1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG TRANG TRÍ CHUYÊN NGHÀNH

156 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang trí hay nghệ thuật làm đẹp là một nhu cầu thiết yếu của con người, là mong muốn thuộc về tình cảm, ý thức tâm lý của con người. Với mọi lĩnh vực của đời sống con người về ăn, mặc, ở, lao động, vui chơi, học tập, sinh hoạt...vai trò của nghệ thuật trang trí đều rất cần thiết .Nghệ thuật trang trí là một bộ phận không thể thiếu trong nghệ thuật nói chung và trong nghệ thuật tạo hình nói riêng

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

BÀI GIẢNG

TRANG TRÍ CHUYÊN NGHÀNH

Giáo viên: LÊ THỊ THANH TRÚC

Phú Yên, tháng 12 năm 2010

Trang 2

Chương I Trang trí cơ bản

1.1 Chép và đơn giản hoa lá

1.1.2 Mục đích của việc chép và đơn giản hoa lá

Chương II Trang trí mẫu vải hoa

2.1 Mẫu vải hoa

2.2.2 Giai đoạn phát thảo

2.2.3 Giai đoạn thể hiện

Bài tập

Chương III Các yếu tố tạo hình cơ bản của nhận thức thị giác

3.1 Các yếu tố cơ bản của nhận thức thị giác

3.1.4.1 Cân bằng trên dưới

3.1.4.2 Cân bằng trái phải

3.1.4.3 Cân bằng trước sau

3.1.5 Chuyển động thị giác

Bài tậpThực hành3.2 Các phương tiện tạo hình cơ bản

3.2.1 Hình khối

3.2.1.1 Biểu hiện của điểm và nét trong nghệ thuật thị giác

Trang 3

3.2.1.2 Nghĩa của nét

3.2.2 Hình và diện phẳng

3.2.2.1 Các hiệu quả rung cơ bản

a Hiệu quả rung

b Hiệu quả ảo

3.7.2.5 Quan hệ cân đối

3.7.2.6 Quan hệ hài hòa

Bài tậpThực hành

Trang 4

I TRANG TRÍ CƠ BẢN.

I.1 Những vấn đề chung về trang trí.

I.1.1 Trang trí trong đời sống và trong nghệ thuật.

Trang trí hay nghệ thuật làm đẹp là một nhu cầu thiết yếu của con người, là mong muốn thuộc về tình cảm, ý thức tâm lý của con người Với mọi lĩnh vực của đời sống con người về ăn, mặc, ở, lao động, vui chơi, học tập, sinh hoạt vai trò của nghệ thuật trang trí đều rất cần thiết

Nghệ thuật trang trí là một bộ phận không thể thiếu trong nghệ thuật nói chung và trong nghệ thuật tạo hình nói riêng

I 1.2 Ngôn ngữ và thể loại trang trí.

Nghệ thuật trang trí nói riêng và nghệ thuật tạo hình nói chung đều có ngôn ngữ biểu hiện là mảng khối, đường nét, hình tượng, màu sắc, ánh sáng Song với nghệ thuật trang trí

dù ở thể loại nào, ngôn ngữ tạo hình nói trên đều mang tính sáng tạ o và cách điệu cao nhằm đạt tới mục tiêu yêu cầu là làm đẹp cho cuộc sống

I.2 Chép và đơn giản hoa lá.

* Chọn mẫu: Mẫu phải đẹp Chọn những loại hoa lá, chim muôn có hình dáng đẹp,

có những đường nét hấp dẫn, vừa đơn giản dễ làm đẹp hơn thực tế, chủ yếu là về cấu trúc còn về màu sắc có thể biến đổi trong quá trình thể hiện màu, mang sẵn những yếu tố trang trí, đó là sự cân xứng hài hòa giữa các bộ phận vì bản thân một số hoa lá rất đẹp trong thiên nhiên nhưng lại khó sử dụng trong trang trí

* Nhận xét và phân tích mẫu: trên cơ sở các mẫu đã chọn, phải quan sát, tìm

hướng gốc độ tạo nên hình dáng đẹp, tiêu biểu, đặc trưng của từng loại hoa để vẽ

Trang 5

Khi quan sát phải chú ý đến đặc điểm, cấu tạo của mẫu về hình dáng tổng thể, cấu trúc chi tiết, dáng thế thay đổi để khai thác được hình dáng đẹp và những chi tiết có thể cách điệu được khi trang trí.

* Chép: khi vẽ phải ghi đúng tinh thần, hình dáng toàn bộ, tiến hành theo các bước

tình tự sau:

- Quy hình toàn bộ của mẫu vào hình kỷ hà (nét phác thẳng)theo tỷ lệ bằng thật đối với hoa lá, tránh vẽ quá to hoặc quá nhỏ so với mẫu thật

- Phác hình tổng thể của các mảng lớn trước và đúng đặc trưng của chủng loại

- Đi nét mềm mại nhưng tránh những chi tiết vụn vặt như: gân lá liti, răng cưa nhỏ hay các khuyết tật thông thường đặc trưng của mẫu nằm ở cấu trúc và hình dáng

- Đi nét nhẹ trước (để dễ sửa) sau đó nhấn những chổ cần thiết, theo ánh sáng hoặc khối không nên vẽ quá to hoặc quá nhỏ so với mẫu

* Bước đơn giản:là bước bỏ những nét không cần thiết, giữ lại những nét chung

nhất và đặc trưng của mẫu Vẽ lại những nét chắc lọc làm mẫu trở nên mềm mại hơn hoặc cứng rắn hơn

I.3 Cách điệu hoa lá quả.

Vì sao phải cách điệu?

- Hoa lá trong tự nhiên rất đẹp nhưng còn quá phức tạp, có quá nhiều chi tiết nhỏ, ngẫu nhiên, chưa cân đối, chưa khái quát nhưng trang trí thì cần phải khái quát và cô đọng

- Trong tự nhiên hoa lá giống nhau nhưng qua sáng tạo chúng trở nên khác nhau và trở thành đa dạng, sinh động hơn

* Cách điệu họa tiết: đây là bước sáng tạo họa tiết từ bước đơn giản lên thành họa tiết trang trí mang nét đặc trưng, điển hình của mẫu ban đầu Cách điệu là một nghệ thuật của cải tiến một đối tượng

II Những quy luật cơ bản của nhận thức thị giác

I Điều kiện cảm nhận thị giác Ánh sáng và Màu sắc

Trang 6

Ánh sáng được chiếu vào vật thể, hình thể; từ hình, vật thể ánh sáng phản xạ đập vào mắt Thông qua hệ thống thần kinh thị giác mà người có thể nhận biết được hình và vật thể.Ánh sáng làm tăng hiệu quả thị giác Tùy loại ánh sáng, màu sắc ánh sáng và cường độ ánh sáng mà hiệu quả nhận thức vật thể và hình thể cao hay thấp Chính vì vậy hiệu quả của vật tạo hình phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng Thông qua ánh sáng làm rõ tương phản và màu sắc của vật hình, nền hình

Cách chiếu (phương thức chiếu) ánh sáng khác nhau sẽ mang lại hiệu quả thầm mỹ của vật hình khác nhau Chính vì thế các loại hình nghệ thuật tạo hình nói chung, loại nào cũng phải quan tâm đến ánh sáng

Trong thiết kế tạo hình kiến trúc, ánh sáng được xem như là một điều kiện cơ bản nhất Vì thế, người thiết kế phải chủ động trong việc sử dụng ánh sáng, ánh sáng là yếu tố không thể thiếu được trong việc thể hiện giá trị của tạo hình kiến trúc Ở đây ta mới chỉ xét đến ánh sáng màu trắng còn ánh sáng màu phù hợp cũng sẽ làm tăng hiệu quả tạo hình kiến trúc lên rất nhiều Cùng một mảng, một diện, một khối không gian, nhưng sử dụng màu sắc ánh sáng khác nhau mang lại hiệu quả cảm nhận thị giác thẩm mỹ khác nhau

Trang 7

Hướng tia sáng chiếu đến cũng ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm tạo hình kiến trúc, nó tạo hình bóng đổ và bóng bản thân cho hình khối không gian Cùng một hình khối không gian, nếu ánh sáng chiếu thẳng hướng tia nhìn sẽ làm giảm khả năng nhận biết của mắt và biểu hiện của khối và không gian đó Nhưng ánh sáng chiếu theo một góc thích hợp, hướng thích hợp sẽ mang lại cảm nhận thị giác khác hẳn

Cường độ sáng của các tia sáng ảnh hưởng đến độ rõ của vật hình Nếu dùng ánh sáng cường độ thấp trong không gian tạo hình kiến trúc sẽ mang lại cảm nhận mờ ảo Nhưng cũng không gian tạo hình kiến trúc đó dùng cường độ ánh sáng quá mạnh cũng không còn cảm nhận đúng không gian thật của nó nữa

II Lực thị giác

Trang 8

Ta tiếp tục làm thí nghiệm sau: Trước mắt bạn là hai tờ giấy Tờ trắng A và tờ B có một tín hiệu thị giác (có thế là một điểm đen Một hình hay một nền màu) Tờ đầu, bạn sẽ chú ý ngay vào điểm tròn đen ấy Còn ở tờ sau con mắt hầu như dàn đều trên toàn bộ diện tích

Sự khác nhau này do điềm tròn đen ở tờ giấy đã sinh ra một lực tương ứng với sức căng của mắt Ta gọi đó là lực thị giác

Vậy : Lực thị giác là một khái niệm dùng để chỉ sự chú ý của mắt đến một đối tượng nào đó trong một không gian bất kỳ

2 Cường độ lực thị giác

Lực thị giác tồn tại ở cả hai dạng tâm lý và vật lý Ta sẽ thấy điều này khi ta đặt bên cạnh hai tờ giấy A và B lên trên hai tờ giấy C và D nữa Trên tờ C ta đặt 3 hoặc 4 hình tròn đen

có khoảng cách nhỏ hơn kích thước của chúng Ờ tờ giấy D ta cũng đặt chính những hình

đó, nhưng các hình tròn ấy có khoảng cách giữa chúng lớn hơn kích thước của chúng rất

nhiều Rõ ràng là các hình ở tờ C ta có cảm giác chúng là một tập hợp, chúng có quan hệ gắn bó nhau Ở tờ D ta thấy chúng rời rạc, không phải là một tập hợp Các hình ở tờ C có một lực vô hình nào đó gắn chúng lại với nhau Đó chính là sự liên kết của các trường thị lực, của các hình tròn đen tồn tại độc lập Hình tròn đen ở hình 1 không chỉ sinh ra một lực thị giác, mà còn tỏa ra xung quanh nó một trường lực hấp dẫn có bán kính gấp đôi bán kính cua nó Ta ví như trường từ nam châm

- Mức độ lớn nhỏ của trường lực đó được gọi là cường độ lực thị giác

Chúng ta làm ví dụ tiếp, khi hai hình tròn đen này gần nhau, các trường này giao nhau và gắn chúng lại với nhau Điều này không xảy ra nên ta cảm thấy chúng rời rạc Nếu các hình tròn đen cứ tiếp tục được lấp đầy mặt giấy, hay chúng là một hệ thống song song cách đều

Trang 9

nhau theo khoảng cách giữa chúng nhỏ hơn hoặc bằng độ dày của nét, thì ta sẽ không thể nhìn lên chúng được Cường độ lực thị giác làm nhức mắt người nhìn nó.

- Như vậy cường độ phụ thuộc vào kích thước và mật độ xuất hiện của các tín hiệu thị giác

Trang 10

Cũng chính hình tròn đen này, ta tăng với kích thước lớn hơn cho xuất hiện ở các vị trí khác nhau của mặt phẳng, chúng sẽ cho ta cảm giác khác nhau về quan hệ giữa nó và mặt phẳng chứa nó:

Khi hình tròn đen xuất hiện ở giữa trung tâm hình học của mặt phẳng hình ta như thấy nó được giữ chặt, gắn vào mặt phẳng

Khi lệch ra khỏi tâm, ta thấy nó có xu hướng rời khỏi mặt phẳng, nhất là khi hình tròn đen

có kích thước tương đối lớn Rõ ràng là có một cấu trúc ẩn nào đó của mặt phẳng đang chi

Trang 11

phối sự nhìn của ta Cấu trúc này không đều ở mọi vị trí và ta gọi nó là "Sơ đồ cấu trúc của một hình vuông"

Một hình được gọi là vuông khi có các cạnh bằng nhau Các cạnh làm thành góc vuông từng đôi một, quan trọng hơn là trục thẳng đứng và nằm ngang của hình trùng với phương thẳng đứng và nằm ngang của người nhìn nó Nếu ta đặt hai đường chéo của nó trùng với phương thẳng đứng và nằm ngang ta có cảm giác nghi ngờ đó là hình vuông xiên hay hình

Như vậy sơ đồ cấu trúc của hình vuông được xác định trước hết bằng hai trục thẳng đứng nằm ngang đi qua tâm hình vuông Ta gọi đó là trục cấu trúc của hình vuông Sau đó là hai đường chéo, bốn góc và bốn đường biên Sau cùng là tâm hình vuông

Cấu trúc này chi phối hầu hết các liên kết giữa mặt phẳng và các tín hiệu thị giác có trên mặt phẳng Ta có thể gọi đó là cấu trúc ẩn của lực thi giác trên mặt phẳng

Đối với mỗi loại hình khác nhau, có cấu trúc khác nhau

Lực thị giác của các tín hiệu thị giác và cấu trúc ẩn của lực thị giác trong không gian hai chiều là vấn đề căn bản của nhận thức thị giác nói chung Giữa các tín hiệu thị giác và không gian chứa chúng luôn tồn tại một yêu cầu về "vị trí thích hợp nào đó tùy thuộc vào tính chất của chúng (như hình dạng, màu sắc, hướng )

Nhiệm vụ của các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà design, kiến trúc sư là luôn tìm kiếm các quan

hệ và các khoảng cách "thích hợp trong quá trình sáng tạo của mình"?Cấu trúc ẩn của hình còn gây ra các cảm giác về hướng của các tín hiệu thị giác trong không gian

Theo sơ đồ phân bố ẩn ở hình dưới

Trang 13

ta thấy bất kỳ một tín hiệu thị giác nào di động dọc theo các trục cấu trúc của hình và các đường chéo đều có xu hướng cân bằng về hai phía của trục cấu trúc và đường chéo Chỉ ở tâm mới xuất hiện sự cân bằng đẳng hướng toàn phần Nếu một tín hiệu xuất hiện ở điểm giữa của khoảng cách từ tâm đến 4 góc, từ tâm đến 4 đường biên, ta nhận thấy chúng có xu hướrg bị hút về tâm, nghĩa là điểm cân bằng thị giác của các khoảng cách ấy làm gần các góc hơn, gần các điểm đường biên hơn Lực thị Giác (ẩn) ở tâm mạnh hơn và giảm dần khi

di động xa tâm, khi đến điểm cân bằng thì lại tăng dần về hướng các góc, các đường biên

III TRƯỜNG THỊ GIÁC

1 Khái niệm:

Trang 14

Ví dụ : Khi xem bóng đá, đối tượng chủ yếu tập trung vào trái bóng và cầu thủ đi bóng nhưng xung quanh ta thấy có một khoảng giới hạn nhìn rõ Phạm vi nhìn thấy đó ta gọi là trường thị giác

Vậy: Trường thị giác là các giới hạn trên, giới hạn dưới và giới hạn bên mà con mắt có thể nhìn thấy

Các phương pháp phối cảnh từ cổ xưa đến hiện đại đều cho rằng trường thị giác là một hình chóp nón có đáy là một hình tròn, và góc ở đỉnh không lớn hơn 300 Thực tế đó chỉ là một hình được quy rút cho tiện với các phép hình học; chứ trường thị giác là một trường nhìn không đồng nhất và các góc giới hạn Có nhiều tài liệu khác nhau về các góc giới hạn, nhưng các góc giới hạn bên thường được xác định không nhỏ hơn 60độ và không lớn hơn 70độ (60độ < a < 70độ ) Ta có thể lấy giá trị trong hình a = 65độ, toàn bộ giới hạn bên ra 30độ Giới hạn trên là 30độ, giới hạn dưới là 45độ Giới hạn toàn bộ trên - dưới là 75độ Một số tài liệu phương Tây thường lấy trường nhìn rõ là một chóp nón đều có đáy là hình tròn và góc đỉnh là 30độ, để rồi từ đó suy ra các phương pháp phối cảnh - từ trường thị giác thật đến trường nhìn rõ có một khoảng cách khá xa Do vậy bất kỳ một phối cảnh nào dù được xây dựng theo đúng phương pháp vẫn được cảm thấy không thật lắm

Nếu ta quy trường thị giác thật ra một chóp, có đáy là một elip, có góc ở đỉnh biến thiên từ 30độ đến 65độ (30độ < a < 65độ) ta sẽ có một trường nhìn gần với trường thị giác thật hơn

Tỷ lệ giữa hai trục của elip cũng trùng với tỷ lệ vốn được coi là tỷ lệ vừa mắt nhất Cấu trúc của trường này có tỷ lệ vàng (tỷ lệ vàng sẽ được giới thiệu kỹ ở phần sau)

Trong việc xây dựng môi trường thẩm mỹ ở quy mô lớn, ứng dụng trường thị giác lại càng

có ý nghĩa, nhất là khi cần xác định độ cao của các điểm nhấn thị giác trong cảnh quan đô thị, hay khi cần xác định khoáng cách nhìn thấy cần thiết cho một tượng đài, cho một công trình kiến trúc

Cũng như vậy ta có thể xác định được độ cao đúng để đặt một biểu tượng nào đó

Ví dụ : Thực tế có biểu tượng đặt ở độ cao của tầng nhà Ở xa nó chì là một chấm lốm đốm,

mà đến gần thì nó đã vượt ra khỏi trường thị giác, hoặc biểu tượng nằm cạnh các quảng trường giao thông, nơi có mật độ giao lưu lớn, sự chú ý chủ yếu đặt vào các dòng xe, vậy

Trang 15

thì còn đâu ý thức đề nhận ra biểu tượng, hình ảnh và màu sắc Ở điểm này cần thiết sự hiểu biết về trường thị giác.

2 Ý nghĩa :

Một trong những yêu cầu quan trọng của trường thị giác là: độ rõ và khả năng gây chú ý Trường thị giác giúp cho nhà Điêu khắc và Kiến trúc sư ý thức được rõ ràng về hình thể trong không gian ba chiều trong thiết kế tạo hình

Trang 16

3 Cấu trúc trường thị giác

Ánh sáng phản chiếu từ vật thể nằm trong phạm vi quan sát của chúng ta đi đến võng mạc gây những kích thích đối với hệ thần kinh tương ứng Trùng vào tính chất và cường độ của ánh sáng phản chiếu đó bộ óc con người giải mã các kích thích thần kinh này dưới dạng các sơ đồ năng lượng Đây chính là cơ sở của cơ chế thị giác của chúng ta

Tùy thuộc vào mức độ tập trung chú ý của con người trong trường thị giác những phần tương ứng với năng lượng thấp tạo nên sự tương phản kém và mờ ta gọi nó là "phông" Ngược lại phần tín hiệu có năng lượng cao, xác định rõ tính tương phản được cảm nhận như "hình" Hai khái niệm này rất cơ bản trong cảm nhận thị giác và độc lập hoàn toàn với việc vặt thể là phẳng hay khối (2 chiều hoặc 3 chiều)

Cơ chế tiếp nhận vật thể bằng thị giác luôn luôn tạo ra sơ đồ năng lượng của bộ não như nói ở trên Và, cuối cùng có thể nói bản chất của "tạo hình" là nghiên cứu mối quan hệ

"phông - hình"

4 Quy luật của mối quan hệ phông hình

+ Phông lớn hơn hình và thông thường phông đơn giản hơn hình

+ Hình được cảm nhận như ở phía trước, phía trong (hoặc phía trên) của phông hoặc đôi lúc "chọc thủng phông"

+ Phông có thể được cảm nhận 2 chiều hoặc 3 chiều (như mặt phẳng hoặc không gian tùy thuộc tính chất của hình + Hình có "hình thức", tuy nhiên phông cũng có hình thức nhờ khoảng không gian phông được giới hạn (ta gọi nó là khoảng không âm của hình) Trong tạo hình kiến trúc dùng rất nhiều thuật này thông qua các lỗ cửa, các lỗ hoa chắn nắng Chú ý : Mối quan hệ phông hình có tính chất tương đối do chủ quan người cảm nhận phông

có thể là hình hoặc ngược lại hình có thể xem là phông Đấy là tính lập lờ có được do hiệu

Trang 17

IV CÂN BẰNG THỊ GIÁC

Cân bằng thị giác được cảm nhận trước hết là trạng thái tâm lý Chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi lực hấp dẫn, đó là sức hút của trái đất Phương của lực hút này, đối với mỗi người

là xuyên qua trục thẳng đứng của người đó đi qua trục thẳng đứng của cơ thể và hướng về tâm trái đất Đường nằm ngang vuông góc với trục thẳng đứng này tạo nên hệ trục cân bằng của mỗi người

Chúng ta có được trạng thái cân bằng là khi các trục cân bằng của ta trùng với các phương thẳng đứng và nằm ngang của lực hấp dẫn

Khi xem một bức tranh hay một tác phẩm tạo hình bất kỳ, nếu vật đó không cùng phương với trục cân bằng của người quan sát, để nhìn cho thuận thì phải nghiêng đầu, vẹo người để trùng với phương giữa người và vật Nếu vật đó di động sang trái và sang phải đầu ta cũng

cụ thể của tác phẩm

Quan hệ giữa các đặc tính thị giác của chúng về hình dạng, màu sắc, vị trí hướng và cường

độ xuất hiện, với các trục cân bằng có hình trong không gian hai hoặc ba chiều tạo nên sự cân bằng về lực thị giác Vị trí của các tín hiệu thị giác so với các cấu trúc vô hình của không gian chưa có ảnh hưởng lớn để cân bằng thị giác

Trong một mặt phẳng chữ nhật, một tín hiệu thị giác được đặt ở vị trí xa tâm, có xu hướng rời khỏi mặt phẳng chứa nó bởi tại đây lực hút thị giác không đủ giữ nó lại, lúc này sẽ xuất hiện trạng thái mất cân bằng

Trang 18

Muốn lập lại trạng thái cân bằng, ta phải dùng một tín hiệu khác ở tâm có kích thước lớn hơn Nhưng nếu tín hiệu đầu có vị trí không rõ ràng về độ xa - gần so với đường cấu trúc, nhất là khi kích thước của hai tín hiệu có quan hệ không rõ ràng về độ to nhỏ, tính mập mờ này làm ta khó thiết lập một cân bằng thị giác

Độ rõ về lực thị giác trong quan hệ tạo hình là một yêu cầu quan trọng nhất để thiết lập sự cần bằng thị giác

Ta có thể làm một thí nghiệm thử về độ nhạy cảm tạo hình đối với một số người khác nhau

để nhận xét Hình đầu ta chia ngang ba phần to dần từ trên xuống, chia dọc hai phần to nhỏ

rõ ràng Đường chia dọc to bằng đường cấu trúc dọc của hình Ở hình sau chia ngang thành

ba phần bằng nhau, chia dọc thành hai phần to nhỏ không rõ ràng Đường chia dọc có vị trí mập mờ so với đường cấu trúc Chúng ta nhận thấy ngay các phần chia ở hình góc, không gắn bó với nhau Các thông tin không rõ ràng về vị trí, tỷ lệ, hình về lực thị giác làm ta khó xác định được tính chất của chúng, và do vậy rất khó xác lập sự cân bằng thị giác Ở hình đầu, sự rõ ràng về vị trí, (phải trái, trên dưới), sự rõ ràng và hướng và quan hệ kích thước (to, nhỏ), đặc biệt khi các hình chữ nhật đó có quan hệ nhỏ trên to dưới trái nhỏ, phải to; làm cho mỗi hình đứng vững ở vị trí của mình và dựa vào nhau một cách chặt chẽ

2 Ý nghĩa

Như vậy cân bằng thị các không phải là yêu cầu duy nhất của nhận thức thẩm mỹ Nhưng một hiểu biết rõ ràng về các tính chất cơ bản của cân bằng thị giác sẽ giúp ta minh bạch hơn trong bố cục phân biệt có hay không ý đồ tạo cân bằng thị giác Nó giúp nhà thiết kế tạo hình đỡ phải mò mẫm, thoát khỏi tình trạng bất đồng giữa ý đồ và hiệu quả

Trang 22

Các yếu tố tác động đến sự cân bằng thị giác

a Hướng của hình cũng tác động đến cân bằng thị giác.Thường thì các hình vô hướng (tròn, vuông) nặng hơn các hình nằm ngang Trong các bố cục hướng của hình còn phụ thuộc vào các hình bên cạnh nó Khi xét về hướng ta không thể không liên tưởng đến điểm đầu và điểm cuối Ở hình tứ giác có gạch chéo có hướng thay đổi tùy thuộc vào hình bên cạnh bởi nó có hướng không rõ ràng, nên khi có hình bên cạnh có hướng lên, thì hướng của nó cũng lên, khi hình bên cạnh có hướng xuống thì nó cũng xuống

b Màu của hình cũng tác động đến cân bằng thị giác.

Cho hai hình có hình thể và kích thước như nhau, một hình tô màu đậm hình kia tô màu sáng ta có cảm nhận hình tô màu đậm nhỏ và nặng hơn hình tô màu sáng Trong các tác phẩm nghệ thuật thị giác cụ thể, các yếu tố cân bằng thị giác kể trên có thể cân bằng lẫn nhau Trọng lượng thị giác do màu gây nên có thể cân bằng với vị trí của chúng trong không gian tác phẩm Sức căng của hướng có thể cân bằng bởi hình dạng Nếu ta kết hợp vào đó các yếu tố nội dung ý nghĩa, độ phức tạp sẽ được tăng lên nhiều Sự phức tạp của các quan hệ này càng làm tăng độ phong phú của tác phẩm Người nghệ sĩ tạo hình càng

có thể tìm cho mình một cái nhìn và giải quyết theo lối riêng trong các quan hệ phức tạp ấy

và là phong cách của họ.

c Vị trí là một quan hệ quan trọng để gây ra lực thị giác.

Xét các ví dụ hình ví dụ ta thấy rằng : theo sơ đồ phân bố lực thị giác, một tín hiệu khi xuất hiện ở các vị tri khác nhau sẽ cho ta các lực thị giác khác nhau Nếu chúng xuất hiện ở

Trang 23

vùng trung tâm hình học của hình chúng có vẻ nhẹ hơn khi chúng xuất hiện ở các điểm xa tâm Vì cùng một tính chất về hình dạng, màu sắc mà lực thị giác ở tâm mạnh hơn, hút chặt hơn, nên tín hiệu không có cảm giác rơi, tưởng chừng như nhẹ hơn khi chính nó xuất hiện ở điểm xa tâm Ngoài tâm ra nếu chúng xuất hiện ở 4 góc, 4 đường biên, hay dọc theo hai trục cấu trúc và hai đường chéo chúng càng có vẻ nhẹ hơn khi xuất hiện ở các vùng khác Có ba cặp vị trí quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức thị giác đó là : trên - dưới phải

- trải và trước - sau

4 Cân bằng trên - dưới

Thí nghiệm

Lấy nhiều tờ giấy khổ 9 x 12 mỗi tờ dùng bút kẻ đường chia đều trên dưới theo con mắt của mình Sau đó kiểm tra lại bằng cách so sánh các đường chia thị giác với các đường chia đều hình học Ta sẽ thấy số đường chia đều hình học trùng với số đường chia đều thị giác rất ít

Với những người không mẫn cảm lắm về tỷ lệ, hoặc không có kiến thức tạo hình, sẽ không

có đường trùng lắp Các trung tuyến thị giác phần lớn nằm trên các trung tuyến hình học, một số rất ít có thể nằm dưới Với khổ 9 x 12, sự sai lệch này rất nhỏ Song với sự tăng về kích thước của mặt phẳng và tăng về khoảng cách nhận thức, sự sai lệch này sẽ đáng kể Điều này có nghĩa là: Phần trên với một diện tích nhỏ hơn đủ sức cân bằng với phần dưới lớn hơn nó, hay phần trên có khả năng tạo lực thị giác mạnh hơn phần dưới

Định luật : Tín hiệu thị giác khi xuất hịện ở phía trên có trọng lượng thị giác lớn hơn khi nó xuất hiện ở phía dưới

Có thể kiểm lại cảm giác này bằng cách lật ngược các chữ S in, chữ B in, hay số 3 Ta thấy

rõ ngay cảm giác mất cân bằng của các chữ, số trên Trong khi đó nhìn chúng trên báo chí, tranh ảnh, áp phích ta vẫn thấy bình thường khi chúng xuất hiện đúng chiều Ở vị trí thông thường, các chữ số này có phần trên nhỏ hơn các phần dưới, vậy mà được coi là cân bằng

Trang 25

5 Cân bằng phải - trái

Cấu trúc đối xứng phải - trái là một cấu trúc hợp lý về mặt hình học Không chỉ con người,

mà trong thiên nhiên ta hay gặp cấu trúc đối xứng phải-trái Giải pháp đối xứng là giải pháp sinh học phát triển

Không một công trình nào có được chất lượng bố cục mà không coi trọng đối xứng và tỷ lệ Cân bằng phải-trái ở đây chỉ được giải quyết bằng thủ pháp đối xứng Quan niệm thẩm mỹ này cũng đã trôi qua nhiều thiên niên kỷ

Một tín hiệu thị giác khi chúng xuất hiện ở phía phải người nhìn nó, tạo một hiệu quả thị giác khác với khi xuất hiện ở phía trái Nếu bạn quan sát cách trình bày của một công văn, của một đơn từ, ta thấy phía trái người đọc là nơi đến Ở đây đã hình thành một chiều thuận

Trang 26

từ trái - phải Một bức tranh cũng được đọc theo chiều trái sang phải Bức tranh sẽ mất hết

ý nghĩa ban đầu của nó, nếu ta xem nó qua gương, hay theo chiều ngược lại

Ta cho một ví dụ về hai dường chéo của một hình chữ nhật Có một nhận xét thú vị là đường chéo trái - lên, phải - dưới được coi là đường đi xuống

Định luật : Tín hiệu thị giác khi xuất hiện ở phía trái có trọng lượng thị giác nhỏ hơn khi

nó xuất hiện ở phía phải

Một loạt thí nghiệm về cân bằng thị giác của các hình ở các vị trí khác nhau cho thấy : các hình ở vị trí cụ thể được số đông đánh giá cân bằng thường có cấu trúc không đều ở hai phía trái - phải, phía phải thường nhỏ hơn phía trái về diện tích (lấy trục cân bằng làm chuẩn)

6 Cân bằng trước - sau

Véc-tơ nhìn của chúng ta luôn có chiều từ trái sang phái,vì thế trong các phối cảnh thông thường, một tín hiệu thị giác xuất hiện ở phía trái (của người nhận thường được cảm nhận gần hơn khi chúng ở phía phải: Nghĩa là không gian được tạo ra với các tín hiệu thị giác ở phía phải bao giờ cũng có cảm nhận sâu hơn

Định luật : Tín hiệu thị giác khi xuất hiện ở độ sâu không gian càng lớn thì trọng lượng thị giác của nó càng lớn và càng xa càng nặng

Càng xa, con mắt phải bao một trường thị giác rộng hơn, con mắt nhận rõ kích thước của tín hiệu này và nếu như nó ở gần sẽ rất lớn Như vậy, muốn cân bằng với tín hiệu ở xa, phải dùng một tín hiệu ở gần lớn hơn nó rất nhiều

Trang 27

V Hình dạng thị giác

1 Khái niệm :

Thực tế khi ta nhìn một vật, con mắt không cần phải thấy tất cả hình thề của vật ấy mà vẫn

có thông tin đầy đủ về hình thể của nó

Hình dạng vật lý không thay đổi trong môi trường thị giác, nhưng hình dạng thị giác, cái

mà con mắt thông tin về trung ương thần kinh thì thay đổi tùy theo khoảng cách nhìn, theo góc nhìn, tùy thuộc môi trường quanh nó, vào vị trí và hướng của nó trong không gian, tùy thuộc vào điều kiện chiếu sáng của không Gian ấy Đồng thời hình dạng thị giác của mỗi người tồn tại song song với hình dạng thật của vật thể Hai hình này không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau

Nếu ta vẽ một hình vuông mà bảo với một em bé 10 tuổi rằng đó là một hộp phấn, chắc em

bé nhất định không nghe Nhưng nếu ta lật hình vuông đó theo một góc 45 và hỏi ngay cả những người lớn đó là hình gì? Chắc không thể dễ dàng trả lời ngay câu hỏi này Cái gì đã làm cho họ ngập ngừng với một thay đổi về hướng như vậy?

- Đó là vì họ đã phân vân giữa một hình vuông xiên và một hình thoi đứng

Nếu ta tiếp tục kẻ thêm các đường khác song song với các cạnh của hình này thì ta lại nhận

ra hình vuông một cách dễ dàng Chỉ với một hình phẳng như vậy đã có nhiều hình dạng thị giác khác nhau Gắn vào đó các điều kiện nhìn khác nhau, ta sẽ có một sự phong phú đáng

kể về hình dạng thị giác

Như vậy, hình dạng thị giác là hình dạng vật lý được nhìn thấy, có thông tin, có nghĩa

Đó là hình dạng mà các họa sĩ, các nhà Đi dai làm việc Picátxô đã từng tuyên bố: "Họa sĩ phải quan sát thực tế, nhưng không bao giờ đánh lẫn nó với hội họa Nó chi được đưa vào hội họa thông qua các tín hiệu

Định luật : Con mắt nhìn hình một cách rất khái quát và rất cơ bản

Hệ quả:

Muốn tiếp nhận nhanh và khái quát được tạo hình phải tuân theo luật nhìn đơn giản

Trang 28

Đơlacroa nói rằng khi ông vẽ một vật, cái đầu tiên mà ông phải nhận thấy là các đường cơ bản Đâu là các đường cơ bản trong tạo hình? Ta tạm thời giới hạn trong các hình cơ bản

Các "đường cơ bản" trong tạo hình chính là các đường cấu trúc của hình

Luật nhìn đơn giản buộc con mắt phải nhận thấy nhanh các đường cấu trúc Trở lại ví dụ trên, khi ta phân vân trong việc gọi tên hình chính là vì hình này có khả năng vạch hai hệ cấu trúc khác nhau Hệ các đường chéo vuông góc nhau, trùng với phương thẳng đứng, nằm ngang cho ta thông tin về một hình thoi đứng

Hệ các đường phân đôi vuông góc tạo với phương thẳng đứng và nằm ngang một góc độ 45o cho ta thông tin và một hình vuông xiên

Trang 30

Nếu ta nhìn một hình có 4 cạnh bằng nhau và vuông góc nhau, trong đó có một đường nối hai góc đối nhau bất kỳ, thì ta dễ nhận đó là một hình vuông hơn là tam giác vuông; còn hình kia thì dễ được coi là ba hình vuông hơn là 1 một hình chữ nhật Hai tam giác của các hình tiếp theo cần hai cấu trúc khác nhau, còn bình vuông chỉ cần một hệ cấu trúc Hình tròn chỉ cần một tâm và một bán kính, còn đơn giản hơn hình vuông Vì vậy khi ta nhìn một người, một vật ở khoảng cách xa, ta thấy hình dạng thị giác ấy không là một chấm

Hãy chú ý sự co kích thước của chiều cao và chiều rộng để thấy tính đơn giản của hình tròn Khoảng cách lớn làm yếu đi các đặc tính của đối tượng thị giác, đến mức cơ chế nhìn

để tự do cho hình nào đơn giản nhất thâm nhập vào Đó là hình tròn

Tính đơn giản trong nhận biết các hình dạng thị giác phụ thuộc vào tính chất của các yếu

tố tạo nên hình, vào số lượng và các quy luật tập hợp của các yếu tố đó

Một đường thẳng đơn giản hơn một đường cong vì đường thẳng chỉ có một hướng Hai đường song song đơn giản hơn hai đường giao nhau Hai đường song song chỉ có một hướng và khoảng cách giữa chúng không đổi Một tam giác thường đơn giản hơn các đa giác thường Đó là những điều biện minh và thông lệ Thế nhưng tại sao một hình sáu cạnh đều lại dễ vẽ hơn hình năm cạnh đều? Xem hình tiếp theo vẽ một bông hoa bất kỳ lại có vẻ

Đó chính là do cấu trúc của hình 5 cạnh phức tạp hơn hình 6 cạnh

Cấu trúc hình là yếu tố cơ bản trong nhận biết hình dạng, cấu trúc đối xứng của hình 6 cạnh đều, đặc biệt là sự chuyển hướng của các cạnh do các góc cơ bản (300 ,600 ) để làm cho hình 6 cạnh đều có cấu trúc đơn giản hơn hình 5 cạnh đều, mặc dầu số cạnh và số lần chuyển hướng của nó nhiều hơn Nếu ta đưa hình 5 cạnh đều nội liếp vào một hình vuông,

Trang 31

hình 6 cạnh đều nội liếp vào một hình chữ nhật, ta thấy rằng hình 6 cạnh đều có các đường cấu trúc trùng với các phương cơ bản thẳng đứng - nằm ngang Hình 5 cạnh đều chỉ trùng với một phương, còn phương kia khó xác định vị trí Hơn thế nữa, hình 5 cạnh đều có tỷ lệ giữa các khoảng cách cấu trúc là rất chặt chẽ Tỷ lệ đó là "tỷ lệ vàng" Điều này càng làm cho hình 5 cạnh đều trở nên một hình khó vẽ tay nhất Một hình có 5 cạnh đều chỉ cho ta một khả năng duy nhất là các góc cũng đều Còn một hình có 6 cạnh đều thì cho ta khả năng vô hạn về các biến thể góc, vô hạn về các biến thể hình

Ta dễ gặp một trong các biến thể của hình 6 cạnh đều hơn là một khả năng duy nhất của hình 5 cạnh đều Điều này cũng xảy xa với hình bảy cạnh và tám cạnh Khái niệm về một bông hoa bất kỳ thường cho ta biết tinh đối xứng toàn bộ của các cánh hoa qua một tâm cụ thể Còn một chiếc ghế tựa bất kỳ chỉ gợi cho ta một trục đối xứng phải - trái duy nhất Rõ ràng thể hiện một tâm đối xứng trong không gian dễ hơn một trục đối xứng

Ngoài yếu tố cấu trúc của hình dạng, các yếu tố trật tự, tỷ lệ của các yếu tố tạo nên hình, quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, các yếu tố ý nghĩa, khả năng liên tưởng và tưởng tượng của hình dạng dễ tác động mạnh đến tính đơn gián chủ quan, tác động đến độ rõ

Một là làm bằng nhau, hai là nhấn mạnh sự khác nhau.

Thí dụ : Hình có tỷ lệ không rõ ràng về độ xiên của các góc phối cảnh Nếu đem hình này cho một số người quan sát trong thời gian ngắn (từ 10 đến 20 giây), sau đó yêu cầu họ vẽ

Trang 32

lại ta sẽ được hai nhóm hình Nhóm đầu có xu hướng làm bằng nhau và nhóm sau có xu hướng nhấn mạnh sự khác biệt của độ xiên.

Thật ra xu hướng làm bằng nhau trong hình dạng cũng chỉ là một hình thức dễ tạo lập trật

tự, thông qua phép đối xứng Tư duy tạo hình của con người đã hòa nhập trong muôn vàn sáng tạo Vậy mà từ hội họa nguyên thủy, hội họa đồ họa cổ điển của các miền khác nhau, đến các đi-dai và kiến thức thời hiện đại cũng không thể rời bỏ luật đối xứng này Đối xứng trong nghệ thuật cổ đại của thế giới Ả rập, trong nghệ thuật cổ điển của châu Âu là nghiêm ngặt về hình học, là cụ thể Còn trật tự của nghệ thuật Viễn Đông châu Á thì thiên về đối xứng không gian và lực thị giác Trật tự loại này trừu tượng hơn

Cách đơn giản thứ hai để tạo lập trật tự là phép lặp lại

Ví dụ : Hình được coi là hình đơn giản, dễ nhớ nhất của các biểu thể khi tập hợp 4 hình vuông trắng, 3 hình vuông đen Hình này được coi là đơn giản vì đã sử dụng phép lặp lại Các hình thành phần có tỷ lệ đơn giản, được lặp lại một cách đơn giản, nên đã tạo được một

độ rõ thị giác lớn nhất

Trang 34

Độ rõ thị giác của hình không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố: tỷ lệ, trật tự cấu trúc của hình, các yếu tố này tác động chủ yếu cho các trường hợp hình đơn Trong các trường hợp hình kép, độ rõ thị giác còn phụ thuộc vào quan hệ giữa hình bộ phận và hình tổng thể (Tương

Xem lại các ví dụ trên, ở hình đầu tính toàn phần là mạnh hơn tính bộ phận Chủ yếu do sơ

đồ cấu trúc quyết định

Ngược lại, cấu trúc đó là một hình kép mà là hai hình bộ phận (một là chữ nhật, một là hình vuông xiên chồng lên nhau Trong một trường nhìn thẳng, một hình kép phức tạp không được nhìn thấy như một phức thể, mà thường được tách ra thành nhiều đơn thể, mỗi một đơn thể chiếm một vị trị khác nhau trong không gian

Trong các trường hợp này cơ cấu nhận thức thị giác đẫ dùng đến khả năng tưởng tượng để tách hình hay gộp hình Ngược lại trong một không gian rộng lớn; (quy mô đô thị hay quy

mô vùng) trong môi trường chuyển động có tốc độ cao (trên đường cao tốc) vấn đề lại khác Ở đây tài năng của các nhà cảnh quan được thể hiện ở nghệ thuật gộp hình, chuyển thể hình ảnh từ không gian ba chiều sang không gian hai chiều Đó là nghệ thuật tạo hình phẳng cho không gian ba chiều

Các phép chiếu thẳng của người Ai Cập, phép phối cảnh thời kỳ Phục hưng diễn đạt theo lối hiện thực hay biểu hiện, lập thể đều giống nhau khi thể hiện quan hệ giữa bộ phận và tổng thể Không một phương pháp hay kỹ thuật nào diễn đạt trực tiếp được cái tồng thể Một đối tượng thị giác khi được chuyển thể lên mặt tranh, vào hình khối hay lên chuỗi hình ảnh của phim về thực chất là đã khác với nó lúc nguyên sinh; song ta vẫn chấp nhận đó là

nó Khả năng nhận biết một cách tức thời của bộ óc để tìm đến sự tương tự của các đặc tính cấu trúc giữa hình ảnh vật lý và hình ảnh thị giác để nhận biết, qua liên tưởng và tưởng tượng Các tranh khỏa thân của Anhgrơ là "y như thật" mà không là thật Các hình ảnh thị giác rời rạc và xa lạ với cái thật, xếp chồng lên nhau, trong tranh của Pi-cát-xô cũng được coi là thật

Trang 35

Bản chất của hình dạng thị giác

Trong nghệ thuật, hình dạng thị giác chỉ là "tiếng vọng "của cái mà ta thấy, là "tiếng vọng" của hình dạng vật lý

Sự khác nhau giữa hình dạng thị giác và hình dạng vật lý chính là ở chỗ :

Hình dạng thị giác hàm chứa một năng lượng tưởng tượng lớn hơn, chuyển tải một thông tin về ý nghĩa lớn hơn rất nhiều so với hình dạng vật lý

Ví dụ: Trước một tam giác đều Người Ai Cập dễ cho đó là một Kim tự tháp của họ, còn người lái xe trong xã hội công nghiệp dễ liên tưởng đến một ký hiệu giao thông Như vậy

sự hình thành một hình ảnh thị giác có tính nghệ thuật hay không nghệ thuật, không chỉ đơn thuần là các phép chiếu quang học của vật thể, mà chủ yếu là một sự tương ứng, một

sự giải thích theo các kiểu khác nhau, cái ta thấy ở vật thể

Bản chất cách giải thích các sự tương ứng này chính là sự tưởng tượng Nguồn tưởng tượng chiếu qua các vật thể, vạch lên một phổ rộng về các phong cách nghệ thuật, các xu hướng nghệ thuật và các trường phái nghệ thuật khác nhau Ta không thể nói chủ nghĩa Hiện thực

là ít chất trừu tượng so với chủ nghĩa Lập thể Ta cũng đã từng biết rằng hội họa tiền sử, hội họa cổ đại không hề kém chất trừu tuợng so với hội họa phi hình Tất cả chúng đều có khả năng liên tưởng như nhau để tạo nên các hình ảnh thị giác

Pi-cát-xô đã từng thổ lộ rằng: "Mục đích của tôi là sự tương tự" Các hình ảnh vật lý mà ông quan sát "được đưa vào hội họa thông qua các tín hiệu" Tương tự của Pi-cát-xô là tương tự về hình dạng vật lý, được coi là trừu tượng Còn những tương tự về cảm xúc, một cái còn vô định hơn hình dạng, chỉ vì hình dạng của nó có vẻ gần với cái thật thì lại không còn là trừu tượng

Trang 36

ra do các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà Đi-dai, các kiến trúc sư thường là các tập họp thị giác chủ quan

Cần phân biệt một tập hợp thị giác với một bố cục tạo hình Một bố cục có thể dùng nhiều tập hợp, dùng một tập hợp hay phân tán, tùy thuộc ý đồ tạo hình Bố cục mang tính mục đích thẩm mỹ rõ ràng, còn tập hợp chỉ là một phương tiện, một thủ pháp Một tập hợp thị giác có thể mang tính thầm mỹ, có thể chỉ mang tính thông tin, hoặc chỉ mang tính cấu trúc đơn thuần

Các nhà thiết kế tạo hình thường làm việc với nhiều hình dạng khác nhau nhiều yếu tố tạo hình khác nhau Ví dụ việc thiết kế một bảng điều khiển, các hình dạng, mầu sắc khác nhau của nút bấm đều mang tính công năng và thông tin khác nhau Ngoài các quan hệ công thái, phải kể đến các quan hệ tập hợp thị giác của chúng Sự rõ ràng trong cấu trúc tập hợp không những làm tăng tính công thái của các nút đều khiển mà còn bảo đảm tính thống nhất của bố cục thầm mỹ

Ở hình dưới đây ta thấy các hình dạng khác nhau (tam giác, vuông) tạo nên một tập hợp Ở hình tiếp theo thì không có điều này, mặc dù các yếu tố tham tạo như nhau Vấn đề ở đây là quan hệ giữa kích thước của vật thể và khoảng cách giữa chúng

Trang 37

2 Nguyên lý biểu hiện tập hợp

- Tạo nên trường hấp dẫn của vật thể

- Tạo hiệu ứng nhóm trong trường hấp dẫn

- Tạo hiệu ứng hấp dẫn bằng khoảng cách

Ngoài ra ta thấy rằng: Sự nhắc lại các âm chủ trong hòa âm, các tông chính trong phối màu, vần điệu trong thơ, các mô-típ chính trong trang trí, trong kiến trúc thực chất là việc tạo nên

sự tương tự cho các yếu tố tham tạo trong tác phẩm

- Trong tạo hình kiến trúc, ta có thể nhận thấy tập hợp qua sự tương tự về hình dạng, về kích thước màu sắc của các yêu tố Cũng có thể nhận thấy tập hợp qua các tương tự về vị trí, về hướng, và chuyển động của các yếu tố tạo hình

- Tất cả các thành phần trên đều không có quan hệ để có được tính tập hợp như trên, nghĩa

là tự thân các yếu tố và sự kiện tạo hình đều khác nhau, nhưng chúng có một khung cấu trúc chung, có các yếu tố phụ để liên kết mà tạo tập hợp Các yếu tố phụ này có thể là hệ các đường thẳng, đường cong, hay chuỗi các mặt phẳng tạo nên khung cấu trúc chứa các yếu tố Tương tự trong các trường hợp này là tương tự cấu trúc tổng thể nó cũng mang lại hiệu quả một tập hợp

Trang 39

Các khung cấu trúc này tựa như các nhịp trống trong một nền nhạc, chúng giữ vai trò tương

tự cấu trúc cho giai điệu

Các đường liên hệ thị giác trong tập hợp thị giác không phải lúc nào cũng hiện lên rõ ràng trong tác phẩm tạo hình Các tương tự về hình dạng, màu sắc, kích thước, về hướng hay cấu trúc tổng thể là loại liên hệ nhìn thấy, các tương tự về vị trí, ý nghĩa là những liên hệ không nhìn thấy, cần đến sức liên tưởng của người xem Khả năng nhận biết tức thời của bộ óc đã mau chóng nhận ra sự tương đồng về hình để tập hợp chúng lại

Tóm lại, tập hợp không phải là một nguyên lý bắt buộc phải tuân theo khi sáng tác tạo hình

Dưới đây là một số hoạt động sáng tác không mang tính công năng, không mang ý nghĩa, chỉ thuần là sáng tạo hình dạng, không gian, màu sắc và ánh sáng, chuyển động và biến đổi, các đường dây liên hệ của tạo hình là cụ thể, là nhìn thấy Để tập hợp có tính thống nhất, chúng ta phải nghiên cứu tổ hợp thông qua các thuật tổ hợp sẽ giới thiệu ở chương ba.

Trang 40

VII Chuyển động thị giác

1 Khái niệm

Nghệ thuật thị giác vốn là nghệ thuật không gian, còn chuyển động thì thực hiện cả trong không gian và thời gian Không có thời gian sẽ không hiểu nổi chuyển động Có chuyển động là có điểm bất đầu, có hành trình và điểm kết thúc, nhưng la lại không bao giờ xem

Ngày đăng: 27/03/2015, 09:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình phẳng là loại hình đơn giản và cổ xưa nhất. Bởi lẽ nó chỉ dùng đến yếu tố nét để tạo - BÀI GIẢNG TRANG TRÍ CHUYÊN NGHÀNH
Hình ph ẳng là loại hình đơn giản và cổ xưa nhất. Bởi lẽ nó chỉ dùng đến yếu tố nét để tạo (Trang 110)
Hình khối có ba chiều, có thể đặc hoặc không đặc. Một không gian có thể được biểu hiện  bằng một khối đặc hoặc là một không gian trống được đóng kín bằng những diện (hình II -  47d.e) Quan niệm thông thường của chúng ta về hình khối là một hình dạng ba ch - BÀI GIẢNG TRANG TRÍ CHUYÊN NGHÀNH
Hình kh ối có ba chiều, có thể đặc hoặc không đặc. Một không gian có thể được biểu hiện bằng một khối đặc hoặc là một không gian trống được đóng kín bằng những diện (hình II - 47d.e) Quan niệm thông thường của chúng ta về hình khối là một hình dạng ba ch (Trang 137)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w