kỷ chằng chịt những biến động, những giao lưu của thế kỷ vậy mà xem ra trong thơ ông lúc nào cũng thuỷ chung với tính cách ông, con người ông Nhạc sĩ Văn Cao khi viết lời giới thiệu cho
Trang 1KHOA VĂN HỌC
***0O0***
PHAN THỊ NGA
PHONG CÁCH THƠ YẾN lAN
HÀ NỘI - 2009
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5.Cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: PHONG CÁCH, PHONG CÁCH THƠ VÀ QUÁ TRÌNH ĐỊNH HÌNH PHONG CÁCH THƠ YẾN LAN 11
1.1 Khái niệm phong cách 11
1.2 Phong cách thơ 15
1.3 Quá trình sáng tác và hình thành phong cách thơ Yến Lan…… 22
Chương 2: PHONG CÁCH THƠ YẾN LAN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 28
2.1 Cảm hứng thơ hướng tới cuộc sống bằng một tình yêu tha thiết……28
2.1.1 Tình yêu quê hương, đất nước trong thơ Yến Lan ……… 28
2.1.1.1 Tình yêu đất nước trong thơ Yến Lan ……… 28
2.1.1.2 Yến Lan- nhà thơ nặng tình với quê hương……… 36
2.1.2 Cảm hứng về cuộc chiến tranh và người lính 45
2.1.2.1 Cảm nhận về cuộc chiến tranh……….…45
2.1.2.2 Hình ảnh người lính……… ……….50
2.2 Cảm hứng đời tư, thế sự với những trăn trở suy tư ……….53
Trang 32.2.1 Thơ viết về người thân, bạn bè………53
2.2.1.1 Hình ảnh người mẹ và người chị trong thơ Yến Lan 53
2.2.1.2 Thơ về tình yêu và tình bạn… ………58
2.2.2 Những suy tư, trải nghiệm cá nhân………62
2.3 Sự hoà trộn hai yếu tố cổ điển và hiện đại trong thơ Yến Lan 65
2.3.1 Cảm hứng lãng mạn tài tử ……….65
2.3.2 Cảm hứng lãng mạn cách mạng………71
Chương 3: PHONG CÁCH THƠ YẾN LAN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC THỂ LOẠI ………73
3.1 Ngôn ngữ thơ ……….73
3.1.1 Ngôn ngữ thơ giàu chất trữ tình, triết lí……… 73
3.1.2 Ngôn ngữ thơ chứa đựng yếu tố của thơ ca dân gian……….77
3.2 Thể thơ………78
3.2.1.Thơ tứ tuyệt……….79
3.2.2 Thơ lục bát……… 82
3.3 Giọng điệu thơ……… 84
3.3.1.Giọng trầm lắng, suy tư………85
3.3.2.Giọng chắc khoẻ, hồn hậu chứa đựng yếu tố dân gian… …………87
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Yến Lan (1916- 1998), là một nhà thơ sáng tác ở cả hai thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng Tám, và có cống hiến không nhỏ đối với nền thơ ca dân tộc Ông cùng với các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn làm
nên nhóm thơ Bình Định nổi danh một thời - nhóm thơ Tứ linh Trong nhóm thơ này Hàn Mặc Tử là long, Quách Tấn là quy, Chế Lan Viên là phụng, Yến Lan là lân Tuy vậy, ông không nổi danh như những người bạn của mình, tên
tuổi Yến Lan không được nhiều người biết đến, đặc biệt là các thế hệ sau này
Có lẽ lí do như Chế Lan Viên đã nhận xét trong lời tựa tập Thơ Yến Lan: “Có
nhiều lý do Nhưng thơ là cái đẹp lặng im, đi lầm lũi trong im lặng, nếu không
ai nhắc đến, chỉ ra, gọi tên tán dương thì nó bị vùi lấp đi Đầu là trong im lặng
mà sau là trong lãng quên” Yến Lan chưa đến mức bị lãng quên, nhưng sự
nghiệp thơ ca của ông chưa được tìm hiểu một cách thoả đáng Do vậy, khi
lựa chọn Phong cách thơ YếnLan làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn này,
chúng tôi xuất phát từ lòng yêu thích thơ Yến Lan, và muốn góp một tiếng nói vào việc khẳng định thêm vẻ đẹp thơ ông nhằm rút ngắn bớt khoảng cách giữa nhà thơ với công chúng
Yến Lan là một nhà thơ có sức sáng tạo dẻo dai và bền bỉ- một người sáng tạo cho đến hơi thở cuối cùng Ông đã để lại một số lượng tác phẩm không nhỏ cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Đặc biệt, ông đạt được những thành tựu đáng kể ở thể thơ tứ tuyệt với những tìm tòi và sáng tạo mới Khi
nhắc đến nhà thơ Yến Lan đa phần độc giả yêu thơ chỉ biết đến thi phẩm Bến
My Lăng Đây là một bài thơ đã được đánh giá cao và được nhiều người yêu
thích Có thể nói nó ảnh hưởng khá lớn đến sự nghiệp thơ Yến Lan Nếu cả cuộc đời Yến Lan ví như một con thuyền thơ phiêu bạt trên các nẻo dòng
sông, thì Bến My Lăng là bến khởi đầu và cũng là dấu ấn đậm nét trong hành
Trang 5trình thơ Yến Lan Trong đời thơ của mình, Yến Lan sáng tác khá nhiều và
đã xuất bản được gần chục tập thơ Thời gian sau này Yến Lan lại hay được
nhắc đến với những vần thơ tứ tuyệt đặc sắc Ông được mệnh danh là “Bố
già” trong làng thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại Tuy vậy, những đóng góp của
nhà thơ vẫn chưa được nhìn nhận một cách xứng đáng
Với những lí do đó, sự ra đời của luận văn này nhằm mục đích góp một tiếng nói vào việc nhìn nhận và đánh giá những tác phẩm thơ Yến Lan một cách toàn diện hơn Mặt khác, chúng tôi cũng muốn khẳng định vị trí của nhà thơ trong làng thơ Việt Nam hiện đại
chí Có lẽ ấn phẩm Yến Lan nhớ mãi về anh được công bố sau khi ông qua đời
là công trình nghiên cứu về ông tập trung nhất Qua đó ta thấy được khá rõ chân dung, diện mạo, cốt cách và vẻ đẹp của con người và thơ ông
Hoài Thanh, Hoài Chân là hai nhà phê bình đầu tiên có những thẩm
định đánh giá về thơ Yến Lan Khi trích dẫn thơ Yến Lan trong cuốn Thi nhân
Việt Nam hai ông đã nhận xét: Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng như đi trong mây mù, khi đầu thì cũng hay hay nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở Chỉ thấy mờ
Trang 6mờ những con đường chảy, êm như dòng sông và nhất là cái vầng trăng vẫn thường ám ảnh các nhà thơ Bình Định Hai nhà phê bình này khi trích dẫn bài
thơ Bến My Lăng của Yến Lan đã đặt nhà thơ vào vị thế của những nhà Thơ
mới lãng mạn như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử,…
Chế Lan Viên - người bạn thơ rất thân với ông và cùng trong trường
thơ Bình Định lúc bấy giờ đã nhận xét: Khi đọc thơ Yến Lan người ta thấy sự
giản dị của những câu ca dao, vẻ hiền hoà của bao câu hát cổ
Tác giả Anh Chi trong Tuần báo tiểu thuyết thứ năm và những văn
phẩm một thời- Nxb Văn học, 2002 đó nhận xét về thơ Yến Lan: Nhà thơ Yến Lan là một nhà thơ tiền chiến đặc sắc, ngay từ khi mới vào làng thơ đã sáng tác với một bút pháp dồi dào… Ngay từ thời kỳ đầu ông đã có một hơi thở mạnh và sâu lạ lùng [11; tr26] Bên cạnh đó tác giả còn có công sưu tập, gần
hai mươi bài thơ của Yến Lan trước cách mạng tháng 8/1945 Qua những bài thơ đó phần nào, ta thấy được diện mạo và phong cách thơ ông trong thời kỳ
đầu mới bước vào làng thơ
Trong cuốn Văn học Việt Nam 1945-1975 do Nguyễn Đăng Mạnh chủ
biên tác giả cũng đã nhắc đến tên tuổi Yến Lan với thi phẩm Khúc ruột miền
Trung Tác giả đã nhận xét về thi phẩm này như “một trường ca về một miền
của Tổ quốc” [27 ;tr143] Tuy với số lượng câu từ khiêm tốn nhưng việc tác giả xếp nhà thơ của chúng ta cùng với tên tuổi của Chế Lan Viên, Nguyễn Duy, Lê Anh Xuân…, cũng đủ cho thấy vị thế nhất định của Yến Lan trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Tác giả Vũ Tuấn Anh trong cuốn sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại cũng đã
viêt về Yến Lan với quan điểm rất khách quan, khen có, chê có Nhưng có vẻ
như tác giả thiên về phê cái đặc tính siêu hình trong thơ Yến Lan Mặc dù
Cách mạng tháng Tám thành công tạo ra bước ngoặt lớn cho lịch sử dân tộc:
Những chấn động ấy đã vang vào thơ Yến Lan nhưng chưa phải đã làm thay
Trang 7đổi đến tận thâm căn hồn thơ của nhà thi sĩ lãng mạn vẫn còn chưa thật cởi
mở với cảnh và người…vẫn còn nuối tíêc cái cũ Những cái cũ mà tác giả Vũ
Tuấn Anh nói đó là đặc điểm chung của thơ lãng mạn: có cái u buồn hoài
niệm, có bâng khuâng tình ái, có những thần tượng siêu hình…riêng thơ Yến
Lan thì có: trầm tư, u ẩn, với nhiều dụng công chạm khắc ngôn ngữ Theo tác
giả Vũ Tuấn Anh nhận định thì thơ Yến Lan chỉ có tình bạn, tình người xao xuyến khi nhà nhà thơ nhìn cuộc sống một cách chân tình Tác giả còn đưa ra được đóng góp của Yến Lan đối với đề tài thơ hợp tác hoá nông nghiệp qua
bài thơ Bài ca hợp tác thôn tôi
Trong hồi ký về nhà thơ Yến Lan do bà Nguyễn Thị Lan - vợ nhà thơ sưu tầm và biên soạn có khá nhiều những nhận định của các nhà thơ, nhà văn nhưng cũng chỉ mang tính khái quát, chưa có sự nghiên cứu cụ thể Chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào có tính tổng thể và toàn diện về thơ Yến Lan từ năm 1961 trở lại đây Chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến nhận định và đánh giá về con người và thơ Yến Lan để chúng ta có thể hiểu hơn về nhà thơ này
Nhà thơ Trúc Thông khi nghiên cứu thơ Tứ tuyệt Yến Lan đã dành cho
ông những lời thán phục: Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ Tứ tuyệt
Việt Nam hiện đại thơ Yến Lan được xếp vào hạng “bố già” hiền lành Không cân quắc, ngang tàng, vang động nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm Không chỉ có vậy, Trúc Thông còn thể hiện sự thông hiểu sâu sắc về
cốt cách của Yến Lan và rất trân trọng, sẻ chia: Trong tứ tuyệt Yến Lan
thường nén lại một nông nỗi thở dài có khá nhiều cám cảnh Nhưng cốt cách nghệ sỹ, cốt cách tứ tuyệt đó gây cho người đọc một sự kính trọng
Tác giả Trần Ninh Hồ khi viết những lời tưởng nhớ về cố nhà thơ đã
cho ta thấy được cá tính của một con người sống thuỷ chung, son sắt Với con
người ấy, với cốt cách trầm tư đầy bản lĩnh ấy, Yến Lan đó đi qua những thập
Trang 8kỷ chằng chịt những biến động, những giao lưu của thế kỷ vậy mà xem ra trong thơ ông lúc nào cũng thuỷ chung với tính cách ông, con người ông
Nhạc sĩ Văn Cao khi viết lời giới thiệu cho tập thơ Những ngọn đèn đã viết: Yến Lan yêu những người thật bình dị sống bên một khung xa thôn Phù
ly hay trong cái tỉnh Bình Định đơn sơ và lặng lẽ Nếu có những lần anh kể tới những người cán bộ, những người kháng chiến thì cũng chỉ là những người bình thường ấy…Sự khác nhau trong thơ Yến Lan là những nét mặt người cũ và người mới: người cũ thì chậm đi và người mới thì sôi nổi…
Trong bài nghiên cứu Bến My Lăng- từ điểm nhìn địa văn hoá, GS.TS
Mã Giang Lân đã khẳng định: Bến My Lăng hiện lên con người nhà thơ,
khuynh hướng nghệ thuật của nhà thơ Tác giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa yếu
tố địa lí, thiên nhiên và văn hoá vùng với thơ ca Giáo sƣ đã viết: Yến Lan,
Chế Lan Viên, Quách Tấn, Hàn Mặc Tử đã kỳ ảo hoá trăng, trăng như một sinh thể, có sức sống riêng Vừng trăng ám ảnh các nhà thơ Bình Định, có thể:
1 – Tính trội của một vùng thiên nhiên Bình Định
2 – Thái độ đối với cuộc đời: con đường đến với trong lành, thanh sạch
3 - Cảm hứng thẩm mĩ: hướng về cái đẹp nhưng xa vời, vô vọng ” Bài
nghiên cứu đã cho ta thấy đƣợc những đặc điểm riêng của văn hoá vùng in dấu trong thơ Điều này có ý nghĩa trong việc tìm hiểu phong cách của một nhà thơ
Tác giả Từ Quốc Oai đã đƣa ra một nhận định có tính tổng quát về thơ Tứ
tuyệt Yến Lan: Bao cảnh đời, tình đời được ông trân trọng, tinh lọc thể hiện
ra với vẻ đẹp của thứ ngôn ngữ cô đọng, trau chuốt giống như bức phù điêu được chạm khắc bởi bàn tay của nghệ sĩ bậc thầy Thơ Tứ tuyệt của ông mang đậm phong vị Đường thi song vẫn phảng phất cái không khí mơ hồ, bảng lảng những bài kệ của các bậc thiền sư
Trang 9Nhà thơ Vân Long khi nghiên cứu thơ Yến Lan đã tìm ra một bộ tứ bình
về nghệ thuật cổ: Chùm thơ về nghệ thuật cổ của nhà thơ Yến Lan như một
bức tứ bình treo Tết… Theo như nhận định của Vân Long, “Yến Lan thời trẻ
đã được tiếng là một nhà thơ, nhà biên tập kỹ lưỡng về chữ nghĩa Cấu trúc của thơ ông bao giờ cũng chặt chẽ, giàu tính sáng tạo Cao tuổi, ông lui về thể thơ tứ tuyệt, thể thơ cần nhiều đến tâm trạng và nghĩa chữ hơn là cảnh và sự Chiếc lá cuối mùa, cơn gió đầu thu đều là cớ để ông nói về sự chiêm nghiệm
cả đời của mình Càng những người cao tay nghề càng dễ sử dụng thể loại này, nhưng hễ non tay là nhược điểm lộ ra liền”
Có thể thấy những công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Yến Lan chưa nhiều và chưa toàn diện nhưng cũng cho ta có một cái nhìn bao quát về cuộc đời và thơ Yến Lan Đồng thời nó cũng là cơ sở để chúng tôi làm tư liệu cho việc thực hiện luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Toàn bộ thơ của Yến Lan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu phong cách thơ Yến Lan trong suốt chặng đường từ trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thơ của một số nhà thơ khác trong sự so sánh, đối chiếu để làm nổi rõ hơn những đặc điểm trong phong cách thơ Yến Lan
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê
4.2 Phương pháp hệ thống
4.3 Phương pháp đối chiếu lịch sử
4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Cấu trúc luận văn
Trang 10Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Phong cách, phong cách thơ và quá trình định hình phong cách thơ Yến Lan
Chương 2: Phong cách thơ Yến Lan nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Phong cách thơ Yến Lan nhìn từ phương diện hình thức
thể loại
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: PHONG CÁCH, PHONG CÁCH THƠ VÀ SỰ ĐỊNH HÌNH
PHONG CÁCH THƠ YẾN LAN
1.1 Khái niệm phong cách
Bàn về phong cách là một vấn đề không đơn giản, đây là một vấn đề nhiều tranh cãi, bởi ví chúng ta không thể áp đặt cho nhà văn, nhà thơ này một phong cách khi chưa xem sáng tác của họ, chưa tìm hiểu về con người
họ Chúng ta đã biết đên câu nói: Văn như kỳ nhân, tính cá thể ở đó là vô cùng
rõ nét Đọc một bài thơ, một đoạn văn ta nhận ra đây là bài thơ của Tố Hữu, kia là văn của Nguyễn Tuân, đây là ký của Tô Hoài và kia là thơ Yến Lan… Với những nhà văn, nhà thơ lớn, tác phẩm của họ bao giờ cũng toát lên một giọng điệu riêng, một cách tiếp cận và bình giá đời sống riêng… mà người đọc không thể nhầm lẫn với bất kì một nhà văn nào khác Điều đó dẫn đến khái niệm phong cách cũng có nhiều cách hiểu khác nhau
Thuật ngữ phong cách, theo viện sĩ Timophiep, có thể bắt nguồn từ mẫu tự La Tinh Trước đây, người Hi Lạp dùng chữ “Stylos” để chỉ một cái que có một đầu nhọn, một đầu tù Người La Mã thì gọi là “stylus” cũng để chỉ cái que đó, nhưng đầu nhọn dùng để viết lên một tấm bảng nhỏ có xoa sáp
Về sau, người Pháp dùng chữ “style” với nghĩa ban đầu là nét chữ, và sau được hiểu là bút pháp với những đặc điểm ngôn ngữ và văn thể Trải qua quá trình phát triển lâu dài của văn học và ngôn ngữ, khái niệm “phong cách” mới được sử dụng như cách hiểu của chúng ta hiện nay
Mĩ học phương Tây theo chủ nghĩa hình thức thì một mặt đưa ra khái niệm quá rộng về phong cách khi đồng nhất nó với phương pháp nghệ thuật, nhưng mặt khác lại thu hẹp nó trong thủ pháp sáng tác của nghệ sĩ
Khchrapchencô trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của
văn học khi đứng trước một số lượng lớn những định nghĩa, quan niệm khác
Trang 12nhau về phong cách đã so sánh thú vị rằng: Những định nghĩa này xoè ra như
một cánh quạt
Ar.Grigorian trong “Vấn đề phong cách nghệ thuật” khẳng định: Phong
cách không thể vô can với phương pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù trong sáng tác của anh ta Phong cách là sự thống nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó” [17, tr 9]
V.Turbin trong bài viết “Thế nào là phong cách của tác phẩm nghệ
thuật?”, đăng trên tạp chí “Những vấn đề văn học” số 10.1959, viết: Phong
cách - đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó còn là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ đặt vào một văn cảnh nghệ thuật [17, tr 11]
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: phong cách là sự tổng hợp, là hệ thống các phương tiện miêu tả và biểu đạt hay nói một cách khác, phong cách được coi là hình thức toàn vẹn có tính chất nội dung V.Đneprov nhận xét:
“Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật”
Ngoài những quan điểm về phong cách đã nêu ở trên, còn có những người đề xuất nghiên cứu phong cách từ góc độ cấu trúc, tiêu biểu là W.Kayer
và R.Jakobson
Ở Việt Nam, vấn đề phong cách nghệ thuật cũng được nhiều người
quan tâm Theo GS.Phan Ngọc, phong cách là: một cấu trúc hữu cơ của tất cả
các kiểu lựa chọn tiểu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả [34]
Nhà thơ Hoàng Trung Thông cho rằng: Phong cách và cá tính nhà văn
không phải là cái gì khó hiểu Đó là biểu hiện của mỗi nhà văn trong khi xây dựng chủ đề, nhân vật, trong khi vận dụng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ
Trang 13văn học Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật phải tự tạo cho mình một phong cách riêng, một điệu cảm xúc riêng [17, tr 14]
Khi nghiên cứu về phong cách Đỗ Lai Thuý cho rằng: Phong cách là
cá tính của chủ thể sáng tạo, và sự tự do lựa chọn các ngôn ngữ để thể hiện
nó trong tác phẩm Cá tính, cái chút riêng biệt nhỏ nhoi ấy, là tất cả,…phong cách cũng là chỗ đặc dị, nơi chứa đựng mật số của tác phẩm văn chương…
Có thể thấy, những định nghĩa về phong cách thật đa dạng, phong phú, khó có thể đưa ra một định nghĩa mà tất cả mọi người đều nhất trí Tuy nhiên, phong cách có những điểm chung mà nhiều người đề cập tới như: phong cách biểu hiện những đặc điểm thể hiện cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, là nhận thức của người nghệ sĩ về cuộc sống, là sự tổng hợp các đặc điểm nghệ thuật trong
sự thống nhất với nội dung
Tìm hiểu phong cách của một nhà văn, nhà thơ chúng ta không nên nghiên cứu riêng các vấn đề như thể loại, ngôn ngữ, các môtíp nghệ thuật,…
mà nên xem xét chúng trong sự thống nhất toàn vẹn của thế giới nghệ thuật, bởi các yếu tố lặp đi lặp lại như một qui luật này không tồn tại một cách độc lập, tách bạch nhau để tạo nên một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh
Phong cách một mặt do tài năng bẩm sinh của người nghệ sĩ, mặt khác, quan trọng hơn là kết quả của quá trình đào luyện lâu dài trong đời sống nghệ thuật, là chất tổng hợp của tâm hồn, trí tuệ, kiến thức học hỏi và làm việc ở mỗi cá nhân người nghệ sĩ Chính vì thế, mọi quan điểm đóng cửa để xác lập
cá tính, tự nghĩ ra một phong cách trước khi cầm bút sáng tác, đặt cá tính lên trên tất cả chẳng qua chỉ là sự lừa dối và đưa đến một sự trống rỗng giả tạo về phong cách hoặc là sự tự huyễn hoặc của những bản lĩnh nghệ sĩ non yếu.Thực tiễn phát triển của văn học nghệ thuật ở Việt Nam và trên thế giới
đã chứng minh rằng, không phải người nghệ sĩ nào cũng tạo cho mình một phong cách riêng Cần phải xem xét phong cách là phẩm chất sáng tạo cao
Trang 14nhất của người nghệ sĩ trong quá trình đồng hoá hiện thực bằng thẩm mỹ Nhà
văn Macxim Gorki đã khuyên những người viết văn trẻ rằng: Các bạn trẻ!
Các bạn hãy học và đọc cách viết của tất cả những nhà văn có văn phong điêu luyện nhưng phải tìm ra nốt nhạc và lời ca cho riêng mình… Bạn hãy giữ lấy cái gì là của riêng mình Là một người không có cái gì của riêng mình thì phải thấy rằng người đó chẳng có cái gì hết Nhà văn Nam Cao - cây bút
hiện thực phê phán xuất sắc cũng khẳng định thêm: Văn chương không cần
đến những người thợ khéo tay làm theo kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có
Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm cho rằng phong cách chỉ bao hàm những yếu tố về kĩ xảo, kĩ thuật như các nhà hình thức chủ nghĩa, cũng không thể nhầm lẫn phong cách với bút pháp Đúng như Tô Hoài đã nhận xét:
Phong cách tuyệt nhiên không phải là kĩ xảo, không phải là chiếc áo khoác Nếu ví nghệ thuật là một con người thì phong cách là da trên cơ thể con người Cho nên theo quan điểm của chúng tôi, phong cách được coi như là sự
thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức, giữa cái phản ánh và cái được phản ánh
Phong cách thể hiện trong suốt quá trình sáng tạo của nhà thơ, nhà văn Yếu tố lặp đi lặp lại được coi như một cá tính, sở thích, nhu cầu và cao hơn là nguyên tắc tổ chức hình thức tác phẩm Phong cách toát lên từ hệ thống nghệ thuật toàn vẹn Do đó việc tìm hiểu phong cách chỉ có thể đạt được kết quả khả quan khi chúng ta đặt các yếu tố cấu thành phong cách trong mối tương tác để tạo thành một chỉnh thể thống nhất Tư tưởng, chủ đề, ngôn ngữ, thể loại, môtíp… và cuối cùng là cá tính nhà văn có tác dụng quyết định đến sự hình
thành phong cách Nói như Nguyễn Đình Thi: mỗi nhà thơ có tâm trạng riêng
cũng như mỗi con người có một nét mặt, một tính nết Có nhà thơ là tiếng kèn
Trang 15xung trận, có nhà thơ là tiếng sáo véo von Có nhà thơ là dòng suối thầm thì,
có nhà thơ là dòng thác dữ xô đẩy
Tóm lại, theo chúng tôi, phong cách là những dấu ấn cá nhân của người nghệ sỹ in đậm lên tác phẩm và mọi yếu tố cấu thành nên tác phẩm: từ cách thức tổ chức tác phẩm, xử lý đề tài đến giọng điệu, ngôn ngữ, thời gian, không gian… Phong cách chính là sự độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật Nó tạo ra dấu ấn riêng cho một tác phẩm, một tác giả, một thời đại và
một dân tộc
1.2 Phong cách thơ
Như đã nêu ở trên, phong cách là cá tính riêng, dấu ấn riêng của một tác giả Cụ thể, khi nói đến phong cách là ta nghĩ ngay đến dấu ấn cá nhân ở trong đó Khi nói đến phong cách thơ thì đó là những biểu hiện của tài năng
thi ca đích thực Khi nghiên cứu về Phong cách thơ Hồ Xuân Hương Đỗ Lai
Thuý đã chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố ngôn ngữ thơ Ông cho rằng, ngày nay người ta đi tìm phong cách thơ trong chính tác phẩm thơ, hay chính xác
hơn trong chính ngôn ngữ thơ Các thông số khác như tiểu sử tác giả, hoàn
cảnh kinh tế xã hội, điều kiện lịch sử…chỉ để tham chiếu, soi sáng, lí giải Ngôn ngữ trước đây bị coi như một thứ bao bì, một công cụ của ý tưởng nên việc tìm hiểu phong cách thơ của một tác giả qua và bằng ngôn ngữ là điều không thể [54, tr 55] Theo chúng tôi thì ta không nên bỏ qua bất kỳ một yếu
tố nào khi tìm hiều phong cách thơ của một tác giả, cũng không cần thiết đánh giá bên nào nặng, bên nào nhẹ Điều cốt yếu và quan trọng là làm sáng tỏ được yếu tố đã góp phần làm nên phong cách của nhà thơ Mặt khác, phong cách vốn không phải là cái nhất thành bất biến, mà phong cách của một nhà thơ có thể thay đổi khi trong đời sống có những biến động lớn Nhưng sự thay đổi này không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn những cái trước kia, thông thường chỉ thay đổi những gì đi ngược lại với thế giới quan hiện tại và vẫn
Trang 16tiếp tục giữ lại những gì phù hợp Mặc dù nhà thơ có cố thay đổi như một
cuộc lột xác đi chăng nữa thì dấu ấn cá nhân cũng khó có thể phủ nhận được
Trong lịch sử văn học Việt Nam chúng ta cũng chứng kiến bao cuộc thay đổi như vậy Đặc biệt là sau sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945,
đội ngũ nhà văn, nhà thơ của chúng ta đã quyết làm một cuộc đổi đời, họ
cương quyết vứt bỏ con người cũ để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của Cách mạng Mặc dù vậy, khi đọc thơ, văn của họ ta vẫn nhận ra được phong cách
cá nhân riêng biệt Chẳng hạn như Xuân Diệu và Huy Cận vốn tự nhận mình
như Rimbaud và Verlain: Hai chàng thi sĩ choáng hơi men; Say thơ lạ mê tình
bạn; Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen ở thời kỳ trước Cách mạng Nhưng sau
Cách mạng cả hai nhà thơ này đều có những chuyển biến nhiều về phong cách
sáng tác Nếu Xuân Diệu trước kia là một người luôn đề cao cái Tôi cá nhân
đến tột cùng, thì sau Cách mạng trong thơ ông người ta lại thấy những hình
ảnh của Tổ quốc, nhân dân và cuộc chiến tranh Về Huy Cân, cuộc lột xác có
vẻ rõ rệt hơn nhưng cái vẻ hoài nghi, ảo não của ông không phải đã chấm dứt hẳn sau Cách mạng, mà ta vẫn thấy điều đó trong bài Các vị La Hán chùa Tây
Phương của ông sau này Đó là một bài thơ mang dáng dấp và hơi thở của
hồn thơ Huy Cận giai đoạn trước Điều này một lần nữa khẳng định phong cách không phải là một giá trị nhất thành bất biến Trong quá trình vận động
nó có sự thay đổi ở một mặt nào đó, sự thay đổi đó không có tính đoạn tuyệt
mà vẫn kế thừa và phát huy những yếu tố còn phù hợp với thực tại
Bởi vì, phong cách là phạm trù có liên quan đến cá tính riêng của mỗi
người, như Hàn Mặc Tử đã khẳng định: Người thơ phong vận như thơ ấy Từ
đó có thể thấy rằng, xét phong cách một tác giả chúng ta không chỉ dựa vào bản thân dấu hiệu ngôn ngữ được, mà cần xem xét nhiều yếu tố khác nhau góp phần làm nên phong cách của một nhà thơ như: lịch sử, thời đại, đặc điểm địa - văn hoá…
Trang 17Riêng thơ rất cần đến năng khiếu thẩm mĩ, tài nghệ và cần đến cá tính, phong cách Đặc biệt phong cách thơ “còn là biểu hiện đậm đặc cái tôi trữ tình trong thơ” [22, tr 313] Với đặc trưng riêng biệt của thơ, đó là khả năng bộc lộ trực tiếp cái tôi trữ tình, thế giới nội tâm nên không thể có sự giống nhau đến “sáo mòn” về nội tâm, suy nghĩ được Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo, nhưng nó không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển Thực chất đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ do sự tác động của cuộc sống hiện thực Có thể nói, không có cuộc sống thì không có thơ ca Nói văn chương một chút, nhà thơ chính là những con ong hút nhuỵ từ bông hoa cuộc đời để làm nên mật ngọt phục vụ chính cuộc đời đó Chính vì tình cảm trong thơ ca bắt nguồn từ tình cảm trong cuộc đời thực của nhà thơ, nên khi hoàn cảnh khách quan thay đổi thì tình cảm của nhà thơ cũng có những biến đổi, điều đó làm cho thơ ca có những trào lưu, khuynh hướng và giai đoạn khác nhau, với những phong cách sáng tác khác nhau Điều này ta có thể nhận thấy khá rõ trong từng giai đoạn văn học cụ thể
Do đặc thù Kiến thi như kiến nhân văn chương yêu cầu cao về tính độc
đáo của sản phẩm sáng tạo Lê Thánh Tông đã từng yêu cầu “văn nhân” khi
làm thơ phải: Cách điệu thanh cao ý tứ tân Vậy nên, thói “mô phong”, “bắt
chước” là điều tuyệt đối cấm kỵ trong sáng tạo thơ văn Ở ta một thời gian dài, do ảnh hưởng của lối văn chương cử tử nên hiện tượng bắt chước, rập khuôn đã thành căn bệnh khó chữa Chính điều này, làm cho văn học nước ta
dù phát triển rất sớm từ thế kỷ thứ X với những áng thơ hay bất hủ, nhưng cái tôi thì vẫn còn mờ nhạt Đến như Nguyễn Trãi nổi tiếng về tài thơ là thế mà
vẫn khiến ta có lúc xem thơ ông “Côn Sơn ca”: Côn Sơn suối chảy rì rầm; Ta
nghe như tiếng đàn cầm bên tai…Tìm nơi bóng mát ta ngâm thơ nhàn ta lại có
thể nhầm tưởng là thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm “Nhàn”: Một mai một cuôc một
Trang 18cần câu; Thơ thần dầu ai vui thú nào; Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ; Người khôn người đến chốn lao xao…hơn một trăm năm trước Phải đến cuối thế kỷ
XVIII- đầu XIX mới thực sự có phong cách thơ Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương Đây là hai nhà thơ sống ở thời trung đại nhưng với cá tính và tài năng
vượt trội đã khẳng định được dấu ấn cá nhân trong các sáng tác của mình Chính vì vậy, mới có cái gọi là Phong cách Nguyễn Du và Phong cách Hồ
Xuân Hương Trong tiến trình văn học Việt Nam Phong cách thơ thực sự nở
rộ vào giai đoạn (1930-1945) Đến lúc này cái Tôi cá nhân phát triển đến cực
điểm, các nhà thơ đã khẳng định được phong cách riêng của mình Có thể nói
rằng, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một cái Tôi cá thể hoá
trong cách cảm thụ thế giới và thiên nhiên Và cũng lần đầu tiên, chỉ trong 13 năm trời xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo đến như vậy cả trong
thơ lẫn văn xuôi Sự giải phóng cái Tôi của chủ thể sáng tạo đã làm nở rộ một
thời kỳ văn học với những bông hoa giàu hương sắc: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần, một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân
Diệu.” [39, tr525] Hay trong một bài viết khác về Phong cách học phê bình
văn học tác giả Đỗ Lai Thuý đã đưa ra những nhận định tinh tế về sự đa dạng
trong phong cách của các nhà Thơ mới lãng mạn Sự đa dạng đó là do cái Tôi phát triển đến tột cùng Chính thế mà cùng một thời ta thấy một Chế Lan Viên dành cả đời mình để đi tìm những phương thức biểu đạt khác nhau cho một ý
tưởng Trần Dần đập vỡ chữ để tìm nghĩa Lê Đạt sắp xếp những con chữ xa
lạ với nhau để chúng soi bóng vào nhau tìm một nghĩa mới phát sinh Cũng như Bích Khuê thuở trước, phong cách của các nhà thơ này đều gắn bó với kỹ
Trang 19thuật, hoặc ít nhiều đều lấy kỹ thuật làm điểm xuất phát Mỗi nhà Thơ mới đã tạo cho mình một phong cách riêng, độc đáo Điều đó làm nên một giai đoạn phát triển rực rỡ của thi ca Thế Lữ nghiêng về khẳng định con người cá nhân
đô thị hiện đại kết tinh ở người nghệ sĩ Thơ ông xoay quanh cái định nghĩa:
Tôi là cây đàn muôn điệu, người lữ hành, khách tình si, khách chinh
phu,…Xuân Diệu bị ám ảnh bởi thời gian Thời gian đối với ông là phôi pha,
là tàn úa bởi vậy ông luôn muốn chế ngự và chiến thắng thời gian Chính vì thế vội vàng là phong cách của Xuân Diệu Trái lại, Huy Cận lúc nào cũng
chậm rãi, đi mà như đứng, chân đang bước bỗng e dè, bởi thi nhân nhìn mọi
sự bằng con mắt không gian Còn thơ Nguyễn Bính thực sự là người lái đò giữa nông thôn và thành thị, giữa quá khứ và hiện tại, giữa không gian và thời
gian Vũ Hoàng Chương đi tìm Đào nguyên lại lạc vào những thiên đường
nhân tạo…Như vậy, có thể thấy rằng yếu tố thời đại tác động khá lớn đến
việc hình thành những phong cách thi ca
Mặt khác, đối tượng của thi ca là muôn màu, muôn vẻ, ta không thể dùng một cách thức, một kiểu dạng để viết về cái đa sắc đó Muôn vật, muôn loài mùa nào thức ấy, mỗi loài có một dáng vẻ riêng, ta không thể nắm bắt mà hạn định nó, xuyên tạc nó Qua thơ ta có thể thấy được vẻ đẹp của mai xuân, sen hạ, cúc thu…mỗi mùa một vẻ, một màu Nhà thơ phải bằng tài năng đích thực của mình để tôn lên được vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người Ngoài yếu tố vốn có của tự nhiên mà nhà thơ thể hiện, qua thơ ta còn thấy được đặc trưng văn hoá vùng miền Tầm hiểu biết, vốn sống của nhà thơ như thế nào thì sẽ được bộc lộ rất rõ trong thơ Qua thơ, chúng ta có thể nhận biết
được tầm cỡ của nhà thơ và không gian văn hoá nơi nhà thơ đã sống hoặc
đang sống Chẳng hạn, đối với nhà thơ Nguyễn Bính, khi đọc thơ ông ta thấy
rõ một nét quê rất tươi tắn, hồn hậu như chính con người ông vậy:
Trang 20Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi …
(Chân quê - Nguyễn Bính)
Đọc thơ Nguyễn Khuyến ta lại thấy hiện lên không gian sống của một
vùng chiêm trũng nơi quê ông với những ao, chuôm, làng cảnh Người xưa
cũng đã nhận ra rằng, hào kiệt gắn liền với núi sông Địa linh có vai trò đặc biệt trong việc sản sinh ra thiên tài Nói như vậy để thấy rằng khi nghiên cứu phong cách của một nhà thơ chúng ta không thể bỏ qua yếu tố địa - văn hoá
Nhà nghiên cứu Mã Giang Lân khi viết về vấn đề :Bến My Lăng từ điểm nhìn
địa văn hoá đã chỉ ra mối liên hệ giữa hình ảnh vầng trăng ám ảnh các nhà
thơ Bình Định với “tính trội của một vùng thiên nhiên Bình Định” Chính những đặc điểm nổi trội về thiên nhiên, văn hoá của một vùng nơi nhà thơ sống sẽ ăn sâu vào trong tiềm thức và suy nghĩ của nhà thơ Những cái đó dù sớm hay muộn nó cũng sẽ được bộc lộ ra dưới ngọn bút của thi nhân Bởi vì mỗi con người sinh ra đều có một gốc gác nguồn cội, mỗi cá nhân có những hoàn cảnh riêng và điều đó có tác động đến việc hình thành phong cách sống cũng như phong cách sáng tác sau này Chúng ta cũng biết, dấu ấn tuổi thơ có vai trò rất lớn trong cảm quan nghệ thuật của người nghệ sĩ nói chung và nhà
thơ nói riêng Dường như mỗi thiên tài đều có một nỗi ám ảnh lớn trong tiềm
thức Chính cái tiềm thức đó đã chi phối hoạt động sáng tác của nghệ sĩ ở một
phương diện nào đó Trong văn học ta đã từng thấy một M Gorki với Thời
thơ ấu cùng những kỷ niệm tuổi thơ không thể nào quên của cuộc đời ông
Văn học Việt Nam cũng có Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng viết về một
tuổi thơ buồn tủi của chính ông Ngoài ra, đối với thơ yếu tố địa - văn hoá góp phần hình thành nên tư tưởng, quan điểm và chi phối hệ thống hình tượng trong thơ Chẳng hạn, những nhà thơ Bình Đinh với đặc điểm sống của vùng
Trang 21có nhiều bến sông đẹp, thơ mộng và gắn bó với tuổi thơ của họ nên hình ảnh
sông và trăng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ
Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận vai trò của ngôn ngữ trong thơ, ngôn
ngữ thơ cũng có mã riêng của nó, ta không nên nghiên cứu phong cách thơ của một tác giả theo cách áp đặt mà phải phân tích kỹ văn bản ngôn từ Mỗi
nhà thơ là một cá thể riêng biệt, có những đặc điểm riêng về cá tính, về không gian sống Mặt khác, mỗi nhà thơ lại có một vốn sống, vốn từ khác nhau nên việc cố mà bắt chước cũng phải là một dụng công rất lớn Chính điều đó làm cho thơ phát triển phong phú và đa dạng hơn văn xuôi
Ngay từ trong bản thể thơ đã cần đến sự riêng biệt và độc đáo, mỗi bài mỗi vẻ, mỗi người mỗi vẻ Nói thì dễ, nhưng để làm được việc này quả không
dễ chút nào Muốn tạo cho mình được một phong cách riêng, độc đáo thì bút
lực phải dồi dào Trong lời tựa Cẩn trai thi tập (Trịnh Hoài Đức) Nguyễn
Đình Cát đã viết: “Người nào trội về phong cách thì thơ hay trang nhã, người nào trội về khí phách thì thơ hay hùng hồn, người nào giỏi về dùng chữ đặt câu thì làm thơ hay hoa mĩ Xem thơ thì có thể mường tượng được người” Dĩ nhiên người nào không có điểm gì trội cả thì không thể tạo ra được phong cách riêng cho mình Sự thật thì trong lịch sử văn học không phải nhà thơ, nhà văn nào cũng có phong cách Muốn làm nên những áng danh văn thì không có con đường nào khác là phải tự làm mới mình Như Bá Sỹ đã tự nhủ mình:
“Sức bút phải nên mới mẻ luôn luôn” Có thể nói đó cũng là tâm niệm của những người cầm bút, thực sự mong muốn ngọn bút của mình có năng lực
“nhập thần” Lê Hữu Trác từng yêu cầu nhà thơ, nhà văn nên “bắt chước ngay chính tạo” Muôn loài muôn vật đều do tạo hoá sinh ra nhưng không phải loài vật nào cũng hoàn toàn giống nhau, “con chim thay lông không thay giọng hót” đó là một câu ngạn ngữ rất hay, thơ hay cũng nên và cần có được đặc tính ấy
Trang 22Cuối cùng, Phong cách thơ là một khái niệm để chỉ cá tính riêng, dấu ấn
riêng của nhà thơ qua các sáng tác Phong cách thơ là sự độc đáo về nội dung,
tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác thơ Chúng ta cũng có thể nói phong cách thơ chính là con người của nhà thơ vậy Xin được nhắc lại câu thơ của Hàn Mặc Tử để khẳng định ý này: “Người thơ phong vận như thơ ấy”
1.3 Quá trình định hình phong cách thơ Yến Lan
Nhà thơ Yến Lan tên thật là Lâm Thanh Lang, sinh năm 1916 tại làng An Ngãi, phủ An Hoà, tỉnh Bình Định, trong một gia đình buôn bán nhỏ Thời niên thiếu ông học ở Bình Định và sớm phát lộ tài thơ văn Từ năm 18 tuổi ông đã sống bằng nghề dạy học và sáng tác thơ văn Ông còn một bút danh khác là Xuân Khai Yến Lan đã nhập vào nhóm thơ Bình Định với những nhà thơ tiêu biều: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Bích Khê…
Trước năm 1945, Yến Lan sáng tác nhiều nhưng chưa xuất bản thành
sách Người ta nhớ nhiều đến bài thơ Bến My Lăng của ông mà Hoài Thanh
và Hoài Chân giới thiệu trong cuốn Thi nhân Việt Nam Một bài thơ với những nét bàng bạc u hoài của thơ cổ
Năm 1941 ông viết vở kịch Bóng giai nhân, viết chung với Nguyễn Bính
và Vũ Trọng Can, ông sáng tác kịch Gái Trữ La
Từ năm 1936, 1937 Yến Lan sống bằng nghề dạy học và sáng tác Các tác
phẩm của ông được in trên các báo: Phụ nữ, Nghệ thuật và Tiểu thuyết thứ
năm Yến Lan đã đón nhận Cách mạng tháng Tám một cách háo hức Ông
tham gia cướp chính quyền ở An Nhơn và trở thành người hoạt động tuyên truyền trong hàng ngũ cách mạng
Trong những năm kháng chiến chống Pháp Yến Lan tham gia công tác văn nghệ kháng chiến ở Bình Định và Liên khu V Đến năm 1954 ông tập kết
ra Bắc Thời kỳ này Yến Lan có những bước chuyển mạnh về chất Ông sáng tác đều, cốt cách thơ khoẻ khoắn, ngôn ngữ thơ sắc nét Những tác phẩm
Trang 23chính của ông đã được xuất bản: Những ngọn đèn(1957), Tôi đến, tôi
yêu(1968), Giữa hai chớp lửa(1978),Ến đào (truyện thơ, 1979), Lẵng hoa hồng(1986), Cầm chân hoa (1991), Tứ tuyệt Yến Lan (1993), Tuyển tập Yến Lan (1996) Ngoài tám mươi tuổi ông còn cho xuất bản tập Thơ tứ tuyệt ,
những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời Yến Lan còn để lại khá nhiều bài thơ và đã được vợ ông sưu tập lại trong di cảo nhưng chưa in thành sách
Có thể nói con đường sáng tạo nghệ thuật của Yến Lan là vô cùng bền bỉ Ông không cho mình một chút ngừng nghỉ, ngay cả những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục sáng tác, không thể cầm bút để ghi lại ông đọc cho vợ chép Con đường lao động nghệ thuật của Yến Lan đáng được ghi nhận và kính nể
Quá trình hình thành phong cách của một nhà thơ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố Chúng ta cần phải chú ý đến các yếu tố địa - văn hoá, hoàn cảnh sống và cá tính riêng…Yến Lan sinh ra và lớn lên trên vùng sông nước Bình Định với nhiều bến sông Điều đó lí giải vì sao trong thơ ông hình ảnh bến sống và trăng trở đi trở lại nhiều lần Không chỉ có trong thơ Yến Lan mà chúng ta còn thấy điều này rất rõ trong thơ của Hàn Mặc Tử - người bạn thơ rất thân với Yến Lan Chính yếu tố địa hình đã tạo lên những dấu ấn văn hoá riêng của từng vùng miền và điều đó in dấu ấn lên mỗi người con của quê hương Hơn nữa Yến Lan lại là một thi sĩ yêu quê hương tha thiết thì dấu ấn văn hoá trong thơ ông càng rõ rệt Trong thơ ông, đặc biệt là những bài viết
về Bình Định ta thấy trăng vẫn luôn luôn hiện hữu: Buổi trăng gầy gió luỵ
xuống mong manh, Trăng còn nương thuyền lạc khuất trong sương (Bình
Định 1935) hay Hồi mõ ngục hết xao trăng tình tự (Bình Định 1945) Trăng
mát đường về hội nghị cơ quan (Bình Định 1947) Qua ba bài thơ về Bình
Định với những mốc thời gian khác nhau ta thấy hình trăng cũng có những
màu sắc, tình cảm khác nhau Trăng của những năm trước cách mạng mang
Trang 24vẻ buồn, u ám còn trăng của những năm sau ngày độc lập lại mang màu tươi sáng mới Rõ ràng hình ảnh trăng đã chở đầy cảm xúc, tâm tư của nhà thơ Mặt khác, kí ức về người mẹ và những năm tháng tuổi thơ với nhiều buồn tủi đã ảnh hưởng và chi phối nhiều đến thơ ông Đọc thơ ông người ta thấy có
sự trở lại nhiều của ký ức và những năm tháng tuổi thơ Chính vì thế nên những sáng tác thời kỳ đầu của Yến Lan thường có vẻ u hoài, bàng bạc, chưa cởi mở với cuộc đời Tuy vậy, trong suốt chặng đường dài sáng tác phong cách thơ Yến Lan có những chuyển biến về nội dung và hình thức Đó là điều khó tránh khỏi với một con người sống và trải qua những biến động lớn của lịch sử Trước cách mạng những sáng tác của Yến Lan không nhiều nhưng cũng để lại dấu ấn khá đậm trong làng thơ lãng mạn Yến Lan được xếp vào hàng ngũ các nhà Thơ mới Những bài thơ ông sáng tác giai đoạn này cũng mang những đặc điểm chung của thơ lãng mạn: có u buồn, hoài niệm, có bâng
khuâng tình ái, có những thần tượng siêu hình…, và riêng thơ ông lại có nét
riêng: trầm tư, u ẩn, nhiều dụng công chạm khắc ngôn ngữ
Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và những năm đầu xây dựng hoà bình Những chấn động ấy đã vang vào thơ Yến Lan nhưng vẫn chưa thể làm thay đổi được đến tận thâm căn, hồn thơ của nhà thi sĩ lãng mạn này Hơi hướng của cảm xúc cũ, bóng dáng của chất liệu cũ vẫn còn tiếp tục theo đuổi vào nhiều bài thơ Yến Lan sáng tác trong kháng
chiến và đầu hoà bình, như Xuống bến, Chạy mưa, Qua ngày… Trong tình
hình chung, phức tạp của văn nghệ những năm 1956- 1957, cái cũ chưa bị vùi
lấp hẳn, cộng với những nhận thức sai lệch mới, đã đẩy anh sa vào những
lệch lạc trong cách lý giải hiện thực, trong triết lí sống và cảm xúc thơ [37;
tr255] qua một số bài như 1957- Hà Nội sang hè, Những ngọn đèn ngoại ô,
Tĩnh vật, Rồi mùa Có thể nhận thấy trong thời kỳ đầu sáng tác và những năm
đầu kháng chiến chống Pháp thơ Yến Lan thường gây ấn tượng về một màu
Trang 25xám với “trăng gầy gió luỵ” Theo nhận định đánh giá của cố nhạc sĩ Văn
Cao: “Thật ra, trong những ngày cũ, con người anh vẫn phân vân do dự, dù thay đi đổi lại nhiều lần, bắt đầu muốn làm một cái gì để rồi lại phải làm lại ” Nhưng càng về sau thì thơ Yến Lan càng có những thay đổi tích cực hơn Thơ ông ngày càng muốn tiến gần lại với cuộc sống hiện đại, có tình người và tình
đời hơn Những ngọn đèn là tập thơ đầu tiên sau cách mạng nên có sự giao
thoa giữa cái cũ và cái mới, còn đan lẫn phần tích cực với những lệch lạc trong suy nghĩ Đó cũng là điều dễ hiểu bởi lúc này Yến Lan còn đang bối rối, chưa ổn định trong nhận thức và cảm nhận Nhưng với những nỗ lực không ngừng của mình cùng với sự chân thành góp một tiếng nói chung vui với thơ
ca 1960 Tập thơ Tôi đến tôi yêu ra đời năm 1962 đã được đón nhận với nhiều
tình cảm Sở dĩ có được sự chuyển biến ấy là bởi Yến Lan đã cố gắng gắn mình vào cuộc sống Ông náo nức đi trên những đoạn đường, với cảnh vật và con người để góp nhặt, tìm tòi những sáng tạo mới Ông đã đến với rừng, ra với biển, lên vùng cao, về hợp tác xã, đến với công trường, ngư trường,…để sống và nhận thức lại cuộc sống Chính bản thân ông đã nhận ra rằng: “Tôi đã tìm ra những nét diệu kỳ - Trong tất cả những gì quen thuộc trước” Nếu trước
đây, ở Những ngọn đèn ta thấy đầy chất hoài nghi thì nay thơ ông đã khởi sắc
hẳn lên, nó không còn những màu xám, nhạt và bàng bạc nữa Yến Lan như say với cảnh vật và cuộc đời mới Chúng ta có thể đọc được những câu thơ với đầy nhiệt huyết, hăm hở bước vào cuộc sống mới:
Đi lên- đi lên tàu như say
Tàu trôi qua miền hoa bắp lay
Nắng biếc sông Thương thuyền chở khuất
Nhà sàn khói đã bén nương cây
(Theo gió xuân lên biên giới)
Trang 26Cảm xúc thơ Yến Lan đã gắn bó với cuộc sống lao động bình thường, ông ít để lộ cảm xúc, tâm trạng mà để cuộc sống tự hiện lên một cách tự nhiên Chính quá trình thâm nhập vào cuộc sống ấy khiến Yến Lan hiểu và yêu hơn những con người bình thường đang xây dựng cuộc sống mới Nắm bắt được cảm xúc mới và say sưa với cuộc đời mới đã làm thay đổi phong cách thơ ông Thay vì những vần thơ đầy hoài nghi, siêu thực với những nét bàng bạc, u hoài thì giờ đây đọc thơ Yến Lan ta cảm nhận một hồn thơ yêu cuộc sống, hình ảnh thơ sắc nét hơn:
Ta đi giữa hội cày hội cấy Mẫu đơn hoa nở đỏ lối ra đồng
Từ tổ đổi công tiến sang hợp tác
(Bài ca hợp tác thôn tôi)
Chúng ta có thể nhận thấy thế giới quan của Yến Lan đã có sự thay đổi
Đó cũng là một điều dễ hiểu và tích cực đối với một con người sống và kinh qua bao biến cố của lịch sử xã hội Những yếu tố khách quan đó đã chi phối hoạt động sáng tác của nhà thơ Đồng thời góp phần làm chuyển biến phong cách sáng tác cho phù hợp với thời cuộc Nói như vậy không có nghĩa là Yến Lan chaỵ theo thời đại mà đánh mất mình, mà sự thay đổi là xuất phát từ tình yêu quê hương hương đất nước vẫn luôn thường trực trong thơ ống Khi Tổ quốc cần thì ông cũng sẵn sàng ra trận làm công tác cách mạng Trong suốt thời gian hoạt động kháng chiến của Yến Lan chúng ta thấy thế giới quan nghệ thuật của nhà thơ đã thay đổi rõ rệt Nhà thơ đã viết những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của những vùng quê trên khắp đất nước, ca ngợi những người lính đang hăm hở đi chiến đấu Tất cả những hình ảnh đó đều được ông thể hiện với một tình cảm rất thật và say sưa Lúc này ta không còn thấy một Yến
Lan mơ hồ, bàng bạc như nhận xét của Hoài Thanh hay một Yến Lan trầm tư,
Trang 27u ẩn nữa mà là một Yến Lan đang háo hức trong cuộc đời mới với những
Mặc dù vậy, không phải phong cách thơ Yến Lan đã thay đổi hoàn toàn Đến những năm tháng cuối đời, thơ ông có sự trở lại của thời kỳ đầu, ông tập trung ngọn bút vào thể thơ Tứ tuyệt và được đánh giá rất cao Tuy nhiên, khi sáng tác thơ Tứ tuyệt chúng ta lại thấy bóng dáng của một Yến Lan với nhiều màu sắc trừu tượng và sự cầu kỳ trong việc lựa chọn câu chữ (có lẽ
do yêu cầu của thể thơ Tứ tuyệt) Chỉ có điều chàng thi sĩ ngày xưa bây giờ đã trưởng thành hơn, nét trầm tư, suy tưởng nhưng không còn hoài nghi, u ẩn như trước kia nữa mà là những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống, về nhân sinh
Điều đó một lần nữa chứng tỏ rằng phong cách không phải là một giá trị nhất thành bất biến Bởi vì phong cách của một tác giả còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong cuộc sống xã hội Chính nhờ vậy mà tạo ra sự phong phú và đa dạng về phong cách cho văn học, làm giàu có thêm cho nền thơ ca của chúng ta
Trang 28Chương 2: PHONG CÁCH THƠ YẾN LAN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NỘI DUNG
2.1 Cảm hứng thơ hướng tới cuộc sống bằng một tình yêu
tha thiết
2.1.1 Tình yêu quê hương, đất nước trong thơ Yến Lan
2.1.1.1 Tình yêu đất nước trong thơ Yến Lan
Có thể nói trong thơ Yến Lan tình yêu đất nước luôn thường trực: Khi
Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau Chính vì thế khi Cách mạng tháng Tám
nổ ra Yến Lan đã hào hứng tham gia cướp chính quyền Tình yêu đất nước trong thơ Yến Lan thể hiện chủ yếu qua những bài thơ ông viết trong thời gian tham gia kháng chiến Đây cũng là một điều rất tự nhiên, bởi vì Yến Lan vốn là một nhà thơ lãng mạn nên trước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng ông cũng như phần lớn các nhà thơ cùng thời chìm đắm trong những nỗi buồn triền miên, trong những mảng màu sắc riêng của mỗi cá nhân Đó là một thời kỳ: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về
hồn ta cùng Huy Cận” [56 ; tr30] Các nhà thơ quá say đắm với cái tôi mà
quên đi mọi thứ xung quanh kể cả trách nhiệm đối với đất nước Đó là một xu thế chung trong thế giới quan nghệ thuật của giai cấp tư sản Nhà thơ Yến Lan cũng không là ngoại lệ Nhưng như trên đã nói từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhiều nhà thơ thuộc thế hệ Thơ mới của chúng ta đã có một bước ngoặt lớn trong đời sống và trong sang tác Sau cách mạng Yến Lan đã nhận thức tương đối rõ vai trò của cá nhân đối với cuộc cách mạng Cũng từ đó ông tham gia kháng chiến cho đến ngày đất nước thống nhất Điều đó cho thấy Yến Lan là một công dân có ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh lịch sử của
Trang 29đất nước Trong thời gian tham gia kháng chiến Yến Lan vẫn không ngừng sáng tác thơ và hầu hết các bài thơ đều tập trung thể hiện vẻ đẹp của quê hương đất nước, hình ảnh cuộc chiến tranh và những con người trong kháng chiến Qua thơ ông hình ảnh về đất nước được hiện lên khá trọn vẹn từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi lên miền ngược Nơi nào nhà thơ đặt dấu chân đến là nơi đó có thơ Mỗi bài thơ như ghi lại một cảm xúc, tình cảm rất thật của nhà thơ Khi khảo sát toàn bộ các tập thơ của Yến Lan thì chúng tôi thấy có rất nhiều bài thơ ông viết về những vùng quê khác nhau trên khắp đất nước Mỗi vùng quê có một vẻ đẹp, bản sắc riêng làm đẹp thêm cho nền văn hoá chung của cả dân tộc Những bài thơ Yến Lan viết về các vùng quê trên khắp đất nước như: Phù ly, Chiều qua Châu Thuận, Giã từ hương tích, Nắng sông Đà, An Lão, Tiếng quạ trên sông Chu, Trở lại Ba Vì, Hà Nội đinh ninh, Màu sắc Phong Thổ, Trung du xứ Đoài, Tâm sự Thác Bà, Tiến vào Công Tum, Đánh ở Bình Giang, Vì sao, ơi Cửu Long Giang, Mùa xuân lên cao,…
đã phần nào cho thấy tình yêu đất nước của ông Ngần ấy vùng quê nơi nào nhà thơ cũng thể hiện bằng một tình cảm thân thiết gắn bó và tự hào Có thể đây chưa phải là tất cả những bài thơ viết về các miền quê nhưng mới chỉ bấy nhiêu thôi cũng có đủ thấy được tình cảm của nhà thơ đối với quê hương đất nước là vô hạn Mỗi vùng quê đều được nhà thơ thể hiện với những vẻ đẹp
riêng, bản sắc văn hoá riêng Chẳng hạn, Phù Ly với nghề dệt:
Trang 30Lá nguỵ trang lại rụng đầy đường mai
Bông phơi vẫn quyến ong bay quanh nhà
Dù bom đạn của chiến tranh khốc liệt nhưng cũng không thể làm ngừng
vòng quay xa của người Phù Ly Những hình ảnh về các vùng quê, địa danh
trên khắp đất nước đều được nhắc đến trong thơ ông với một niềm tự hào về
vẻ đẹp, về truyền thống yêu nước và bản sắc văn hoá:
Đường vào rẻo cao
Thang mây bậc bậc Dãy Hoàng Liên cao ngất…
(Mùa xuân lên cao, 1958)
hay ở bài Bữa cơm đợi tàu (1959) tác giả viết:
Cơm xới bát sành, khay gỗ đũa so Mùi vị cũ của miền quê Thanh Hoá…
Từ Thanh Hoá lại ra Thái Bình và cứ như thế đi dọc theo đất nước đến vùng quê nào Yến Lan cũng có thơ Những vần thơ rất giản dị và chân chất nhưng chứa đựng một tình cảm sâu nặng Do vậy trong thơ Yến Lan mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng vẻ đẹp của đất nước vẫn hiện lên với đầy
màu sắc rực rỡ của những làng nghề, những phong cảnh núi non trùng điệp:
Đi lên - đi lên tàu như say
Tàu trôi qua miền hoa bắp lay
Nắng biếc sông Thương tàu chở khuất
Nhà sàn khói đã bén nương cây
…Đi lên - đi lên đồng bậc thang
Rạ cũ còn ôm mùi lúa vàng
Chiều hợp tác chiêng rung sắc núi
Quả bóng chuyền giữa hai tiếng vang…
(Theo gió xuân lên biên giới)
Trang 31Những câu thơ như được tuôn ra theo từng bước chân của nhà thơ và sau mỗi bước tiến lên cảnh sắc lại thay đổi rất tự nhiên tạo nên bức tranh vừa sinh động vừa rất thực về miền núi phía Bắc Đó là một cảnh vừa đẹp vừa hùng vĩ Những câu thơ khiến cho ta nhớ lại một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Quang
Dũng khi miêu tả cuộc hành quân Tây tiến Tuy nhiên cách miêu tả của Yến
Lan không thiên về thể hiện sự hiểm trở gian khổ của núi non mà thể hiện vẻ đẹp nên thơ của vùng núi cao Cũng viết về vùng núi cao trùng điệp với con sông Mã nằm nghiêng uốn khúc nhưng trong thơ Yến Lan ta lại thấy hiện lên
vẻ hiền hoà, yên bình:
Qua đây trùng điệp núi ngàn
Nghe rung lá biếc âm vang tiếng người
(Chiều qua Châu Thuận)
Hay trong một bài thơ khác về vùng cao nhà thơ đã viết:
Đỉnh nối đỉnh dập dồn
Sẫm dần theo nắng rớt
Cả dãy Hoàng Liên Sơn
Núi thay màu từng phút
(Màu sắc Phong Thổ)
Có thể thấy ông không giống các nhà thơ khác tập trung thể hiện sự tàn phá khốc liệt của cuộc chiến tranh và sự gian khổ của những người lính khi phải hành quân qua bao núi non hiểm trở Trái lại trong thơ Yến Lan dường như chiến tranh tàn khốc không thể nào tàn phá được vẻ đẹp vốn có của cảnh sắc thiên nhiên Cuộc chiến tranh đó chỉ như một cơn ác mộng và sau đó mọi thứ lại đã hồi sinh và tươi đẹp Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta cho Yến Lan là nhà thơ dễ quên quá khứ mà là Yến Lan đã gạt những đau thương
để sống và làm đẹp thêm cho cuộc sống hiện tại Đó là một tư tưởng tình cảm tích cực tạo cho thơ ông những màu sắc khoẻ khoắn chân thực Tạm biệt vùng
Trang 32núi nhà thơ về Trung du xứ Đoài với Nắng sông Đà, với Ba Vì, Hương Tích
Nếu miền núi cao trùng điệp tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ cho đất nước thì miền trung Du là vẻ đẹp no ấm của cuộc sống lao động vơi những làng nghề truyền thống:
Trung du- trung du
Như cam vừa bổ
của nhà thơ về một vùng quê của đất nước Khi đọc bài thơ Giã từ Hương
Tích của ông chúng ta có thể thấy hiện lên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình
đầy màu sắc và sống động Có một điều đặc biệt ở Yến Lan là thơ ông tự trào
ra theo cảnh nên đọc ta cảm nhận được từng sự thay đổi kỳ diệu của thiên nhiên theo mỗi chuyển động của con người Hình ảnh Hương Tích hiện lên đẹp như một cõi tiên nhưng lại rất chân thực:
Rừng mơ trắng hoá mơ nhàn hạ
Hương mơ bay cành mơ chỉ lối ra
Đường vào gần mà đường trở lui xa
Bởi nhẹ tâm tư đất trời thêm rộng
…Nhưng tất cả không phải là Hương Tích
Nếu ngoài kia không có một con đò
Mái chèo đưa thế giới ước mơ
Trang 33Qua chốn hữu tình trở về cuộc sống
(Giã từ Hương Tích)
Ở bài thơ này Yến Lan đã không chỉ say sưa với cảnh đẹp mà còn nhắc nhở con người điều quan trọng là cuộc sống hiện tại đang diễn ra trước mắt chứ không nên chìm đắm vào cõi tiên, phật Hay trong một bài thơ khác ta lại thấy vị ngọt đậm của quê hương qua những những món ăn đời thường, dân dã:
Thơm thơm mùi cải nên dưa
Lại nồng men đất sá bừa lật qua
(Nắng sông Đà) Không chỉ có phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ được nhà thơ ghi lại mà qua thơ Yến Lan chúng ta còn thấy được tinh thần yêu nước của nhân dân các vùng trên cả nước Đi theo dấu chân nhà thơ ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh cả nước đều đang lao động chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc Mỗi vùng miền khác nhau, mỗi phong tục tập quán khác nhau nhưng đều có chung một lòng yêu nước
Đối với miền Trung đầy đau thương trong kháng chiến và khắc nghiệt trong cuộc sống thường ngày nhà thơ cũng dành cho những tình cảm gắn bó,
cảm thông Điều này thể hiện qua trường ca Khúc ruột miền Trung với một
tình cảm gắn bó thân thiết:
Quy Nhơn - bé gối đầu rừng, nhớ Tấn Sông - Cầu - con trong lũng thấp nhớ dừa Lòng Tuy Hoà mong núi Nhạn, giữa đồng dưa Quảng Ngãi trú thôn cau nhớ về thành quách
(Trường ca Khúc ruột miền Trung)
Một miền Trung đầy nắng và gió đang hăng say trong lao động và kháng chiến Một mảnh đất địa linh nhân kiệt đang gồng lên chống trả kẻ thù
Trang 34đã được nhà thơ miêu tả và thể hiện bằng một niềm tự hào Những thành phố
của nới đây dù có phải ra đi nhưng vẫn bền những bước ra đi Con người nơi
đây sẵn sang bỏ lại tất cả chứ không chịu sống chung một mái nhà với quân thù:
Giặc có đến nhà không, quán bỏ Lại tản ra trên đường cái tự do
Để dành cho chúng nó, dưới than tro Những mìn ổ và hầm chông du kích Đường trở lại phải lót bằng xác địch
Những câu thơ thể hiện quyết tâm đánh giặc của người miền Trung, điều
đó cho thấy lòng yêu nước của những con người nơi đây thật lớn lao Chính điều đó góp phần rất lớn vào việc giành thắng lợi cho các cuộc kháng chiến Yến Lan đã xúc động và tự hào về một miền của Tổ quốc tuy nhiều gian khổ nhưng luôn kiên cường và vững bước đi lên
Nhưng có thể nói tình cảm Yến Lan dành cho Hà Nội vẫn là nhiều nhất và đằm thắm nhất Đây là quê hương thứ hai của ông nên nó rất gần gũi, thân thiết:
Và Hà Nội bỗng thích nhìn Hà Nội
Mỗi đêm qua thêm đậm vẻ hồng hào
Ôi cái bắt tay nào cũng vội
Mà hơi ấm tay chuyền ấm vẫn lâu
Những câu thơ đầy ấm áp của tình thân, gắn bó và gần gũi đã được nhà thơ viết ra rất tự nhiên như chính cuộc đời vậy Một Hà Nội không chỉ gần gũi
ấm áp tình người mà qua ngòi bút của Yến Lan Hà Nội thật lớn mạnh:
Hà Nội đi trên mảnh vụn đuya – ra
Nghe âm vang trên ngọn thẳm cay già
Lồng bóng dáng đôi dãy nhà đổ lặng
Trang 35Mái ngói cũ hồng lên chiều chiến thắng…
(Hà Nội đinh ninh)
Qua cách miêu tả của Yến Lan ta thấy thể hiện một niềm tự hào về Thủ đô anh dũng, kiên cường trong kháng chiến Mặc dù chiến tranh khốc liệt cũng không thể xoá được vẻ đẹp của những mái cũ tường xưa Hà Nội Một vẻ đẹp đã in dấu ấn thời gian và khảm vào lòng người nên giá trị của nó là bất biến Không chỉ có Yến Lan mới viết về Hà Nội mà có rất nhiều nhà thơ nhà văn đã dành ngọn bút của mình để viết về những vẻ đẹp ở mọi góc độ của Hà Nội Đó là tình cảm cũng dễ hiểu vì Hà Nội là trái tim của cả nước nên mỗi người đều dành cho một tình cảm đặc biệt, đối với người nghệ sĩ thì tình cảm
đó được nhân lên
Đặc biệt trong thơ Yến Lan ta có thể nhận rõ một tình cảm lớn ông dành cho quê hương phía Nam Trong những ngày tập kết ra Bắc ông luôn đau đáu nghĩ về miền Nam Đó cũng là nỗi nhớ quê của nhà thơ Chính vì vậy
mà những bài thơ ông viết về miền Nam rất hay và chứa đựng tình cảm sâu nặng Với những bài thơ kể về chiến thắng ở An Lão, Bình Giã, Vạn Tường, Khe Sanh… Yến Lan tự hào về tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất của quân và dân miền Nam Nhà thơ đã vui sướng đến tột cùng khi nghe tin chiến thắng miền Nam:
Có bao giờ như đêm nay chào xuân
Tôi hoá trăm tôi, tôi mọc nghìn chân
Cùng một lúc xông vào bao thành phố…
Như một ký giả lịch sử nhà thơ ghi lại chiến thắng ở từng địa danh Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng, Đà Lạt, Huế, Sài Gòn… Tất cả ùa ra với một niềm vui vô bờ bến và nhà thơ đã nghẹn lời trong niềm xúc động mà thốt lên:
ơi miền Nam, miền Nam, miền Nam…Đọc những câu thơ của Yến Lan khiến
ta nhớ đến bài thơ Nhớ con song quê hương của Tế Hanh:
Trang 36Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng
Những câu thơ thể hiện một tình yêu quê hương, đất nước gắn bó sâu nặng với niềm tự hào về bức tranh quê thân thương Quê hương như như máu thịt của nhà thơ Tình cảm thể hiện một cách tự nhiên, chân thật càng khiến người đọc cảm thấy xúc động Đó là một tình yêu lớn vượt lên trên mọi suy nghĩ cá nhân Ớ Yến Lan cũng vậy, ông dành tình yêu cho đất nước bởi một thứ tình cảm rất chân thành
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho ta thấy một Yến Lan có một lòng yêu nước tha thiết Ông nếm trải, chia ngọt sẻ bùi với mỗi vùng đất trên khắp đất nước, đau nỗi đau của mọi người và vui với chiến thắng của từng miền quê và
cả nước Lòng yêu nước của ông được bộc lộ một cách tự nhiên và ở nhiều phương diện khác nhau Nhưng đều kết tinh lại ở một tình cảm gắn bó thân thiết, sâu nặng Quê hương đất nước như là máu thịt của nhà thơ vậy Chính
vì thế mà mảng thơ viết về quê hương đất nước của Yến Lan được đánh giá khá cao và có nhiều giá trị về lịch sử
2.1.1.2 Yến Lan - nhà thơ nặng tình với quê hương
Để trả lời cho câu hỏi Nơi nào đẹp nhất? Có nhà thơ đã viết: Nơi tôi đã
được sinh ra và lớn lên Đó là một điều rất tự nhiên bởi khi được hỏi câu hỏi
này thì đa phần sẽ nhận được câu trả lời như vậy Riêng ở người nghệ sĩ thì tình cảm tự nhiên đó như được nhân lên, và nó được bộc lộ rất rõ trong đứa con tinh thần của họ - tác phẩm nghệ thuật Nhà thơ Yến Lan cũng không ngoại trừ trong số đó và ông đã thể hiện tình cảm với quê hương bằng những vần thơ chan chứa, sâu nặng Trong thơ Yến Lan người ta thấy được niềm tự
Trang 37hào của nhà thơ về cảnh sắc, con người và truyền thống đấu tranh anh dũng của quê hương Không những vậy ta còn cảm nhận được và đau nỗi đau của nhà thơ trước cảnh quê nhà đang bị chiến tranh tàn phá
Sinh ra và lớn lên trên vùng quê Bình Định, Yến Lan đã sống, gắn bó
và chứng kiến những thăng trầm của quê hương mình Chính hồn quê với những đặc trưng riêng của vùng miền đã ngấm vào tâm cảm và tiềm thức của ông để sáng tạo nên những bài thơ chan chứa yêu thương Thị trấn Bình Định với thành cổ rêu phong, tiếng vó ngựa rời rạc, với những bến sông đầy trăng
là nơi Yến Lan khởi nguồn cảm hứng thơ cho mình Bóng dáng một thời dưới những con đường lênh láng ánh trăng, cùng mái chùa cổ, nếp nhà tranh là nơi giao lưu hẹn hò của những bạn thơ như Chế Lan Viên, Quách Tấn, Hàn Mặc
Tử, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao…Khi đọc những dòng thơ ông viết về Bình Định không cần mổ xẻ câu chữ phân tích ta cũng cảm nhận nó chở một mối
ân tình sâu nặng:
Đây là chốn nương mây cậy nguyệt
Đàng chờ xe sông, nước ước mong thuyền Tịch dương liễu không biết mình đang biếc Tương tư trời tương tư nhạc triền miên
(Bình Định 1935) Yến Lan đã miêu tả về Bình Định 1935 như thế Một Bình Định rất đẹp
và nên thơ, đẹp như một thiếu nữ đang độ trăng tròn khiến cho mê hoặc lòng người Một Bình Định với không khí trầm buồn cứ trở đi trở lại trong tâm trí Yến Lan những ngày ông tập kết ra Bắc:
Thương tuổi nhỏ ta nghèo
Thầy giáo già nghiêm khắc
Đời phố huyện đìu hiu
Trăng tình lên ngơ ngác
Trang 38Những vần thơ ban đầu
Từ bóng cô hàng xén
Đến tiếng vọng còi tàu
Không một lời hứa hẹn
Khi sáng tác bài thơ Bình Định 1935 Yến Lan mới hai mươi tuổi Trong
một không gian buồn và u ẩn như vậy Yến Lan lại về sống ở một ngôi chùa- chùa Ông, như một kẻ lánh đời khiến cho hồn thơ ông mang một vẻ trầm lắng
và buồn Bên cạnh đó thực tế đất nước đang rơi vào cảnh lầm than cơ cực tạo
ra một diện mạo chung cho toàn xã hội đó là nỗi lo lắng, hoài nghi Do vậy, ở bài thơ này chúng ta có thể hình dung ra bức tranh toàn cảnh Bình Định có đẹp đấy nhưng buồn đến nao lòng ở đó ta thấy hiện lên một bức tranh với
những hồn xa xứ, giá lạnh, lữ thứ, triền miên, cách biệt… Có thể nhận thấy
đang có một màn mây đen bao phủ lấy quê hương Bình Định và cái thực tế ấy
đã đi vào hồn thơ lãng mạn của chàng “kỵ mã” Yến Lan nên nhuốm một màu buồn, u ám đến ngạt thở Mặc dù vậy, vẫn còn đâu đó le lói một ngọn lửa khát vọng âm ỉ vể cuộc đổi đời trong chàng thi sĩ trẻ Điều đó thể hiện ở những câu thơ cuối của bài thơ Vẻ đẹp nên thơ của thành cổ Bình Định còn được thể
hiện rõ trong bài thơ Bến MyLăng, một bài thơ khơi nguồn sáng tạo cho hồn
thơ Yến Lan Đây là một cái bến huyền ảo đầy vang bóng trên thi đàn, nó gắn với tên tuổi của nhà thơ khi người ta nhắc đến Đây là một cái bến có thật và
nó tên là bến Trường Thi, khi vào thơ nhà thơ đã đặt cho nó một cái tên đầy thi vị Bến sông ấy có một mối duyên sâu nặng với nhà thơ, nó là nơi chứng kiến nhà thơ ra đời:
Quê ngoại bên kia bãi cát vàng
Mẹ tôi lỡ chuyến đò ngang
Cơn đau trở dạ không giường chiếu
Tôi lọt lòng mẹ ra giữa bãi trăng ”
(Bệnh trăng)
Trang 39Bài thơ tràn ngập ánh trăng và nhà thơ đã tự nhận mình mắc “bệnh
trăng” Trở lại với Bến My Lăng, chúng ta thấy được vẻ đẹp nên thơ, lãng
mạn ấy chính là vẻ đẹp của quê hương trong lòng nhà thơ Một vẻ đẹp đến
nao lòng khiến cho người đọc không khỏi xao xuyến đến mức ông lão cũng chẳng buồn câu mà say sưa với cảnh với tình Đây là vẻ đẹp của quê hương
trong hình dung của tác giả những năm trước cách mạng tháng Tám Nhà thơ với tâm hồn lãng mạn đưa người đọc vào một thế giới lung linh ngợp ánh trăng Cái bến đó đã ám ảnh và trở lại nhiều lần trong thơ ông Đến những
năm cuối đời Yến Lan có bài Nhớ Bến My Lăng, nhưng lúc này bến sông xưa
đã hiện thực hơn và gần với cuộc sống hơn Mặc dù trong bài Bến My Lăng
gợi lên cho ta một phong cảnh, một không gian đẹp nhưng buồn và cô quạnh
Nó như giam hãm, khiến ai lạc vào đó khó có thể thoát ra được Hình ảnh về
quê hương Bình Định vẫn đang chìm trong mây mờ, sương hoa
Nhưng khi đến bài Bình Định 1945 thì hình ảnh Bình Định đã thay đổi
và khoác lên mình một chiếc áo mới:
Không, Bình Định đã qua cơn sốt rét
Nước da vàng lột vỏ cây khô
Dấu xe ngựa đã in đầy ngõ kiệt
Trăng lạc loài gặp giữa đêm thu
(Binh Định 1945) Chúng ta có thể nhận thấy rõ ở đây một sự thay đổi nhiệm mầu, dường như có một sức mạnh thần kỳ đã làm chuyển hoá thay đổi vạn vật và lòng người Luồng gió Cách mạng đã thổi vào quê hương nhà thơ một sức sống mới, có sức cuốn hút lớn, nó đã làm rung động mọi trái tim, làm cho Bình Định bừng sáng lên sau bao năm tháng chìm lắng trong tăm tối Bịnh Định
hôm nay không còn: Nam - quách sầu, Đông- phố quạnh, Tây - môn xa mà là
một Bình Định như được thay da đổi thịt:
Trang 40Đoàn áo vải dẫn đầu hàng tự vệ
Nắng rung trên những mái rạ vá quàng…
(Bình Định 1945)
Đó cũng là tình hình chung của rất nhiều vùng quê khác, không chỉ riêng
Bình Định Khi Cách mạng tháng Tám chưa thắng lợi dân ta còn sống trong u
mê, hoảng loạn, hoài nghi Do vậy, lòng yêu nước chỉ là một giá trị tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, nó chỉ như đốm than âm ỉ cháy Nhưng sau Cách mạng người ta nhìn nhận rõ lí tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và có niềm tin vào
sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Chính điều này đã tạo nên những thay đổi lớn trong tư tưởng của nhân dân và cả những người làm nghệ thuật Từ con người đến cảnh vật như có một diện mạo mới, và Yến Lan
đã viết: Đây mùa thơ của dân chủ cộng hoà hay nhà thơ Tố Hữu một nhà thơ cách mạng đã một thời chìm đắm trong những hoài nghi, tăm tối nhưng khi
bắt gặp lí tưởng của Đảng ông như được hồi sinh và choáng ngợp:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
(Từ ấy-Tố Hữu)
Hoà cùng niềm vui chung của đất nước, của quê nhà, nhà thơ thấy tâm hồn rạo rực một sức sống mới, một cuộc đời mới:
Tôi đi giữa những vườn gòn thẳng tắp
Ôm trong lòng biển lớn vỗ non cao
Chính hiện thực tranh đấu và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã thức tỉnh những mơ mộng lãng mạn, hoài nghi trong lòng nhà thơ:
….Bóng nha môn nằm chắn lối ân tình
… Hồi mõ ngục hết sao trăng tình tự
Hiện thực đau thương đã khiến cho con người không thể nào thờ ơ được, đặc biệt là những người có tâm hồn nhạy cảm như nhà thơ thì lại càng