trình với xã quan, thì xử biếm một tư; ké trú ngụ quá 3 tháng không (Ji, mà xă quan che giấu, không làm giấy trình để huyện quan xét xử, thì xử tội biếm hay tội đó” [33, tr 118].
Đặc biệt, Điểu 373 Chương Điền sản của Bộ luật quy định và đổng nhất che giấu tội phạm với không tố giác tội phạm trong trường hợp quan lại biết mà không tố giác:
Những người cày ruộng đất công mà khai dối ià cày cấy cho quan ty, để mong tránh đóng thuế, thì xử tội theo luật chiếm ruộng đất công Quan ty dung túng thì cũng đổng tội; không biếc thì không xử tội Xã quan biết mà không tố giác thì xử tội giấu giếm; khổng biết thì được giảm 2 bậc; quan lộ huyện vồ tình không biết thì xử tội biếm [33,
tr 137]
Nhưng đáng chú ý,Điểu 429 Chương Đạo tặc của Bộ luật đã phản biệt tính chất mức độ nặng, nhẹ giữa không tố giác tội phạm với che giấu tội phạm, theo đó người che giấu tội phạm bị xử lý nặng hơn gấp hai lẩn người không tố giác tội phạm:
Kẻ ăn trộm mới phạm lần đầu, thì phải lưu đi châu xa Kẻ trộm
đã có tiếng và kẻ trộm tái phạm, thì phải tội chém Giữa ban ngày ản cắp vật cũng xử tội đổ, đã lấy được của, thì phải bổi thường tang vật Những kẻ chứa chấp, thì đều bị nhẹ hơn một bậc và bất bổi thường một phần ba tang vật Kẻ biết việc mà không cáo giác thì bị nhẹ tội hơn hai bậc [33,tr 159】
Mặc dù Bộ luật Hổng Đức chưa đưa ra được luận cứ cho việc phải xử nặng hành vi che giấu tội phạm so với hành vi không tố giác tội phạm, nhưng quy định trên trong Bộ luật này rất đáng được chúng ta nghiên cứu, có thể tiếp thu áp dụng trong điểu kiện hiện nay ờ nước ta
Như vậy, tội che giấu tội phạm đã được đề cập đến trong Bộ luật Hổng Đức, mặc dù chưa có được một khái niệm pháp lý rõ ràng vé che giấu tội phạm cũng như chưa có một điểu luật cụ thể quy định về tội che giấu tội phạm để áp
12
Trang 13dụng xử lý chung, mà mới chi là những quy định rái rác ờ một số điểu luật vé một
số trường hợp phạm tội cỏ các hành vi che giấu, giấu giếm Tuy nhiên, những quy định này cũng đã tương đối cụ thể, chi tiết, có sự biến hóa, kết hợp uyển chuyển, lúc nào hành vi đó bị xử lý vé tội không tố giác, lúc nào thì hành vi đó bị xử lý vé che giấu tội phạm: đặc biệt là đã có sự phản hoá nặng, nhẹ giữa che giấu tội phạm
và không tố giác tội phạm, từ đó quy định xử lý che giấu tội phạm nặng hơn gấp hai lần không tố giác tội phạm Điều đó đã thể hiện sự khá hoàn chỉnh trong các quy định pháp luật hình sự nói chung, các quy định về che giấu tội phạm nói riêng thời kỳ nhà Lẻ, phản ánh được những đặc điểm của xã hội đương thời; đổng thời cũng thể hiện trình độ lập pháp hình sự đầy sáng tạo của cha ông ta thời kỳ này
ỉ 1.12 Thời kỳ nhà Nguyễn
Sau khi đánh bại triểu đại Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh lẻn ngôi vua, lấy hiệu Gia Long, ổng giao cho Tiền quản Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Vãn Thành (1757-1817) là Tổng tài cùng hai vị: Vũ Trinh (1769-1828) và Trần Hựu trực tiếp soạn thảo Bộ Hoàng Viêt luật lệ Bộ luật được biên soạn trong một thời gian dài, đến nám 1811 thì hoàn tất và nàm 1812 được khắc in lần đầu ờ Trung Quốc rồi cho áp dụng vào nảm 1813 trên phạm vi toàn quốc Hoàng Việt luật lệ, hay còn gọi là Bộ luật Gia Long là một trong những bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến V iệt Nam Có thể nói, đây là một bộ luật đầy đủ và hoàn chinh nhất của nén cổ luật V iệt Nam, gồm hai phần, 22 quyển với 398 điểu [31, tr V III- XI]
Tại Điều 15 Quyển 2- Danh lệ phần thượng của Bộ luật quy định về tội
không được tha, trong đó có đoạn:
Cướp người, buôn người, dụ dỗ quyến rũ người, nếu dính líu đến việc tội ác, tuyên truyền lờ i sai đạo lí, xúi xiển giết người, cố ý thèm bớt tội nhân, nếu biết sự việc mà cố tình dung túng, cho phép giấu giếm phạm nhân, chí cách họ trốn đi, vì họ ỉàm trung gian tiền, những loại ấy đểu là thực phạm (đều cố tâm phạm cả) dù gặp ân xá cũng không được tha [31, tr 128-131]
13
Trang 14Như vậy,trong Bộ luật này quy định đối với những hành vi biết sự việc
mà cố che giấu, dung túng, nghe lời mà giấu để đưa đi trốn vì là trung gian nhận tién, bị coi là chính phạm, cũng nguy hiểm như các tội thập ác,giết người , phải xử lý nghiêm minh, không được àn xá Quy định này như là một nguyên tắc của Bộ luật trong việc xử lý, áp dụng hình phạt đối với loại tội phạm này, chể hiên sự nghiêm khắc trừng trị của pháp luật hình sự thời kỳ này đối với những người có hành vi che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật
có quy định
Tại Điều 31 Quyển 3-Danh lệ phần hạ của Bộ luật quy định vé trường
hợp những người thàn thuộc cùng chứa chấp che giấu tội của ahau, cụ thể là:
Phàm ở chung một nhà (cùng chung của cải, ở chung thân thuộc, không hạn là khác làng, đù không có chế độ tang phục) nếu hàng Đại công trở lên và ồng bà ngoại, cha mẹ vợ của cháu ngoại, rể như anh em,vợ chổng của cháu, vợ của anh em (có cm nặng) có tội do người này hoặc người kia làm cùng nhau che chả Nỏ tì, người làm cổng vì nghĩa nặng với gia trưởng mà giấu thì đều miễn bàn (tôn trường không được vì nô tì, người làm công mà giấu, có bổn phận trị tội họ)
Nếu tiết lộ sự việc và thông báo tin tức đến nỗi khiến tội nhân
lo sợ khi đang được giấu che này trốn lánh đi (vì đối với pháp luật họ được quyển che giấu cho nhau) cũng không buộc tội (nghĩa là có tình thân thuộc che giấu cho nhau, phạm tội nếu pháp quan truy bắt nhân
đó mà tiết lộ sự việc và ngầm thông báo tin tức khiến tội nhân đang được che giấu sợ trốn đi, cũng không bị tội) Hàng tiểu công trở xuống giấu nhau và tiết lộ sự việc thì giảm 3 bực tội so với người thường, người thân không có chế độ tang phục, giảm 1 bực Nếu phạm tội mưu phản trở lên thì không dùng luật này (là tuy có chế độ tang phục thân thuộc mà phạm mưu phản, đại nghịch Mưu phản chỉ che giấu không thú tội thì y luật phạt tội không dùng luật này) [31, tr 192-194]
14
Trang 15Quy định này có nghĩa: trường hợp những người thân thuộc trong gia đình chung sống trong một nhà thuộc hàng đại công trò lên, như: ông bà ngoại, cha
mẹ vợ của cháu, rể、vợ chổng của cháu, anh em của cháu, vợ cùa anh em có an
nghĩa với nhau mà phạm tội thì được phép che giấu tội cho nhau mà không bị cấm Nô tì, người làm cồng cho gia trưởng mà che giấu tội phạm của gia trưởng
vì nghĩa nạng tình thâm thì cũng không bị xử lý Nếu biết pháp quan đang phát lệnh truy nã mà người che giấu tiết iộ, thông báo cho người phạm tội đang ẩn náu, trốn tránh biết để chạy trốn đi nơi khác thì cũng không bị buộc tội Những người ở hàng tiểu công trở xuống, bổn tông bên ngoại, có vị trí thân thuộc xa mà dung chức, che giấu và thông báo, tạo điểu kiện thông báo,che giấu cho nhau thì mặc dù bị tội nhưng được giảm 3 bực tội so với người thường; người thân mà không thuộc hàng phải để tang nếu che giấu tội cho nhau thì bị phạt tội nhưng giảm 1 bực so với người thường Quy định này cho thấy: mặc dù pháp luật hình
sự phong kiến nước ta rất hà khắc ahumg cũng đã có những chính sách nhân đạo nhất định được áp dụng như không xử tội che giấu tội phạm đối với những người thân thuộc, trong cùng một gia đình có hành vi che giấu tội phạm cho nhau Điểu này, đã thể hiện rõ tư tưởng coi trọng luân thường, đạo lý, coi trọng tình người, thể hiện phong tục văn hóa, truyền thống đạo đức gia phong của người Á đông, tổn trọng kỷ cương trong gia đình của xã hội phong kiến nước ta lúc bấy giờ Bên cạnh đó, Bộ luật cũng đã thể hiện sự phân hoá rõ ràng tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm xảy ra mà xem xét xử lý hành vi che giấu tội phạm đó, chẳng hạn như đối với các tội mưu phản, đại nghịch, gây rối là các tội phạm vào Thập ác, thì người có hành vi che giấu các tội này phải bị nghiêm trị kể cả trong trường hợp là những người ruột thịt trong gia đình che giấu tội cho nhau Điểu này thể hiện tính agiiiêm minh của pháp luật hình sự nước ta thời kỳ này nói chung, Bộ luật Hoàng Việt luật lệ nói riêng, đổng thời thể hiện trình độ lập pháp tương đối cao của triều đại nhà Nguyễn thời kỳ này
Tội che giấu tội phạm cũng được đề cập trong những quy định về Binh luật, tại các quyển 10, 11 của Bộ luật Tại Điểu 18 Quyến 10 quy định về tội
quan lính trốn khi cố thủ đánh giặc,có đoạn:
15
Trang 16Phàm quan quân đã nhận lịnh chỉ huy’ theo lính đi dẹp giặcnhưng lén trốn biết y trốn mà quan Giám háu che giấu thì phạt 100 trượng, không kể lần nào, sung lính, đuổi về quê hay đi nơi khác Nếu
là quân nhân giữ các nơi, thành trì mà trốn Giám hầu biết trốn mà vẫn che giấu thì đồng tội với phạm nhân Ai biết việc tùng chinh mà
bỏ trốn kia và kẻ chấp chứa, che giấu thì không cần biết phạm lần mấy Cứ tội là phạt 100 trượng,sung lính…[31,tr 506-510]
Tại Điều 4 Quyển 11 của Bộ luật quy định về xét hỏi bọn do thám, cóđoạn:
Phàm những ai đi men theo biên giới ải, đồn trại phải xét chúng, bắt được phải đem đến quan hỏi tra, nếu quả thật đó là hạng người đón dẫn vào trong và đưa người ra ngoài, thì đem chém…Giám hầu bỏ qua, người coi ngó biết cố dung túng, che giấu không thú tội thì đều xử tội như kẻ phạm Bọn do thám đi qua, người giữ biết chúng
là do thám như dung túng cho qua mà còn che giấu, không đi tố cáo, tội cùng người phạm [31,tr 525-527],
ở những quy định này, hành vi che giấu được để cập nhưng chưa rõ ràng, còn mập mờ với hành vi không tố giác, và đổng nhất với đổng phạm, quy định
xử lý ở cùng mức hình phạt
Tại Quyển 12 của Bộ luật quy định về Hình luậì Trong hai tội mưu phản
đại nghịch và mưu phản có để cập về hành vi che giấu các tội phạm này Cụ thể, tại Điều i Mưu phản đạo nghịch có đoạn quy định: “ Phàm kẻ mưu phản không
làm lợi cho đất nưóc,mưu hại xã tắc và đại nghịch không có lợi đối với vua, mưu phá huỷ tôn miếu, sơn lăng và cung quyết…A i biết tình hình mà cố dung túng, che giấu thì bị xử chém” [31,tr 555-556] Tại Điều 2 Mưu phản có đoạn
quy định: “ Phàm kẻ mưu phản gài mưu trong nước nghe lịnh nước ngoài Chỉ ỉà cùng mưu thì cũng không chia cầm đầu hay tòng phạm mà đem chém hết ráo Con trai, con gái, thê thiếp của chúng đem phân phối làm nô tì trong các nhà bực công thần Ai biết mà cố tình chứa chấp, che giấu thì bị tội giảo” [31, tr 560-561]
16
Trang 17Vẫn trong những quy định về hình luật,tại Quyển 18 của Bộ luật có quyđịnh về bắt tù trốn, trong đó Điều 27 quy định về "biết chuyện mà che giấu tội nhản trong trường hợp không phải là thân thuộc với nhau và tội nhân chưa đến quan ••,cụ thể như sau:
Phàm biết người khác phạm tội, việc bị lộ, quan ti sai người đi bắt gọi, đem phạm nhân giấu trong nhà, không nộp, không thưa lên và chỉ đường cho phạm nhân trốn, cung cấp lương thực, chỉ nơi trôn cho người ỉcia thân thuộc được miễn giảm, còn người ngoài vẩn chiếu tội che giấu Việc chưa phát ỉộ quan ti không bắt, gọi, mà che giấu là điểu không nên Còn người trốn, các nơi đổi chỗ đưa đ i,che giấu tội nhân, biết chuyện mà đổi chỗ, đưa đi trốn lánh thì đều bị tội [31,tr 952- 953],
Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy rằng pháp luật hình sự nhà Nguyễn mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự phong kiến Trung Quốc, nhưng cũng đã tiếp thu các giá trị, kinh nghiệm lập pháp hình sự nói chung và tội che giấu tội phạm nói riêng của nhà Lê đổng thời có sự sáng tạo nhất định, thể hiện kỹ thuật lập pháp hình sự nói chung và về tội che giấu tội phạm nói riêng đạt ờ trình độ tưcmg đối cao thời kỳ này.
Như vậy, có thể nói tội che giấu tội phạm đã được quy định từ rất sớm trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam Từ thời nhà Lê, tội che giấu tội phạm
đã được đề cập, quy định trong Bộ luật Hổng Đức và dưới thời nhà Nguyễn, nó tiếp tục được ghi nhận và quy định trong Hoàng Việt luật lệ Mặc dù các quy định này còn nhiều điểm hạn chế như: chưa tập trung, thống nhất ở một điều luật, chưa đưa ra được những khái niệm pháp lý rõ ràng vẻ hành vi che giấu cũng như tội che giấu tội phạm và có chỗ còn đổng nhất với đổng phạm, với không tố giác tội phạm, cũng như cách diễn đạt từ ngữ thể hiện về tội che giấu tội phạm chưa được chuẩn hóa, không nhất quán Tuy nhiên, các quy định này
đã thể hiện rõ thái độ,nhận thức nghiêm khắc của chế độ cầm quyền phong kiến đương thời đối với những hành vi che giấu tộij)jỊạiĩU-iighiêỊì^Efl|)知Ig pháp luật
M M O C d ' o c c ; !,.a ■ ' ' ,hình sự đối với những người có các hành vi í ị ũ : 丨 ::':Ạ ^ Ị
• 17 L 0 Ị C Ì A ^ 一」
Trang 181.1.2 Giai đoạn từ khi Cách mang tháng Tám năm 1945 thành còng cho đến trước khi Bộ luật hình sự nám 1985 ra đời
Sau khi Cách mạng Tháng Tám nũm 1945 thành công, Nhà nước còng
nông non trẻ đã tích cực tiến hành hoạt động lập pháp nói chung và hoạt
động lập pháp hình sự nói riêng Chi trong gần bốn tháng năm 1945 và nám
1946, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình
sự,đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyén nhân dân, góp phần xây dựng và
phát triển lực lượng, chuẩn bị sẩn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của
cả nước thời kỳ này
Nhằm trừng trị các loại việt gian,phản động, chống chính sách dùng
người Việt trị người Việt của bọn thực dân Pháp, Nhà nước ta đã ban hành sắc
lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953 trừng trị những tội xầm phạm đến an toàn nhà
nước, đối nội và đối ngoại Trong đó, Điểu 14 của Sắc lệnh quy định vể tội che
giấu phần tử phản quốc: uKẻ nào chứa chấp, tìm cách giấu giếm, giúp đỡ các
phần tử phản quốc, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trờ xuống Nếu tội trạng nặng, sẽ bị
phạt tù từ 10 năm đến chuns thân, hoặc sẽ bị xử tử hình” [1,tr 77] Mặc dù sắc
lệnh chưa đề cập tội che giấu tội phạm nói chung, nhưng việc quy định tội che
giấu phần tử phản quốc đã tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống
những tội xâm phạm đến an toàn nhà nước, đối nội và đối ngoại thời kỳ đó Với
việc Sác lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953 được ban hành, thể hiện những bước
tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự thời kỳ này, không những chỉ ra được những
quan hệ xã hội cụ thể có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tổn vong của chính
quyển nhân dân bị các hành vi phạm tội xàm phạm, mà còn lần đầu tiên chính
thức ghi nhận vể mặt pháp lý tội che giấu phần tử phản quốc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miển Bắc
hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai
thống trị Tình hình đó đã hình thành ở nước ta “ hai khu vực có chế độ chính trị
và xã hội khác nhau” [13, tr 505]: ở miển Bác, tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xây đựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước; ở
miền Nam, tiến hành cách mạng đân tộc, dân chú nhầm giải phóng miền Nam
18
Trang 19khỏi ách thống trị của đế quốc M ỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà Để ìãng cường chuyên chính dân chủ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân và Nhà nước dân chủ nhàn dân, ngày 30-10-1967,Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng, trong đó quy định tội che giấu phần tử phản cách mạng tại Điều 17: “ Kẻ nào biết rõ phần tử phản cách mạng mà chứa chấp, che giấu, tiếp tế, giúp đỡ cho chúng lẩn trốn hoặc cất giấu tang vật, thú tiêu chứng cứ tội phạm của chúng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 nảm” [29,
tr 197] Điểm mới của quy định này so với quy định tương ứng trong Sắc lệnh số 133-SL là Pháp lệnh đã ghi nhận điều kiện vể ý thức chủ quan của người phạm tội che giấu phần tử phản cách mạng là “biếí rõ phấn tử phản cách mạng ” và bổ
sung thêm một số hình thức che giấu là “ cất giấu tang vậtf thủ tiêu chứng cứn
Hình phạt được áp đụng đối với người phạm tội che giấu phần tử phản cách mạng đã được giảm hơn so với sắc lệnh số 133-SL, chỉ bị phạt tù từ 2 năm đến
10 nãm
Ngày 21 •10-1970,Pháp lệnh trừng trị các tội xầm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được Nhà nước ta ban hành đã quy định về tội bao che cho kẻ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa tại Điều 19:
1 Kẻ nào tuy biết là có xảy ra tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng lợi dụng chức vụ, quyển hạn, cố tình cản trờ việc phát hiện, điểu tra, xử lý kẻ phạm tội thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm
2 Phạm tội trong trường hợp có hành động đàn áp,trả thù người đấu tranh phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm [29,tr 207]
Như vậy, trong Pháp lệnh này một trong những hình thức của che giấu tội phạm và bao che đã được Nhà nước ta chính thức ghi nhận và chủ thể của hành
vi bao che phải là chủ thể đặc biệt: người có chức vụ, quyên hạn; tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là: có hành động đàn áp, trả thù người đấu tranh phát hịên tội phạm và kẻ phạm tội Đây có thể nói là một bước tiến bộ vể kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà nước ta đối với tội che giấu tội phạm thời kỳ này
Trong thời gian từ năm 1978 đến những năm 1980, 1981,trước thực trạng
19
Trang 20tình hình k in h【ế-xẵ hội của nước ta gập nhiểu khó khăn, phải đối phó với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bọn gian thương đầu cơ, buôn lậu,làm hàng giả, kinh doanh trái phép,hoạt động gây rối loạn thị trường Việc đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trên thị trường là một yêu cầu cấp bách nhằm thiết lập một trật tự mói xã hội chủ nghĩa trên mặt trận lưu thông phân phối, góp phần thúc đẩy sản xuất, ổn định giá cả, bảo đảm đời sống cho người lao động, ngày 30-6-1982,Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ,buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được Hội đổng Nhà nước ban hành Đáng chú ý, Điểu 7 của Pháp lệnh này quy định vể tội bao che người phạm tội:
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố tình cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử lý người phạm tội ghi trong Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Trong trường hợp có hành động đàn
áp, trả thù người phát hiện hoặc tố giác tội phạm thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm
Nếu vì mục đích thu lợi bất chính mà bao che người phạm tội, thì tùy hành vi cụ thể, bị coi ỉà cùng phạm tội và bị xử phạt theo các điểu 2, 3,4,5,6 Pháp lệnh hoặc bị xử phạt theo Pháp lệnh ngày 20-
05-1981 trừng trị tội hối lộ [17,tr 98]-
Việc Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buồn lậu quy định tội bao che người phạm tội đã thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước ta trong việc xử lý nghiêm những hành vi, hoạt động gây rối thị trường, đổng thời xử lý cả những hành vi bao che, cản trở cuộc đấu tranh chống các tội đầu cơ,buôn lậu
Vào đầu những năm tiếp theo của thời kỳ này, khái niệm che giấu tội phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý Giáo trình hình luật xã hội chủ nghĩa của Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã đề cập tội che giấu tội phạm và đưa ra khái niệm che giấu tội phạm, cụ thể là: che giấu tội phạm là hành vi của một người, tuy không có sự bàn bạc,thoản thuận trước với kẻ phạm tội, nhưng đã che đậy cho y bằng cách cho y trốn tránh hoặc giấu giếm những công cụ, phương tiện phạm tội hay những vật đã có được bằng con đường phạm pháp [30, tr 188】
20
Trang 211.1.3, Giai đoạn từ kh i Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời cho đến trước
kh i ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Từ khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng cho đến thời gian trước nảm
1985,nhàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã giành được một số thành tựu
quan trọng, nhất là trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng Tuy nhiên,
chúng ta đã gập phải nhiéu khó khấn và có nhiều khuyết điểm trong lĩnh vực
quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, pháp ỉuật, kỷ cưcmg bị buông lỏng Trong
linh vực lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành đã
không thể tạo cơ sờ pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy,
việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết,
có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ngày 27-6-1985,tại kỳ họp thứ 9,Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa V II,đã thông qua Bộ luật hình
sự, có hiệu lực từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 1985),
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Bộ luật hình sự
năm 1985 đã có quy phạm định nghĩa về khái niệm che giấu tội phạm tại Điểu
18,đó là: người nào tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm đuợc
thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc
có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải
chịu trách nhiệm hình sự vể tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà
Bộ luật này quy định
Việc Bộ luật hình sự năm 1985 chính thức ghi nhận về mặt pháp ỉý định
nghĩa pháp lý của khái niệm che giấu tội phạm, đánh dấu bước tiến bộ mới về
kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà nước ta trong những giai đoạn trước đây Tội
che giấu tội phạm được quy định tại Điều 246 trong Chương X- Các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp của Bộ luật, cụ thể là:
1 Nguời nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong những tội phạm quy định tại các điều sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm
hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
• Các điều từ Điều 72 đến Điểu 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm
21
Trang 22phạm an ninh quốc gia; Điéu 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thúy); Điểu 94,
khoản 2 (tỏi phá húy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia);
Điểu 95' khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điểu 96, khoản 2
và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ,
chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 97, khoản 2 và 3 (tội buôn lậu hoặc
vận chuyển trái phép hàng hóa, tiển tệ qua biên giới); Điéu 98 (tội làm tiển giả,
tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ);
- Điều 101 (tội giết người); Điểu 112,khoản 2,3 và 4(tội hiếp dâm); Điều
112a (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 113a (tội cưỡng dâm người chưa thành niên);
Điểu 115 khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);
• Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điểu 132,khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điểu 133,khoản 2,3 và 4 (tội tham ô tài sản
xã hội chủ nghĩa); Điểu 134a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
lừa đảo chiếm đoạt tài sàn Kã hội chủ nghĩa); Điểu 137a, khoản 2 và 3 (tội lợi
dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138,
khoản 2 và 3 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);
- Điểu 149,khoản 2 (tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em);
- Điểu 151 (tội cướp tài sản của công dàn); Điểu 152 (tội bất cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản của công dàn); Điều 156, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân);
- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 166, khoản 2 và 3 (tội buôn
bán hàng cấm); Điều 167, khoản 2 và 3 (tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng
giả); Điểu 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội ỉàm hoặc lưu hành
tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối; Điều 174,khoản 2 và 3 (tội cố
ý làm trái quy định của Nhà nước vể quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng);
Điểu 175,khoản 2,3 và 4 (tội lập quỹ trái phép);
- Điều 185a, khoản 2 (tội trổng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có
chứa chất ma túy); Điều 185b (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 185c
(tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma
22
Trang 23túy); Điều I85đ (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điểu 185e (tội chiếm đoạt
chát ma túy); Điều 185g (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tién
chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 185h, khoản 2 (tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, đụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc
sử dụng trái phép chất ma túy); Điều I85i (tội tổ chức sứ dụng trái phép chất ma
tủy); Điều 185k (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điểu 185m
(tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điểu 185n
(tội vi phạm quy định vé quản lý và sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma
túy khác);
• Điều 202a, khoản 2,3 và 4 (tội mua dâm người chưa thành niên); Điều 202b, khoản 2,3 và 4 (tội dàm ỏ đối với trẻ em);
- Điểu 221,khoản 2,3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ); Điều 22la, khoản 2,3 và 4 (tội lạm quyền trong khi thi hành
công vụ); Điều 224,khoản 2,3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 226,
khoản 2,3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 227,khoản 2,3 và 4 (tội đưa hối lộ, tội
làm môi giới hối lộ); Điểu 228a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền
hạn gây ảnh hường với người khác để trục lợi);
- Điểu 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam)
2 Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị
phạt tù từ năm năm đến mười năm
1.1.4 G iai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự nám 1999 cho đến
nay
Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V I của Đảng, sự nghiệp đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan trọng
trên nhiều lĩnh vực Đời sống chính trị, kinh tế, vân hóa, xã hội của đất nước đã
có nhiều khỏri sắc, được nhân dân ta và bạn bè quốc tế đánh giá cao
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bèn cạnh những mặt tích
cực, mật trái nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn để tiêu cực,
trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp Trong tình hình đó, Bộ luật hình
Trang 24sự nám 1985,dù đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần, nhưng còn nhiểu điếm bất ẹập cần phài được sửa đổi, bổ sung mộí cách toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Vé kỹ thuật lập pháp hình sự,
Bộ luật hình sự nảm 1985 còn có những hạn chế nhất định như kết cấu một số chương, điều chưa hợp lý ,một số tội danh được quy định quá khái quát; khung
h ìn h phạt trong nhiểu điẻu luật quá rộng, dễ dản đến việc áp dụng tùy tiện…và nhược điểm lớn nhất của Bộ luật hình sự năm 1985 là qua bốn lần sửa đổi,bổ sung, tính chính thể của Bộ luật đã bị phá vỡ
Trước tình hình nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất ià trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm V ì những lẽ đó, ngày 21-12-1999,Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự nâm 1999, thay thế cho Bộ luật hình sự nám 1985 Bộ luật hình sự nâm 1999 có hiệu lực từ ngày 1-7-2000
Trong Bộ luật hình sự năm 1999,định nghĩa pháp lý của khái niệm che giấu tội phạm được quy định tại Điểu 21,tội che giấu tội phạm được quy định tại Điều 313 So với quy định tương ứng tại Điểu 246 Bộ luật hình sự năm 1985,
vể cơ bản nội dung của tội che giấu tội phạm quy định tại Điểu 313 Bộ luật hình
sự năm 1999 được giữ nguyên, tuy nhiên có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
Thứ nhất, ngoài những tội phạm đã được liệt kẻ trong Bộ luật hình sự năm
1985 tiếp tục được giữ lại, Bộ luật hình sự năm 1999 bổ sung một số tội phạm mới có cùng tính chất (mới được bổ sung hoặc do tách tội) và một số tội phạm tuy không cùng tính chất nhưng có mức nguy hiểm cao cho xã hội mà nếu che giấu các tội phạm này thì phải bị xử lý hình sự
Thứ h a i 、 điều chỉnh mức hình phạt đối với tội này, cụ thể là:
- Tăng mức phạt cải tạo không giam giữ (khoản 1 Điểu luật) đến 3 năm (trước đến 2 năm);
- Giảm mức hình phạt tù (khoản 2 Điều luật) từ 2 năm đến 7 năm (trước
từ 5 năm đến 10 năm) vì xác định đây là tội phạm nghiêm trọng (theo cách phân
24
Trang 25loại mới) và cân đối với các mức hình phạt của các tội khác cùng trong Chượng
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp [6, tr 330]
1.2 TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SựNẢM 1999
1.2-L K hái niệm tội che giấu tội phạm
Để có thể làm sáng tỏ được khái niệm tội che giấu tội phạm, trước hết cần
làm rõ khái niẹm che giấu tội phạm
Kế thừa quy phạm định nghĩa về khái niệm che giấu tội phạm trong Bộ
luật hình sự năm 1985,tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta quy
định: Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm đuợc thực
hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có
hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội,thì phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
- Các điểu từ Điều 78 đến Điểu 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
- Điều 93 (tội giết người); Điều 111,các khoản 2,3 và 4 (tội hiếp dâm);
Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điểu 116,các
khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điểu 119,khoản 2 (tội mua bán phụ
nữ);
- Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);
- Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản); Điều 138,các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điểu 139,các khoản
2,3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, các khoản 2,3 và 4 (tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điểu 143,các khoản 2,3 và 4 (tội hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
- Điều 153,các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điểu 154,khoản 3 (tội vận
25
Trang 26chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điểu 155, các khoản 2 và 3
(ĩội sân xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cám); Điểu 156,các khoán 2
và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng
giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158,
các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ãn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vạt nuôi); Điều
160,các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 165, các khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái
quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 166,
các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điểu 179,các khoản 2 và 3 (tội vi phạm
quy định vẻ cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điểu 180 (tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiển giả, ngần phiếu giả, công trái giả); Điểu
181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả
khác); Điều 189, các khoản 2 và 3 (tội hủy hoại rừng);
• Điểu 193 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 194 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy); Điều 195 (tội tàng trữ,
vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiển chất dùng cho việc sản xuất
trái phép chất ma túy); Điẻu 196,khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
mua bán các phương tiên, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái
phép chất ma túy); Điểu 197 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điểu
198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 200 (tội cưỡng bức,
lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điểu 201,các khoản 2,3 và
4 (tội vi phạm quy định vể quản lý, sử dụng thuốc gầy nghiện hoặc các chất ma
túy khác);
- Điểu 206,các khoản 2,3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điểu
221 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy); Điều 230 (tội chế tạo,tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương
tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231 (tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng
vé an ninh quốc gia); Điều 232,các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236,các
khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
26
Trang 27hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238,các khoản 2,3 và 4 (tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyên, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc);
- Điểu 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niẻn);
- Điểu 278,các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài); Điểu 279,các khoản 2,3
và 4 (tội nhận hối ỉộ); Điều 280,các khoản 2,3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ,
quyén hạn chiếm đoạt tài sản); Điêu 281,các khoản 2 và 3 (tội iợi dụng chức vụ,
quyén hạn trong khi thi hành công vụ); Điểu 282,các khoản 2 và 3 (tội lạm
quyén trong khi thi hành công vụ); Điểu 283,các khoản 2,3 và 4 (tội lợi dụng
chức vụ, quyển hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điểu 284,
các khoản 2,3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289,các khoản 2, 3 và 4
(tội đưa hối lộ); Điều 290,các khoản 2,3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);
- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn
phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Từ những quy định trên, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất, che giấu tội phạm ià hành vi của một người , tuy không hứa hẹn
trước và không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng sau khi biết tội
phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội
phạm hoặc có hành vi khác cản trờ việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm
Thứ hai, không phải mọi hành vi che giấu tội phạm đều phải chịu trách
nhiệm hình sự, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp
quy định tại Điều 313 của Bộ luật này
Từ sự phản tích ở trêĩ!,có thể đưa ra khái niệm che giấu tội phạm như sau:
Che giấu tội phạm là hành vi của người tuy không hứa hẹn trước và không
tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng sau khi biếì tội phạm được thực
Trang 28hiện, da che giấu người phạm íộ i,các dấu vết, íang vật của tội phạm hoặc có hành vi khúc cán ỉrâ việc phát hiện, điểu ỉra t xử lý người phạm tội.
Trẻn cơ sờ khái niệm che giấu tội phạm ờ trên, có thể làm sáng tỏ khái
niệm tội che giấu tội phạm Trong khoa học pháp ỉý hình sự, các nhà hình sự học chưa đưa ra khái niệm tội che giấu tội phạm, nhưng đã đưa ra khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam cho rằng: “ Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điểu tra, kiểm sát, xét xử và thi hành
án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân,[16,tr 405] Đây chính là khái niệm tội xâm phạm hoạt động
tư pháp được quy định tại Điểu 292 Chương X X II Các tội xàm phạm hoạt động
tư pháp trong Bộ luật hình sự nãm 1999.
Tội che giấu tội phạm là một trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp,
cho nên có thể đưa ra khái niệm tội che giấu tội phạm như sau:
Tội che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trá i pháp luật
hình sự của người có năng lực trách nhiệm hỉnh sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hỉnh sự, tuy không hứa hẹn trướcf không tham gia vào việc thực hiện tội phạm,
nhung sau khi biết tộ i phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu
vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trỏ việc phát hiện, điều tra ’
xứ lý người phạm tội, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan: điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án trong việc bảo vệ lợ i ích của Nhà nước, quyền và lợ i ích
hợp pháp của tổ chức, công dán, bảo vệ trật tự pháp luật xả hội chủ nghĩa.
phạm và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội
1.22.1 Khách thể của tội phạm
Đấu tranh phòng, chống tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan
chuyên trách: Công an, Viên kiểm sát, Tòa án mà còn là nhiệm vụ của toàn thể
xã hội và là trách nhiệm của mỗi công dân Cồng dân có trách nhiệm giúp đỡ
các cơ quan nhà nước phát hiện, điều tra tội phạm, xử lý người phạm tội Điều
28
Trang 2979 Hiến pháp nám 1992 (đã được sửa đổi, bố sung năm 2001),Điều 4 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điểu 25 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đểu có quy định
vé nghĩa vụ cúa công dân trong đấu tranh phòng, chống tôi phạm Điểu 25 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “ Các tổ chức, công dân có quyển và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ,, Người che giấu tội phạm đã không thực hiện nghĩa vụ cỏng dân, chẳng những không tố giác tội phạm mà còn có hành vi che giấu tội phạm
và người phạm tội Hành vi che giấu tội phạm là hành vi có tính nguy hiểm cho
xã hội, bị coi là tội phạm,vì nó gây khó khăn cho hoạt động điều tra, phát hiện tội phạm, cản trờ việc phát hiện và xử lý người phạm tội và ở chừng mực nhất định, nó còn khuyến khích, tạo điểu kiện cho người phạm tội
Như vậy, tội che giấu tội phạm xâm hại tới quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ, đó là các hoạt động đúng đắn điều tra, truy tố, xét xử cúa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
12.2.2 M ặt khách quan của tội phạm
Về mặt khách quan, người che giấu tội phạm có hành vi gây trở ngại cho việc phát hiện, điểu tra tội phạm và xử lý người phạm tội Hành vi che giấu tội phạm quy định tại Điều 21 Bô luật hình sự nâm 1999, được biểu hiện cụ thể ờ một trong hai loại hành vi khách quan sau đây:
Thứ nhất, che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm
Trong thực tiễn điểu tra, truy tố xét xử, hành vi này biểu hiện rất đa dạng, với nhiều hình thức khác nhau như: chứa chấp, nuôi dưỡng người phạm tội đang trốn tránh pháp luật; tìm nơi cho người phạm tội ẩn náu để khỏi bị bắt; cho người phạm tội mượn quần áo, cung cấp giấy tờ giả để người phạm tội lẩn trốn
sự truy nã; mạo nhận người phạm tội là người thân từ xa đến chơi hoặc giấu người phạm tội ẩn náu ở nhà mình
Việc cất giấu, thù tiêu các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, cũng như tài sản, tiền bạc do người khác phạm tội mà có hoặc xóa, thủ tiêu các dấu vết cùa tội phạm đều là những hình thức biểu hiện cùa hành vi này
29
Trang 30Thứ hai, có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử lý người
phạm tội Ngoài hành vi che giấu người phạm tội các dấu vết, tang vật cùa tội phạm, nếu người nào có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử lý người phạm tội, thì người đó cũng phải chịu trách nhiệm hình sự vé tội che giấu tội phạm
Hành vi khác nói ờ đây được hiểu là bất kỳ hành động cụ thể nào làm cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội gặp khó khăn, trở ngại hoậc không thể chực hiện được Những biểu hiện cụ thể của hành vi này là sử dụng chức vụ, quyển hạn, uy tín, ảnh hưởng cá nhân của mình để khống chế, đe dọa đối với người phát hiện, điểu tra, xử lý tội phạm; cố ý không chịu chuyển giao tài liệu, giấy tờ, sổ sách, chứng từ có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án mà cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu cung cấp; cố ý điểu chuyển người phạm tội hoặc người làm chứng
đi công tác xa để gây khó khăn cho hoạt động điểu tra
Hành vi che giấu tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hịẻn một trong hai loại hành vi nêu trên Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc cùa tội che giấu tội phạm, Vì vậy, trách nhiệm hình sự của người che giấu tội phạm không phụ thuộc vào kết quả của viộc có che giấu được tội phạm hay không, vấn để này chỉ có thể được Tòa án cân nhắc khi quyết định hình phạt
Hành vi che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải mọi hành vi che giấu tội phạm đểu có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng
kể, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 liệt kê các tội xâm phạm an ninh quốc gia và những tội phạm khác mà người thực hiện hành vi che giấu các tội phạm đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Bộ luật hình sự năm 1985 trước đây, cũng như Bộ luật hình sự năm 1999 quy định như vậy là xuất phát từ tính chất của hành vi che giấu tội phạm chì gây khó khản cho hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử Do đó, chỉ khi nào che giấu một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng được thực hiện do cố ý được quy định tại Điều 313, thì hành
vi che giấu mới có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể, mới cần phải xử lý
vé hình sự người đã thực hiện hành vi đó Nếu che giấu tội phạm ít nghiêm trọng
Trang 31hoặc tội phạm được thực hiện do vô ý, thì hành vi che giấu đó không bị coi là tội phạm, vì hành vi đó không thỏa mãn nội dung vật chất của tội phạm là tính chất nguy hiểm cho xã hội cùa hành vi Tuy vậy, đối với những người này, cũng cần thiết phải áp dụng các dạng trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm ký luật hoặc trách nhiệm hành chính.
Trường hợp một người thực hiện hành vi che giấu tội phạm mà cho rằng tội phạm được che giấu không được liệt kê tại Điều 313 Bộ luật hình sự năm
1999, nhưng trên thực tế, người đó đã che giấu tội phạm được quy định tại Điểu này, thì người đó vản phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi vì đây là trường hợp sai lầm về pháp luật, mà người sai lầm về pháp luật thì khỏQg được miễn trách nhiệm hình sự
ỉ 2.2.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm nàv phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự,
có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành
vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi đó Đối với tội che giấu tội phạm, người có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho Kã hội của hành vi che giấu tội phạm và
có khả năng điểu khiển hành vi đó
Tuy nhiên, ở mỗi loại hành vi che giấu đã được trình bày ờ trên, có sự khác nhau nhất định về chủ thể của tội phạm
Đối với loại hành vi che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm, thì chủ thể của tội che giấu tội phạm là bất kỳ người nào thực hiện một trong những hành vi đó
Đối với loại hành vi cản trờ việc phát hiện, điểu tra, xử lý người phạm tội, thì thường do những người có chức vụ, quyển hạn thực hiện, nhưng cũng có thể
có truờng hợp người không có chức vụ, quyển hạn thực hiện hành vi này, ví dụ: một người không có chức vụ, quyền hạn, nhưng đã tìm cách mua chuộc, đe dọa, khống chế người làm chứng, cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử [ý người phạm
Tội che giấu tội phạm có mức tối đa của khung hình phạt là bảy năm tù,
Trang 32cho nên cheo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, đây là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nãm 1999 thì:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự vé mọi tộiphạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lẻn, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự vẻ tội phạm rất nghiêm trọng do cố ỷ hoạc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Như vậy, chủ thể của tội che giấu tội phạm phải từ đủ 16 tuổi trở lên
ỉ 2.2.4 M ặt chủ quan của tội phạm
Theo quy định tại Điểu 313 Bộ luật hình sự năm 1999,người che giấa tội phạm không có sự hứa hẹn trước với người phạm tội, nhưng sau khi biết tội phạm đã được thực hiện vẫn cố tình che giấu Sự không hứa hẹn trước được thể hiện ở chỗ hành vi che giấu xảy ra sau khi tội phạm đã được thực hiện và là một tội phạm độc lập, không nằm trong mối quan hệ nhân quả với tội phạm mà người đó che giấu
Nếu mặt khách quan của tội che giấu tội phạm là mặt bên ngoài, thì mặt chủ quan ià mặt bên trong, là hoạt động tâm lý của người phạm tội Mặt chủ quan của tội che giấu tội phạm gồm ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội Che giấu tội phạm được thực hiện với ỉỗi cố ý Điều đó có nghĩa, người che giấu tội phạm biết tội pham đã được thực hiện, hiểu rỗ hành vi che giấu tội phạm là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn tạo điều kiện cho người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, gây trở ngại cho việc phát hiộn, điểu tra, xử lý người phạm tội Động cơ phạm tội, mục đích phạm tội của người phạm tội che giấu tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Người phạm tội che giấu tội phạm, cho đù xuất phát từ bất cứ động cơ, mục đích gì,cũng phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, phải xem xét động cơ phạm tội, mục đích phạm tội của người che giấu tội phạm
12 2 5 Hỉnh phạt được áp dụng đối với người phạm tội che giấu tội phạm
Che giấu tội phạm là một tội phạm ít nguy hiểm hơn so với tất cả những tội phạm mà nó che giấu Vì vậy, khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 33quy định: người nào không hứa hen trước mà che giấu một trong nhữnơ tội
phạm , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba nãm Khoản 2 Điều này quy định: phạm tội trong trườns hợp lợi dụng chức vụ, quyển hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che cho người phạm tội, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy nảm
Trường hựp lợi dụng chức vụ, quvển hạn ở đây được hiểu là nguòi có chức vụ, quyển hạn có thể là cán bộ lãnh đạo cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội…
đã dùng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình làm ảnh hưởng để cản trở hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng có thể là bất cứ cán bô,
công chức, viên chức nào khác đã sử dụng quyển hạn, ảnh hường nhất định của mình để cản trở việc phát hiện, điều tra người phạm tội Hành vi lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để che giấu tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn,
gây ra nhiều khó khăn, trở ngại hơn cho việc phát hiện, điểu tra, xử lý người
phạm tội so với hành vi che giấu tội phạm của người không có chức vụ, quyền
hạn Vì lẽ đó, trường hợp lợi dụng chức vụ, quyển hạn để che giấu tội phạm bị
coi là tình tiết định khung tăng nặng Nếu người có chức vụ, quyển hạn biết tội
phạm đã được thực hiện, vì động cơ vụ lợi mà che giấu tội phạm, thì ngoài tội
che giấu tội phạm, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự vé tội phạm
khác V í dụ: người có chức vụ,quyền hạn ở cơ quan tiến hành tố tụng nhận tiến
của người phạm tộ i,rồi có các hành vi che giấu tội phạm, thì người này bị xử lý
về hai tội: tội che giấu tội phạm và tội nhận hối lộ.• • ■ • • •
12 2 6 Phân biệt che giấu tội phạm với đồng phạm và chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Phán biệt che giấu tội phạm với đồng phạm
Điểu 20 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định :
1 Đổng phạm là trường hợp có hai người trờ lên cố ý cùng thực hiện tội
Trang 34việc thực hiện tội phạm.
Từ quy định trên cho thấy, hành vi che giấu tội phạm và hành vi giúp sức trong đổng phạm có một số biểu hiện giống nhau như: che giấu, nuôi dưỡng người phạm tội, cất giấu tang vật, xóa bỏ dấu vết của tội phạm; những biểu hiện này xảy ra sau khi tội phạm đã được thực hiện
Tuy nhiên, hành vi che giấu tội phạm khác hành vi giúp sức trong đổng phạm ờ những điểm sau đây:
Thứ nhất, hành vi che giấu tội phạm mặc dù có mối liên hệ về mật
khách quan với tội phạm do người khác thực hiện, nhưng không phải là nguyẻn nhàn gây ra hậu quả của tội phạm đó Hành vi che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng nó không nằm trong mối liên kết thống nhất với tội phạm được thực hiện bời người khác Hành vi này được thực hiện sau khi tội phạm đã được thực hiện Người thực hiện tội phạm• ■ • L • -J • • • X •
trước đó không biết được việc tang vật, dấu vết cùa tội phạm và bản thân mình sẽ được che giấu hoặc sẽ được bao che để không bị phát hiện, điều tra, xử [ý Điểu đó có nghĩa, hành vi che giấu tội phạm không tác động vào mật ý thức chủ quan đới với người thực hiện hành vi phạm tội trước đó, không ảnh hường đến quá trình thực hiộn tội phạm của người đó Ngược lại, hành vi giúp sức luôn có mối quan hệ nhân quả với tội phạm do người thực hành thực hiện
Thứ hai, người che giấu tội phạm thực hiện hành vi của mình do cố
ý, nhưng lại không cùng cố ý như người thực hiện hành vi giúp sức trong đồng phạm M ột trong những đặc điểm cơ bản của che giấu tội phạm là không có sự hứa hẹn, thòa thuận trước với người phạm tội, cho nên nó không phát sinh ảnh hường gì đến quá trình thực hiện tội phạm của người khác Trái lại, hành vi che giấu người phạm cội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử lý người phạm tội của người giúp sức bao giờ cũng có sự hứa hẹn, thoả thuận trước với người phạm tội Sự hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trờ việc phát hiện, điểu
34
Trang 35tra, xử lý người pham tội của người giúp sứcv chính ỉà sự giúp sức về tinh thần, tạo thêm quyết tâm thực hiện tội phạm của người thực hành, cho nên người giúp sức phải cùng chịu trách nhiệm hình sự với người thực hành.
- Phân biệt che giấu tội phạm với chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà cố
Điẻu 250 Bộ luật hình sự Qãm 1999 quy định:
1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết
rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đổng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù
có những điểm giống nhau như chúng đều là những hành vi liên quan đến tội phạm, đểu được thực hiện sau khi tội phạm đã được thực hiện và đều không có mối quan hệ nhân quả với tội phạm đó Tuy nhiên, hành vi che giấu tội phạm và hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có những điểm khác nhau Trước hết, đối tượng của chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản do người khác phạm tội mà có, còn ở che giấu tội phạm, người phạm tội chẳng những che giấu các tang vật của tội phạm (bao gồm cả những tài sản do người khác phạm tội mà có), mà còn che giấu người phạm tội, các dấu vết của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điểu tra, xử ỉý người phạm tội M ột dấu hiệu quan trọng khác để phân biệt che giấu tội
35
Trang 36phạm và chứa chấp,tiẻu thụ tài sản do người khác p h ạ m tội mà có là: người che giấu tội phạm biết rõ hành vi của mình tạo thuận lợi cho người phạm tội trôn tránh pháp luật,cản trở việc phát hiện,điều tra, xử lý người phạm tội; người chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ biết tài sản mà mình chứa chấp, tiêu thụ là tài sản do người khác phạm tội mà có,nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ vì mục đích vụ lợ i mà không có ý thức cản trò việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội V I vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điểu 250 trong Chương X IX Các tộ i xâm phạm an toàn công cộng, trậ t tự công cộng, còn tội che giấu tội phạm được quy định tại Điểu 313 trong
Chương X X II Các tộ i xâm phạm hoạt động tư pháp của Bộ luật hình sự
nảm 1999,
Hành vi chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hành vi che giấu tội phạm, bởi lẽ hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có gián tiếp khuyến khích việc thực hiện tội phạm, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đổng thời nó cũng gây trở ngại cho việc phát hiện, điều tra, xử
lý người phạm tội, mặc dù người chứa chấp, tiêu thụ tài sản không có ý thức đó Xuất phát từ quan điểm đó, trước đây Bộ luật hình sự năm 1985 và
Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành của nước ta đểu quy định hình phạt đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tộ i mà có cao hơn hình phạt đối với tội che giấu tội phạm
/.2.2.7 Phân biệt che giấu tội phạm với không tố giác tộ i phạm
Che giấu tội phạm thể hiện qua hành vi tích cực, được người phạm tội che giấu tội phạm thực hiện dưới hình thức hành động, tức là làm một việc bị pháp luật hình sự nghiêm cấm theo quy định của Bộ luật hình sự; hành vi che giấu tội phạm chỉ xảy ra khi tội phạm đã được thực hiộn Do
đó, nó khác với không tố giác tội phạm là hành vi tiêu cực, được người phạm tội không tố giác tội phạm thực hiện dưới hình thức bất hành động, tức là không làm một việc mà pháp luật buộc phải làm theo quy định của
Trang 37Bộ luật hình sự; hành vi không tố giác tội phạm không chỉ xảy ra khi tội phạm đã được thực hiện mà còn xuất hiện khi tội phạm đang được chuẩn bị hoặc đang được thực hiện Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình
sự cho thấy không ít các vụ án trong đó hành vi che giấu tội phạm đi liên, không tách rời với hành vi không tố giác tội phạm, vì nhiều khi trong che giấu bao gổm cả không tố giác V I có không tố giác thì việc che giấu mới được thực hiện trót lọt Trong những trường hợp này, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội cũng không thể truy cứu về tội không tố giác tội phạm mà phải truy cứu trách nhiệm người có hành vi phạm tội về tội che giấu tội phạm mới phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội
L3 NHŨNG QUY ĐỊNH VỂ TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH Sự MỘT số NƯỚC TRÊN THÊ GIÓI
Nghiên cứu pháp ỉuật hình sự của một số nước điển hình, tiêu biểu trong khu vực và trên thế giới như Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Vương quốc Thụy Điển, Liên bang Nga, Hoa Kỳ cho thấy đều có những quy định về tội che giấu tội phạm, tuy nhiên cách tiếp cận, đề cập
và quy định về tội phạm này trong pháp luật hình sự của các nước rất khác ahaa, thể hiện những nét đặc trưng riêng biệt của mỗi nước
Trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào không có quy định định nghĩa khái niệm che giấu tội phạm, nhưng có quy định về tội che giấu tội phạm tại Điều 155, đó là: “ Người nào không hứa hẹn trước với người phạm tội mà che giấu, giúp đỡ người phạm tội thoát khỏi bị bắt hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xét xử thì bị phạt tước quyền tự do từ ba tháng đến năm năm hoặc cải tạo không tước quyền tự do” [28,tr 46] Đáng lưu ý, Bộ luật hình
sự của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã quy định về hành vi che giấu tang vật, các dấu vết, tang vật của tội phạm… thành một tội độc lập, đó là tội tiêu hủy chứng cứ tại Điều 156: “ Người nào cố ý xóa bỏ dấu vết, tiêu hủy, cất giấu các tài liệu hoặc các đồ vật khác chứng minh về hành vi phạm tội thì bị phạt tước quyển tự do đến ba năm,Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự5,[28, tr 46]
37
Trang 38Từ những quy định trẻn cho thấy, nếu như trong Bộ luật hình sự năm 1999 cúa nước ta hành vi che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm đéu bị coi là tội che giấu tội phạm, thì trong Bộ luật hình sự cùa nước Cộng hòa dân chú nhân dân Lào, tùy thuộc vào tính chất của hành vi, có thể bị xử lý cheo hai điểu luật vể hai tội tương ứng là tội che giấu tội phạm và tội tiêu húy chứng cứ.
Tương tự như Bộ luật hình sự của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Bộ luật hình sự Nhật Bản năm 1907, đã qua sửa đổi, bổ sung 12 lần, lần đầu tiên năm 1921 và lần cuối cùng nám 1991,quy định về tội che giấu tội phạm và giấu chứng cứ tại Điểu 103 và Điểu 104 trong Chương V II Các tội che giấu tội phạm
và giấu chứng cứ của Bộ luật.
Điểu 103 quy định vể che giấu tội phạm như sau:
Người nào che giấu người đã thực hiện mộc tội phạm có thể bị phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn nếu người đó đã bỏ trốn trong khi giam giữ hoặc giúp cho họ bỏ trốn bằng hành vi cản trở việc truy tìm hoặc bắt người đó thì bị phạt tù có lao động bất buộc đến hai năm hoặc bị phạt tiền đến 200.000 yên [2,tr 29]
Tội giấu chứng cứ được quy định tại Điểu 114 như sau:
Người nào cất giấu, giả mạo hoặc làm thay đổi chứng cứ trong
vụ án hình sự đối với người khác hoặc sử dụng chứng cứ giả mạo hoặc chứng cứ đã bị thay đổi thì bị phạt tù có lao động bắt buộc đến hai năm hoặc bị phạt tiển đến 200.000 yên [2, tr 29】
Như vậy, Bộ luật hình sự Nhật Bản đã quy định hành vi che giấu người phạm tội và hành vi che giấu tang vật, dấu vết của tội phạm thành hai tội phạm riẻng biệt, đó là tội che giấu tội phạm và tội giấu chứng cứ
Trong Bộ luật hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tại Điều 162 Chương V I- Các tội phá hoại trật tự xã hội và trật tự quản lý quy định:
Người phạm tội cất giấu, làm chứng minh giả để che giấu những phần tử phản cách mạng thì bị phạt tù đến 3 năm hoặc cải tạo lao động, quản chế Nếu có tình tiết phạm tội nghiêm trọng thì bị phạt
Trang 39tù từ 3 đến 10 năm.
Người phạm tội cất ơiảu, làm chứng minh giả dể che giấu những phần tử phạm tội khác thì bị phạt tù đến 2 năm hoặc cải tạo lao động, quản chế Nếu có tình tiết phạm tội nghiêm trọng thì bị phạt tù
có hứa hẹn trước hay không mà che giấu tội phạm thì mới bị xử lý về tội che giấu nhưng cũng đã nêu và phân biệt rõ trường hợp che giấu mà có sự liên hệ, thỏa thuận, thông đồng giữa tội phạm và người che giấu với nhau thì xử lý về tội đổng phạm
Trong Bộ luật hình sự Malaysia, tại Điều 201 quy định vể tội huỷ chứng
cứ vể tội phạm, đưa ra thông tin giả dối về tội phạm hoậc bao che người phạm tội, cụ thể như sau:
Người nào biết hoặc có căn cứ để biết rằng tội phạm đã được thực hiện mà huỷ chứng cứ về việc thực hiện tội phạm nhằm bao che người phạm tội khỏi bị sự trừng trị của pháp luật, hoặc biết rằng qua việc huỷ chứng cứ người đó chắc chấn bao che được cho người phạm tội khỏi bị sự trừng trị của pháp luật hoặc vì mục đích đó mà cố ý đưa
ra thông tin giả dối về tội phạm mà người đó biết hoặc tin rằng có thể
bị xử phạt tử hình, thì bị phạt tù đến 7 năm kèm theo hình phạt tiền; nếu tội định che giấu có thể bị phạt tù chung thân hoặc phạt tù đến 10 năm, thì người phạm tội bị phạt tù đến 3 năm kèm theo hình phạt tiền; nếu tội định che giấu có thể bị phạt tù dưới 10 năm, thì người phạm tội bị phạt tù với thời hạn đến 1/4 thời hạn tù dài nhất được quy định
Trang 40đối với tội đó hoặc bị p h ạ t tiền hoặc cả hai hình phạt đó [5, tr 36】.Tại Điéu 212 của Bộ luật quy định vé tội che giấu tội phạm, cụ thể là:
Người nào che giấu người phạm tội nhằm cứu người đó khỏi sự trừng trị của pháp luật và nếu tội được che giấu có thể bị xử phạt tử hình thì người che giấu bị phạt tù đến 5 năm kèm theo hình phạt tiền; nếu tội được che giấu có thể bị xử phạt tù chung thân hoặc phạt tù đến
10 năm thì người che giấu bị phạt tù đến 3 năm kèm theo hình phạt tiền ; nếu tội được che giấu có thể bị xử phạt tù dưới 10 nám, thì người che giấu bị phạt tù với thời hạn đến 1/4 thời hạn tù dài nhất áp dụng đối với tội đó hoặc bị phạt tiền hoặc cả hai hình phạt đó [5, tr 36].Như vậy pháp luật hình sự Malaysia có để cập và quy định tội che giấu tội phạm Điểu đặc biệt là Bộ luật hình sự của nước này đã đưa ra mức hình phạt áp dụng đối với tội này trên cơ sở tuỳ theo mức hình phạt áp dụng đối với tội phạm được che giấu, tức là tuỳ theo tính chất, mức độ của tội phạm được che giấu nguy hiểm đến đâu mà xử lý hành vi che giấu tội phạm đến đó Điểu này thể hiện tính liên quan, tính logic và hợp lý của pháp luật hình sự Malaysia trong các quy định vể tội che giấu tội phạm, việc xử lý tội che giấu được dựa trên mối tương quan về tính chất, mức độ giữa hành vi che giấu tội phạm với tội phạm được che giấu
Trong Bộ luật hình sự của Vương quốc Thụy Ehển, tại Điểu 11 Chương
il-C á c (ội xâm phạm hoạt động công cộng quy định về che giấu người phạm
tội, cụ thể là:
Người nào che giấu người phạm tội, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ của tội phạm hoặc có các hành vi khác gây khó khăn cho việc khám phá hoặc truy tố tội phạm thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 2 năm về tội che giấu tội phạm Người nào tuy không biết nhưng có các cơ sờ hợp lý để nhận định rằng người được mình bảo vệ là người phạm tội thì bị phạt tiền Nếu xét tính chất của mối quan hệ giữa người có hành vi bảo vệ người phạm tội và người phạm tội, cũng như xét các tình tiết khác mà tội phạm được coi là ít nghiêm
40