1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương quản trị rủi ro

15 1,8K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương quản trị rủi roCâu 1 trình bày một số khái niệm và khái niện khác liên quan đến quản trị rủi ro và lấy ví dụ thực tế tương ứng Tl:a/những khái niệm thiết yếu -sự chắc chắn:là m

Trang 1

Đề cương quản trị rủi ro

Câu 1 trình bày một số khái niệm và khái niện khác liên quan đến quản trị rủi ro

và lấy ví dụ thực tế tương ứng

Tl:a/những khái niệm thiết yếu

-sự chắc chắn:là một trạng thái không có nghi ngờ

-sự bất định phản nghĩa của sự chắc chắn,mô tả một trạng thái tư tưởng.sự bất định xuất hiện khi một cá nhân bắt đầu ý thức được rằng không thể biết chắc kết quả của sự việc hiện tượng này là gì

-rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả,nó hiện diện trong hầu hết mọi

hoạt động của con người,vì sự hiện diện của nó mà nên sự gây nên sự bất định VD:có thể sáng sớm bạn dắt xe đi làm thì nhận ra săm xe bị thủng,phải sửa bạn muộn giờ làm,vì thế bạn có tâm lý đề phòng hơn vào những lần sau

Có rất nhiều dạng rủi ro nhưrủi ro vềtỉgiá, rủi ro vềthị

trường, rủi ro vềpháp luật, rủi ro vềtín dụng, rủi ro vềlãi suất, rủi ro vềbất động sản

rủi ro là một khái niệm khách quan có thể đo lường

-hiểm họa và mối nguy:Để hiểu thêm về rủi ro cần phân biệt sự khác nhau giữa hiểm họa và mối nguy Hiểm họa được hiểu như là nguyên nhân dẫn đến mất mát

Ví dụ một ngôi nhà bị cháy thì hỏa hoạn là hiểm họa đã gây ra thiệt hại đối với ngôi nhà; hai xe hơi đụng nhau thì việc đụng xe là hiểm họa làm cho xe bị hư hỏng Trong khi đó, mối nguy được xem là tác nhân làm tăng khả năng xảy ra mất mát Nếu như hỏa hoạn được xem là hiểm họa thì xăng, dầu lửa trong khu vực hỏa hoạn được xem là mối nguy

b/những khái niệm liên quan

-rủi ro thuần túy:tồn tại khi một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời

được

Trang 2

VD hộ gia đình sử dụng ga để đun nấu có nguy cơ cháy nổ,nếu điều đó xảy ra sẽ gây thiệt hại cho gia đình mà không mang lại lợi ich gì cả

-rủi ro suy đoán:tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời đi kèm với một nguy cơ tổn

thất

VD:đầu tư chứng khoán là một dạng rủi ro suy đoán

Rủi ro thuần túy và suy đoán nằm trong tổng số rủi ro của chủ thể,giữa chúng có sự phân biệt tùy vào điều kiện hòn cảnh và phản ứng của chủ thể trước những rủi ro

-rủi ro không thể đa dạng hóa(rủi ro hệ thống):dạng rủi ro mà khi xuất hiện nó

sẽ gây ảnh hưởng đến toàn bộ nhân loại vào cùng một lúc

VD:sư bấp bênh của các điều kiện kinh tế chung như giảm gdp,tăng lãi suất tiền vay,tăng tốc độ lạm phát…những điều kiện này tác động hầu hết lên các doanh nghiệp và đời sống người dân

-rủi ro có thể đa dạng hóa(rủi ro không hệ thống)rủi ro này chỉ tác động đến 1 đối tượng tài sản hoặc 1 nhóm tài sản hay nó chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một hoặc vài doanh nghiệp

VD;-công nhân của xưởng A bãi công ảnh hưởng tới hoạt động của xưởng đó và toàn công ty

-vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm xuất khẩu việt nam của mỹ gây ảnh hưởng đến nhóm doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản và người dân nuôi tôm Rủi ro có thể đa dạng hóa có thể thong qua những thỏa hiệp đóng góp tiền bạc hoặc chia sẻ rủi ro để giảm bớt rủi ro.Vd:sơ hữu một danh mục đầu tư chứng khoán thay

vì chỉ đầu tư một loại chứng khoán

Đối với rủi ro không thể đa dạng hóa thì việc thỏa hiệp đóng góp tiền bạc không có tác dụng gì.Vd:với sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu thì những thỏa hiệp đóng góp không có tác động nhiều vì rủi ro này có ảnh hưởng tới tất cả những người tham gia cùng một cách thức và cùng một thời điểm

Trang 3

Câu 2:trình bày khái niệm và các mức độ bất định,ví dụ thực tế tương ứng

-k/n:sự bất định là sự nghi ngờ về khả năng của chúng ta trong việc tiên đoán kết quả.Sự bất định xuất hiện khi một cá nhân nhận thức được rủi ro.Đó là một khía nieemj chủ quan vì thế không thể đo lường trực tiếp,bởi nó là một trạng thái tư tưởng,nó khác biệt giữa từng cá nhân

Khả năng con người tiên đoán kết quả tương lai của một hành động chiụ tác động mạnh mẽ bởi khối lượng thong tin,loại thong tin và chất lượng thong tin về đối tượng

-các mức độ bất định

Sự bất định Những đặc tính Các ví dụ

Không có(tức là

chắc chắn)

Những kết quả có thể được tiên đoán chính xác

Các quy luật thuộc về khoa học tư nhiên vd:quy luật về trọng lực hay sự chuyển động vật lý

Mức1(sự bất định

khách quan)

Những kết quả được nhận ra với xác suất được biết

Khi tung xúc sắc hay các trò may rủi với xác suất kết quả 1:1

Mức 2(sự bất định

chủ quan)

Những kết quả được nhận ra nhưng xác suất không dược biết

Hỏa hoạn.tai nạn xe cộ.bị cướp hay những suy đoán đầu tư kinh doanh

Mức 3 Những kết quả không dược

nhận ra đầy đủ và xác suât không được biết

Các dự án thám hiểm không gian,nghiên cứu di truyền

Trang 4

Câu 3/lịch sử phát triển các chức năng quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro được thực hiện một cách không chính thức từ thuở ban đầu,người tiền sử đã tụ tập lại với nhau thành bộ lạc để bảo tồn thiên nhiên,chia sẻ trách nhiệm và chống lại những bất trắc trong cuộc sống.quản trị rủi ro luôn được thực hiện dù người ta co ý thức về nó hay không,

Xét trên phạm vi hẹp,tập trung vào hoạt động chính thức về quản trị rủi ro trong các tổ chức áp dụng nó thì lịch sử của nó ngắn hơn nhiều

-thời kì ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai:trước thời gian này quản trị rủi ro đã không có được một sự chấp nhận rộng rãi đối hững nhà với cả nhà thực hành lẫn những nhà nghiên cứu

Chức năng quản trị rủi ro là một trong những chức năng quản trị,chức năng quản trị rủi ro hiện đại được phát triển từ chức năng mua bảo hiểm.vào thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ 2,chức năng của quản trị rủi ro được mở rộng,hầu hết các tổ chức bảo hiểm hoặc thực hành qtrr đều có người mua bảo hiểm và nagyf càng gia

tăng.Đến khoản g giữa thập niên 1950 các nhà nghiên cứu bắt đầu định nghĩa chức năng qtrr và dần được mơ rộng về sau

-giai đoạn sau 1960:trong giai đọa này có sự biến chuyển lớn từ việ c lệ thuộc vào các thỏa hiệp bảo hiểm truyền thống sang hình thức tự bảo hiểm rủi ro,ngăn ngừa rủi ro xuất hiện và ngăn ngừa tổn thất.Từ những năm 70 quản trị rủi ro đi vào giai đoạn toàn cầu hóa với việc thiết lập các hiệp hội cuả những nhà quản trị rủi ro trên toàn thế giới,cho thấy mức đọ phát triển của chức năng qtrr

-giai đoạn 1990 đến nay:các hoạt động qtrr vẫn tiếp tục phát triển ,cụ thể việc mua bảo hiểm,kiểm soát tổn thất,tài trợ rủi ro và đảm bảo lợi ích người lao động

Quan điểm của quản trị rủi ro trong gđ này : quản trị rủi ro là quá trình hđ có hêj thống dựa trên cơ sở nhận dạng , phân tích , đo lường , đánh giá rủi ro và giải pháp đối phó cũng nư khắc phục hậu quả rủi ro

Trang 5

Câu 4 Mối quan hệ giữa quan trị chiến lược, quản trị hoạt động và quản trị rủi ro?

Quản trị trong các tổ chức có thể khác nhau về chi tiết nhưng ở một mức độ nào đó , quản trị tổ chức liên quan tới 3 chức năng quản trị chính: chức năng quản trị chiến lược, chức năng quản trị hoạt động, chức năng quản trị rủi ro Ba chức năng này không hoạt động độc lập với nhau, chúng liên kết tác động, hỗ trợ nhau trong mọi hoạt động của doanh nghiệp

Chức năng hoạt động của quản trị chiến lược là tím ra sứ mạng, những nhiệm vụ

và chỉ tiêu của tổ chức, kế hoạch chiến lược cũng như quá trình đánh giá sự phát triển của tổ chức Chức năng của quản trị hoạt động gồm những hoạt động thực sự hướng tổ chúc đến nhiệm vụ của nó, đó là quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ Chức năng quản trị rủi ro bao gồm tát cả các hoạt động làm cho việc đạt được sứ mạng của tổ chức một cách trực tiếp và rõ ràng

trong hoạt động chung của một tổ chức luôn cần sự chắn chắn, an toàn bằng việc xây dựng các chiến lược quản trị chiến lược, quản trị hoạt động nhưng bên cạnh đó mỗi quyết định của tổ chức luôn tiềm ẩn đó là do rủi ro và tính bất định Tính bất định tác động tới khả năng nhận thức của tổ chức, ảnh hưởng tới khả năng làm cho

tổ chức đạt được sứ mạng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất: những đám cháy, tai nạn bất ngờ, quyết định kinh doanh tồi tệ, kết quả bầu cử, điều luật tranh cai, sự may mắn sẽ làm chệch hướng đi đã định quản rị rủi ro là quản trị đầy tính chủ động với những những rủi ro và tính bất định qua đó sẽ hướng tổ chức đi tới mục tiêu của nó một cách hiệu quả dù cho nhiệm vụ có là gì đi nữa

VÍ DỤ: công ty du lịch quyết định sứ mạng của nó là hoàn thành chuyến du lịch Bắc- Nam với chất lượng dịch vụ tốt, giá cả hợp lý Công ty có thể quyết định khoảng thời gian của mỗi tour cho mỗi giá tuor khác nhau, quản trị chiến lược sẽ xây dựng lộ trình của một tuor cụ thể, quản trị hoạt động sẽ đánh giá mức độ thật của chất lượng thông qua các tiêu chuẩn, quản trị rủi ro giúp chỉ ra những hậu quả tiềm ẩn về chỉ tiêu không được đáp ứng

Trang 6

Câu 5 Trình bày các phương pháp nhận dạng rủi ro Lấy ví dụ thực tế từng phương pháp?

*Các phương pháp được áp dụng để nhận dạng rủi ro gồm:

-Phân tích các báo cáo tài chính( A.H Criddle)

-Phương pháp lưu đồ

-Thanh tra hiện trường

-Làm việc với các bộ phận khác trong Tổ chức

-Làm việc với nguồn bên ngoài

-Phân tích hợp đồng

-Nghiên cứu các số liệu tổn thất trong quá khứ

Trong thực tế thì chúng ta thường kết hợp nhiều các phương pháp và kỹ thuật nhận dạng rủi ro trên các tổ chức phải chú trọng thường xuyên thực thiện phương pháp nhận dạng rủi ro liên tục như một quá trình vì rủi ro có thể thay đổi theo thời gian

Sự áp dụng bảng liệt kê các rủi ro tiềm năng có thể gợi ra một vài sự điều chỉnh bảng liệt kê đó

*Phân tích các báo cáo tài chính: phương pháp này do criddle đề xuất năm 1962, ông cho rằng từ việc phân tích tổng tài sản, các báo cáo hoạt động kinh doanh và các tài liệu hỗ trợ sẽ giúp các nhà quản trị rủi ro xác định được các nguy cơ rủi ro của tổ chức về tài sản, trách nhiệm pháp lý, các nguồn lực và dự báo về tài chính,

dự toán ngân sách theo phương pháp này, từng tài khoản sẽ được nghiên cứu kĩ để phát hiện các rủi ro tiềm năng có thể phát sinh Kết quả nghiên cứu được báo cáo cho từng tài khoản, phương pháp này cũng không loại trừ việc nhận định rủi ro bằng suy đoán Ngoài ra nhà quản trị phải đưa thêm các nguồn thông tin khác vào các bản báo cáo

*Phương pháp lưu đồ: bước đầu tiên là tổ chức cần xây dựng một dãy các lưu đồ trình bày các hoạt động của tổ chức từ khâu nguyên liệu, nguồn năng lượng, tất cả

Trang 7

các đầu vào, các nhà cung cấp và kết thúc thành phẩm với người tiêu thụ Sau đó trình bày bảng liệt kê các nguồn rủi ro về tài sản, trách nhiệm pháp lý và nguồn lực cho từng khâu

*Thanh tra hiện trường: bằng cách quan sát các bộ phận của tổ chức và các hoạt động nhà quản trị có thể học được rất nhiều những rủi ro mà tổ chức có thể gặp

*Làm việc với các tổ chức khác trong bộ phận: thông qua các giao tiếp thường xuyên và có hệ thống với các

mở rộng việc viếng thăm cán bộ quản lý và nhân viên các bộ phận từ đó nhà quản trị sẽ có những hiểu biết đầy đủ về hoạt động cũng như các tổn thất có thể từ hoạt động này

các báo cáo miệng hoặc văn bản của các bộ phận do họ tự đề xướng hoặc qua một

hệ thống báo cáo thường xuyên giúp nhà quản trị rủi ro nắm được nhưng thông tin cần thiết

*Làm việc với các nguồn khác bên ngoài: việc trao đổi thực chất là tìm hiểu xem những cá nhân như chuyên viên kế toán, luật sư, các nhà tư vấn về rủi ro, chuyên viên thống kê, chuyên gia kiểm soát tổn thất có nhận ra được các rủi ro nào mà họ

đã bỏ sót hay không hay chính họ tạo ra nhưng rủi ro mới

*Phân tích hợp đồng: từ các quan hệ hợp đồng có thể sẽ phát sinh nhiều rủi ro , nhà quản trị phải nghiên cứu kĩ các hợp đồng xem rủi ro giảm hay tăng

*Nghiên cứu các số liệu trong quá khứ:phương pháp này có thể phát hiện được ít các nguy cơ rủi ro nhưng có thể phát hiện các nguy cơ mà các phương pháp khác không thể phát hiện, bằng cách tham khảo các hồ sơ lưu trữ tổn thất hoặc suýt tổn thất có thể gặp phải trong tương lai hệ thống thông tin về quản trị rủi ro sẽ được triển khai phân tích các tổn thất theo nguyên nhân, vị trí, các mức độ và các biến khác nhau khi có các thông tin đầy đủ sẽ giúp dự báo về chi phí của tổn thất bằng cách xây dựng hàm xu thế hay phương pháp khai triển tổn thất

Trang 8

Câu 6 nội dung của chi phí rủi ro,tầm quan trọng của ước lượng rủi ro

-chi phí rủi ro là chi phí phí phải gánh chiụ của các tổ chức do xuất hiện rủi ro chi phí rủi ro bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

-chi phí trực tiếp là hậu quả trực tiếp gây ra cho người hay vật

Vd khi kho hàng bị cháy gây nên hậu quả trực tiếp là toàn bộ hàng hóa dự trữ và hàng xuất kho bị cháy hết=>chi phí bị mất ở đây là tiền nguyên vật liệu đáu

vào,vốn vay sản xuất,chi phí sửa chữa xây dựng lại kho…

Chi phí gián tiếp liên hệ đến sự hư hỏng trực tiếp gây ra do mối nguy hiểm,nhưng hậu quả tài chính không phải hậu quả trực tiếp từ tác động của nguy hiểm lên người hay vật.Chi phí gián tiếp thường khó thấy mặc dù hậu quả của nó có thể lớn hơn nhiều chi phí trực tiếp

Vd:trong ví dụ trên thì chi phí gián tiếp khi xảy ra cháy kho hàng có thể là thất thu trong thời gian sửa chữa kho hàng,không đáp ứng được khách hàng kịp thời sẽ mất

uy tín,sản xuât ngưng trệ thì phải cho công nhân nghỉ tạm thời

-tầm quan trọng của các ước lượng :mục đích của các ước lượng bằng số trong quản trị rủi ro là nhằm dự toán ngân sách cho quản tri rủi ro và dự báo các ảnh hưởng về sau của các quyết định hiện nay

+dự toán ngân sách:các phương pháp định lượng cần thiết để dự báo chi phí để tổ chức có căn cứ thiết lập quỹ dư phòng rủi ro phù hợp.quản trị rủi ro hiệu quả khi ngân sách cho hoạt động quản trị rủi ro thấp ,mặt khac trong trường hợp chi phí quá cao so với dự toán sẽ rât khó khăn trong việc bổ sung ngân sách,vì thế cần đánh giá thực tế chi phí quản trị rủi ro

+dự báo ảnh hưởng của các quyêt định hiện tại đến tương lai:điều các nhà quản trị quan tâm khi rủi ro nao đó xảy ra là việc chi trả, bù đắp cho rủi ro đó,các trường hợp chi trả đó gọi là các khiếu nại bồi thường.Ước lượng trong quản trị rủi ro chính

là ước lượng số,loại khiếu nại bồi thường và thời điểm chi trả khiếu nại bồi thường

để từ đó có các quyết định trong chọn lựa chi trả trực tiếp hay mua bảo hiểm…

Trang 9

Câu 7:trình bày nội dung của né tránh rủi ro và ngăn ngừa tổn thất,lấy vd tương ứng

- Né tránh rủi ro

Một trong những phương pháp kiểm soát rủi ro cụ thể là né tránh những hoạt động, con người, tài sản làm phát sinh tổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ đầu hoặc bởi loại bỏ nguyên nhân dẫn tới tổn thất đã được thừa nhận Có 2 biện pháp: chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra và loại bỏ những nguyên nhân gây rủi ro

Vd: môi trường không khí thành thị bị ô nhiễm,khói bụi công nghiệp có thể ảnh hưởng đến sức khỏe,nhiều người chọn cách chuyển về vùng núi hoặc nông thôn sinh sống hay mùa mưa bão đến đẻ tránh cây đổ gây thiệt hại về người và nhà cửa,người ta chặt bớt tán,cành của những cây to xung quanh nơi ở…

Né tránh là cách tiếp nhận hữu hiệu việc quản trị rủi ro Bằng cách né tránh rủi ro,

tổ chức biết rằng họ sẽ không gánh chịu những tổn thất tiềm ẩn hoặc bất định mà rủi ro có thể gây ra Tuy nhiên tổ chức cũng có thể mất những lợi ích có thể có từ những rủi ro đó.Vd:đầu tư dự án A có mức rủi ro cao nhưng khả năng sinh lời lớn Trong nhiều trường hợp việc né tránh không thể thực hiện được Càng có nhiều rủi

ro được xác định thiệt hại về tài sản thì càng xác định việc né tránh là không thể thực hiện được.vd chúng ta không thể vì sợ tai nạn giao thông mà không tham gia giao thông được

Bối cảnh của việc ra quyết định né tránh làm cho việc thực hiện né tránh khó có thể trở thành hiện thực Một rủi ro không thể tồn tại mà không có hoàn cảnh, một quyết định né tránh có thể tạo nên rủi ro ở nơi khác hoặc làm tăng thêm số rủi ro dang tồn tại

-Ngăn ngừa tổn thất

Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách giảm bớt số lượng tổn thất xảy ra(tức giảm tần suất tổn thất) hoặc bằng cách làm giảm mức thiệt hại khi tổn thất xảy ra Chương trình ngăn ngừa tổn thất tìm cách giảm bớt số lượng các tổn thất xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn Ở đây chuỗi rủi ro là rất

Trang 10

quan trọng vì các hoạt động ngăn ngừa rủi ro tìm cách can thiệp vào 3 mắt xích chuỗi: sự nguy hiểm, môi trường rủi ro, sự tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường Điều đó có nghĩa là các hoạt động ngăn ngừa rủi ro tập trung vào

+ Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm họa vd để đảm bảo vệ sinh an toàn thực

phẩm,các quy định về hàm lượn hóa chất tồn dư trong thực phẩm đã được quy định sẵn

+ Thay thế hoặc sửa đổi môi trường nơi mối hiểm nguy tồn tại vd:hệ thống

đèn,biển báo giao thông giúp hạn chế ách tắc và tai nạn có thể xảy ra

+Can thiệp vào quy trình tác động lẫn nhau giữa nguy hiểm và môi trường vd :công nhân bốc dỡ hàng hóa không đúng cách,cần sử dụng dây đai hỗ trợ

Câu 8: Trình bày nội dung của giảm thiểu rủi ro.Lấy ví dụ và phân tích,làm

rõ nội dung trên

Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tán công vào các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra( tức giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất)

Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sau khi tổn thất đã xảy ra.Những chương trình giảm thiểu tổn thất là sự thỏa thuận ngầm trong quản trị rủi

ro rằng một vài tổn thất nào đó có thể xảy ra dù cho đã cố gắng, nỗ lực hết sức của

tổ chức

Tuy nhiên chức năng và mục đích của những biện pháp này là làm giảm tác động của tổn thất một cách có hiệu quả nhất Vậy thì giảm thiểu rủi ro bao gồm những biện pháp sau

- Cứu lấy những tài sản còn sử dụng được

Hiếm khi tổ chức thiệt hại hoàn toàn và nhà quản trị rủi ro có thể tối thiểu hóa tổn thất thông qua việc cứu lấy những tài sản còn lại

- Sự chuyển nợ

Sự chuyển nợ cũng được xem xét lại như một biện pháp giảm thiệu tổn thất nhắm tới hậu quả lâu dài của tổn thất.Sự chuyển nợ cũng là một công cụ của quản trị chanh chấp.Sự chuyển nợ là một kỹ thuật giảm thiểu thường được

áp dụng

- Kế hoạch giải quyết các hiểm họa

Giảm thiểu tổn thất tìm cách giảm thiểu sự tác động của tổn thất hoặc là thong qua việc kiểm soát những sự kiện khi nó xuất hiện,kiểm soát kết quả

Ngày đăng: 23/03/2015, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w