1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Kinh tế quốc tế

387 1,4K 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 387
Dung lượng 11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở giác độ đó, Kinh tế quốc tế có thể được định nghĩa như sau: Kinh tế quốc tế là một môn khoa học nghiên cứu những vấn để phân phối và sử dụng tài nguyên giữa các nền kinh tế, giữa các q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH GS-TS HOÀNG THỊ CHỈNH - PGS-TS NGUYỄN PHÚ TỤ

THS NGUYÊN HỮU LỘC

GIáo trình

ik NHA XUAT BAN THONG KE

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

GS-TS HOANG THI CHINH - PGS-TS NGUYEN PHU TU

THS NGUYEN HUU LOC , Chủ biên: GS-TS HOÀNG THỊ CHỈNH

Trang 5

“ Chưa bao giờ việc nghiên cứu về Kinh tế học quốc tế

lại quan trọng như ngày nay Thông qua trao đổi, buôn bán

quốc tế về hàng hóa và dịch vụ, giao lưu tiền tệ quốc té, các

nên kinh tế của các nước khác nhau trở nên gắn bó chặt chẽ

với nhau hơn bao giờ hết”

* Kinh tế học quốc tế sử dụng những phương pháp phân

tích cơ bản như những ngành khác của Kinh tế học, bởi vì

động cơ và hành vỉ của các cá nhân và các hãng trong thương

mại quốc tế cũng giống như khi tiến hành giao dịch ở trong

một nước ”

Paul Krugman - Maurice Obstfeld

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

“Kinh tế quốc tế” được biên soạn lần đầu uào năm 1994 uà do trường Đạt học kinh tế TP Hồ Chí Minh xuất bản Sau đó được chỉnh sửa uà đưa Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh ấn hành ào năm 1995 Sau 2 lần thông qua Hội đông khoa học chuyên ngành (1996) va Hội đông khoa học trường (1998), “Kinh tế quốc tế” được công nhận là giáo trình chuẩn chính thúc để giảng dạy môn Ninh tế quốc tế trong nhà trường Tại điều 9 trong Quyết định của Chủ tịch Hội đông khoa học - đào tạo trường ngày 27/711998

ghi rõ: “Các tài liệu học tập khác chỉ được coi là tài liệu

tham khảo của môn học này” Sœu đó, “Kinh tế quốc tế” được tái bản lần thú 2 do Nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1998 Như uậy, bắt đâu từ khóa 18, “Kinh tế quốc tế” đã được đưa

ào giảng dạy như một môn bắt buộc cho tất cả cúc ngành thuộc trường Đại học binh tế TP Hô Chi Minh Không những thế, giáo

trình này còn được tham khảo, nghiên cứu uà giảng dạy ở một số

trường đại học, cao đẳng khối kinh tế trong củ nước

Trước những thay đổi lớn của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là

xu hướng toàn cầu hóa uà hội nhập đã tác động mạnh mẽ đến

nên kinh tế của mỗi quốc gia uà do đó nhu câu nghiên cứu, học tập “Kinh tế quốc tế” cùng cân thiết hơn bao giờ hết

Ở lân tái bản này, chúng tôi uẫn tiếp tục sửa chữa những thiếu sót uà bổ sung một số uấn đề mới, đặc biệt là những diễn biến của nên kinh tế thế giới trong những năm gân đây đã tác động đến kinh tế quốc quốc tế, đưa uào một số tình huống mới uà

có thay đổi một số nội dung, kết cấu ở một số chương

Giáo trình được biên soạn dựa trên sự tham khỏo một cách

7

Trang 8

nghiêm túc uà có hệ thống tài liệu giảng dạy môn học này ở

nhiều nước Trên cơ sở đó rút ra những nội dung phù hợp để đưa uào giảng dạy ở Việt Nam, nhằm đưa nội dung “Kinh tế quốc tế”

hòa nhập uào chương trình đèo tạo chung của thế giới

Nội dung cuốn súch được phân công biên soạn nhu sau:

GS-TS Hoàng Thị Chỉnh, Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế quốc tế

chủ biên uà bién soan cde chuong I, I, IH, IV va V

PGS-TS Nguyễn Phú Tụ biên soạn cúc chuong IX, X va XI

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Lộc uà GS-TS Hoàng Thị Chỉnh biên

soạn các chuong VI va VII

Thac s¥ Nguyén Hitu Loc va PGS-TS Nguyén Phi Tu bién

soan chuong VIII

Ngoài ra còn có sự đóng góp tích cực của các giúo uiên trong

Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Lê

; Để tiếp thu tốt những kiến thúc của giáo trình Kinh tế Quốc

tế, chúng tôi cũng đã biên soạn cuốn Bài tập Kinh tế Quốc tế bao gôm các câu hỏi ôn tập, các bài tập có lời giải mẫu uà hai đề thí

trắc nghiệm để sinh uiên tham khảo

_ Mặc dù đã có những sửa chữa uà bổ sung song chắc chắn

giáo trình Kinh tế Quốc tế uẫn còn những khiếm khuyết Chúng

tôi rất mong nhận được thêm những ý kiến đóng góp để tài liệu

này được hoàn chỉnh hơn nhằm giúp các bạn độc giả có một cuốn sách bố ích để nghiên cúu uè học tập

Thành phố Hồ Chí Minh, 6-2005

Các tác giả

Trang 9

CHUONG I:

NHUNG VAN DE CHUNG VE

KINH TE QUOC TE

I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VE MON HOC

1 Khái niệm và vị trí môn học

Kinh tế quốc tế nói đúng hơn là Kinh tế học quốc tế (Interna- tional Economics) nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa các nước, các nền kinh tế và các khu vực kinh tế trên thế giới

Xét về quá trình hình thành, Kinh tế quốc tế được sinh ra từ Kinh tế học, là một bộ phận của Kinh tế học.vNhưng với sự phát triển nhiều mặt, Kinh tế quốc tế được tách ra như một môn khoa

học độc lập

Ở giác độ đó, Kinh tế quốc tế có thể được định nghĩa như sau: Kinh tế quốc tế là một môn khoa học nghiên cứu những vấn để phân phối và sử dụng tài nguyên giữa các nền kinh tế, giữa các quốc gia thông qua con đường mậu dịch, nhằm đạt được sự cân đối cung

- cầu về hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ trong phạm vi mỗi nước và trên tổng thé nén kinh tế toàn cầu

Khái niệm “mậu dịch” trong Kinh tế quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng chẳng những chỉ bao gồm trao đổi hàng hóa, dịch vụ

mà còn có sự di chuyển nguồn lực sản xuất, tài chính tiền tệ giữa các quốc gia Do vậy, một cách khái quát: “Kinh tế quốc tế nghiên cứu tính quy luật của mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia thông qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ, sự vận động các yếu tố sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và sự thanh toán giữa các quốc gia

Cũng ở khía cạnh tương đối còn trừu tượng trên, người ta coi Kinh tế quốc tế là một môn khoa học nghiên cứu sự phụ thuộc về

Trang 10

mặt kinh tế giữa các quốc gia Nó phân tích dòng chảy các yếu tế sản xuất, sản phẩm, dịch vụ và tiền tệ giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới, các chính sách trực tiếp để điều chỉnh dòng chảy đó và tác động của chúng đến lợi ích mỗi quốc gia và lợi ích nền kinh tế thế giới:

Nhưng nếu nói một cách cụ thể hơn, theo nội dung môn học thì

Kinh tế quốc tế nghiên cứu lý thuyết và chính sách mậu dịch quốc tế dựa trên cơ sở của Kinh tế học Như vậy, Kinh tế quốc tế có thể coi

là một môn khoa học ứng dụng của Kinh tế học

E¡nh tế quốc tế là một môn khoa học cần thiết cho những ai

nghiên cứu về kinh tế nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại

thương và kinh tế học phát triển Với xu thế quốc tế hóa nên kinh

tế thế giới hiện nay, Kinh tế quốc tế càng có một vị trí quan trọng Bởi vì không có bất kỳ một chính sách kinh tế nào, một biến động chính trị - xã hội nào xây ra ở nước này mà lại không ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế các nước khác Do đó, sinh viên kinh tế cần phải được trang bị cơ sở lý luận và thực tiễn để hiểu về các mối quan hệ đó, hiểu được những gì đang diễn ra trên bình diện thương mại thế giới và ảnh hưởng của nó đến người sản xuất, người tiêu dùng trong mỗi quốc gia

Cùng với sự ra đời của Rinh tế học, Kinh tế quốc tế đã có một

lịch sử phát triển lâu dài, hơn hai thế kỷ qua và ngày càng được bổ

sung, hoàn thiện phù hợp với sự thay đổi của nên kinh tế thế giới Quá trình phát triển của môn khoa học này phải kể đến sự đóng góp rất lớn của nhiều kinh tế gia nổi tiếng như: Adam Smith, David

Ricardo, John Stuart Mill, Alfred Marshall, Eli Heckscher, Bertil Ohlin, Paul Samuelson, Dominick Salvatore, Paul Krugman, Robert

J Carbaught

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học

Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế quốc tế chính là nền kinh tế thế giới Tuy nhiên không phải nghiên cứu nó ở trạng thái tĩnh mà

là ở trạng thái động, tức là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các

nước thông qua con đường mậu dịch, liên kết, đầu tư và chuyển giao công nghệ

10

Trang 11

Nghiên cứu Kinh tế quốc tế cần giải quyết các nhiệm vu sau:

¢ Trang bi cho sinh viên kiến thức để hiểu biết về một nền

kinh tế thế giới hiện đại

® Dựa trên kiến thức của Kinh tế học để phân tích lợi ích của

mậu dịch tự do và các chính sách hạn chế mậu dịch

® Phân tích các hình thức, lợi ích của việc liên kết kinh tế trên bình diện quốc tế và tác động của sự di chuyển nguồn lực quốc tế với nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư

¢ Phân tích khía cạnh tài chính của mậu dịch quốc tế nhằm

thấy được sự vận động của thị trường tiền tệ giữa các nước, các khu vực trên thế giới

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học

Nội dung của Kinh tế quốc tế bao gồm những vấn để chủ yếu sau:

Phần I Lý thuyết về mậu dịch quốc tế

Thông qua lý thuyết cổ điển và hiện đại về mậu dịch quốc tế, phân này cần phải trả lời các câu hỏi sau đây:

1 Cơ sở hai quốc gia giao thương với nhau là gì?

2 Mô hình mậu dịch của hai quốc gia đó?

3 Lợi ích mà mỗi quốc gia thu được?

Phần II Chính sách mậu dịch quốc tế

Phần này nghiên cứu những tác động của Chính phủ vào mậu dịch tự do thông qua các hình thức thuế quan và phi thuế quan Một vấn đề cần lưu ý là bằng công cụ của Kinh tế học, ở đây chỉ phân tích những tác động của các chính sách đó đối với người sản xuất, đối với người tiêu dùng và đối với quốc gia nói chung, tức là phân

tích một cách khoa học cơ sở lý luận của các chính sách mậu dịch

chứ không phải đi vào tác nghiệp cụ thể :

Phân III Liên kết kinh tế và sự đi chuyến nguồn lực quốc tế Nghiên cứu phần này cho thấy lợi ích của việc liên kết kinh tế

11

Trang 12

giữa các nước trong khu vực - một trong những thay đổi lớn của nên

kinh tế thế giới hiện đại Đểng thời thông qua phân tích cân bằng cục bộ sự di chuyển tư bản và lao động quốc tế cho thấy những tác động về mặt kinh tế - xã hội đối với nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, đến nước có người di cư và nước có người nhập cư

Ngoài ra, 6 phan này cũng để cập đến những vấn để kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát triển, những khó khăn đang đặt

ra và những đòi hỏi chính đáng của các nước này

Phần IV Tài chính quốc tế

Nội dung phần này phân tích khía cạnh tài chính của mậu dịch quốc tế, bao gồm thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán và hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế

Như vậy, nội dung môn học Kinh tế quốc tế nghiên cứu lý luận mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ở cả hai khía cạnh vi mô và

vĩ mô Khía cạnh vi mô thể hiện ở chỗ nghiên cứu lý thuyết mậu dịch quốc tế và lý thuyết của các chính sách mậu dịch vì nó liên quan đến sự tạo thành giá cả sản phẩm so sánh cân bằng chung khi hai quốc gia giao thương với nhau, tức là nghiên cứu lý thuyết giá

cả, coi mỗi quốc gia như một đơn vị kinh tế riêng lẻ bao gồm cả sản xuất lẫn tiêu dùng Còn tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán lại nghiên cứu vấn đề trao đổi, thu, chỉ giữa các quốc gia, một sự thay đổi các chính sách điều chỉnh ở đây sẽ tác động lên mức thu nhập

và giá cả tổng quát trên toàn thế giới Chính điều này đã làm cho Kinh tế quốc tế thể hiện khía cạnh của Kinh tế học vĩ mô

Cũng như các môn học khác, nghiên cứu Kinh tế quốc tế dựa

trên phương pháp cơ bản là duy vật biện chứng và các phương pháp đặc thù khác như thống kê - phân tích, mô hình hóa; suy dién va quy nạp, kiểm soát bằng thực nghiệm Trong đó, phương pháp

kiểm soát bằng thực nghiệm là rất quan trọng Bản chất của phương

pháp này là đưa ra những giả thuyết nhằm đơn giản hóa mô hình

mà chúng ta nghiên cứu Chỉ bằng cách đó mới có thể tìm hiểu các

quy luật kinh tế trong một thế giới cực kỳ phức tạp với giả định rằng trừ hiện tượng đang nghiên cứu, còn lại rất cả các hiện tượng khác đều không thay đổi

12

Trang 13

Thí dụ, khi nghiên cứu lý thuyết mậu dịch quốc tế với hàng trăm quốc gia, sản xuất ra hàng ngàn loại sản phẩm và sử dụng rất nhiều yếu tố sản xuất, người ta phải đơn giản hóa thực trạng đó trong một mô thức với nhiều giả thiết Mô thức đơn giản hóa ở đây

là một thế giới chỉ gồm hai quốc gia, hai loại sản phẩm và hai yếu

tố sản xuất với những giả thuyết như:

— Cạnh tranh hoàn toàn

— Mậu dịch tự do

- Không có phí tổn chuyên chở v.v

Đôi khi người ta còn gọi phương pháp này là phương pháp

những nhân tố khác không thay đối hay phương pháp trừu tượng

hóa

Ngoài ra, khi nghiên cứu Kinh tế quốc tế cũng phải chú ý đến cách tiếp cận có tính đến các đặc điểm như: tính chủ quan, tính không chắc chắn, tính thiếu chính xác trong đời sống kinh tế hàng

ngày

4 Mối liên hệ với các môn học khác

Trước hết, Kinh tế quốc tế có liên quan trực tiếp đến Kinh tế học, bao gồm Einh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô Dựa vào kiến thức của Kinh tế học để phân tích bằng định lượng các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia thông qua con đường mậu dịch, đầu tư, chuyển giao công nghệ, trao đổi tiền tệ trên thị trường ngoại hối v.v Đặc biệt, nhờ sử dụng các công cụ của Kinh tế học cho thấy rất rõ lợi ích của mậu dịch tự do, các tác động cân bằng cục bộ, cân bằng tổng quát đến sản xuất, đến tiêu dùng, đến lợi ích mỗi quốc gia của các hình

thức hạn chế mậu dịch, các hình thức di chuyển tư bản và lao động

quốc tế v.v

Như vậy, chính Kinh tế học làm cơ sở để nghiên cứu những vấn

đề lý luận cơ bản của Kinh tế quốc tế Mỗi một khía cạnh của Kinh

tế quốc tế đều được xem xét, giải thích bằng kiến thức của Kinh tế học Chính vì lẽ đó, đúng ra Kinh tế quốc tế phải gọi là Kinh tế học quốc tế (vì nguyên bản tiếng Anh 1a International Economics)

Trang 14

Ngoài ra, Kinh tế quốc tế liên quan đến nhiều môn học khác như: Địa lý kinh tế thế giới; Kinh tế khu vực; Lịch sử các học thuyết kinh tế; Kinh tế phát triển v.v Chính những môn học này sẽ trang bị những kiến thức cơ bản, làm nên tảng để sinh viên tiếp thu tốt môn Kinh tế quốc tế”

Ở đây, cũng cần phân biệt Kinh tế quốc tế với một môn học, đó

à “Quan hệ kinh tế quốc tế” hay “Kinh tế đối ngoại”

Nếu như Kinh tế quốc tế dựa vào lý thuyết của Kinh té hoc dé phân tích các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia chủ yếu về mặt định lượng thì Kinh tế đối ngoại lại phân tích ở khía cạnh định tính nhiều hơn Kinh tế quốc tế trang bị cho sinh viên cơ sở lý luận để hiểu được bản chất của các mối quan hệ kinh tế quốc tế chứ không

đi vào tác nghiệp, giải quyết từng vấn đề cụ thể Vì lẽ đó, sau khi học kinh tế quốc tế, sinh viên chuyên ngành ngoại thương có thể -học Kinh tế đối ngoại vì chính Kinh tế quốc tế đã trang bị một nền tảng lý luận cơ bản để nghiên cứu sâu hơn ở Kinh tế đối ngoại, giúp

họ có những kiến thức nhằm phân tích những vấn đề cụ thể như: Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình, vô hình; tình tình đầu tư quốc tế, Chính sách ngoại thương của các nước trên thế giới; Đường lối đối ngoại của Việt Nam

Thực tế cho thấy, sau khi học Kinh tế quốc tế, sinh viên tiếp thu tốt hơn Kinh tế đối ngoại vì họ đã hiểu rất rõ bản chất của vấn

đề thông qua những phân tích của Kinh tế học

Riêng đối với sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh

tế quốc tế còn được học thêm khi đi vào giai đoạn sau (gọi là Kinh tế

quốc tế II) Lúc này các phân tích mang tinh định lượng nhiều hơn,

sẽ mở rộng một số lý thuyết mà ở giai đoạn đầu chưa có

II NHỮNG THAY ĐỔI LỚN CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN MẬU DỊCH QUỐC TẾ

Đã nghiên cứu Kinh tế quốc tế không thể không biết đến những biến đổi sâu sắc của nên kinh tế thế giới từ đầu thập niên 80 đến nay Có thể chỉ ra 8 đặc điểm sau:

14

Trang 15

'1 Sự bùng nổ của khoa học công nghệ thông tin

Một trong những yếu tố làm thay đổi về chất nên kinh tế toàn câu vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI chính là sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học công nghệ Con người đã liên tiếp phát minh ra những đột phá trong các lĩnh vực như: tin học, sinh học, vũ trụ học, hải dương học, năng lượng, vật liệu, bảo vệ môi trường, khoa học quản lý

Chính sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã

hình thành một nền kinh tế mới, đó là kinh tế trí thức, một nền kinh tế mà dựa vào trí thức con người là chủ yếu thay vì dựa vào các yếu tố sản xuất truyền thống là sức lao động và tiên vốn Sự phát triển nên kinh tế trí thức làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội toàn thế giới

Trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghệ thông tin có

một bước phát triển mạnh mẽ nhất, số người sử dụng Internet hiện nay trên thế giới lên đến con số gần một tỷ Những ưu thế về tốc độ

và giá thành chính là nguyên nhân thành công của hệ thống siêu mạng này Công nghệ thông tin đã được ứng dụng rộng rãi trong mọi

mặt hoạt động của con người, từ sản xuất đến đời sông, từ kinh tế đến

xã hội, từ công nghiệp đến dịch vụ Thí dụ, chỉ riêng trong lĩnh vực thương mại, việc sử dụng máy tính đã làm cho những phương thức giao dịch trở nên rất phong phú như: giao dịch 24/24 giờ; giao dịch theo chương trình; giao dịch tại chỗ; thương mại diện tử v.v Chính

sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm cho các nước trở nên xích lại gần nhau hơn Có thể coi công nghệ thông tin như một phương tiện, một công cụ, để thực hiện quá trình toàn cầu hóa

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, một mặt thúc

đẩy nền kinh tế thế giới tăng trưởng, tạo ra cơ hội cho những nước

có thể mạnh về trí thức đồng thời có thể đào sâu thêm sự bất bình

đẳng về kinh tế, đặt những nước chậm phát triển trước nhiễu thách

thức mới

2 Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới

“Thế giới những năm gần đây trở nên xích lại gần nhau hơn”

Trang 16

Đó là nhận xét chung của nhiều nhà phân tích kinh tế Thông qua

mau dịch, đầu tư và chuyển giao công nghệ, các nước có quan hệ với nhau nhiều hơn, gắn bó nhiều hơn Ngày nay, không một nước nào dám tuyên bố một cách hùng hồn rằng muốn phát triển kinh tế mà đóng cửa lại, bởi vì không có bất cứ một biến động xảy ra ở nước này

mà lại không ảnh hưởng đến kinh tế các nước khác Thí dụ sự lên giá tột đỉnh của đồng Yên vào tháng 6, tháng 7 năm 1995 đã làm

cho các nước vay nhiều ODA của Nhật Bản như Trung Quốc, Indo- nesia gặp rất nhiều khó khăn Hay cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan đầu năm 1997 chẳng những làm chao đảo đến nền kinh tế của một loạt các nước Đông Nam Á mà còn ảnh hưởng đến nhiều nước khác trên thế giới Chính vì thế, ngày nay người ta thường nói mối quan hệ kinh tế không phải chỉ là giữa nước này với nước khác,

mà là giữa một nước với “phần còn lại của thế giới” “Khái niệm”

phân còn lai của thế giới - the rest of the world được phổ biến rộng

tháng 9 năm 2001 điễn ra ở Mỹ, là chiến tranh lrắc, là bệnh SAR,

là dịch cúm gà, là trận động đất và sóng thần vào cuối năm 2004 tất cả đã có ảnh hưởng rất lớn đến nên kinh tế mỗi nước và nền kinh tế toàn cầu

3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới không ổn định và

có xu hướng hồi phục

Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á năm 1997, tốc độ tăng trưởng của các nên kinh tế năng động Đông

Á đã giảm hẳn, làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của

nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, nhờ vào tăng trưởng xuất khẩu,

nhu cầu nội địa và một loạt các chính sách được áp dụng mà bước qua năm 2000, nền kinh tế Châu Á đã có bước tăng trưởng khả quan

là 6,7% Cũng trong năm 2000, kinh tế Mỹ - nên kinh tế lớn nhất thế giới đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục là 5,2%; EU cũng đạt tốc

16

Trang 17

độ tăng trưởng là 3,4% Tất cả đã làm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2000 đạt gần 4,0% Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9 tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã giảm hẳn, chỉ còn 1,3%, bước qua năm 2002 tăng trưởng chậm chạp đạt gần 2,0% Các chính sách kinh tế hiệu quả của nhiều nước đã góp phần tạo nên sự phục hồi

của năm 2003 với tốc độ tăng trưởng là 3,2% và năm 2004 là 4,5%

mặc dù trong thời gian đó có nhiều biến động về chính trị - xã hội như cuộc chiến ở Apganistăng, ở rắc, bệnh SAR, dịch cúm gà Như vậy, có thể đánh giá là nên kinh tế thế giới đang trong quá trình phục hồi tuy mức độ là không giống nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế và xu hướng này còn tiếp tục phát triển vì chính phủ ở nhiều nước đã có nhiều cố gắng trong việc gia tăng chỉ tiêu, kiểm chế lạm phát và mở cửa hơn về thương mại

Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới (%)

z 1995 |1996 |1997 | 1998 | 1999 | 2000] 2001] 2002 Thế giới 2,82 | 3,22 | 3,47] 2,17| 2,91] 3,95) 1,28] 1,90

Nguôn: World Development Indicators 2004

Tuy nhiên cơn động đất và sóng thần của cuối năm 2004 đã ảnh không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế ở các nước Đông Nam

Á và Nam Á, nhất là ngành du lịch vốn là lợi thế của khu vực này Bên cạnh đó, kinh tế Mỹ, nên kinh tế lớn nhất toàn cầu cũng đang phải đối đầu với bao nổi khó khăn, kinh tế Nhật thì phục hồi chậm chạp; kinh tế EU cũng không mấy khả quan Còn với Trung Quốc, nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm qua

cũng đã đến lúc phải “hạ nhiệt” để không rơi vào tình trạng quá

nóng tất cả có thể sẽ làm cho độ tăng trưởng của nền kinh tế thế

giới chậm lại trong những năm tới đây

Trang 18

4 Kinh tế thị trường chiếm ưu thế và đang trở thành dòng chính của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế kế hoạch tập trung cứng nhắc trước đây của các

nước trong phe XHƠN đã tỏ ra không còn phù hợp do những nhược

điểm của nó Vì vậy hầu hết các nước này đã chuyển sang nền kinh

tế thị trường tuy với mức độ và kết quả khác nhau Nổi bật trong số

đó là Trung Quốc và Việt Nam, hai nước này được thế giới đánh giá

cao Với 1,3 tỷ dân và diện tích tự nhiên đứng thứ 4 trên thế giới,

hiện Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng Sau

gần 20 năm cải cách tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm đạt

trên 9% Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1986, công cuộc đổi mới mà một đặc trưng của nó là sự chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường

đã đưa nước ta vượt qua giai đoạn lạm phát Giá trị đồng tiền và tỉ giá hối đoái đi vào ổn định Các chỉ tiêu kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng cao (bảng 1.3), chấm đứt tình trạng suy thóai của một số

ngành và khu vực kinh tế Đời sống của nhân dân đã giảm bớt khó

khăn Rõ ràng, Việt Nam đang vững bước đi lên, hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới với một giai đoạn mới Giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam giai đoạn 1995-2004

Nguôn: Kinh tế 2004-2005 “VN và Thế giới” (ước tính từ số

liệu của Tổng cục Thống kê; Báo cáo của Chính phủ và của Bộ kế hoạch - đầu tư)

18

Trang 19

Sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Dong Nam A năm 1997, nền kinh tế Việt Nam cũng bị chịu tác động ít nhiều, nhất là xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên với sự

cố gắng của cả nước, Việt Nam đã lấy lại được phong độ của sự phát triển, mặc dù trong bối cảnh hết sức phức tạp của nên kinh tế - chính trị - xã hội trên thế giới Các chỉ tiêu kinh tế, đặc biệt năm

2004 đệu có tốc độ tăng trưởng cao (bảng 1.2)

Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường không thể diễn ra ngay lập tức ở tất cả các nước và không thể tránh khỏi

những hậu quả như: tăng lạm phát, thất nghiệp, suy thóai, phân hóa xã hôi đó cũng là cái giá phải trả cho công cuộc cải cách Chắc

chắn những mặt tích cực của kinh tế thi trường sẽ dân phát huy được tác dụng, khẳng định con đường đi đúng đắn mà các nước đã

lựa chọn

Nền kinh tế thị trường gắn liễển với việc mở cửa ra bên ngoài của các quốc gia Nhờ đó, mậu dịch quốc tế có nhiều điều kiện để phát triển Xu thế phi chính trị hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế

ngày một tăng lên

5 Quan hệ tay ba giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản chuyển sang một giai đoạn mới

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa các nước Nam

- Bắc được điều chỉnh và có xu hướng xích lại gần nhau hơn Trong

khi đó, tam giác kinh tế tay ba giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản vốn là

đồng minh thân thiết của nhau trước đây, nay lại trở nên mâu

thuẫn gay gắt Đặc biệt là trong mậu dịch, trong các sản phẩm kỹ thuật cao và trong tài chính tiền tệ Thí dụ, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất của WTO tổ chức tại Singapore tháng 12 năm

1996, Mỹ muốn giải phóng công nghệ thông tin vào năm 2000,qua

đó tất cả sản phẩm tin học và điện tử sẽ được giảm thuế, song BU chỉ muốn cởi trói thị trường dịch vụ viễn thông Hoặc EU cũng đã tranh chấp kịch liệt với Mỹ xung quanh điều luật Hem-xơ-bơ-tơn về đầu tư ở Cu Ba Mối quan hệ giữa Mỹ và Nhật Bản vốn gay gắt trong thị trường xe hơi và phụ tùng xe hơi, nay lại nổi lên trong tranh chấp giữa 2 hãng phim Kodak và Fuji Hoặc Mỹ ép buộc Nhật

Trang 20

Bản phải mở cửa thị trường gạo cũng là vấn để nan giải trong quan

hệ mậu dịch giữa hai nước bấy lâu nay

- Tình trạng xuất siêu của Nhật làm cho Mỹ và các nước khác phải gánh chịu cũng đang là những mâu thuẫn gây gắt ở các nước

này Chính vì thế mà ngay từ Hội nghị cấp cao các nước 67 + 1 vào

tháng 6 năm 1997 ở Denver (Mỹ), nhiều nước, đặc biệt là Mỹ yêu cầu Nhật phải có những chính sách vận hành nền kinh tế, khuyến

khích tiêu dùng trong nước để giảm bớt mức độ xuất siêu của mình

Cụ thể, Mỹ đòi hỏi Nhật Bản phải mở cửa thị trường hơn nữa đối với các sản phẩm như vô tuyến viễn thông, máy móc y khoa, dược phẩm, xây dựng nhà cửa, lĩnh vực tài chính để cho người dân Nhật được quyền chọn lựa sản phẩm tiêu dùng chất lượng cao với

giá thành hạ hơn của Mỹ

Với chính sách tăng thuế từ 8% đến 30% đánh lên 10 sản phẩm thép nhập khẩu vào Mỹ đầu năm 2009 đã làm EU và Nhật Bản phản ứng gây gắt Các nước này tuyên bố sẵn sàng trả đũa Mỹ bằng cách tăng thuế đối với mặt hàng của Mỹ nhập khẩu vào thị trường của họ, đồng thời hạ thấp mức thuế đối với mặt hàng mà họ xuất khẩu vào Mỹ Hoặc với chính sách tài trợ xuất khẩu của Mỹ, kể từ tháng 3 năm 2004, EU đánh thuế trừng phạt õ% lên các mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ, sau đó mức thuế này đã tăng lên đến 12% và cứ mỗi tháng lại tăng 1% cho đến khi Mỹ bỏ tài trợ xuất khẩu mới thôi Gần đây (cuối năm 2004), EU và Nhật Bản cũng đã thắng khi

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng Mỹ đã sử dụng luật chống phá giá một cách bất hợp pháp để tài trợ cho các công ty Mỹ Lệnh trừng phạt này có thể khiến Mỹ bị thiệt hại ban đầu khoảng

150 triệu USD Trong khi đó, về phía mình, Mỹ cũng tố cáo EU đá

không công bằng trong việc tài trợ cho hãng sản xuất máy bay

Airbus để cạnh tranh với Boeing của Mỹ

Cuộc chiến giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản càng tỏ ra quyết liệt

và nan giải hơn khi đồng đôla Mỹ đã giảm đến mức thấp nhất trong vòng 9 năm qua Điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng

kinh tế của EU (có thể sẽ giảm từ 1,8% đến 1,5% trong năm nay)

Còn với Nhật, trước việc đồng đôla mất giá đã làm cho dự trữ ngoại

20

Trang 21

tệ bằng đồng đôla Mỹ (800 tỷ USD) giảm hẳn, đó là chưa kể xuất khẩu bị giảm trong khi nhập khẩu lại tăng Trước tình hình đó, EU

và Nhật bản đã họp khẩn cấp yêu cầu Mỹ phải có chính sách để nâng giá đồng dôla Mỹ Nhưng Mỹ lại cố tình lờ đi vì đồng đôla mất giá sẽ làm giảm bớt gánh nặng nợ nần của Mỹ đông thời có cơ hội

để tấn công vào nền kinh tế EU và Nhật Bản, vốn là những đối thủ cạnh tranh mạnh (nhất là EU) hiện nay của Mỹ Rõ ràng đồng đôla

Mỹ quá yếu đã tác động không nhỏ đến nên kinh tế thế giới và làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các cường quốc kinh tế thuộc tam giác

tay ba Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản

Xét ở một giác độ khác, mâu thuẫn giữa những cường quốc kinh

tế lớn nhất thế giới này lại có tác động phụ tích cực, kích thích nền kinh tế thế giới phát triển, thể hiện ở:

® Sự cạnh tranh nhau về kỹ thuật đã cho ra đời liên tục các sản

phẩm mới tân tiến hơn

® Gây sức ép lẫn nhau, góp phần bãi bỏ một phần hàng rào bảo

hộ, tạo điều kiện để mậu dịch tự do hóa hơn

® Do cạnh tranh nhau, mỗi nước hình thành một khu vực kinh

tế riêng của mình, làm cho thị trường thế giới được trải rộng, cuốn hút cả những nước kém phát triển hơn vào cuộc đua, tạo điều kiện

để những nước này có được khả năng phát triển kinh tế vốn lạc hậu của mình nhờ các chính sách đầu tư của các nước lớn

6 Liên kết kinh tế theo khu vực đang trở thành mô hình chủ yếu của nền kinh tế thế giới

Kinh tế khu vực được phát triển mạnh sau cuộc chiến tranh lạnh Bắt đầu là Hiệp ước Maastricht được phê chuẩn vào ngày 1-11-1993, một EU thống nhất đã ra đời dựa trên cơ sở của EC trước đây Lúc đầu chỉ có 12 thành viên, đến tháng 1 năm 199 kết nạp thêm 3 thành viên mới ở Bắc Âu là Áo, Thụy Điển và Phần Lan, đưa tổng số các nước thành viên lên đến con số 15 Tiếp theo

là ngày 1 tháng 5 năm 2004 EU lại một lần nữa mở rộng với việc kết nạp thêm 10 thành viên mới nữa là: Balan, Hungari, Cộng hòa

Sec, Slovakia, Slovennhia, Estonnhia, Latvi, Litva Cộng hòa Síp và

21

Trang 22

Malta Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng tiến trình nhất thể hóa Châu Âu diễn ra có vẻ hơi chậm chạp do nhiều

nguyên nhân chủ quan và khách quan, đó là trình độ trên lệch giữa các nước thành viên mới và các thành viên cũ; là tỷ lệ thất nghiệp

cao; là bất đồng quan điểm trong quan hệ đối ngoại, nhất là sự hợp

tác với Mỹ trong cuộc chiến ở lrắc Liên hiệp Châu Âu tuy đã được

thoả thuận về việc sử dụng một đồng tiền chung Euro vào nắm 1999

nhưng cho đến nay cũng mới chỉ có 12/15 thành viên cũ là thực hiện

đồng tiền chung đó Và gần đây nhất, hiến pháp EU, cơ sở pháp lý

để điều hành tổ chức này xem ra khó có thể thông qua được vì Pháp

và Hà Lan đã phản đối, còn các thành viê¡ khác thì đang lưỡng lự

Một liên kết kinh tế khu vực khác, 4o là NAFTA bao gồm Mỹ,

Canada và Mêhicô Mặc dù có giá trị GDP lớn nhất trong các liên

kết kinh tế quốc tế nhưng hiệu quả sự hợp tác của NAFTA chưa cao

do sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế giữa các

nước thành viên

Theo kết quả các hội nghị thượng đỉnh hàng năm vào tháng 11,

APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương) đã

thống nhất trở thành khu vực mậu dịch tự do vào năm 2010-2020 APEC có 21 thành viên, hiện khu vực này đã chiếm trên 60% GDP

và gần 50% xuất khẩu của toàn thế giới Nếu APEC trở thành khu

vực mậu dịch tự do thì đây sẽ là một khu vue mau dich tu do lớn

nhất, vượt cả NAFTA và EU Tuy nhiên, quá trình hợp tác của tổ chức này cũng đang gặp những khó khăn nhất định do sự bất ổn chính trị ở một số thành viên, bất đồng quan điểm giữa các nước thành viên cũng như sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế

giữa các nước thành viên

AFTA - khu vực mậu dịch tự do của các nước ASEAN nổi lên như

một hình thức liên kết kinh tế cao nhất của các nước đang phát triển với sự hiện diện của 10 thành viên, trong đó có Việt Nam Mục tiêu

mà AFTA đặt ra là mức thuế quan sẽ giảm xuống từ 0 - 5% đến năm

2003, riêng Việt Nam được gia hạn thêm 3 năm, Mianma và Lào được gia hạn thêm 5 năm do gia nhập sau và trình độ phát triển kinh

tế của các nước này kém hơn, Cămpuchia được gia hạn 7 năm 22

Trang 23

Ngoài các hình thức liên kết theo khu vực kể trên, một loạt các

liên kết mới cũng đã được hình thành và phát triển như thị trường chung Nam Mỹ MECOSUR, diễn đàn hợp tác Á-Au, khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, tứ giác tăng trưởng nhanh Đông Á

(BIMP-EAGA) Nói tóm lại, kinh tế khu vực có tính chất rộng khắp

toàn cầu, trở thành “mode” thời đại Về thực chất, nó như một cơ chế mậu dịch tự do đa phương trong một khu vực, hạn chế được sự bất đồng về tập quán và chênh lệch quá đáng giữa các nước mà cơ chế mậu dịch tự do đa phương toàn cầu mắc phải

Thực tế đã chứng minh rằng liên kết kinh tế theo khu vực, tức

là khu vực hóa không mâu thuẫn với toàn cầu hóa mà tốn tại cùng với toàn câu hóa, như một bộ phận của toàn cầu hóa Các nước có nhu cầu liên kết với nhau trong một khu vực trước khi tham gia toàn cầu hóa Khu vực hóa chính là bước quá độ tiến lên toàn cầu hóa

7 Kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nổi lên

như một thách thức đối với nền kinh tế thế giới

Đầu tiên là sự xuất hiện 4 con rồng, rỗi tới các nước ASEAN va gần đây là Trung Quốc (Việt Nam cũng đang trên con đường hội nhập vào quỹ đạo chung này) cùng với sức mạnh tiểm ẩn vốn có của

nền kinh tế Nhật Bản, các nước này đang có những bước nhảy thân

kỳ Trong khi trên thế giới, những năm gần đây, nhiều nước có tốc

độ tăng trưởng chậm chạp, nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thóai,

khủng hoảng thì ở các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (trừ Nhật) vẫn đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao

Mặc dù cuộc khủng hoảng tài tài chính - tiên tệ khu vực năm 97

đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước này giảm hẳn,

nhiều nước mnang dấu âm, nhưng đến nay họ đã lấy lại được phong

độ của sự phát triển và vẫn được xếp vào loại nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, trong đó Trung Quốc vẫn là nước

có tốc độ tăng trưởng cao nhất

Nhờ có tốc độ tăng trưởng cao và liên tục mà khu vực châu Á -

Thái Bình Dương ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế

23

Trang 24

thế giới Nếu 30 năm trước đây, giá trị tổng sản phẩm quốc dân của châu Á - Thái Bình Dương chỉ bằng 1/2 của Mỹ và 2/3 của cộng đồng châu Âu thì đến cuối thế kỷ 20 đã gần bằng Mỹ và lớn hơn Cộng đông châu Âu Và đến năm 2010, châu Á - Thái Bình Dương sẽ chiếm 1⁄3 giá trị tổng sản phẩm quốc dân toàn cầu, vượt cả Mỹ và

Tây Âu

Theo đánh giá của các nhà kinh tế thế giới, thành công của các

nước châu Á - Thái Bình Dương là do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Sự phát triển mạnh mẽ của làn sóng cách mạng khoa học - công nghệ mới, đặc biệt là cuộc cách mạng 37 (Vận tải - Viễn thông

- Du lich - Transportation - Telecommunication - Tourism)

~ Các công ty xuyên quốc gia phát triển mạnh mẽ trong khu

vực và là động lực thúc đẩy sự phát triển

— Kết cấu phát triển nhiều tầng trong khu vực đã có tác động

hỗ trợ hữu cơ cho sự phát triển

~ Các mối liên kết hợp tác thương mại và các tổ chức kinh tế,

khu vực đang tăng cường mạnh mẽ và có hiệu quả

Sự trỗi dậy của khu vực châu Á - Thái Bình Dương như một thách thức lớn đối với thế giới, đặc biệt là đối với các nước Mỹ và Tây Âu, khiến cho cuộc cạnh tranh kinh tế giữa các nước phát triển vốn đã căng thẳng nay lại khốc liệt hơn bởi bắt đầu có sự tham gia

của những con rồng, con hổ châu Á

8 Các vấn đề kinh tế toàn cầu trở nên gây gắt

Trước hết phải nói đến tình hình thương mại quốc tế, tuy mục

tiêu đặt ra của thế giới là phải phấn đấu cho một nền mậu dịch tự

do, nhưng các nước, nhất là các nước phát triển vẫn luôn đưa ra

những rào cản kỹ thuật ngày càng tỉnh vi để đánh vào hàng hóa của

các nước đang phát triển Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các nước nghèo thường bị phán xử bất công vì họ không đủ chi phí

để thuê luật sư theo đuổi các vụ kiện kéo dài rất tốn kém Trong khi

đó giao thương giữa các nước phát triển cũng luôn xảy ra những

cuộc chiến mậu dịch theo quy mô lớn, khó trung hòa

24

Trang 25

Tự do thương mại là một nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường nhưng hiện vẫn còn bị chà đạp Nền kinh tế thế giới càng

suy thóai, các chính sách bảo hộ sẽ gia tăng Biên pháp khắc phục

đúng đắn phải là phát hiện đúng căn bệnh và tìm liễu thuốc vực dậy nên kinh tế Bên cạnh đó, sự duy trì các vòng dam phán vẫn là cần thiết để hạn chế phần nào sự gia tăng của các chính sách bảo hộ

mậu dịch

Toàn cầu hóa gắn liền với tự do hóa tài chính và tiền tệ Nếu trước đây, các nước lấy ưu thế về mặt công nghiệp và xuất khẩu

hàng hóa làm cơ sở của cạnh tranh thì ngày nay ưu thế đó lại thược

về tài chính tiền tệ và tri thức công nghệ Mức độ lưu thông tư bản quốc tế đã diễn ra nhanh chóng và chỉ phối toàn bộ nền kinh tế thế giới Để tham gia vào quá trình tự do hóa tài chính - tiền tệ toàn cầu, các nước đang phát triển cũng đã có những cải tổ trong việc thu hút FDI và vốn cổ phần nước ngoài nhằm bù đắp lượng vốn nôi địa

vốn còn hạn hẹp của mình Tuy nhiên, đằng sau những khoản viện trợ, những cam kết, những thương lượng là những sức ép quá lớn chỉ phối chính sách của các nước đang phát triển, khiến nhiều nước

rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất và không có khả năng thanh toán Do đó để đảm bảo tính chất mở cửa thị trường tài chính toàn cầu cần phải có một sự đồng thuận cao giữa cac nước, giữa các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm tìm ra một cơ chế điều hành thích hợp, giúp các nước đang phát triển khắc phục được sự thiếu hụt về nguồn vốn mà không bị những ràng buộc quá đáng

Ngoài những vấn thương mại, tài chính quốc tế, thế giới ngày nay có quá nhiều về vấn để chính trị - xã hội - môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến nên kinh tế toàn cầu

Trước hết, phải nói đến vấn để khủng bố quốc tế Từ sau sự kiện

ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Mỹ, tình hình chính trị thế giới trở nên khá phức tạp, với cuộc tiến công của Mỹ và các đồng minh vào

Apganistăng và Irắc đã làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa phương Tây với thế giới Hỏi giáo; chính sách thù địch đối với Cuba; hậu thuẫn cho Israel chống lại Palestin; căng thẳng về vấn để hạt nhân ˆ với Bắc Triều Tiên và Iran; can thiệp quá sâu vào nền chính trị ở

25

Trang 26

mệt loạt các nước SNÑG nhằm cô lập Nga là những hành động sai

lâm trong chính sách thù địch của Mỹ Tất cả càng làm cho nền hòa

bình thế giới khó có thể tạo lập cùng với nguy cơ tái lập lại cuộc

chiến tranh lạnh đã ngự trị thế giới trong mấy thập niên qua Kết quả là các cuộc khủng bố diễn ra ngày càng khốc liệt, giết hại bao người dân vô tội Rõ ràng, việc chống khủng bế quốc tế không chỉ

dựa vào sự liên kết giữa các nước với lòng quyết tâm cao độ mà còn

phải dựa vào cái “tâm” của mỗi con người

Dịch bệnh, thiên tai cũng là những vấn để nóng mang tính toàn cầu trong thời gian qua Để phòng chống dịch bệnh, khắc phục

hậu quả của thiên tai đòi hỏi một sự liên kết chặt chẽ giữa các nước,

giữa các tổ chức quốc tế Trận động đất và sóng thần vào cuối năm

2004 ở các nước Nam Á và Đông Nam Á cho thấy cần thiết phải

thành lập một hệ thống cảnh báo thiên tai trong khu vực, trong đó

vai trò của các nước tiên tiến là rất quan trọng

Cuối cùng là vấn đề môi trường hiện được cả thế giới quan tâm

Sự phát triển ô ạt các ngành công nghiệp trong những thập kỷ qua, cùng với việc khai thác bừa bãi tài nguyên rừng, tài nguyên biển, rồi các cuộc chiến tranh, nội chiến liên miên đã làm cho bầu khí quyển trở nên ô nhiễm nghiêm trọng, gây ra những thảm hoạ thiên

nhiên mà hậu quả của nó là vô cùng to lớn Việc bảo vệ môi trường

được bàn luận nhiều trong các hội nghị quốc tế, nhưng tiến triển chưa được là bao do cần những khoản chỉ phí rất lớn Trong khi đó nhiều nước, nhiều công ty vẫn sẵn sàn gây ô nhiễm để chạy theo lợi

nhuận Thậm chí hiện tượng có nước đem thải phóng xạ xuống biển,

đổ rác qua biên giới,v.v là không hiếm trong cuộc sống hôm nay Đặc biệt, Nghị định Kyoto đã có hiệu lực từ ngày 16-2-2005, gồm

hơn 140 nước, trong đó có 30 nước công nghiệp phát triển đã ký kết

Theo đó , vào năm 2012 các nước công nghiệp cắt giảm 5,2% tổng số khí thải gây ra hiện tượng nóng lên trên toàn cầu so với năm 1990 Tuy nhiên, rất tiết khi Mỹ - một nước có lượng khí thải nhiều nhất nhưng không ký kết nghị định thư Kyoto và không tham gia tất cả các cuộc đàm phán về cắt giảm khí thải, cùng với Mỹ có cả Úc nữa

Rõ ràng, để bảo vệ ngôi nhà chung của thế giới cần một sự hợp tác

26

Trang 27

chặt chẽ giữa tất cả các nước, nhất là các nước tiên tiến càng phải gương mẫu chấp hành hơn

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MẬU DỊCH QUỐC TẾ

1 Vì sao các nước phải giao thương với nhau?

Người Việt Nam mua T.V Sony của Nhật, người Mỹ mua xe hơi Mercedes của Đức, người Anh uống rượu vang của Pháp mỗi quốc gia có những sở thích tiêu dùng riêng của mình mà vì những lý do khác nhau, họ phải đáp ứng nhu cầu thông qua mậu dịch quốc tế Một trong những lý do đó là sự khác biệt về tài nguyên thiên

nhiên giữa các quốc gia Có những quốc gia rất nhỏ nhưng lại sản xuất ra một khối lượng sản phẩm khá lớn Chẳng hạn, Arabi Saudi

và Kuwest chỉ chiếm 0,3% dân số thế giới nhưng lại sản xuất ra 11% dầu hỏa, Cuba và Brazin chỉ chiếm 3% dan sé nhưng lại chiếm

tỷ trọng tới 18% sản lượng đường thế giới v.v

Kế đến, phải kể đến sự khác nhau về nguồn nhân lực và trình

độ sử dụng nguồn nhân lực đó giữa các quốc gia Không một quốc gia nào dù giàu có đến đâu chăng nữa cũng không có đủ nguồn tài nguyên, nhân lực để sản xuất ra tất cả các loại sản phẩm hoặc giả nếu cố gắng sản xuất thì cũng không đạt hiệu quả cao vì tổn tai sự khác biệt về chỉ phí sản xuất và giá cả sản phẩm giữa các quốc gia

Do đó, họ phải trao đổi lẫn nhau thông qua con đường mậu dịch

Như vậy, mậu dịch quốc tế dựa trên cơ sở phân công lao động giữa các quốc gia, cho phép mỗi quốc gia có thể phát huy tối đa lợi thế của mình và kết quả là lực lượng sản xuất của thế giới sẽ được sử

dụng một cách hiệu quả hơn

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chuyên môn hóa

ngày càng sâu Ngày nay, mậu dịch quốc tế không chỉ diễn ra trên

phạm vị quốc gia mà là giữa các xí nghiệp của quốc gia này với các

xí nghiệp của quốc gia khác

Mậu dịch quốc tế đã có từ xa xưa nhưng chủ yếu được trao đổi

giữa những người cùng xứ Số hàng hóa lưu chuyển giữa các quốc gia

với nhau rất ít, phần lớn tập trung vào các mặt hàng xa xí phẩm cung phụng cho những kẻ giàu có Ngày nay, khối lượng mậu dịch

27

Trang 28

thế giới thông qua xuất khẩu đã được tăng lên rất nhiều Mặc dù vậy, so với tổng hàng hóa trao đổi thì mậu dịch quốc tế còn chiếm tỷ trọng chưa cao Nhưng điều đáng nói là thông qua xuất nhập khẩu

đã mở ra khả năng tiêu dùng của mỗi nước tất cả các mặt hàng với

số lượng nhiều hơn mà ở nền kinh tế tự cung tự cấp không bao giờ

có được Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nhờ mậu dịch quốc tế, họ có được cơ hội tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và cải tạo chính cơ sở vật chất kỹ thuật vốn đã nghèo nàn của họ

Ngày nay, với sự phát triển kinh tế, mang tính chất đa phương,

toàn câu, các quốc gia trở nên phụ thuộc rất mạnh lẫn nhau thông qua mậu dịch quốc tế Mỗi một sự kiện kinh tế, chính trị xảy ra ở một

nước nào đó, lập tức ảnh hưởng ngay đến các nước khác Chẳng hạn,

nếu Mỹ khuyến khích tiêu dùng, nhu câu về hàng hóa, dịch vụ tăng lên sẽ làm gia tăng nhập khẩu Đến lượt mình, một sự gia tăng nhập khẩu vào Mỹ lại có tác dụng khuyến khích các quốc gia xuất khẩu Hay một sự giảm hụt ngân sách đã buộc Đức thu hút vốn đầu ;u vụ nước ngoài làm gia tăng giá trị quốc tế déng Euro Su gia tăng giá trị đồng Euro sẽ khuyến khích các nhà nhập khẩu và làm nản lòng các nhà xuất khẩu Đức Và điều đó lại dẫn đến một sự kích thích hoạt

động kinh tế của các nước khác Hoặc sau sự kiện chính trị ở Thiên

An Môn vào tháng 4 năm 1989, Trung Quốc đã để mất đi một số tiển khá lớn chỉ vì tổn thất trong thương mại quốc tế do Mỹ và một số nước khác thi hành lệnh trừng phạt kinh tế đối với họ

Như vậy, mậu dịch quốc tế có một vị trí rất quan trọng trong

đời sống hàng ngày của mỗi quốc gia, chịu tác động rất nhiều yếu tố Bất cứ một nước nào muốn phát triển kinh tế cũng phải tiến hành

giao thương với một nước khác Ngay cả Liên Xô (cũ) và Trung Quốc

trước đây, nơi mà vì những lý do chính trị, rất đê cao tính tự lực cánh sinh cũng phải nhập những kỹ thuật tiên tiến, vốn từ nước ngoài, kể cả bắp, đậu nành và những sản phẩm nông nghiệp khác

Rõ ràng mậu dịch quốc tế đã nâng cao đời sống con người nhờ thỏa

mãn nhu cầu và thị hiếu nhiều hơn Đó cũng chính là cách đạt tới mục đích cuối cùng của nhân loại

Tuy nhiên cũng phải thấy một điều là không phải lúc nào mậu dịch quốc tế cũng mang lại lợi ích như nhau cho tất cả mọi người

28

Trang 29

Chẳng hạn, người tiêu dùng Việt Nam rất thích mua được T.V Sony chính hiệu của Nhật với giá rẻ, còn các công nhân ở xí nghiệp Vietronie lại không hẳn như thế 6 đây, vai trò của các chính sách bảo hộ mậu dịch là rất quan trọng Nhưng bảo hộ như thế nào, trong thời gian bao lâu để vừa thỏa mãn được thị hiếu của người tiêu

dùng vừa khuyến khích được sản xuất trong nước để có thể cạnh

tranh với hàng ngoại nhập là một việc làm không đơn giản Vấn để

này sẽ có dịp nghiên cứu kỹ hơn ở phần sau

2 Mậu dịch quốc tế có những đặc điểm gì?

So với mậu dịch giữa các vùng trong một nước, mậu dịch quốc tế mang 2 đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, mậu dịch quốc tế vượt ra khỏi biên giới một quốc gia nên Chính phủ mỗi nước có thể kiểm soát được

dé dang và áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu; 7 hai, mậu dịch quốc tế gắn liền với sự sử dụng các đồng tiền quốc gia khác nhau nên

nó liên quan đến vấn đề thanh toán quốc tế và tỉ giá hối đoái

Ngoài ra, mậu dịch quốc tế được coi là phức tạp hơn so với mậu

địch quốc gia vì nó diễn ra giữa hàng trăm quốc gia khác nhau với hàng vạn, hàng triệu sản phẩm không giống nhau Mỗi quốc gia khác nhau bởi thể chế chính trị, xã hội, bởi hệ thống luật pháp, bởi truyền thống văn hóa, bởi tập quán tiêu dùng Mỗi sản phẩm lại khác nhau bởi quy trình sản xuất, bởi tính năng sử dụng Do đó, để thành công trên thương trường quốc tế cần thiết phải tìm hiểu tất

cả những vấn đề đó

Nếu hiểu mậu dịch theo trạng thái động thì hiệu quả sử dụng lực lượng sản xuất trong mậu dịch quốc tế thường bị hạn chế, ít nhất là trong thời gian đầu vì phải có quá trình thích nghi với một môi trường mới đã thay đổi

Do sự khác biệt về vị trí địa lý giữa các quốc gia nên chỉ phí vận chuyển thường là rất lớn trong mậu dịch quốc tế

3 Mậu dịch quốc tế những năm gần đây thay đổi theo

xu hướng nào?

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng của mậu dịch quốc tế không đồng đều và có xu hướng tăng lên

29

Trang 30

Bảng 1.3 Tốc độ tăng trưởng mậu dịch quốc tế (%)

— Cac nudc TN trung binh | 9,91 | 6,73 10,2 | 4,86 | 7,76 | 16,7 | 3.57] 10,2

~ Các nước thu nhập thấp | 12,6 | 6,96 3,54 | 8,34 |—6,08| 16.9 | 5,37 | 7,83

~ Cac nuéc TN trung binh | 1,06 | 6,75 1,03 | 5,20 | 1,15 | 1.76 | 2,28 | 8,10

Nguén: World Development Indicators 2004

Số liệu bang 1.3 cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tiền tiện khu vực đã làm giảm hẳn tốc độ tăng trưởng mậu dịch ở các nước thu nhập thấp, tuy nhiên không có ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng

trưởng của mậu dịch thế giới: Từ năm 2002, mậu dịch quốc tế đã có

hướng hồi phục

Nhìn chung, trong những năm qua các nước đang phát triển,

đặc biệt là các nước thu nhập thấp thường có tốc độ tăng trưởng

mậu dịch cao hơn Các nước đang phát triển khu vực Châu Á vẫn là

các nước có mức tăng trưởng ngoạn mục, nhất là Trung Quốc và Ấn

Độ Năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của thế giới đạt trên 9 ngàn tỷ USD, trong đó, phần xuất khẩu dịch vụ chiếm khoảng 20% Những nước xuất khẩu lớn nhất vẫn là Mỹ, Đức

Nhật (bảng 1.4) Tuy nhiên, càng những năm gần đây, Trong Quốc

nổi lên như như một nhân tế mới của nên mậu dịch toàn cấu và đang trở thành một cường quốc về thương mại với tốc độ tăng trưởng

cao nhất thế giới (khoảng 38% năm 2003 và 17,3% từ năm 1993 cho

đến năm 2002) Theo dự báo, Trung Quốc có thể vượt Mỹ vào năm

2010

Tốc độ tăng trưởng của mậu dịch quốc tế lên xuống theo sự thăng trầm của nên kinh tế, tuy nhiên trong những năm qua, mậu dịch quốc tế luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng

30

Trang 31

của nên kinh tế thế giới, Điều đó dẫn đến kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng chiếm tỷ trong cao trong sản phẩm quốc nội, thể

hiện mức độ mở cửa ngày càng lớn của các quốc gia

Thứ hai là châu Á - Thái Bình Dương ngày càng chiếm vị trí quan trọng trên thị trường thế giới

Sự phát triển kinh tế của các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã có ảnh hưởng trực tiếp đến động thái thương mại của khu vực Các nước này ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong

mậu dịch quốc tế Năm 1996, trong số 10 nước xuất khẩu lớn nhất

thế giới, riêng châu Á - Thái Bình Dương đã chiếm tới 4 nước (bảng

1.4) Hơn 40% doanh số mậu dịch của Mỹ là với châu Á Tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu và tổng sản phẩm quốc nội của các nước NICs và ASBAN lớn hơn hẳn so với các nước phát triển và có xu hướng gia

tăng qua 3 thập kỷ (Bảng 1.5)

Bảng 1.4 10 nước và lãnh thổ xuất khẩu lớn nhất trên thế giới

(tỷ USD)

Trang 32

Bảng 1.ã Tỷ lệ giữa giá trị XE và tổng sản phẩm quốc nội của

các nước NICS và ASEAN (%)

Nguén: World Development Indicators 2004

Trong khi đó, chỉ số này của Mỹ chỉ là 9,8%, Đức là 35,5%, Anh

là 25,8% và Ý là 26,9% (năm 2002) Điều đó chứng tỏ mức độ mở cửa

nên kinh tế các nước châu Á - Thái Bình Dương là rất mạnh và vai trò của mậu dịch quốc tế là đặc biệt quan trọng đối với các nước này Thứ ba là cơ cấu hàng hóa thương mại trên thị trường thế giới ngày càng thay đổi theo hướng:

— Gia tăng tỷ trọng các mặt hàng chế tạo, giảm bớt tỷ trọng các

mặt hàng truyển thống (bao gồm sản phẩm nông nghiệp và các

nguyên liệu thô)

— Gia tăng tỷ trọng các mặt hàng vô hình, giảm bớt tỉ trọng các

mặt hàng hữu hình Điều đó cho thấy cơ cấu kinh tế của mỗi nước

đã có những biến đổi sâu sắc trên thị trường thế giới

Thứ tư, xu thế tự do hóa thương mại đang trên đà phát triển

Sau khi vòng đàm phán Uruguay kết thúc, các nước đã thỏa thuận được với nhau về một số biện pháp thúc đẩy mậu dịch tự do hóa nhiều hơn ở một số lĩnh vực Cùng với sự thay thế GATT, WTO

đang ngày càng tổ ra là một tổ chức có bản lĩnh hơn nhằm thúc đẩy

tự do hóa mậu dịch trong khuôn khổ toàn cầu Và điều này là không mâu thuẫn với xu thế liên kết kinh tế quốc tế theo khu vực, bởi vì,

muốn mở rộng sự hợp tác trên phạm vi rộng lớn trước hết cần loại 32

Trang 33

bỏ các hàng rào bảo hộ mậu dịch giữa các nước gần nhau Mậu dịch càng được tự do hóa, càng đẩy mạnh tính cạnh tranh giữa các quốc

gia Và đây chính là lợi điểm lớn nhất mà sự liên kết toàn cầu sẽ

mang lại

Thứ năm, tự do hóa thương mại song phương phát triển mạnh

Có thể nói một trong những nét đặc trưng của mậu dịch quốc tế

những năm gần đây là các hiệp định buôn bán song phương và khu

vực vẫn tiếp tục được đàm phán và ký kết Nổi bật là khu vực mậu

dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) với 1,8 tỷ dân, GDP đạt

2000 tỷ USD và kim ngạch ngoại thương lên tới 1200 tỷ USD; ASEAN cũng đã ký khung hiệp định chung về thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Nhật Bản Khu vực này gồm 630 triệu dân,

chiêm12% dân số thế giới với GDP đạt trên 5000 tỷ USD, chiếm

18% GDP toàn câu Bên cạnh đó, một loạt các nước trong khu vực

Châu Á - Thái Bình Dương đã ký kết để thành lập khu vực mậu dịch

tự do song phương như Singapo - Nhật Bản; Singapo - Mỹ; Singapo

- Úc, ngoài ra Singapo còn đang tiến hành để thành lập khu vực mau dich tự do 3 bén la Singapo - Chilé va New Zenland va 2 bén Bingapo - Canada; Thái Lan cũng là nước tích cực tìm kiếm Hiệp định mậu địch tự do ŒTA), nước này đã ký với Mỹ, Úc, New Zealand

về việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do Ấn Độ cũng mong muốn thành lập một khu vực mậu dịch tự do với ASEAN mà trước hết là với Singapo, Thái Lan Vào tháng 11 năm 2003, Hội nghị bộ trưởng lần thứ 8 của khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ tuyên bố

khẳng định lại một lần nữa quyất tâm thành lập khu vực mậu dịch

tự do Châu Mỹ (TAA) bao gồm 34 nước với khoảng 800 triệu dân

Sở dĩ có xu hướng bùng nổ tự do thương mại song phương và

khu vực trong thời gian qua là do sự bế tắc và khó khăn trong các vòng đàm phán đa phương toàn cầu, trong khi đó song phương lại

đễ thực hiện hơn do lợi ích ít khác biệt hơn và dễ đàm phán nhượng

bộ hơn Việc ký kết để thành lập các FTA như là một lối thóat cho các nước đi đầu trong tự do hóa mậu dịch muốn bứt phá lên trước để tìm cho mình một lối đi riêng nhằm gia tăng xuất khẩu, mở rộng

33

Trang 34

thị trường, tăng trưởng kinh tế, khắc phục sự chậm trễ của đa phương toàn câu Tuy nhiên, cũng cần phải đánh giá một cách nghiêm túc xu hướng này, liệu nó có làm ảnh hưởng đến tiến trình tự do hóa

thương mại trong khu vực và toàn cầu không khi mà ai cũng muốn

xé rào tìm cho mình một lối đi riêng như vậy?

34

Trang 35

BÀI ĐỌC THÊM MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI

PHAN THEO CAC NHÓM NƯỚC

Trang 36

~ Cac nuée TN trung binh 31,2 32,2 27,9

Trang 37

11 Cơ cấu hàng nhập khẩu

công nghiệp (chế tạo) %

Trang 38

TOM TAT CHUONG I

Nội dung cơ bản của chương này là giới thiệu khái quát về môn học Kinh tế quốc tế nhằm trả lời cho các câu hỏi: Kinh tế quốc tế là gì? Tại sao phải nghiên cứu Einh tế quốc tế? và nội dung phương

pháp nghiên cứu nó là gì?

Ngoài ra, để học tốt Kinh tế quốc tế, sinh viên cũng cần phải biết những thay đổi lớn của nền kinh tế thế giới hiện đại và ảnh hưởng của nó đến mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia Bên cạnh

đó, với khái niệm “mậu dịch” thông thường sinh viên cần thiết phải hiểu được nguyên nhân của sự giao thương giữa các quốc gia; những

đặc điểm của mậu dịch quốc tế so với mậu địch quốc gia và những xu

hướng mới trong mậu dịch quốc tế ngày nay

Như vậy, chương I trang bị cho sinh viên một cái nhìn tổng quan về Kinh tế quốc tế Học xong chương này, sinh viên phải hiểu rất rõ đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của môn học, phải phân biệt được Kinh tế quốc tế với các môn học khác

38

Trang 39

NAFTA - North American

Free Trade Area

AFTA - ASEAN’S

Free Trade Area

APEC Asia - Pacific

Vận chuyển, viễn thông và du lịch

Tổ chức thương mại thế giới

Liên hiệp châu Âu

Trang 40

MAU DICH QUOC TE

Trong chương này chúng ta sé nghien cứu sự phát triển của lý

thuyết mậu dịch quốc tế từ thế kỷ 17 đến những năm đầu của thế kỷ

20 Sự nghiên cứu cả một quá trình như vậy cho phép để cập một cách tổng hợp các quan điểm và các lý thuyết của mậu địch quốc tế

từ đơn giản đến phức tạp, giúp người đọc hiểu vấn đề một cách hệ thống Từ đó có thể rút ra những so sánh, kết luận

Nghiên cứu về lý thuyết mậu dịch quốc tế để làm nổi bật lên 2 vấn đề chủ yếu, đó là:

1 Cơ sở và lợi ích của mậu dịch quốc tế

2 Mô hình của mậu dịch quốc tế

| QUAN DIEM CỦA PHÁI TRỌNG THƯƠNG (MERCANTILISM) VỀ MẬU DỊCH

QUỐC TẾ

1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội - cơ sở để hình thành các quan điểm

Vào đầu thế kỷ 15, khi Tây Âu vừa thoát ra khỏi thời kỳ Trung

Cổ và phong kiến, một xã hội chủ yếu vẫn là nông nghiệp được hình

thành Sản xuất tự cung tự cấp là chính, mậu dịch chưa phát triển

Đến cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 mậu dịch đã bắt đầu phát

triển do ba nguyên nhân chủ yếu sau đây:

40

Ngày đăng: 22/03/2015, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w