1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại

242 1,5K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 242
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam đều phải đối diện với vấn đề làm thế nào để vừa phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, vừa bảo tồn, làm giàu và phát hu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……….…… 1

Chương 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC VÀ VIỆC XÂY DỰNG

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM………14 1.1 Vai trò của chính sách dân tộc………… ……… ………14 1.2 Tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam… …16 1.2.1 Tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc…….… …….…16 1.2.2 Tình hình và đặc điểm dân tộc của Việt Nam……….… … ….23 1.2.3 So sánh tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc

Chương 3: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA

TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM……….… ….………83 3.1 Thực hiện chính sách dân tộc của Trung Quốc……… ….…83 3.2 Thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam……….….…101 3.3 So sánh thực hiện chính sách dân tộc của Trung Quốc và

Việt Nam……… 114 3.3.1 Vấn đề xác định thành phần dân tộc……… 114 3.3.2 Thiết lập hệ thống hành chính ở vùng dân tộc thiểu số.… ……127 3.3.3 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội…… ……… ……… 139 3.3.4 Chính sách về văn hóa và ngôn ngữ dân tộc thiểu số………… 160 3.3.5 Đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số……… ……175 KẾT LUẬN……… … 189 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN………194 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….…196

PHỤ LỤC……… 216

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hầu hết các nước trên thế giới là quốc gia đa dân tộc (tộc người), Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia đa dân tộc ở châu Á Các dân tộc của hai nước được phân chia thành dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Dân tộc đa số của hai nước là người Hán của Trung Quốc và người Kinh của Việt Nam, có trình

độ kinh tế - xã hội phát triển cao hơn các dân tộc thiểu số Trong lịch sử hiện đại, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Chính sách dân tộc của hai nước này đều dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kết hợp chặt chẽ với tình hình thực tế của mỗi quốc gia Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc và Việt Nam dần dần đã tìm ra một số giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số của mình ―Bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau‖ là nguyên tắc cơ bản của cả hai quốc gia về vấn đề dân tộc Từ khi thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới đến nay, để thực hiện bình đẳng và đoàn kết dân tộc, hai nước đều có chính sách của mình để phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số Nhưng trong quá trình phát triển kinh tế, tính đa dạng của văn hóa các dân tộc thiểu số có xu hướng giảm đi Hiện nay chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam đều phải đối diện với vấn đề làm thế nào để vừa phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, vừa bảo tồn, làm giàu và phát huy

được tính đa dạng của văn hóa các dân tộc thiểu số

Trung Quốc và Việt Nam có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa và đường lối phát triển thời hiện đại Vấn đề dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam

có những đặc điểm chung, nhưng trong khuôn khổ của mỗi quốc gia lại có những đặc thù riêng Vì thế nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam sẽ góp phần vào sự hiểu biết lẫn nhau về chính sách dân tộc của hai nước, tìm hiểu những chính sách có hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề

Trang 6

dân tộc của nhà nước xã hội chủ nghĩa, những chính sách này khác với nhiều

nước trên thế giới Vì thế tôi chọn đề tài So sánh chính sách dân tộc của Trung

Quốc và Việt Nam thời hiện đại làm luận án tiến sĩ Sử học, chuyên ngành Dân

tộc học

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Trong những năm qua đã có rất nhiều học giả Trung Quốc và Việt Nam nghiên cứu lý luận và chính sách dân tộc của nhà nước mình Các học giả nước ngoài cũng nghiên cứu về chính sách dân tộc của hai nước

Những nghiên cứu về chính sách dân tộc của Trung Quốc: Chính sách

dân tộc ở Trung Quốc được thể hiện trước hết trong những văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và các bộ luật liên quan, như Hiến pháp và Luật tự trị khu vực dân tộc đều có những nội dung về chính sách dân tộc Các học giả Trung Quốc từ các góc nhìn nghiên cứu chính sách dân tộc, như nghiên cứu về lý thuyết dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc và quan niệm dân tộc của các nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, cũng có những nghiên cứu về một số vấn đề của chính sách dân tộc Trung Quốc, như vấn đề xác định thành phần dân tộc, chế độ tự trị khu vực dân tộc, ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số

Những công trình nghiên cứu này như: Bành Anh Minh với Sự phát triển và

hình thành quan niệm dân tộc của chủ nghĩa Mác [96] và Nghiên cứu lý luận dân tộc Đặng Tiểu Bình [95], Dương Kinh Sở với Nghiên cứu về lý luận dân tộc của Mao Trạch Đông [92], Các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng cộng sản Trung Quốc bàn về vấn đề dân tộc [106] của Uỷ ban Dân tộc Trung ương Trung

Quốc, Bố Hách với Chích sách dân tộc của Đảng và lý luận dân tộc của chủ

nghĩa Mác - Lênin [101], Lý Tư Nguyên với Lịch sử công tác dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc [115], Kim Bính Khao với Đại cương chính sách và cương lĩnh về dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc [118], Trương Hữu Tuấn

với Đại cương chính sách dân tộc Trung Quốc [129], Từ Kiệt Tốn với Lịch sử

chính sách dân tộc Trung Quốc [134], 50 năm công tác dân tộc Trung Quốc

Trang 7

(1949-1999) [104] của Uỷ ban Dân tộc Trung ương Trung Quốc, Hoàng Quang

Học với Về xác định thành phần dân tộc Trung Quốc [119], Kim Tinh Hoa với

Công tác ngữ văn dân tộc Trung Quốc [120], Đổng Cát Dư với Nghiên cứu về chức năng quản lý hành chính của chính quyền địa phương tự trị dân tộc tỉnh Vân Nam [138], Vương Thiên Hy với Đại cương Luật dân tộc [142]

Trong các công trình kể trên, đáng chú ý là tác phẩm Đại cương chính

sách và cương lĩnh về dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc của Kim Bính

Khao (Trung Quốc) Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên phân tích toàn diện

sự hình thành và phát triển của cương lĩnh dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Trung Quốc qua từng thời kỳ từ năm 1921 trở lại đây Tác giả cho rằng: ―Trong quá trình lịch sử, dù có lúc phát triển nhanh chóng, có lúc

bị phá hoại, nhưng cuối cùng cương lĩnh và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã hồi sinh, không ngừng hoàn thiện và phát triển‖ [118 tr.2]

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên cứu chính sách dân tộc ở Trung Quốc đã được đẩy mạnh, nhiều công trình nghiên cứu mới về văn bản pháp luật, quy định về chính sách dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội dân tộc

thiểu số được xuất bản như: Luật pháp và pháp quy về tự trị khu vực dân tộc

Trung Quốc [114] của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc, Ngô Tôn Kim

với Thực tiễn và lý luận về lập pháp dân tộc Trung Quốc [124], Thi Chính Nhất với Nghiên cứu về phát triển vùng dân tộc miền Tây Trung Quốc [153], Triệu Hiển Nhân với Chương trình Hưng biên phú dân 2 [122], Phan Nãi Cốc với

Vùng đa dân tộc: tài nguyên thiên nhiên, đói nghèo và phát triển [152], Vương

Hy Ân với Phân tích về vấn đề dân tộc Trung Quốc hiện đại [128], Vương Thiết Chí với Thực tiễn và lý luận về chính sách dân tộc trong thời kỳ mới [139] Trong Phân tích về vấn đề dân tộc Trung Quốc hiện đại, tác giả Vương Hy Ân

có nêu: ―Mâu thuẫn chủ yếu của vấn đề dân tộc Trung Quốc đương thời là mâu thuẫn giữa nguyện vọng phát triển và khả năng phát triển của dân tộc thiểu số

và vùng dân tộc thiểu số Muốn giải quyết vấn đề dân tộc Trung Quốc, thì phải giải quyết mâu thuẫn này Thông qua phát triển mới có thể căn bản giải quyết

Trang 8

vấn đề dân tộc Trung Quốc‖ [128, tr.15] Trong cuốn sách Chương trình hưng

biên phú dân 2 [122], tác giả Triệu Hiển Nhân cho rằng Chương trình hưng biên

phú dân là một biện pháp có hiệu quả nhằm phát trển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhưng trong công tác thực tế phải làm cho nó phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, cuốn sách này có giá trị tham khảo đối với việc thực hiện tốt Chương trình hưng biên phú dân

Chính sách dân tộc ở Trung Quốc đã được một số học giả Việt Nam đề cập

đến như: Từ điển bách khoa nước Trung Hoa mới [61] có một phần nội dung về dân tộc và chính sách dân tộc của Trung Quốc; Kinh nghiệm thành lập Khu dân

tộc tự trị ở Trung Quốc [37] đã giới thiệu quá trình thành lập khu dân tộc tự trị ở

Trung Quốc, phân tích các chính sách cụ thể về khu dân tộc tự trị; Nguyễn Duy

Bính với Dân tộc và chính sách dân tộc ở Trung Quốc [11], bài viết này đã giới

thiệu tình hình các tộc người ở Trung Quốc, phân tích nội dung và tác động của

chính sách dân tộc của Trung Quốc Về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

trong cách mạng Trung Quốc [48] của học giả Trung Quốc Ơng Chấp Nhất đã

được dịch sang tiếng Việt và xuất bản, cuốn sách này đã phân tích cách xử lý vấn đề dân tộc của Trung Quốc trong cách mạng giải phóng dân tộc và thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, đã đánh giá chính sách dân tộc Trung Quốc trong những năm 50 của thế kỷ XX Những công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu chính sách dân tộc chung của Trung Quốc, phân tích một số chính sách dân tộc

cụ thể của từng thời kỳ, những nội dung mới của chính sách dân tộc Trung Quốc chưa được phản ánh nhiều, đặc biệt là những nội dung từ năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây Trong những nghiên cứu của học giả Trung Quốc chưa có ai nghiên cứu một cách hệ thống về sự hình thành và phát triển của chính sách dân tộc Việt Nam thời hiện đại, cũng chưa có nghiên cứu so sánh về chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Trung Quốc dẫn ra trên đây đã giải quyết những vấn đề sau:

Trang 9

- Phân tích quá trình hình thành và phát triển của lý thuyết dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, làm rõ vấn đề dân tộc Trung Quốc đương thời

- Phân tích và đánh giá các chính sách dân tộc cụ thể

Những nghiên cứu về chính sách dân tộc ở Việt Nam: Từ năm 1945 trở

lại đây, các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam và những pháp luật liên quan của nhà nước Việt Nam đều có những nội dung về chính sách dân tộc Như trong văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và các bộ Hiến pháp của Việt Nam đều

có những nội dung liên quan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của từng thời kỳ Các học giả Việt Nam có những công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc Việt Nam thời hiện đại Ngoài các công trình nghiên cứu tổng quan và quá trình phát triển của chính sách dân tộc Việt Nam, về lý luận dân tộc, các nguyên tắc của chính sách dân tộc, còn có một số công trình về từng khía cạnh của chính sách dân tộc, như công tác xác định thành phần dân tộc, chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số Những công trình nghiên cứu này như: Hồ

Chí Minh với Về công tác dân tộc [41], Lê Quảng Ba với 20 năm thắng lợi vẻ

vang của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước [1], Các dân tộc thiểu số trưởng thành dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng [63] của Uỷ ban Dân tộc

Trung ương Việt Nam, Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở

miền Bắc Việt Nam [76] của Viện Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt

Nam, Chính sách dân tộc: những vấn đề lý luận và thực tiễn [16] Nhân dịp kỷ

niệm 40 năm thành lập nước (1985), Ban Dân tộc Trung ương (Việt Nam) đã

tiến hành tổng kết về các dân tộc và xuất bản các ấn phẩm như: Bốn mươi năm

dân tộc Mường tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng (1945-1985) [6]; Bốn mươi năm dân tộc Thái tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng (1945-1985)

Từ năm 1991 Liên Xô cũ sụp đổ, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc được Chính phủ và giới nghiên cứu đặc biệt chú trọng Nhiều công trình nghiên cứu

về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Việt Nam đã được xuất bản như: Bước

đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam [71] của Học

Trang 10

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phan Hữu Dật với Góp phần nghiên cứu

dân tộc học Việt Nam [18], Đặng Nghiêm Vạn với Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam [73], Lê Ngọc Thắng với Một số vấn đề về dân tộc và phát triển [56]

và Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam [57], Bùi Minh Đạo với

Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam [24], Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta [65], 55 năm Công tác Dân tộc và Miền núi (1946-2001) [70] và Miền núi Việt Nam: thành tựu và phát triển những năm đổi mới [64] của Uỷ ban Dân tộc Việt Nam, Các quy định pháp luật đối với các dân tộc thiểu số [14], Kỷ yếu hội thảo Xoá đói giảm nghèo [72] của Viện Dân tộc

thuộc Uỷ ban dân tộc Trong Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945 -

2005 [2] có những nội dung về chính sách dân tộc Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam của GS Đặng Nghiêm Vạn đã phân tích quá trình hình thành và phát

triển cộng đồng dân tộc Việt Nam, tổng kết những đặc điểm của cộng đồng dân tộc Việt Nam, và cho rằng: ―Vấn đề dân tộc và quan hệ tộc người trong một quốc gia - dân tộc được giải quyết đúng đắn là một yếu tố quyết định cho thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước lên con đường công nghiệp hóa theo hướng chủ nghĩa xã hội‖ [73, tr.384] Trong các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc

Một số học giả Trung Quốc cũng có công trình nghiên cứu về chính sách

dân tộc Việt Nam như: Lưu Trĩ với Chính sách dân tộc và vấn đề dân tộc của

Việt Nam [112]; Vi Hồng với Nghiên cứu vấn đề dân tộc của năm nước Đông Nam Á [111]; Phạm Hồng Quý với Vấn đề dân tộc và dân tộc Việt Nam [110],

cuốn sách này đã giới thiệu tỉ mỉ cộng đồng tộc người ở Việt Nam, phân tích sự hình thành và phát triển của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Việt Nam thời hiện đại Những công trình của học giả Trung Quốc về chính sách dân tộc Việt Nam là cơ sở để giới dân tộc học Trung Quốc tiếp cận và tìm hiểu cộng đồng tộc người, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Việt Nam

Như trên đã nêu, mấy năm gần đây càng có nhiều công trình nghiên cứu về

Trang 11

chính sách dân tộc Việt Nam tập trung nghiên cứu việc phát triển kinh tế - xã hội dân tộc thiểu số, như xóa đói giảm nghèo, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

Một số học giả của nước khác từ những góc nhìn khác tập trung nghiên cứu

về vấn đề xác định thành phần dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam, quan hệ giữa chính phủ và các dân tộc thiểu số của Trung Quốc, như Oscar Salesmink

với Sedentarization and Selective Preservation among the Montagnards in the

Vietnamese Central Highlands [85], Tapp Nicholas với In Defence of the Archaic: A Reconsideration of the 1950s Ethnic Classification Project in China

[86], Blake Stone-Banks với The Minzu Shibie: Equality and Evolution in Early

CCP Minority Research and Policy [87] Vì nguyên nhân lý thuyết và cách nhìn

nhận khác, những nghiên cứu này có những quan điểm và kết luận khác với học

giả Trung Quốc và Việt Nam Trong The Indigenous Minorities of China [88],

tác giả Pushpa Surendra có những quan điểm sai lầm như ―Chính phủ Trung Quốc thông qua thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của dân tộc thiểu số nhằm đồng hóa các dân tộc thiểu số với hình thức là tiến kịp người Hán‖ [88, tr.23] Những năm gần đây đã xuất hiện những công trình nghiên cứu so sánh vấn

đề dân tộc và chính sách dân tộc của một số quốc gia, như Charles Keyes với

The Peoples of Asia: Science and Politics in the Classification of Ethnic Groups

in Thailand, China and Vietnam [84], bài viết này đã phân tích so sánh việc xác

định thành phần dân tộc của ba nước Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và cho rằng:―Danh mục các thành phần dân tộc của Trung Quốc là kết quả của chính trị đặc thù, việc xác định thành phần dân tộc làm cho tính đa dạng tộc người của Trung Quốc giảm đi‖[84, tr.1187], vì nguyên nhân của xuất pháp điểm, bài viết này có quan điểm như vậy, tác giả luận án không đồng ý quan điểm này Học

giả Trung Quốc Quả Hồng Thăng với Nghiên cứu so sách vấn đề dân tộc của

Trung Quốc và Liên Xô cũ [135], công trình này so sánh một cách toàn diện vấn

đề dân tộc và chính sách dân tộc của Trung Quốc và Liên Xô cũ, và cho rằng mâu thuẫn dân tộc là một trong ba yếu tố quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của Liên

Trang 12

Xô cũ, rút kinh nghiệm từ đó Trung Quốc phải giải quyết thoả đáng vấn đề dân tộc [135, tr.11] Có thể nói rằng, phương pháp nghiên cứu so sánh là một cách nhằm tiếp cận tìm hiểu vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở những quốc gia

đa dân tộc

Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu như trên, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào so sánh lý thuyết về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống Mặt khác, việc nghiên cứu

xu hướng phát triển của lý thuyết về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới còn chưa được chú ý thoả đáng Dựa trên những cơ sở đã có, đề tài này so sánh cơ sở lý thuyết và chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam, trọng điểm là lựa chọn một số chính sách

cụ thể để so sánh Đây là một cách tiếp cận để hiểu thêm về chính sách dân tộc của hai nước láng giềng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆN VỤ NGHIÊN CỨU

Thông qua nghiên cứu so sánh, nhằm tìm hiểu sự hình thành phát triển của chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại, trên cơ sở đó tổng kết một số chính sách và giải pháp có hiệu quả trong việc vừa phát triển kinh tế - xã hội vừa bảo tồn văn hóa đa dạng vùng dân tộc thiểu số của hai nước, góp phần vào sự phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số của hai nước

Để đạt được mục đích nói trên, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam, đây

là cơ sở khách quan của quá trình hình thành chính sách dân tộc

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam, sự phát triển của chính sách dân tộc được dựa trên những cơ sở lý thuyết

đó

- Nghiên cứu phân kỳ quá trình hình thành và phát triển của chính sách dân tộc Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại qua các giai đoạn lịch sử, để làm cơ

sở so sánh một số chính sách và chương trình cụ thể của hai nước

- So sánh một số chính sách và biện pháp thực hiện chính sách dân tộc của

Trang 13

hai nước, phân tích và đánh giá kết quả của những chính sách dân tộc đó Qua

đó rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử góp phần phục vụ mục đích phát triển toàn diện của vùng dân tộc thiểu số trong thời gian tới

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này gồm chính sách dân tộc thời hiện đại của Đảng cộng sản Trung Quốc, Đảng cộng sản Việt Nam và hai Nhà nước về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc Chính sách dân tộc của Đài Loan, của Bảo Đại

và của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài Nội dung của chính sách dân tộc thời hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam rất rộng, vì sự hạn chế về nguồn tài liệu và thời gian, để thuận tiện cho việc nghiên cứu và so sánh, đề tài lựa chọn một số chính sách và chương trình cụ thể

về chính trị, kinh tế, văn hóa của hai nước để so sánh, như vấn đề xác định thành phần dân tộc, thiết lập hệ thống hành chính ở vùng dân tộc thiểu số, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về văn hóa ngôn ngữ dân tộc thiểu số

và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, Chương trình Hưng biên phú dân của Trung Quốc và Chương trình 135 của Việt Nam

Từ khi nắm chính quyền, Đảng cộng sản của hai nước mới có điều kiện thực hiện chính sách dân tộc Cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, Cách mạng Việt Nam thành công năm 1945 Theo phương pháp phân kỳ lịch sử của hai nước, lịch sử hiện đại Trung Quốc bắt đầu từ năm 1949, lịch sử hiện đại Việt Nam tính từ năm 1945, vì thế luận án sẽ trình bày và so sánh chính sách dân tộc thời hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1949 và năm 1945 trở lại đây Đề tài tập trung đi sâu vào giai đoạn 1978 - 2005 của Trung Quốc và giai đoạn 1986 - 2005 của Việt Nam là giai đoạn cải cách và đổi mới, chính sách dân tộc của hai nước được phát triển nhanh chóng và thực hiện toàn diện Những tộc người sống tại vùng biên giới Trung - Việt có quan hệ giao lưu kinh

tế văn hóa từ lâu, như người Choang ở Quảng Tây, Trung Quốc và người Tày, Nùng ở tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam Vì thế, đề tài lựa chọn Quảng Tây của Trung Quốc và tỉnh Lạng Sơn để so sánh việc thực hiện chính sách dân tộc cụ thể

Trang 14

5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguồn tài liệu của đề tài này chủ yếu gồm: những văn bản pháp luật và quy định về chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam; những văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng liên quan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam; những tài liệu thu thập được trong quá trình tiến hành điền dã dân tộc học tại Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc và tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam; các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại

Phương pháp luận của đề tài này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, dựa vào văn kiện của Đảng cộng sản và Nhà nước của hai nước Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã vận dụng các phương pháp như sau:

- Phương pháp nghiên cứu so sánh là một phương pháp được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời cũng là phương pháp nghiên cứu của dân tộc học - nhân học Kết hợp tình hình thực tế của hai nước,

đề tài tiến hành so sánh chính sách dân tộc của hai nước qua các thời kỳ Chương 3 so sánh các chương trình cụ thể về thực hiện chính sách dân tộc của hai nước, rút ra điểm giống nhau và khác biệt

- Phương pháp điền dã dân tộc học nhằm điều tra, phỏng vấn, đối với các nhà lãnh đạo, quản lý chính sách dân tộc, tác giả trực tiếp phỏng vấn các vấn đề xung quanh những hiệu quả và vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện một số chương trình và dự án về chính sách dân tộc Do hạn chế của thời gian, đề tài lựa chọn tỉnh Lạng Sơn tiến hành điền dã, đây là một thí dụ cụ thể trong việc thực hiện Chương trình 135 Tỉnh Lạng Sơn thuộc địa bàn miền núi, vừa là vùng biên giới Trong thời kỳ đổi mới, đây là địa bàn giao lưu kinh tế văn hóa sôi nổi giữa hai nước Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc và tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam có nhiều nét tương đồng về mặt địa lý và điều kiện

tự nhiên; những tộc người của hai vùng này có sự giao lưu kinh tế văn hóa mật

Trang 15

thiết từ lâu; mấy năm nay mậu dịch giữa hai nước đã xúc tiến phát triển kinh tế của hai vùng, vì thế đề tài chọn mẫu là Quảng Tây và Lạng Sơn để so sánh tình hình thực hiện Chương trình hưng biên phú dân của Trung Quốc và Chương trình 135 của Việt Nam Tại Trung Quốc tác giả đã tiến hành điều tra tại thành phố Bằng Tường, Quảng Tây về hiệu quả thực hiện Chương trình hưng biên phú dân Tại Việt Nam, tác giả đã phỏng vấn trao đổi, nghiên cứu với cán bộ quản lý công tác dân tộc tại tỉnh Lạng Sơn

- Phương pháp phân tích và tổng hợp, tác giả đã thu thập và nghiên cứu các tài liệu được công bố về chính sách dân tộc thời hiện đại của hai nước để tổng hợp và phân tích

sở lý luận của chính sách dân tộc, cách xử lý vấn đề dân tộc và phát triển kinh tế

- xã hội vùng dân tộc thiểu số của hai nước

Đề tài này có thể giúp ích cho các nhà nghiên cứu của hai nước trao đổi và hiểu biết lẫn nhau hơn về cơ sở lý luận và chính sách dân tộc, đồng thời thúc đẩy giao lưu văn hóa và học thuật giữa hai nước Đối với cơ quan chức năng về công tác dân tộc của hai nước, đề tài này là một tham khảo bổ ích

7 CẤU TRÖC CỦA LUẬN ÁN

Phù hợp với mục đích và với việc thực hiện các nhiệm vụ đã nêu trên, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương

Trang 16

Chương 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC VÀ VIỆC XÂY DỰNG

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Chương 3: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC

VÀ VIỆT NAM

Trang 17

Chương 1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC

VÀ VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

1 1 VAI TRÕ CỦA CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

1.1.1 QUAN NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

Chính sách dân tộc là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của quốc gia đa dân tộc ―Chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong chính sách phát triển đất nước hiện nay‖ [47, tr.43] Chính sách dân tộc đã thể hiện những quan điểm, chủ trương về giải quyết vấn đề dân tộc và đối với cộng đồng các dân tộc của nhà nước Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc có nội dung khá toàn diện, liên quan đến dân tộc đa số và dân tộc thiểu

số, được thể hiện trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ chữ viết, phong tục tập quán

1.1.2 NỘI HÀM VÀ VAI TRÕ CỦA CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

Về nội hàm của chính sách dân tộc, các công trình nghiên cứu có những lý giải và quan điểm khác nhau như:

Trong Về chính sách dân tộc Trung Quốc do Ngô Sĩ Dân, Phó chủ nhiệm

Uỷ ban dân tộc Trung ương Trung Quốc, có nêu: ―Chính sách dân tộc là tổng hợp của những biện pháp và quy định của nhà nước và chính đảng, nhằm điều chỉnh quan hệ dân tộc và xử lý vấn đề dân tộc‖ [146, tr.1]

Trong Đại cương chính sách dân tộc của học giả Trung Quốc Thẩm Quý

Bình có nêu: ―Chính sách dân tộc là những sách lược, biện pháp do chủ thể chính trị thực hiện nhằm quy phạm sự vụ dân tộc trong phạm vi nhà nước‖ [136, tr.20]

Trong Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam

do Ban Tư tưởng - văn hóa Trung ương Việt Nam biên soạn có nêu ―Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đa dân tộc của một quốc

Trang 18

gia theo quan điểm của giai cấp nắm chính quyền‖ [7, tr.42]

Trong Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta do Uỷ ban Dân tộc

Việt Nam biên soạn có ghi: ―Chính sách dân tộc là tập hợp những quan điểm, đường lối, chính sách và những giải pháp thực hiện của nhà nước, tác động trực tiếp đến các dân tộc và mối quan hệ dân tộc đang tồn tại‖ [65, tr.97-98]

Trong Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam của PGS TS

Lê Ngọc Thắng có nêu: ―Chính sách dân tộc là sách lược và kế hoạch cụ thể của Đảng và Nhà nước ta về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa tác động đến các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc, tương ứng với từng giai đoạn cách mạng; dựa trên nguyên tắc bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đề ra; nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam phát triển, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh‖ [57, tr.44]

Qua những quan điểm trên về nội hàm của chính sách dân tộc, chúng ta có thể thấy rằng thực chất của chính sách dân tộc là chính sách phát triển quốc gia - dân tộc của từng thời kỳ lịch sử; là chính sách quốc gia nhằm phát triển dân tộc,

là tổng hợp mọi chủ trương, đường lối, luật pháp và hệ thống các chính sách của nhà nước; là chính sách tạo ra nội lực của phát triển dân tộc

Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các dân tộc và cả nước, chính sách dân tộc tác động đến

cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Những chính sách dân tộc có nội dung đúng theo quy luật phát triển xã hội và phù hợp với tình hình thực tế sẽ xúc tiến quá trình phát triển của cả nước Vì chính sách dân tộc là một nội dung quan trọng của chính sách phát triển cả nước, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc

sẽ thúc đẩy sự phát triển của cả nước

1 2 TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

1.2.1 TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC

Trang 19

Trung Quốc nằm ở phía đông châu Á có diện tích 9,78 triệu km2

, Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc Từ năm 1949 đến những năm 80 của thế kỷ

XX, Trung Quốc đã tiến hành công tác xác định thành phần dân tộc theo những tiêu chí là đặc trưng dân tộc và ý nguyện dân tộc Thông qua công tác xác định thành phần dân tộc, Trung Quốc đã công nhận 56 dân tộc, trong đó dân tộc Hán

là dân tộc đa số, còn lại 55 dân tộc là dân tộc thiểu số Trải qua nhiều thế kỷ, các dân tộc thiểu số đã có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hóa với các dân tộc trong nước và các dân tộc thuộc các nước láng giềng Cơ sở của những quan hệ này là

sự gần nhau về địa lý, nhu cầu giao lưu kinh tế - văn hoá

Dân tộc Hán có ngôn ngữ và chữ viết riêng của mình, tiếng Hán (tiếng phổ thông) được sử dụng rộng rãi trong nước Phần lớn dân tộc thiểu số cũng có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình Trước năm 1949, các dân tộc Hồi và Mãn sử dụng tiếng Hán, các dân tộc Mông Cổ, Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Triều Tiên, Ca-dắc, Tích Bá, Thái, U-dơ-bếch, Khơ-ơ-khơ-chư, Tác-ta, Nga có ngôn ngữ và chữ viết riêng Một số dân tộc thiểu số như Di, Na-xi, Miêu, Cơ Nặc, Lật Túc, Ngoã, Lạp Hổ đều có chữ viết riêng nhưng không được sử dụng rộng rãi Còn lại 34 dân tộc không có chữ viết Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong khuôn khổ của chương trình cấp chính phủ, chữ viết của 10 dân tộc thiểu số đã được xây dựng và hệ thống hóa, đó là các dân tộc Choang, Bố Y, Miêu, Đồng, Hà Nhì, Lê Chính phủ cũng tổ chức tiến hành cải cách chữ viết của các dân tộc Duy Ngô Nhĩ, Ca-dắc, Cảnh Pha, Lạp Hổ, Thái

Theo quan điểm của giới học giả Trung Quốc, ngôn ngữ các dân tộc Trung Quốc được phân loại như Bảng 1.1

Bảng 1.1: Phân loại ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Trung Quốc

TT Ngữ hệ Nhóm ngôn

ngữ

Nhánh ngôn ngữ và các thành phần dân tộc

Trang 20

Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến

Nhánh ngôn ngữ Miêu: Miêu, Sơ

Nhánh ngôn ngữ Dao: Dao

Nhóm và nhánh ngôn ngữ chưa được xác định: Thổ Gia, Cưa-lạo

Nhánh ngôn ngữ Mãn Châu: Mãn, Tích Bá, Hách Triết

Nhánh ngôn ngữ Tunguxca: Ngạc Luân Xuân, Ngạc On Khắc

Nhóm và nhánh ngôn ngữ chưa được xác định: Triều Tiên

Các ngôn ngữ Tuyếc: Duy Ngô Nhĩ, Tát Lạp, U-dơ-bếch, Ca-dắc, Tác-ta, Dự-cố, Khơ-ơ-khơ-chư

Nhóm ngôn ngữ Mông Cổ: Mông Cổ, Thổ, Đông Hương, Ta-ua, Bảo An, Dự-cố

3 Ngữ hệ

Ấn - Âu

Nhóm ngôn ngữ Xlavơ: Nga

Nhóm ngôn ngữ Iran: Ta-gích

4 Ngữ hệ Nam Á: Ngoã, Đức Ngang, Bố Lăng

5 Ngữ hệ Nam Đảo: Cao Sơn

6 Ngữ hệ, nhóm và nhánh ngôn ngữ chưa được xác định: Kinh

(Nguồn: Cơ sở chính sách lý luận dân tộc, Nxb Dân tộc Quảng Tây, [130, tr.112])

1.2.1.1 Dân số

Năm 1953 dân số của các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc là khoảng 34 triệu người, chiếm 5,89% dân số cả nước; năm 1964 con số này là khoảng 39 triệu người, chiếm 5,77%; năm 1982 con số này đã tăng lên khoảng 66 triệu người, chiếm 6,62%; năm 1990: khoảng 90 triệu người, chiếm 8,01%; năm 2000: khoảng 104 triệu người, chiếm 8,41% [154, tr.698]

Theo cuộc điều tra dân số toàn quốc năm 2000, Trung Quốc có

Trang 21

1.137.386.112 người Hán và 104.490.735 người các dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số chiếm 8,41% dân số cả nước (không kể Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao) Trong các nhóm dân tộc thiểu số thì người Choang là lớn nhất, có tới 16.178.811 người, còn nhỏ nhất là người Lạc Ba, chỉ có 2.965 người Theo số liệu của cuộc điều tra dân số toàn quốc năm 2000, 2 dân tộc Choang và Mãn có dân số trên 10.000.000 người, 16 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có số dân trên 1.000.000 người, đó là các dân tộc: Hồi, Duy Ngô Nhĩ, Ca-dắc, Thái, Di, Miêu, Tạng, Mông Cổ, Thổ Gia, Bố Y, Triều Tiên, Đồng, Dao, Bạch, Hà Nhì, Lê Tổng dân số của 18 dân tộc này chiếm hơn 90% dân số các dân tộc thiểu số toàn quốc

Có 17 dân tộc có dân số dưới 1.000.000 người và trên 100.000 người là các dân tộc: Lật Túc, Ngoã, Sơ, Lạp Hổ, Thủy, Đông Hương, Na-xi, Cảnh Pha, Khơ-ơ-khơ-chư, Thổ, Ta-ua, Mu-lạo, Khương, Cưa-lạo, Mao-nan, Tát Lạp, Tích

Có 1 dân tộc có dân số trên 50.000 người: Bố Lăng, 12 dân tộc có dân số từ 10.000 - 50.000 người: A-Xương, Phổ Mễ, Ta-gích, Nộ, U-dơ-bếch, Nga, Ngạc

On Khắc, Đức Ngang, Bảo An, Dự Cố, Kinh, Cơ Nặc

Dân số của 7 dân tộc dưới 10.000 người, đó là các dân tộc: Cao Sơn (không

kể người Cao Sơn ở Đài Loan), Tác-Ta, Độc Long, Ngạc Luân Xuân, Hách Triết, Mơn-ba, Lạc Ba

Ngoài ra, còn có 734.438 người vẫn chưa xác định được thành phần dân tộc, 941 người nước ngoại gia nhập quốc tịch Trung Quốc

1.2.1.2 Phân bố

Dân cư Trung Quốc phân bố không đều Người Hán định cư trên khắp đất nước nhưng chủ yếu sinh sống tại Miền Đông, Miền Trung và Miền Nam, các dân tộc thiểu số chủ yếu phân bố tại Miền Tây, Miền Đông Bắc, Miền Tây Nam

và Miền Tây Bắc Người Hán có trình độ phát triển cao và trong suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc, có mối liên hệ mật thiết về kinh tế, chính trị, văn hóa với tất

cả các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc Theo đặc điểm tự nhiên của vùng cư trú,

Trang 22

người Hán tập trung cư trú tại vùng đồng bằng và thung lũng, các dân tộc thiểu

số chủ yếu cư trú tại vùng cao, miền núi và vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt Các dân tộc thiểu số có số lượng dân cư không lớn nhưng sinh sống trên phần lãnh thổ chiếm tới gần 60% diện tích đất nước Các dân tộc thiểu số chủ yếu phân bố tại các tỉnh và khu tự trị: Nội Mông

Cổ, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây, Ninh Hạ, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hồ Nam,

Hồ Bắc, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Đài Loan Phần lớn các tỉnh và khu

tự trị này nằm trong vùng biên giới, thí dụ Nội Mông Cổ có đường biên giới lục địa hơn 4200 km, Tây Tạng có đường biên giới lục địa gần 4000 km, Tân Cương có đường biên giới lục địa hơn 5700 km, Quảng Tây có đường biên giới lục địa 1020 km, Vân Nam có đường biên giới lục địa 3200 km Mật độ dân cư của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có người Hán tụ cư cao hơn các tỉnh và khu tự trị có dân tộc thiểu số tụ cư Thí dụ, tỉnh Triết Giang với dịên tích lục địa 101.800 km2

có dân số hơn 46.770.000 người (năm 2000), mật độ dân

cư là 459 người trên 1 km2, cao hơn Khu tự trị Tây Tạng (1,73 người trên 1

km2), Thanh Hải (7,2 người trên 1 km2), Tân Cương (11 người trên 1 km2

) Nhiều dân tộc thiểu số định cư trên núi cao, ở các vùng thảo nguyên và núi rừng, còn phần lớn phân bố ở các vùng biên giới Dân số dân tộc thiểu số của các tỉnh và khu tự trị thuộc vùng biên giới chiếm 50% dân số của các dân tộc thiểu số cả nước Các vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước Miền Tây Nam là vùng đa dạng nhất về thành phần tộc người của Trung Quốc, thí dụ tỉnh Vân Nam có 25 dân tộc sinh sống từ lâu Vùng này chủ yếu phân bố các dân tộc có ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Hán-Tạng và Nam Á: Choang, Thái, Miêu, Dao, Di, Tạng, Mơn-ba, Cảnh Pha, Khương, Hà Nhì, Bạch, Ngoã, Đức Ngang, Bố Lăng Miền Tây Bắc chủ yếu phân bố các dân tộc

có ngôn ngữ thuộc Nhóm ngôn ngữ Tuyếc, Mông Cổ và Ấn-Âu: Duy Ngô Nhĩ, Tát Lạp, U-dơ-bếch, Ca-dắc, Tác-ta, Dự-cố, Khơ-ơ-khơ-chư, Mông Cổ, Đông

Trang 23

Hương, Ta-ua, Bảo An, Nga, Ta-gích Miền Đông Bắc chủ yếu phân bố các dân tộc có ngôn ngữ thuộc Nhóm ngôn ngữ Mãn Châu-Tunguxca: Mãn, Tích

Bá, Hách Triết, Ngạc Luân Xuân, Ngạc On Khắc, Triều Tiên Miền Đông Nam chủ yếu phân bố các dân tộc có ngôn ngữ thuộc Họ ngôn ngữ Nam Đảo: Cao Sơn, Sơ

1.2.1.3 Những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ở Trung Quốc

1) Các dân tộc có quy mô dân số không đều nhau

Năm 2000, người Hán với số dân 1.137.386.112 chiếm 91.59% dân số cả nước, còn lại 55 dân tộc thiểu số chiếm 8.41% dân số cả nước Quy mô dân số giữa các dân tộc thiểu số cũng không đồng đều nhau Trong các dân tộc thiểu số Trung Quốc có những dân tộc thiểu số có số dân trên 10 triệu người như các dân tộc: Choang (16.178.811 người), Mãn (10.682.263 người), cũng có những dân tộc thiểu số có số dân rất ít, chỉ có mấy nghìn người, như các dân tộc: Tác-ta (4.890 người), Hách Triết (4.640 người), Lạc Ba (2.965 người) Nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc, từ năm 2005, Trung Quốc bắt đầu thực hiện Chương trình giúp đỡ các dân tộc có số dân tương đối ít phát triển kinh tế - xã hội

2) Các dân tộc cư trú phổ biến theo hình thái xen kẽ với nhau

Trên phạm vi cả nước, phần lớn các dân tộc sống thành những nhóm hỗn hợp Các dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ với nhau và xen kẽ với dân tộc Hán Với

sự phát triển của giao lưu kinh tế và văn hóa trong nước, hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc có xu hướng ngày càng gia tăng Như dân tộc Hồi có dân số hơn 9 triệu người, Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ chỉ có hơn 1 triệu người Hồi

tụ cư, còn lại người Hồi phân bố trong phạm vi cả nước như Cam Túc, Tân Cương, Thanh Hải Trong phạm vi cả nước, thành phần dân tộc của cư dân tại phần lớn các huyện đều trên 10 thành phần dân tộc Tại một số địa phương tự trị dân tộc, dân số người Hán vẫn chiếm đa số, như các khu tự trị Nội Mông Cổ, Quảng Tây, Ninh Hạ Tuy ở một số vùng có các dân tộc cư trú tương đối tập trung, song nhìn chung, các dân tộc Trung Quốc sống xen kẽ nhau, không có

Trang 24

lãnh thổ riêng biệt Cũng có một số cộng đồng dân tộc thuần nhất nhỏ bé nằm giữa các nhóm hỗn hợp lớn, đây là mô hình đặc trưng của sự phân bố dân cư các dân tộc ở Trung Quốc

3) Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều

Do các nguyên nhân khác nhau, hiện nay tại Trung Quốc trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các dân tộc Những nguyên nhân đó có nguyên nhân do lịch sử để lại, cũng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn

cư trú của một số dân tộc, từng vùng từng dân tộc có những tính đặc thù riêng Nhiều dân tộc thiểu số cư trú tại vùng biên giới, thảo nguyên, sa mạc, vùng cao

và vùng núi, đi lại khó khăn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sản xuất và sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sự thấp kém về trình độ phát triển kinh tế - xã hội Nhiều dân tộc đã đạt đến trình độ cao về phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng còn một số dân tộc vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp Như ở Trung Quốc, người Kinh có số dân tương đối ít, chủ yếu cư trú tại thành phố Đông Hưng, Quảng Tây Thông qua đi biển và buôn bán, thu nhập của người Kinh khá cao, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng tương đối cao Nhưng tại vùng Tây bắc Quảng Tây, một số người Dao cư trú tại vùng xa xôi hẻo lánh, đi lại khó khăn, thu nhập và trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp Hiện nay để thực hiện bình đẳng dân tộc, việc khắc phục sự phát triển không đồng đều về kinh tế

- xã hội giữa các dân tộc là một nội dung quan trọng của chính sách dân tộc Trung Quốc

4) Văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng

Dân tộc luôn gắn liền với văn hóa Văn hóa càng phong phú, thì dân tộc càng đặc sắc, càng phát triển Văn hóa được thể hiện trong khoa học kỹ thuật, ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, ca múa, điêu khắc, hội họa, y học cổ truyền Các dân tộc Trung Quốc thuộc 5 ngữ hệ, nên văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng Các dân tộc thiểu số Trung Quốc có những tác phẩm văn học nổi tiếng, như các dân tộc Mông Cổ, Di, Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Dao đều có sử thi của dân tộc mình Tác phẩm hội họa, điêu khắc và kiến trúc của các dân tộc

Trang 25

thiểu số có trình độ nghệ thuật tương đối cao Âm nhạc và ca múa dân tộc thiểu

số rất đa dạng, đã thể hiện tính dân tộc Ngoài ra, các nhóm địa phương của một

số dân tộc cũng có những văn hóa riêng biệt Như nhóm người Choang áo đen ở vùng Tây bắc Quảng Tây có trang phục, văn hóa dân gian khác với người Choang của các nhóm địa phương khác Nhìn chung, văn hóa các dân tộc thiểu

số là một phần quan trọng của văn hóa Trung Hoa, làm cho văn hóa Trung Hoa trở nen đa dạng Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay của các dân tộc thiểu số, khoa học kỹ thuật và văn hóa hiện đại đang xâm nhập vùng dân tộc thiểu số, tiếng phổ thông dần dần được phổ cập, văn hóa của một số dân tộc như ngôn ngữ chữ viết, trang phục truyền thống dân tộc đang có nguy cơ vắng bóng trong đời sống các dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy tính đa dạng của văn hóa các dân tộc là rất cần thiết, Chính phủ cũng có một số chương trình, dự

án nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc

Ngoài các đặc điểm trên đây, cộng đồng các dân tộc ở Trung Quốc còn có những đặc điểm khác, như các dân tộc đã hình thành quan hệ mật thiết và gần gũi trong quá trình lịch sử lâu dài

1.2.2 TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM

Việt Nam nằm ở miền Đông của bán đảo Đông Dương với diện tích đất liền 331.690 km2, phía Đông và phía Nam là biển Đông, phía Bắc và phía Tây giáp với Trung Quốc và Lào, Campuchia Từ lâu trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã diễn ra một sự giao thoa văn hóa và tộc người rất phức tạp, quá trình này đã dẫn đến đa tộc người và tính đa dạng văn hóa của Việt Nam Việt Nam là một quốc gia thống nhất, bao gồm 54 dân tộc với trên 170 nhóm địa phương cùng chung sống Việc phân loại dân tộc theo các ngữ hệ hay ngôn ngữ ở Việt Nam hiện vẫn

là vấn đề khoa học được tranh luận với nhiều ý kiến khác nhau Có tác giả chia thành 3 ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo, Hán - Tạng theo cách phân chia truyền thống (Khổng Diễn); có tác giả chia thành 4 ngữ hệ: Nam Á, Thái, Nam Đảo, Hán - Tạng (Lê Sĩ Gíao, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng); có tác giả chia thành 5 ngữ hệ: Nam Á, Thái - Kađai, Hán - Tạng, Nam Đảo, Mông -

Trang 26

Miền (Viện Ngôn ngữ học) Dưới đây tôi xin trình bảy Bảng phân loại ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam theo cách phân loại của GS Đặng Nghiêm Vạn Theo phân loại ngôn ngữ, 54 dân tộc của Việt Nam được xếp vào 3 dòng ngôn ngữ tộc người khác nhau xem Bảng 1.2

Bảng 1.2: Phân loại ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

Gié-2 Dòng

Nam Thái

Ngôn ngữ Tày - Thái: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay (Cao Lan - Sán Chỉ), Giáy, Lào, Lự, Bố Y

Ngôn ngữ Hmông - Dao: Hmông, Dao, Pà Thẻn

Ngôn ngữ Kađai: La Chí, La Ha, Cơ Lao, Pu Péo

Ngôn ngữ Nam Đảo: Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Ra Glai, Chu

Ngôn ngữ Hán: Hoa, Ngái, Sán Dìu

(Nguồn: Đặng Nghiêm Vạn (2003), Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TPHCM, [73, tr.178-179].)

1.2.2.1 Dân số

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê qua Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 1999, dân số giữa các dân tộc không đều nhau, trong đó dân tộc Kinh

là dân tộc đa số với số dân 65.795.718 người, chiếm 87% dân số; 53 dân tộc có

số dân ít gọi là dân tộc thiểu số, chiếm 13% dân số Theo số liệu thống kê, 4 dân tộc thiểu số có số dân trên 1.000.000 người là Tày, Thái, Mường, Khơme Có 4 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 600.000 đến dưới 1.000.000 người là Hoa, Nùng, Hmông, Dao Có 9 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 100.000 đến dưới 600.000 người là Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Cơ Ho, Xơ Đăng, Sán Dìu, Hrê Có 19 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 10.000 người đến dưới

Trang 27

100.000 người là Ra-glai, Mnông, Thổ, Xtiêng, Khơ-mú, Bru-Vân kiều, Cơ tu, Giáy, Tà ôi, Mạ, Giê-Triêng, Co, Chơ-ro, Xinh-mun, Hà Nhì, Chu-ru, Lào, La Chí, Kháng Có 12 dân tộc, mỗi dân tộc có số dân từ 1000 người đến dưới 10.000 người là Phù Lá, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô Lô, Mảng,

Cơ Lao, Bố Y, Cống Có 5 dân tộc có số dân dưới 1000 người là Si La, Pu Péo,

Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu

1.2.2.2 Phân bố

Người Kinh phân bố trong phạm vi cả nước, chủ yếu cư trú tại đồng bằng, ven biển và trung du Các dân tộc thiểu số tập trung cư trú tại miền núi phía Bắc, vùng núi Thanh - Nghệ - Tĩnh, Trường Sơn - Tây Nguyên, đồng bằng Nam

Bộ Người Hoa tập trung sinh sống ở một số nơi thuận tiện cho làm ăn buôn bán, đặc biệt tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh

1.2.2.3 Những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

Tình hình và đặc điểm dân tộc của Việt Nam là một cơ sở khách quan trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc Việc xác định đặc điểm cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam hiện vẫn có nhiều quan điểm khác nhau, có một số công trình nghiên cứu xác định 5 - 6 đặc điểm, có công trình nghiên cứu xác định 10 đặc điểm Tuy nhiên về cơ bản có thể nêu các đặc điểm sau:

1) Dân số của các dân tộc không đồng đều nhau

Người Kinh của Việt Nam là dân tộc đa số, có số dân đông nhất với hơn 65 triệu người (năm 1999), chiếm 87% dân số cả nước, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm 13% dân số cả nước Dân số của các dân tộc thiểu số cũng không đều, một số dân tộc thiểu số có số dân trên 1 triệu người như các dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơme Một số dân tộc thiểu số có số dân dưới 1.000 người, như các dân tộc Si La (840 người), Pu Péo (705 người) , Rơ Măm (352 người), Brâu (313 người), Ơ Đu (301 người) Dân số của các dân tộc không đều là một đặc điểm khá phổ biến trong nhiều nước đa dân tộc trên thế giới Quy mô dân số có ảnh hưởng nhất định đối với địa vị chính trị, xã hội của các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc, dân tộc đa số thường có vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển

Trang 28

của nhà nước Nếu dân số của một dân tộc quá ít, thì rất khó cho việc bảo tồn tiếng nói và văn hóa dân tộc

2) Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc là phổ biến

Việc di cư của các dân tộc là một nguyên nhân hình thành tình trạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc Trong lịch sử, nhiều dân tộc di cư từ các nước bên cạnh như Trung Quốc và Lào sang Việt Nam Các dân tộc thiểu số cũng có sự di cư

từ vùng này sang vùng khác Từ sau năm 1975, Việt Nam thực hiện kế hoạch di chuyển một bộ phận cư dân ở phía Bắc vào xây dựng các khu kinh tế mới ở phía Nam, tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc ngày càng phổ biến

Các dân tộc thiểu số sống tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và làng bản Hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú Nhiều tỉnh có trên 20 dân tộc cư trú như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lâm Đồng Nhiều huyện miền núi có từ 5 dân tộc trở lên cư trú Phần lớn các xã và làng bản có 3 hoặc 4 dân tộc cùng sinh sống Tình trạng cư trú xen

kẽ là điều kiện thuận lợi để tăng cường đoàn kết, hiểu biết nhau, tăng cường quan hệ mọi mặt giữa các dân tộc, xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày càng gắn bó vững chắc, cùng nhau tiến bộ và phát triển, để sự hòa hợp dân tộc tăng lên, sự cách biệt về trình độ phát triển từng bước thu hẹp lại Nhưng tình trạng

cư trú xen kẽ cũng có thể dẫn đến xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích giữa các dân tộc, nếu không chú ý đến sự hài hòa về lợi ích giữa các dân tộc, không có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thiểu số phát triển Hiện nay trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tính chất phân tán và xen kẽ trong cư trú của các dân tộc ngày càng tăng lên

3) Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú rải rác, phân tán trên các vùng rừng núi, biên giới

Phần lớn các dân tộc thiểu số cư trú ở miền núi, chiếm 3/4 lãnh thổ Việt Nam, dọc theo biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia (trên 3.000 km đường biên) Các dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, ngôn ngữ Tạng -

Trang 29

Miến và ngôn ngữ Hmông - Dao như người Tày, Nùng, Thái, Lào, Hà Nhì, Lô

Lô, Hmông, Dao chủ yếu cư trú tại khu vực miền núi phía Bắc Các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme như người Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Khơme chủ yếu phân bố tại Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam Các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo như người Gia Rai, Ê Đê, Chủ Ru, Chăm tập trung cư trú tại Tây Nguyên và khu vực Nam Trung Bộ của Việt Nam Trên đường biên giới có nhiều cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, đây là điều kiện thuận lợi

để giao lưu kinh tế và văn hóa Trong công cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, các vùng cao đó là những căn cứ địa cách mạng như Việt Bắc và Tây Bắc; trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, đó là nơi có tiềm năng kinh tế to lớn về tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản như than, sắt, đồng, vàng bạc,

đá quý Các vùng rừng núi, biên giới có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và đối ngoại Nói cách khác, các dân tộc thiểu số giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng

4) Các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội

Do các nguyên nhân lịch sử, xã hội, điều kiện tự nhiện, sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc là tình trạng khá phổ biến ở các nước đa dân tộc Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các dân tộc Việt Nam ở những giai đoạn phát triển xã hội khác nhau, chẳng hạn ngoài quan hệ phong kiến, xã hội của người Kinh đã xuất hiện những yếu tố tư bản chủ nghĩa; nhưng tàn dư của công xã nguyên thuỷ vẫn còn thấy ở một số dân tộc, như xã hội của người Gia Rai, Ê Đê còn có dấu vết mẫu hệ Do nguyên nhân lịch sử để lại, ―Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nước ta thành công, các dân tộc nước ta tiến lên xây dựng cuộc sống mới từ những xuất phát điểm không giống nhau về kinh

tế - xã hội‖ [18, tr.347] Các dân tộc Việt Nam có sự phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau giữa vùng cao và vùng thấp, giữa miền núi và miền xuôi Các dân tộc sống ở vùng thấp có điều kiện thuận lợi, có trình độ phát triển kinh tế -

xã hội cao hơn các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa Như từ

Trang 30

xưa người Kinh, Chăm chủ yếu cư trú tại các vùng đồng bằng, có nhiều kinh nghiệm trồng lúa nước và làm thuỷ lợi, có đời sống kinh tế - xã hội phát triển cao hơn rất sớm Một số dân tộc như người Dao, Hmông cư trú trên địa bàn có điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt, đời sống kinh tế - xã hội của những dân tộc này còn thấp kém

Khắc phục sự phát triển không đều về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng của chính sách dân tộc Việt Nam Qua gần 20 năm đổi mới, tuy nhiên tình hình kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển đáng kể Một thực tế khách quan là giữa các dân tộc thiểu số với nhau cũng như giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, trình độ phát triển kinh

tế xã hội vẫn còn nhiều chênh lệch

5) Văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú, đa dạng

Mỗi dân tộc của Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc thiểu số dù số dân ít đến đâu, dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội có thấp đến mấy cũng đều có những sắc thái văn hóa độc đáo Văn hóa các dân tộc bao gồm nhiều nội dung: ngôn ngữ, chữ viết, văn học nghệ thuật, tập quán ăn, mặc, sản xuất, kiến trúc, tâm lý, lối sống Ngôn ngữ của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau Tiếng Việt là quốc ngữ, là phương tiện giao tiếp của tất cả các dân tộc, cũng là công cụ xây dựng ý thức dân tộc thống nhất Đồng thời tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc vẫn được duy trì, giúp xây dựng và giữ gìn ý thức riêng của dân tộc mình Do nhu cầu giao tiếp và điều kiện sống xen kẽ, nhiều dân tộc thiểu số thường sử dụng song ngữ hay đa ngữ Ví dụ người Xinh Mun ở Tây Bắc ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết tiếng Thái, Kinh, Hmông Về chữ viết, các dân tộc thiểu số

có chữ Nôm Tày - Nùng, chữ Nôm Dao, văn tự của các dân tộc Thái, Lào, Khơme, Chăm hình thành trên cơ sở của chữ Phạn (Ấn Độ), các văn tự của một

số dân tộc dựa trên vần chữ cái Latin

Các dân tộc thiểu số lưu trữ được nhiều tri thức văn hóa dân gian, dân ca,

âm nhạc, múa Các loại hình nghệ thuật này có giá trị nghệ thuật cao như dân ca Mường, dân ca Hmông, múa xòe của người Thái, Đam San của Tây Nguyên,

Trang 31

tục ngữ Tày - Nùng, hát lượn của người Tày, hát sli của người Nùng, múa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, múa khèn của người Hmông Nhìn chung, văn hóa các dân tộc thiểu số có nhiều nét khác nhau, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc tạo nên văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng

6) Từ lâu các dân tộc Việt Nam đã hình thành quan hệ đoàn kết và gần gũi

Sự cộng cư trên một lãnh thổ đã làm cho các tộc người ở Việt Nam có chung một số phận lịch sử và nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu văn hóa Trong suốt quá trình lịch sử, các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, gần gũi với nhau Các dân tộc thiểu số đã phát huy vai trò quan trọng trong các cuộc đấu tranh cách mạng Vùng dân tộc thiểu số (như Việt Bắc và Tây Bắc) là căn cư địa cách mạng và hậu phương lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ, quân dân các dân tộc thiểu số đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giành thắng lợi của hai cuộc kháng chiến này Sau khi nhà nước thống nhất (1975), các dân tộc Việt Nam đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển, chung sức tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.2.3 SO SÁNH TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

1.2.3.1 Điểm giống nhau

Trung Quốc và Việt Nam có chênh lệch rất lớn về dân số và dịên tích, nhưng tình hình và đặc điểm dân tộc của hai nước này có nhiều mặt tương đồng như: các dân tộc của hai nước này đều có thể chia thành dân tộc đa số và dân tộc thiểu số; dân tộc đa số chiếm hơn 80% dân số cả nước; các dân tộc sinh sống xen kẽ với nhau; trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số tương đối thấp Ngoài ra, một số dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam có thể chịu những ảnh hưởng từ nước ngoài, thế lực thù địch nước ngoài có thể lợi dụng vấn đề dân tộc gây bất ổn tại vùng dân tộc thiểu số

Những nguyên nhân sau đây đã tạo nên sự giống nhau về tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam:

Trang 32

- Hoàn cảnh tự nhiên và đặc điểm địa lý giống nhau Trung Quốc và Việt Nam đều có vùng đồng bằng, miền núi, cao nguyên Dân tộc đa số sinh sống trên khắp cả nước, tập trung tại vùng đồng bằng Các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống tại miền núi, cao nguyên và vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện sản xuất, sinh hoạt và đi lại tương đối khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân khách quan làm cho sự phát triển của các dân tộc không đồng đều với nhau

- Các đặc điểm kinh tế - xã hội của hai nước này có nhiều nét tương đồng

Từ lâu Trung Quốc và Việt Nam cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thời kỳ phong kiến của cả hai nước đều hơn 1 nghìn năm Mô hình sản xuất tiểu nông

và kinh tế tự cấp tự túc đã tồn tại từ lâu trong các dân tộc thiểu số của hai nước này Những nhân tố này làm cho tổ chức xã hội, mô hình sản xuất nông nghiệp lúa nước của hai nước này có nhiều mặt tương đồng

- Một số dân tộc của hai nước có chung nguồn gốc lịch sử Hơn 10 dân tộc thiểu số sinh sống dọc theo đường biên giới lục địa Trung - Việt, một số dân tộc

có chung nguồn gốc lịch sử, như các dân tộc Dao, Hà Nhì, La Hủ, Pu Péo, Khơ

- mú, Thái, Bố Y, Kinh, Di - Lô Lô, Hán - Hoa, Ngái, Miêu - Hmong, Choang - Tày, Nùng Sự đi lại và giao lưu kinh tế, văn hóa của những dân tộc này đã diễn ra từ lâu Vì thế, đặc điểm dân tộc của miền Tây nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam cơ bản tương đồng

1.2.3.2 Điểm khác biệt

1) Tiêu chuẩn phân loại dân tộc theo ngôn ngữ của Trung Quốc và Việt Nam khác nhau Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiêu chuẩn phân loại dân tộc theo ngôn ngữ của Trung Quốc và Việt Nam khác nhau, làm cho phân loại dân tộc theo ngôn ngữ của hai nước không tương đồng Theo quan điểm của học giả Việt Nam, tiếng Việt thuộc Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Ngữ hệ Nam Á Nhưng theo quan điểm của học giả Trung Quốc, bây giờ vẫn chưa xác định được tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào và nhóm ngôn ngữ nào

2) Dân số và diện tích của Trung Quốc và Việt Nam có chênh lệch rất lớn Dân tộc của Trung Quốc có dân số ít nhất là dân tộc Lạc Ba với số dân 2965

Trang 33

người (năm 2000), dân tộc của Việt Nam có dân số ít nhất là dân tộc Ơ Đu với

số dân 301 người (năm 1999) Với một diện tích rộng rãi, Trung Quốc có đường biên giới lục địa giáp với 14 nước láng giềng, nhiều dân tộc sinh sống dọc theo những đường biên giới này, 31 dân tộc có đồng tộc cư trú tại các nước láng giềng, tình trạng này làm cho tình hình dân tộc và vấn đề dân tộc của Trung Quốc phức tạp hơn

Tiểu kết chương 1

1 Tình hình và đặc điểm dân tộc là cơ sở khách quan để hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc Chính sách dân tộc phải phù hợp với tình hình và đặc điểm dân tộc mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn và giải quyết được vấn đề dân tộc Khi hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc phải tính đến tình hình và đặc điểm dân tộc

2 Một số đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam có tính phổ biến, như dân số của các dân tộc không đều nhau, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều, nhiều nước đa dân tộc trên thế giới đều có đặc điểm này Tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam có thể coi là điển hình của Đông Á và Đông Nam Á

3 Sự giống nhau về tình hình và đặc điểm dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam là một yếu tố khách quan ảnh hưởng đến sự giống nhau về chính sách dân tộc của hai nước này

4 Trung Quốc và Việt Nam đều có những tình hình và đặc điểm dân tộc riêng của mình, trong đó đã thể hiện tính địa duyên của hai nước này Như miền Bắc Trung Quốc có dân tộc Mông Cổ sinh sống dọc theo đường biên giới lục địa Trung - Mông, miền Nam Việt Nam có dân tộc Khơme cư trú dọc theo biên

Trang 34

giới Việt Nam - Campuchia Và do đó tình hình dân tộc của từng vùng tại hai nước này lại có những tình huống riêng

Chính vì vậy, chính sách dân tộc của hai nước, ngoài những nét tương đồng, cũng có những điểm khác biệt do những đặc điểm cụ thể của từng quốc gia quy định

Trang 35

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DUNG CHÍNH

SÁCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý thuyết khoa học do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập vào thế kỷ XIX, là bộ phận quan trọng của chủ nghĩa Mác được Lênin phát triển Mác và Ăngghen lần đầu tiên ứng dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào, khảo sát và nghiên cứu dân tộc và vấn đề dân tộc, vạch ra quy luật và khuynh hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc; xác định quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, vấn đề xã hội, vấn đề cách mạng xã hội; đề ra các nguyên tắc lý luận để giải quyết vấn đề dân tộc, là kim chỉ nam cho việc giải quyết vấn đề dân tộc đúng đắn trong thực tế Lênin đã kế thừa và phát triển lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác

Trung Quốc và Việt Nam là hai nước châu Á cùng theo con đường xã hội chủ nghĩa Hai nước đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó gồm lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Lý luận về dân tộc của hai nước được thể hiện trong quá trình vận dụng lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn, được thể hiện trong văn kiện đại hội Đảng, các nguyên tắc cơ bản của

chính sách dân tộc, Hiến pháp và những luật pháp liên quan

2.1 LÝ LUẬN VỀ DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC

2.1.1 SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ DÂN TỘC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO THỰC TIỄN TRUNG QUỐC

Quá trình hình thành quan niệm dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định, sự thành lập của Đảng cộng sản Trung Quốc là bắt đầu của lịch sử phát triển chính sách dân tộc Trung Quốc thời hiện đại Lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được

Trang 36

vận dụng linh hoạt vào thực tiễn trong quá trình hình thành quan niệm dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc và chính sách dân tộc của Trung Quốc Lý thuyết về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là bắt nguồn và là cơ sở lý luận của lý luận dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ mới thành lập Chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu được truyền bá tại Trung Quốc từ đầu thế kỷ

XX

Trong Toàn tập Mác và Ăngghen có hơn 360 bài viết, cộng 2 triệu chữ liên

quan đến vấn đề dân tộc và thuộc địa, những bài viết này là cơ sở của hệ lý luận dân tộc Lênin và Xtalin đã kế thừa, phát triển tư tưởng lý luận dân tộc của Mác

và Ăngghen, ứng dụng trong thực tiễn Lý luận về phong trào giải phóng dân tộc, phân biệt dân tộc áp bức và bị áp bức trong phạm vi thế giới trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc của Lênin, định nghĩa dân tộc của Xtalin, những bài viết về dân tộc, vấn đề dân tộc của Lênin và Xtalin là nguồn gốc và cơ sở lý luận của lý luận dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc khi Đảng cộng sản Trung Quốc vừa thành lập [98, tr.190-191]

Đầu thế kỷ XX, lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thông qua hai con đường truyền bá vào Trung Quốc Con đường thứ nhất là những người theo cách mạng của Trung Quốc, đặc biệt là những người lãnh đạo đầu tiên của Đảng cộng sản Trung Quốc đã tìm hiểu, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin tại các nước như Pháp, Đức, Nga, sau khi về nước, họ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong công tác nghiên cứu, tuyên truyền và thực tiễn Con đường thứ hai là bài viết và sách vở về chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin được dịch sang tiếng Trung

và xuất bản tại Trung Quốc Năm 1906, một số nội dung của Tuyên ngôn Đảng

cộng sản đã được tuyển chọn dịch sang tiếng Trung và công bố Năm 1908, một

số lưu học sinh Trung Quốc tại Nhật Bản sáng lập Báo Thiên nghĩa tại Tokyo, báo này đã đăng một số nội dung của Tuyên ngôn Đảng cộng sản và Nguồn gốc

của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước của Ăngghen, đây là chứng cứ

sớm nhất chứng minh người Trung Quốc đã tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 37

và lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngày 16 tháng 4 năm 1919, số 16

của tạp chí Bình luận mỗi tuần đã đăng tải nội dung trích dịch của Tuyên ngôn

Đảng cộng sản, tháng 5 Báo buổi sáng do Lý Đại Chiêu làm chủ biên mở

Chuyên mục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đăng nội dung trích dịch

của Tuyên ngôn Đảng cộng sản Năm 1920, bản dịch tiếng Trung của Tuyên

ngôn Đảng cộng sản do Trần Vọng Đạo dịch được xuất bản tại Thượng Hải, Phép biện chứng của tự nhiên của Ăngghen cũng được dịch sang tiếng Trung

Những tác phẩm trên là kinh điển của lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Có thể nói trước khi Đảng cộng sản Trung Quốc thành lập, lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được truyền bá tại Trung Quốc

Khi Đảng cộng sản Trung Quốc vừa thành lập, lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin đã ảnh hưởng đến những nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc Người lãnh đạo chủ chốt và nhiều đảng viên chịu ảnh hưởng của lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, nổi bật nhất là Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch

Lý Đại Chiêu là một trong những người sáng lập Đảng cộng sản Trung Quốc, góp phần rất lớn vào việc triển khai công tác dân tộc tại miền Bắc Trung Quốc Lý Đại Chiêu là người lãnh đạo sớm nhất của Đảng cộng sản Trung Quốc

đề cập đến vấn đề dân tộc và tự quyết dân tộc, trình bày về tư tưởng dân tộc lớn

và chế độ liên bang Khi giảng dạy Quan niệm lịch sử duy vật, Lý Đại Chiêu đã ứng dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phân tích vấn đề xã hội và vấn đề dân tộc

Cù Thu Bạch là đảng viên sớm phiên dịch và giới thiệu lý luận dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Tháng 1 năm 1921, Cù Thu Bạch đến thăm Mát-xcơ-va Ngày 10 tháng 3 năm 1921, trong Đại hội lần thứ XX của Đảng cộng sản Nga,

Xtalin trình bày báo cáo Nhiệm vụ trước mắt về vấn đề dân tộc của Đảng, Cù

Thu Bạch đã phiên dịch văn kiện và tài liệu của Đại hội lần này phát biểu trên

Báo buổi sáng tại Bắc Kinh vào ngày 22 tháng 6 năm 1921 Đây là lần đầu tiên

Nhiệm vụ trước mắt về vấn đề dân tộc của Đảng của Xtalin được dịch sang

tiếng Trung, bản dịch văn đó có thể coi là báo cáo khảo sát vấn đề dân tộc của

Trang 38

Liên Xô cũ, là một văn kiện quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của chính sách và lý luận dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc [98]

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã thúc đẩy sự truyền bá của chủ nghĩa Mác - Lênin tại Trung Quốc, thức tỉnh ý thức dân tộc và ý thức giai cấp của dân chúng Trung Quốc, thúc đẩy sự bùng nổ của Phong trào Ngũ Tứ và phát triển của phong trào văn hóa mới Cách mạng tháng Mười thắng lợi, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã biến thành sự thật và thể hiện một tương lai tốt đẹp, nhiều người tri thức Trung Quốc đi tìm hiểu lý luận chỉ đạo của Cách mạng tháng Mười – chủ nghĩa Mác - Lênin Ngày 4 tháng 5 năm 1919, Phong trào Ngũ Tứ bùng nổ, phong trào Ngũ Tứ đã mở rộng ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười, giải phóng tư tưởng của người dân Sau phong trào Ngũ Tứ, một số

tổ chức và tạp chí được thành lập, triển khai công tác nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin Phong trào Ngũ Tứ đã thúc đẩy sự phát triển của

tư tưởng dân tộc Trung Quốc

Trong quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc đã tiếp thu những lý thuyết về dân tộc và vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, như trong những văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng lần thứ I (năm 1921), lần thứ II (năm 1922), lần thứ III (năm 1923) đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng dân tộc, đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết về dân tộc và vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, sự truyền bá của lý luận và tư tưởng chủ nghĩa dân tộc phương Tây, tình hình quốc

tế và xu hướng phát triển của cách mạng thế giới đều có ảnh hưởng rất lớn đối với quan niệm dân tộc của những người sáng lập Đảng cộng sản Trung Quốc Qua nghiên cứu tác phẩm và lời phát biểu của các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, giới học giả Trung Quốc đã tổng kết quan niệm về dân tộc của các nhà lãnh đạo, hình thành lý luận dân tộc của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, tập thể lãnh đạo đời thứ ba (đồng chí Giang Trạch Dân là hạt nhân) của Đảng cộng sản Trung Quốc Những lý luận dân tộc trên mang những đặc điểm của từng thời kỳ, cũng có nội dung kế thừa từ giai đoạn trước Những

Trang 39

lý luận dân tộc trên là cơ sở lý luận của công tác dân tộc và chính sách dân tộc Trung Quốc qua từng thời kỳ

Ngoài những lý luận dân tộc của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cơ sở

lý luận của chính sách dân tộc Trung Quốc còn được thể hiện trong hiến pháp, nội dung của các văn kiện đại hội Đảng, luật pháp cơ bản của Nhà nước

2.1.2 NHỮNG NỘI DUNG VỀ DÂN TỘC CỦA VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG

Trước khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập, quan niệm dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc đã trải qua một quá trình dần dần hình thành

và phát triển, nhiều quan điểm dân tộc và cương lĩnh dân tộc mới được đề ra trong các kỳ Đại hội Đảng, và được sửa đổi trong thực tiễn cách mạng Trước năm 1949, Đảng cộng sản Trung Quốc đã tổ chức Đại hội Đảng 7 lần, trong những Đại hội Đảng này, Đại hội lần thứ II, thứ VI, thứ VII có đóng góp rất lớn đối với sự hình thành và phát triển của cương lĩnh và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc

2.1.2.1 Đại hội Đảng lần thứ I

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Trung Quốc được thông qua vào năm 1921 đã đề ra: ―Đối với những người chấp nhận đảng cương và chính sách của Đảng ta, có ý nguyện trở thành đảng viên trung thực, thông qua một đảng viên giới thiệu, không phân biệt giới tính, không phân biệt dân tộc, đều có thể kết nạp vào Đảng, trở thành đồng chí của ta‖ Nội dung này phản ánh trong vấn

đề tổ chức của Đảng cộng sản Trung Quốc chứng tỏ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, đây là biểu hiện cụ thể của tư tưởng bình đẳng dân tộc [109]

Trang 40

dân tộc, và cho rằng ―sau khi đánh đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, mới có thể thực hiện bình đẳng và tự quyết‖ Tư tưởng và quan điểm cơ bản của tuyên ngôn này

đã chỉ đạo công tác dân tộc của Đảng cộng sản Trung Quốc đến khi Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1928) khai mạc [109]

2.1.2.3 Đại hội Đảng lần thứ III

Tháng 6 năm 1923, Đại hội Đảng lần thứ III họp tại Quảng Châu, Đại hội

lần này đã thông qua Bản thảo của Đảng cương Đảng cộng sản Trung Quốc,

Đại hội quy định rõ rằng về thực hiện bình đẳng dân tộc và đoàn kết, liên hợp giữa các dân tộc, Đại hội đề ra vùng dân tộc thiểu số nên được hưởng quyền lợi

tự quyết bình đẳng và đầy đủ, giáo dục phải tuyệt đối tách rời tôn giáo Tuyên ngôn của Đại hội lần này chỉ ra, sứ mệnh của Đảng cộng sản Trung Quốc là thông qua cách mạng quốc dân giải phóng dân tộc Trung Quốc khỏi ách áp bức

2.1.2.4 Đại hội Đảng lần thứ IV

Năm 1925, Đại hội Đảng lần thứ IV đã thông qua Nghị quyết về phong trào

cách mạng dân tộc, có giải thích tỉ mỉ về cách mạng dân tộc Hội nghị Trung

ương lần thứ nhất khóa IV của Đảng cộng sản Trung Quốc đã thông qua Nghị quyết về vấn đề Mông Cổ, đề ra một số chính sách dân tộc cụ thể, đây là nghị quyết chuyên môn để giải quyết vấn đề dân tộc thiểu số trong nước Trong văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ V (tháng 5 năm 1927) không có những nội dung

về dân tộc và chính sách dân tộc

2.1.2.5 Đại hội Đảng lần thứ VI

Với sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, tháng 6 năm 1928, Đại hội Đảng lần

thứ VI họp tại Mát-xcơ-va, Đại hội lần này đã thông qua Nghị quyết về vấn đề

dân tộc chỉ ra, vấn đề dân tộc thiểu số trong nước của Trung Quốc có ý nghĩa

quan trọng đối với cách mạng Đại hội lần này xác định: thống nhất Trung Quốc

và thừa nhận quyền tự quyết dân tộc là một nguyên tắc Đại hội đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó quy định các dân tộc được sử dụng ngôn ngữ dân tộc của họ để thuận tiện cho công tác Đây là chủ chương nhằm phát triển văn hóa dân tộc thiểu số và tôn trọng ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số của Đảng cộng

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Phân loại ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam - Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Bảng 1.2 Phân loại ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam (Trang 26)
Bảng 3.2: Số lƣợng các hạng mục thuộc Dự án - Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Bảng 3.2 Số lƣợng các hạng mục thuộc Dự án (Trang 141)
Bảng 3.1: Số xã thuộc Chương trình 135 năm 1999 - 2005 - Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Bảng 3.1 Số xã thuộc Chương trình 135 năm 1999 - 2005 (Trang 141)
Bảng 3.3: Tỷ lệ của các dự án thuộc Chương trình 135 - Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Bảng 3.3 Tỷ lệ của các dự án thuộc Chương trình 135 (Trang 145)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w