1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán việt nam

48 425 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 89,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Chuẩn mực kiểm toán phải phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam để đảmbảo khả năng đưa chuẩn mực vào thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, đảm bảocác bên liên quan hiểu đú

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Kiểm toán đã hình thành và phát triển từ thế kỉ XV, ở Châu Âu, cùng với sự pháttriển của kinh doanh, người ta thấy xuất hiện một vấn đề mới đó chính là gian lận tàichính Từ đó xuất hiện sự cần thiết của kiểm toán để điều tra nhằm làm sáng tỏ nhữngmối quan hệ tài chính, với mục đích phát hiện tác giả của những cuộc phá sản gianlận

Ở Việt Nam, từ những năm 90 sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, Kiểm toán độclập Nhà nước và Kiểm toán độc lập được hình thành Từ tháng 5 năm 1991cho đếnnay kiểm toán Việt Nam đã đi được chặng đường hơn 21 năm Tuy không phải là mộtthời gian dài nhưng hoạt động kiểm toán Việt Nam đã và đang có những đóng gópquan trọng trong việc lành mạnh hoá nền tài chính Việt Nam, tạo đà cho sự phát triểnkinh tế

Với xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ của kiểm toán đòi hỏi phải xây dựngmột hệ thống chuẩn mực làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của Kiểm toán Do

đó, Việt Nam đang dần hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán dựa trên nhữngkinh nghiệm của quốc tế và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Từ năm 1999 đến năm

2005, Bộ Tài chính đã ban hành 38 chuẩn mực kiểm toán trong 7 đợt

Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán đã đóng góp vai trò quan trọng cho

sự phát triển của hoạt động kiểm toán Việt Nam Là nền tảng lý luận có chức nănghướng dẫn cho hoạt động kiểm toán Nhưng mặt khác khi áp dụng Hệ thống chuẩnmực kiểm toán Việt Nam thì nó lại cho ta thấy những vấn đề còn thiếu sót và hạn chếcủa hệ thống chuẩn mực Vì vậy, chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống chuẩn mực

kiểm toán hơn nữa Và đó là những vấn đề trong đề tài “Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam” mà nhóm chúng em đã nghiên cứu và tìm hiểu.

Nội dung đề tài ngoài Lời mở đầu và Lời cảm ơn gồm ba phần chính sau:

Phần I: Tổng quan về hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Phần II: Thực trạng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Phần III: Ý kiến, giải pháp hoàn thiện Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Vì thời gian nghiên cứu không nhiều nên có thể không tránh được những sai sót.Nhóm chúng em mong nhận được sự hướng dẫn thêm của quý thầy cô

Chân thành cảm ơn!

Trang 2

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM

TOÁN VIỆT NAM

1.1Kiểm toán là gì?

- Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin đượckiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó vớinhững chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi cácKTV đủ năng lực và độc lập

- Kiểm toán cũng được xem như một nghề cùng với các nghề khác mà trong tất cảmọi ngành nghề đều tồn tại các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều tiết hành vi của cácthành viên trong nghề theo một hướng nhất định bảo đảm uy tín nghề nghiệp nóichung và để kiểm soát chất lượng công việc của các thành viên nói riêng

1.2 Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là gì?

- Chuẩn mực kiểm toán là những quy phạm pháp lý, là thước đo chung về chấtlượng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết những hành vi của kiểm toán viên vàcác bên hữu quan theo hướng đạo và mục tiêu xác định Chúng là đường lối chung đểgiúp các kiểm toán viên hoàn thành trách nhiệm nghề nghiệp của họ trong cuộc kiểmtoán các báo cáo tài chính đã qua Chúng bao gồm việc suy xét về các đức tính nghềnghiệp như tính độc lập và năng lực, các quy định của quá trình báo cáo và bằngchứng

- Hệ thống các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế (IaGs) do Liên đoàn Kế toánquốc tế (IFAC) ban hành và những chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến đãđược ứng dụng ở tất cả các phân hệ thuộc bộ máy kiểm toán: Kiểm toán Nhà nước,kiểm toán độc lập, và kiểm toán nội bộ Tuy nhiên, ở mỗi phân hệ khác nhau, sự thểhiện các chuẩn mực cũng có những mặt khác nhau

1.3 Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán.

1.3.1 Tầm quan trọng của hệ thống chuẩn mực kiểm toán.

- Kiểm toán đã hình thành và phát triển ở Châu Âu từ thế kỉ XV Cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế thị trường, ngành kiểm toán ngày càng khẳng định vị trí và tầm quantrọng của mình trong việc đánh giá các báo cáo tài chính Do tính nhạy cảm của nghềkiểm toán, mọi người thường hoài nghi về tính chính xác mà các báo cáo kiểm toán

Trang 3

mang lại, đặc biệt là tư cách nghề nghiệp của các kiểm toán viên Đặc biệt là sau khixảy ra sự kiện của công ty kiểm toán lớn trên thế giới Arthur Andersen đã buộc mọingười đặt nghi vấn lớn đối với tính trung thực trong các báo cáo kiểm toán Do đó, sự

ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán là vô cùng cần thiết bởi đó chính là thước đochuẩn để các kiểm toán viên kiểm soát hành vi của mình, đảm bảo thực hiện đúng quytắc, đạo đức nhề nghiệp của nghề kiểm toán

Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán là vô cùng cần thiết vì:

- Tạo ra một đường lối hoạt động chung, rõ ràng, thống nhất cho các công ty kiểm toán

và các kiểm toán viên Nhờ đó công việc kiểm tóan sẽ được tiến hành trên một khuônkhổ chung nhất, giúp mọi người dễ dàng kiểm tra và đánh giá

- Là cơ sở để kiểm tra và đánh giá chất lượng, hiệu quả kiểm tóan và sự tuân thủ củacác kiểm toán viên và các công ty kiểm toán; kiểm tra tính đúng đắn, chính xác củacác nhận xét của kiểm toán viên trong các báo cáo kiểm toán; là cơ sở pháp lý để giảiquyết các tranh chấp phát sinh giữa kiểm toán viên, công ty kiểm toán với các đơn vịđược kiểm toán cũng như giúp các kiểm toán viên và công ty kiểm toán giải tỏa đượctrách nhiệm của mình

- Là cơ sở quan trọng để đào tạo, bồi dưỡng cũng như kiểm tra chất lượng kiểm toánviên, và cũng là đường lối để các kiểm toán viên nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ cũng như rèn luyện tư tưởng đạo đức của mình

Vì những lý do trên, vào năm 1948, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đãban hành các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (GAAS) Tiếp theo đó,các chuẩn mực kiểm toán lần lượt ra đời ở các quốc gia như Úc (1951), Đức (1964),Pháp (1971), Anh (1980)…

Kiểm toán Việt Nam đã được hình thành từ những năm 90, sau khi chuyển đổi cơcấu kinh tế Tính đến nay ngành kiểm toán tại Việt Nam đã có hơn 10 năm tồn tại vàphát triển với nhiều khó khăn và thách thức Sự biến chuyển trong môi trường kinhdoanh và pháp lý và việc hội nhập cùng quốc tế cũng đòi hỏi Việt Nam cho ra đời hệthống chuẩn mực kiểm toán:

- Sự ra đời của Luật Doanh Nghiệp cũng như những nỗ lực của Chính phủ trong việcthúc đẩy nền kinh tế tạo cơ hội cho ngành kiểm toán có điều kiện phát triển

Trang 4

- Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong lịch

sử phát triển của kiểm toán độc lập tại Việt Nam

- Quá trình hòa nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh với

sự kiện nổi bật là Hiệp định thương mại Việt - Mỹ Quá trình này tiếp tục mở ra cơ hộicho sự phát triển kinh tế nhưng cũng làm gia tăng các thách thức về vai trò quản lýkinh tế của Nhà nước và sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

Với tình hình trên cộng với sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán trên thếgiới đòi hỏi Việt Nam phải mau chóng cho ra đời một hệ thống chuẩn mực kiểm toánriêng dựa trên những chuẩn mực chung của thế giới, đồng thời phải phù hợp với thựctiễn nền kinh tế trong nước

1.3.2 Kinh nghiệm quốc tế và chủ trương của Bộ tài chính.

1.3.2.1 Kinh nghiệm quốc tế:

Theo thông lệ quốc tế thì các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán quốc gia sẽ căn

cứ vào hệ thống Chuẩn mực kiểm toán quốc tế do Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)công bố để ban hành Chuẩn mực kiểm toán quốc gia Cụ thể:

- Ở Malaysia, Chuẩn mực kiểm toán do Viện kế toán viên công chứng Malaysia(Malaysia Institute of Certified Public Accountants – MICPA) soạn thảo và ban hành

- Ở Singapore, Chuẩn mực kiểm toán do Viện kế toán viên công chứng Singapore(Institute of Certified Public Accountants of Singapore – ICPAS) ban hành

- Ở Hà Lan, Chuẩn mực kiểm toán do Viện kế toán viên đăng ký Hoàng gia Hà Lan(Royal Dutch Institute of Registeraccountant – NIVRA) ban hành

1.3.2.2 Chủ trương của Bộ Tài Chính:

Việt Nam từ trước năm 2005 chưa có Hội kiểm toán viên hành nghề mà chỉ có Hội kếtoán Việt Nam (VAA) thành lập từ năm 1994 nhưng thực chất là hội quần chúng củanhững người làm kế toán nên chưa đủ điều kiện ban hành các Chuẩn mực kiểm toán.Hơn nữa theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Bộ tài chính có chức năngban hành và công bố hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Vì thế Bộ tài chính đã thành lậpBan soạn thảo, Tổ biên tập, huy động sự tham gia của các kiểm toán viên và các công

ty kiểm toán, các trường đại học, các nhà khoa học Ban chỉ đạo, Tổ soạn thảo đãnghiên cứu, soạn thảo và trình Bộ trưởng ký quyết định ban hành từng nhóm chuẩn

Trang 5

mực Và sau 7 đợt ban hành, chúng ta đã có hệ thống 38 Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam như hiện nay.

1.3.3 Quá trình xây dựng.

1.3.3.1 Cơ sở xây dựng:

Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt nam được xây dựng trên cơ sở:

_ Thứ nhất: Phải dựa trên hệ thống chuẩn mực quốc tế về kiểm toán của IFAC và xemxét chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia khác

Hệ thống chuẩn mực quốc tế về kiểm toán (ISA) do IFAC ủy nhiệm cho IAASB banhành nhằm phát triển và tăng cường sự phối hợp của ngành kiểm toán một các hài hòatrên thế giới, xây dựng những chuẩn mực tốt nhất cho nghề kiểm toán trên phạm vitoàn thế giới Tuy nhiên vì nó phải thỏa mãn yêu cầu của nhiều quốc gia có mức độphát triển khác nhau về nghề nghiệp nên các chuẩn mực quốc tế cũng không tránhkhỏi những sai sót Do đó việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ngoài việc

sử dụng Chuẩn mực kiểm toán quốc tế làm cơ sở còn cần xem xét Chuẩn mực kiểmtoán của các quốc gua khác, đặc biệt là các quốc gia có nghề kiểm toán phát triển vàcác quốc gia đang sử dụng Chuẩn mực kiểm toán quốc tế để xây dựng Chuẩn mựckiểm toán quốc gia

_ Thứ hai: Các Chuẩn mực kiểm toán phải phù hợp với điều kiện phát triển ở ViệtNam và có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn

Các Chuẩn mực kiểm toán phải phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam để đảmbảo khả năng đưa chuẩn mực vào thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, đảm bảocác bên liên quan hiểu đúng và áp dụng đúng trong hoạt động kiểm toán ở Việt Nam._ Thứ ba: Đơn giản, rõ ràng và tuân thủ các quy định về thể thức ban hành pháp luậtChuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành._ Thứ tư: Cơ chế ban hành Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải giải quyết được mốiquan hệ giữa Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp trong quá trình lập quy và kiểm soátchất lượng công việc kiểm toán

Hiện nay ở Việt Nam, Bộ tài chính là người chịu trách nhiệm chính về việc soạn thảo

và ban hành Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam với sự tham gia của các công ty kiểmtoán và các nhà nghiên cứu Bộ tài chính cũng là người kiểm tra và giám sát chấtlượng kiểm toán tại các công ty kiểm toán Tuy nhiên, xét về lâu dải thì Bộ tài chính

Trang 6

không thể và không nên “bao cấp” cho toàn bộ công việc này vì chúng đòi hỏi nhiềuthời gian, chi phí và sự nhạy bén nghề nghiệp mà các cơ quan Nhà nước khó thực hiệnđược Do đó cần có một cơ chế thích hợp hơn, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữaNhà nước và nghề nghiệp trong việc xây dựng chuẩn mực.

_ Thứ năm: Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải phát triển đồng bộ với hệthống kế toán

Giữa kiểm toán và kế toán có mối quan hệ mật thiết với nhau, rất nhiều chuẩn mựckiểm toán phải tham chiếu đến các chuẩn mực kế toán có liên quan Do đó phải đảmbảo việc phát triển đồng bộ giữa các chuẩn mực kiểm toán và hệ thống kế toán

_ Thứ sáu: Quy trình xây dựng các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải chuyển sangchuyên nghiệp hóa

Quá trình hình thành nền kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam là quá trình vậndụng sáng tạo kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn phù hợp với định hướng củaĐảng và Nhà nước Hoạt động kiểm toán và các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũngkhông nằm ngoài quy luật đó, trong từng thời kỳ việc nhận thức đúng yêu cầu củathực tiễn giúp chúng ta xác định những hướng đi hợp lý cho mình và đạt những mụctiêu đặt ra

1.3.3.2 Nguyên tắc xây dựng.

Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được xây dựng trên các nguyên tắc:

_ Thứ nhất: Xây dựng Chuẩn mực kiểm toán phải xuất phát từ thực tiễn, quản lý phải

phù hợp với môi trường pháp luật, môi trường hạch toán kế toán ở Việt Nam

Việc xây dựng các Chuẩn mực kiểm toán cũng như các loại chuẩn mực khác phải luôngắn chặt với việc đưa các chuẩn mực đó vào thực hiện trong thực tiễn Việt Nam đangnhận được sự đầu tư khá lớn từ nước ngoài trong khi mỗi nhà đầu tư đều mong muốnrằng đầu tư của họ phải có hiệu quả cao nhất và họ thường gắn với một đơn vị kiểmtoán cụ thể Sự lớn mạnh của nhà đầu tư đòi hỏi phạm vi hoạt động của kiểm toánphải mở rộng tương ứng

Trên thực tế, hoạt động kiểm toán đã không còn nằm trong phạm vi một quốc gia mà

nó đã vượt qua biên giới của từng nước và xâm nhập đan xen lẫn nhau trên cùng mộtđịa bàn Việc quản lý từng chương trình dự án nói riêng và quản lý ở tầm cao hơn -quản lý ở tầm vĩ mô ngày càng gia tăng và phức tạp Do đó, cơ sở tốt nhất để tiến

Trang 7

hành quản lý là phải có một khung pháp lý, một hệ thống pháp luật quy định rõ ràng

cụ thể Không thể xây dựng một hệ thống chuẩn mực kiểm toán tách rời hay tráingược với hệ thống pháp lý chung mà phải là hoạt động gắn với một hệ thống pháp lý

Vì vậy, xây dựng hệ thống pháp lý kiểm toán không thể không xem xét kỹ lưỡng quan

hệ pháp lý trong từng phân hệ, từng văn bản, từng điều khoản cụ thể

_ Thứ hai: Xây dựng chuẩn mực kiểm toán phải xuất phát từ yêu cầu và nguyên tắc

của hoạt động kiểm toán

Yêu cầu của một cuộc kiểm toán xét về khía cạnh chất lượng bao gồm tính hiệu lực,tính hiệu quả và tính tinh tế

Tính hiệu quả là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt đượcmục tiêu của đơn vị Có nghĩa là kết quả được tạo ra nhiều hơn so với mục đích, mụctiêu hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng đúng nguồn lực đã được xác định, hoặc kết quảtạo ra đúng như mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít đi.Tính hiệu lực được xác định như là một khái niệm hướng đến cái đích cuối cùng làđánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã được định trước cho một hoạt động hoặcmột chương trình đã được thực hiện Vì vậy, điểm quan trọng trong tính hiệu lực làphải xem xét giữa kết quả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế qua hoạt động.Tính kinh tế có thể định nghĩa là: tối thiểu hóa chi phí cho các nguồn lực sẽ được sửdụng nhưng vẫn đảm bảo đạt được kết quả đầu ra có chất lượng phù hợp

_ Thứ ba: Phải hội nhập với thông lệ kiểm toán phổ biến của kiểm toán quốc tế trên

cơ sở những nguyên lý chung, những kỹ thuật chung của kiểm toán đồng thời phảixuất phát từ thực tiễn Việt Nam đặc biệt là truyền thống văn hoá, đạo đức và đặc điểmquản lý chung có liên quan

Khi xây dựng chuẩn mực kiểm toán chúng ta cần có sự lựa chọn những chuẩn mực cụthể phù hợp với nét riêng biệt của nước mình Ở Việt Nam tuy yêu cầu của mở cửa vàhội nhập buộc chúng ta phải tiếp cận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế song chúng tachỉ hoà nhập chứ không hoà tan, do đó không thể vận dụng một cách máy móc một hệthống chuẩn mực chung nào của IFAC, INTOSAI Chính các tổ chức kiểm toán quốc

tế cũng chỉ rõ : Các quốc gia tuỳ điều kiện pháp lý và quản lý cụ thể của mình cầnxuất phát từ chuẩn mực kiểm toán quốc tế để xây dựng một hệ thống chuẩn mực phùhợp Với định hướng riêng và nét đặc thù trong quản lý, việc tham khảo và học hỏi

Trang 8

các chuẩn mực kiểm toán của các nước trong khu vực và trên thế giới là rất cần thiết.Song cần phải nhận biết rõ nguyên tắc này để có phương hướng rõ ràng trong việchoạch định chi tiết các mối liên hệ cần hướng dẫn, điều tiết, từng bước xây dựngchuẩn mực kiểm toán nước ta đưa kiểm toán nước ta lên tầm cao mới tương xứng với

sự phát triển, hoàn thiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàtương thích với xu hướng hội nhập kinh tế

_ Thứ tư: Chuẩn mực kiểm toán cần được xây dựng đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu và bảo

đảm tính toàn diện và khả thi cao

Nguyên tắc này đòi hỏi chuẩn mực kiểm toán phải xác định được các mối liên hệ tốithiểu cần điều tiết, hướng dẫn Vì vậy phải tham khảo kinh nghiệm của các nước trongviệc thể hiện các mối quan hệ đó và phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở

đó xác định số lượng và cơ cấu các chuẩn mực Sau đó, cần có bản giải thích cácchuẩn mực để thống nhất nhận thức và thực hiện Trong hướng dẫn cần chú ý tính tiêntiến của các “thước đo” này nhằm từng bước nâng cao tính kỷ cương và nền nếp quản

lý nhưng phải giới hạn ở mức có thể thực hiện được

_ Thứ năm: Xây dựng chuẩn mực kiểm toán cần tính đến sự phát triển lâu dài của

kiểm toán ở Việt Nam

Khi xây dựng chuẩn mực kiểm toán cần phải có sự tính toán đến sự phát triển lâu dàicủa kiểm toán Việt Nam Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng không thểthiếu khi xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán ở nước ta Trên thế giới, hoạt độngkiểm toán đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX, hệ thống chuẩn mực kiểmtoán nói chung đã có bề dày lịch sử, kinh nghiệm cũng như trình độ về kiểm toán đãđạt cung bậc nhất định Đối với Việt Nam, kiểm toán có thể xem như là mới bắt đầu

Do đó, trong quá trình xây dựng chúng ta cần phải có những định hướng cụ thể ở hiệntại cũng như trong tương lai Ở nước ta kiểm toán ra đời sau cũng có những thuận lợinhất định, chúng ta có thể kế thừa những cái đã có trong hệ thống chuần mực kiểmtoán, có quyền lựa chọn những chuẩn mực cụ thể trong hệ thống chuẩn mực quốc tếđồng thời phát huy sáng tạo những chuẩn mực kiểm toán đó cho phù hợp với điềukiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Trong điều kiện sự phát triển ngày càng mạnh

mẽ của tri thức, đặc biệt là công nghệ thông tin thì việc tin học hoá phải được tính đếntrong chuẩn mực kiểm toán

Trang 9

Quy trình kiểm toán chung của một công ty kiểm toán

Chuẩn mựckiểm toánquốc gia

Chuẩn mực kiểm toán quốc

tế

Vai trò củacông tykiểm toán

Vai trò củahiệp hộinghề nghiệp

Vai trò liên đoàn

kế toán quốc tế

1.3.3.3 Quá trình xây dựng:

Quá trình hình thành hệ thống Chuẩn mực kế toán là một quá trình lâu dài trong suốt

lịch sử phát triển của hoạt động kiểm toán.Có thể hình dung như sau:

Hình 1.1: Quá trình hình thành các chuẩn mực kiểm toán.

Quá trình xây dựng Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam bắt đầu chính thức từ

tháng 9 – 1997 sau Hội thảo về chuẩn mực kiểm toán được Bộ Tài Chính và Dự án

EUROTAPVIET về kế toán và kiểm toán tổ chức tại Nha Trang Được sự giúp đỡ của

cộng đồng Châu Âu (EU) và Ngân hàng thế giới (từ 2002), chúng ta đã tập trung toàn

lực cho việc nghiên cứu, tiếp cận CMKT quốc tế và từ đó xúc tiến soạn thảo, công bố

hệ thống CMKTVN Hội thảo đã xác định phương hướng xây dựng CMKTVN là dựa

trên cơ sở chuẩn mực kiểm toán quốc tế và có những điều chỉnh thích hợp cho Việt

Nam

Trang 10

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành để đáp ứng yêu cầu đổi mới

cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng của kiểm tóan độc lập trong nềnkinh tế quốc dân; kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, lànhmạnh hoá thông tin tài chính trong nền kinh tế quốc dân

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành để áp dụng đối với kiểm toán độc lậpbáo cáo tài chính Dịch vụ kiểm toán các thông tin tài chính khác và dịch vụ liên quancủa Công ty kiểm toán được áp dụng theo quy định cụ thể của từng chuẩn mực

Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có tráchnhiệm triển khai thực hiện chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trong hoạt động của mỗiCông ty

Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và Kiểm toán, Chánh văn phòng Bộ và Thủ trưởng cácđơn vị liên quan thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra

và thi hành Quyết định này

Quá trình toàn cầu hóa của nền kinh tế trên thế giới diễn ra nhanh chóng dẫn đến sựgia tăng của nhu cầu thông tin toàn cầu đến nhiều lĩnh vực ngoài các thông tin tàichính lịch sử truyền thống Vì vậy, các tổ chức độc lập trên thế giới đã và đang tíchcực phát triển các chuẩn mực có liên quan đến kiểm toán các thông tin khác ngoàithông tin tài chính Uỷ ban thông lệ kiểm toán quốc tế đang phát triển một khuôn mẫumới cho hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế trong đó xác định hướng phát triểncủa dịch vụ kiểm toán các thông tin phi tài chính

Trong khủng hoảng tài chính năm 1997 sự phê phán đã nhằm vào các công ty kiểmtoán đã xác nhận cho các báo cáo tài chính của các công ty có tình hình tài chính yếukém Các tổ chức lập quy đã nhanh chóng rút ra bài học về vấn đề này bằng cách nângcao các chuẩn mực kiểm toán liên quan

Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (GAAS)

GAAS là những chuẩn mực có hiệu lực mà kiểm toán viên phải tuân thủ khi tiến hànhkiểm toán và là cách thức bảo đảm chất lượng công việc kiểm toán

Trang 11

Chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận phổ biến gồm mười chuẩn mực và đượcchia thành ba nhóm chuẩn mực sau:

_ Thứ nhất: Nhóm chuẩn mực chung: gồm ba chuẩn mực và được áp dụng trong tất

cả các giai đoạn của một cuộc kiểm toán Gồm:

Một là: Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm người được đào tạo

nghiệp vụ tương xứng và thành thạo chuyên môn như một kiểm toán viên thực hiện

Hai là: Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải

giữ một thái độ độc lập

Ba là: Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong

suốt cuộc kiểm toán

_ Thứ hai: Nhóm chuẩn mực thực hành: gồm 3 chuẩn mực yêu cầu kiểm toán viên

phải tuân thủ khi thực hiện công việc kiểm toán thực tế:

Một là: Phải lập kế hoạch chu đáo cho công việc kiểm toán và giám sát chặt chẽ

những người trợ giúp nếu có

Hai là: Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm toán nội bộ để lập kế hoạch kiểm

toán và xác định nội dung, thời gian và quy mô của những thử nghiệm sẽ thực hiện

Ba là: Phải thu được đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc kiểm tra,

quan sát, thẩm vấn và xác nhận để có được cơ sở hợp lý cho ý kiến về báo cáo tàichính được kiểm toán

_ Thứ ba: Nhóm chuẩn mực báo cáo: gồm bốn chuẩn mực cung cấp cho kiểm toán

viên những chỉ dẫn để lập báo cáo kiểm toán Gồm:

Một là: Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bảng khai tài chính có được trình bày

phù hợp với những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi hay không

Hai là: Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra các trường hợp không nhất quán về

nguyên tắc giữa kỳ này với các kỳ trước

Ba là: Phải xem xét các khai báo trên bảng khai tài chính có đầy đủ một cách

hợp lý không trừ những trường hợp khác được chỉ ra trong báo cáo

Bốn là: Báo cáo kiểm toán phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài chính

hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiến được kèm theo việc nêu rõ lý do Trong mọitrường hợp ký tên vào báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải nêu rõ trong báo cáođặc điểm cuộc kiểm toán và mức độ trách nhiệm của kiểm toán viên

Trang 12

PHẦN II: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ

2.1 Thực trạng hệ thống chuẩn mực kiểm toán ở Việt Nam:

Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam được xây dựng trên cơ sở: Chuẩnmực kiểm toán Quốc tế và xem xét chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia khác, bêncạnh đó cũng phải phù hợp với đặc điểm của Việt Nam Ngoài ra, hệ thống Chuẩnmực Kiểm toán Việt Nam phải có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn công táckiểm toán độc lập và phải phát triển đồng bộ với hệ thống kế toán

Đối với kiểm toán độc lập, ra đời từ những năm 1991, sau 21 năm hoạt độngkiểm toán độc lập đã xác định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, đã góp phầnngăn ngừa va phát hiện lãng phí, thực hiện công khai minh bạch Báo cáo tài chính,phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành kinh tế - tài chính của doanh nghiệp

và Nhà nước, nhất là khi chúng ta đã gia nhập WTO và thị trường chứng khoán ngàycàng phát triển

Song song với kiểm toán độc lập, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện hệthống khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của hoạtđộng kiểm toán độc lập Cụ thể Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định về kiểm toán độclập, Bộ tài chính đã ban hành khoảng hơn 25 quyết định, thông tư hướng dẫn về tiêuchuẩn, điểu kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán và của kiểm toánviên, về đăng ký và quản lý hành nghề kiểm toán, đã hỗ trợ sự ra đời của Hội kiểmtoán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và đặc biệt là đã xây dựng và ban hành hệthống 38 chuẩn mực kỹ thuật nghiệp vụ cho hoạt động kiểm toán

Thực tế cho thấy, hệ thống 38 chuẩn mực kiểm toán đã thực sự là cơ sở cho kiểm toánviên, các công ty kiểm toán kiểm tra, đánh giá các báo cáo tài chính một cách khoahọc, khách quan, đồng thời là cơ sở cho việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giáchất lượng dịch vụ kiểm toán, là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và thi tuyển kiểm toán viên.Hiện nay, Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đang được Bộ tài chính và cácCông ty kiểm toán ra sức cải cách và hoàn thiện nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu củanền kinh tế Được biết Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện đã được Bộ tài

Trang 13

chính ban hành từ năm 1999 đền năm 2005, đã góp phần phát triển đáng kể nghềKiểm toán độc lập tại Việt Nam Để thực hiện chủ trương này năm 2008 Bộ tài chính

đã ủy quyền cho Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) thực hiện soạnthảo trình Bộ tài chính ban hành

Từ năm 2009 đến nay, VACPA đã nghiên cứu, soạn thảo, hội thảo, xin ý kiến

và hoàn hiện được 9 Chuẩn mực kiểm toán (đợt 1) và trình Bộ tài chính vào tháng3/2010 và 13 Chuẩn mực kiểm toán (đợt 2) vào tháng 10/2011 và sắp tới sẽ là 15Chuẩn mực kiểm toán (đợt 3)

Quá trình soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán kéo dài từ năm 2009 đến 2012 và chia làmnhiều đợt, do đó, để nâng cao chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống Chuẩn mựckiểm toán Việt Nam, Ban soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán của VACPA sẽ phối hợpvới Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán) cùng đọc, rà soát, chỉnh lý lạitoàn bộ dự thảo các Chuẩn mực kiểm toán trước khi Bộ Tài chính ký Thông tư banhành 37 CMKT vào Quý III/2012, có hiệu lực thi hành cho mùa kiểm toán BCTC kếtthúc 31/12/2012

2.2 Các chuẩn mực kiểm toán đã ban hành tại Việt Nam:

Từ năm 1999 đến nay, Bộ tài chính đã ban hành được 37 Chuẩn mực kiểm toánViệt Nam trong 7 đợt:

- Đợt 1: Ban hành bốn (04) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 1):

(Ban hành theo Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 /9/1999 của Bộtrưởng Bộ Tài chính)

- Đợt 2: Ban hành sáu (06) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 2) :

(Ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của bộtrưởng Bộ Tài chính)

- Đợt 3 : Ban hành sáu (06) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 3) :

(Ban hành theo Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộtrưởng Bộ Tài chính)

- Đợt 4 : Ban hành năm (05) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 4) :

(Ban hành theo Quyết định số 28/2003/QĐ-BTCngày 14/3/2003 của Bộ ưởng Bộ Tài chính)

tr Đợt 5 : Ban hành sáu (06) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 5) :

(Ban hành kèm theo Quyết định số 195/2003/QĐ-BTCngày 28 tháng 11năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

- Đợt 6 : Ban hành sáu (06) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 6) :

Trang 14

(Ban hành kèm theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BTCngày 18 tháng 01 năm

2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

- Đợt 7 : Ban hành bốn (04) chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 7) :

(Ban hành theo Quyết định số 101/2005/QĐ-BTCngày 29/12/2005 của Bộtrưởng Bộ Tài chính)

Vì Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam là dựa trên cơ sở các chuẩn mực Quốc tế

về kế toán, Chuẩn mực Quốc tế về kiểm toán IAFC nên cac chuẩn mực kiểm toán ViệtNam có thể chia thành các nhóm như sau:

o Các nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính, gồm: Tuân thủpháp luật của Nhà nước; Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp; Tuânthủ chuẩn mực kiểm toán; Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mangtính nghề nghiệp

VSA 210: Hợp đồng kiểm toán.

o Hợp đồng kiểm toán: Là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia

ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thựchiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác địnhmục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thứcbáo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lýkhi tranh chấp hợp đồng

o Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hànhcông việc kiểm toán nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng và của công tykiểm toán

Trang 15

o Công ty kiểm toán và khách hàng khi ký kết hợp đồng kiểm toán, hợp đồngdịch vụ hoặc ký văn bản cam kết khác thay cho hợp đồng phải tuân thủ cácquy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng kinh tế.

o Công ty kiểm toán và khách hàng được phép ký hợp đồng kiểm toán chonhiều năm tài chính

VSA 220: Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việckiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán trên các phơng diện:Các chínhsách và thủ tục của công ty kiểm toán liên quan đến hoạt động kiểmtoán;Những thủ tục liên quan đến công việc được giao cho kiểm toán viên

và trợ lý kiểm toán trong một cuộc kiểm toán cụ thể

o Công ty kiểm toán phải xây dựng và thực hiện các chính sách và thủ tục

kiểm soát chất lượng để đảm bảo tất cả các cuộc kiểm toán đều được tiến

hành phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểmtoán quốc tế được Việt Nam chấp nhận nhằm không ngừng nâng cao chấtlượng của các cuộc kiểm toán

o Khi giao việc cho trợ lý kiểm toán, KTV có trách nhiệm: hướng dẫn, giámsát, kiểm tra

VSA 230: hồ sơ kiểm toán

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quanđến việc lập, thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm toán báocáo tài chính

o Hồ sơ kiểm toán: Là các tài liệu do kiểm toán viên lập, thu thập, phân loại,

sử dụng và lưu trữ Tài liệu trong hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy,trên phim, ảnh, trên phương tiện tin học hay bất kỳ phương tiện lưu trữ nàokhác theo qui định của pháp luật hiện hành

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quanđến việc lập, thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm toán báocáo tài chính

Trang 16

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải giữ bí mật và bảo đảm an toàn,lưu giữ, sở hữu hồ sơ kiểm toán.

VSA 240: Gian lận và sai sót.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đếntrách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán trong việc xem xétgian lận và sai sót trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

o Nội dung chuẩn mực gồm có: Trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người

đứng đầu), của KTV và công ty kiểm toán; đánh giá rủi ro; phát hiện;

Những hạn chế vốn có của kiểm toán; Những thủ tục cần được tiến hành khi có dấu hiệu gian lận hoặc sai sót; thông báo về gian lận, sai sót; Thông

báo cho người sử dụng báo cáo kiểm toán và cơ quan chức năng có liênquan

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán rút khỏi hợp đồng kiểm toán

VSA 250: Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm

toán báo cáo tài chính

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếnkiểm toán viên và công ty kiểm toán khi xem xét tính tuân thủ pháp luật vàcác quy định của đơn vị được kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo cáotài chính

o Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán có trách nhiệmđảm bảo cho đơn vị tuân thủ đúng pháp luật và các quy định hiện hành;ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi không tuân thủ pháp luật vàcác quy định trong đơn vị

o Khi có nghi ngờ hoặc khi đã phát hiện có hành vi không tuân thủ pháp luật

và các quy định, kiểm toán viên phải ghi lại và lưu hồ sơ kiểm toán nhữngphát hiện đó và thảo luận với Giám đốc (hoặc người đứng đầu) của đơn vịđược kiểm toán Thông báo cho người sử dụng báo cáo kiểm toán về báocáo tài chính Thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán rút khỏi hợp đồng kiểm toán nếu nhưđơn vị kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý các hành vi, hoặcnhững biểu hiện không tuân thủ pháp luật và các quy định, kể cả những

Trang 17

hành vi không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, thì công ty kiểmtoán

VSA 260: Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với

ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việctrao đổi các vấn đề phát sinh khi kiểm toán giữa kiểm toán viên và công tykiểm toán với những người trong Ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

o Cần xác định những vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán sẽ được traođổi Sau đó chọn hình thức trao đổi thông tin

o Nếu văn bản pháp luật có quy định yêu cầu kiểm toán viên và công ty kiểmtoán trao đổi những thông tin liên quan đến quản trị mà không được quyđịnh trong chuẩn mực này thì vẫn phải thực hiện theo yêu cầu của văn bảnpháp luật đó

2. Nhóm II: Nhóm chuẩn mực về lập kế hoạch kiểm toán.

Nhóm chuẩn mực này đề cập đến việc chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toán chomột cuộc kiểm toán cụ thể Gồm các chuẩn mực:

VSA 300: Lập kế hoạch kiểm toán.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đếnviệc lập kế hoạch cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính

o Nội dung chuẩn mực gồm có:Lập kế hoạch kiểm toán, chiến lược, tổng thể.Bên cạnh đó còn có những hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm

toán, về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Đánh giá rủi ro và mức độ trọng yếu; Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán; Phối hợp, chỉ đạo, giám sát và kiểm tra; Lập chương trình kiểm toán thay

đổi trong kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán

VSA 310: Hiểu biết về tình hình kinh doanh.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản để tìm hiểu tìnhhình kinh doanh và việc sử dụng những hiểu biết đó trong quá trình kiểmtoán báo cáo tài chính

Trang 18

o Thu thập thông tin: Trước khi chấp nhận một hợp đồng kiểm toán, kiểmtoán viên và công ty kiểm toán phải thu thập những thông tin sơ bộ của đơn

vị được kiểm toán Sau khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viênphải thu thập những thông tin chi tiết cần thiết ngay từ khi bắt đầu côngviệc kiểm toán

o Sử dụng hiểu biết: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán sử dụng các trợ lýkiểm toán được phân công thực hiện công việc kiểm toán cũng phải đảmbảo đạt được sự hiểu biết nhất định về tình hình kinh doanh để thực hiệncông việc của mình Để sử dụng hiệu quả các hiểu biết về tình hình kinhdoanh, kiểm toán viên phải đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng tổng thể

từ những hiểu biết của mình đến báo cáo tài chính của đơn vị, cũng như sựphù hợp của các cơ sở dẫn liệu trong báo cáo tài chính so với những hiểubiết của kiểm toán viên về tình hình kinh doanh

VSA 320: Tính trọng yếu trong kiểm toán.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếntrách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi xác định tínhtrọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính và mối quan hệ giữa tính trọngyếu với rủi ro kiểm toán

o Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là để kiểm toán viên và công ty

kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận xem báo cáo tài chính có được lập trên cơ

sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuânthủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khíacạnh trọng yếu hay không Việc xác định mức trọng yếu là công việc xétđoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên

o Kiểm toán viên phải xác định tính trọng yếu và đánh giá ảnh hưởng của saisót

VSA 330: Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản về việc đưa

Trang 19

ra và thực hiện các thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro có sai sóttrọng yếu trong báo cáo tài chính và các cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán báocáo tài chính.

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần đưa ra phương pháp tiếp cận tổngquát để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính

o Xem xét nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán bổ sung

o Các thử nghiệm kiểm soát; Nội dung các thử nghiệm kiểm soát; Lịch trìnhcác thử nghiệm kiểm soát

3. Nhóm III: Nhóm chuẩn mực về kiểm soát nội bộ

Nhóm chuẩn mực này đề cập đến việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ củađơn vị được kiểm toán Gồm các chuẩn mực:

VSA 400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếnviệc tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như việcđánh giá rủi ro kiểm toán và các thành phần của nó, bao gồm: Rủi ro tiềmtàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện trong quá trình kiểm toán báo cáotài chính

o Thông báo các hạn chế phát hiện được: Trong quá trình tìm hiểu hệ thống

kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và thực hiện thử nghiệm kiểm soát,kiểm toán viên có thể phát hiện ra các hạn chế của hệ thống Khi đó, kiểmtoán viên phải thông báo trong thời gian nhanh nhất cho người có tráchnhiệm của đơn vị về những hạn chế chủ yếu trong thiết kế và thực hiện của

hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

VSA 401: Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếnkiểm toán viên và công ty kiểm toán khi thực hiện kiểm toán trong môitrường tin học

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải có hiểu biết đầy đủ về môitrường tin học để lập kế hoạch, chỉ đạo, giám sát và kiểm tra công việckiểm toán đã thực hiện Trong mỗi cuộc kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên

và công ty kiểm toán phải đánh giá sự cần thiết phải có những kỹ năngchuyên sâu về hệ thống máy tính để phục vụ cho cuộc kiểm toán

Trang 20

VSA 402: Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch

vụ bên ngoài

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản đối với công tykiểm toán và kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán các đơn vị có sử dụngdịch vụ bên ngoài Chuẩn mực này cũng đề cập đến báo cáo kiểm toán của

tổ chức cung cấp dịch vụ mà công ty kiểm toán và kiểm toán viên có thểphải thu thập

o Kiểm toán viên phải xem xét Báo cáo kiểm toán của tổ chức cung cấp dịch

vụ, của kiểm toán viên nội bộ hoặc của cơ quan quản lý nhằm thu thậpthông tin về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chứccung cấp dịch vụ cũng như hoạt động và tính hiệu quả của hệ thống này

o Công ty kiểm toán và kiểm toán viên phải xem xét phạm vi công việc thựchiện bởi công ty kiểm toán và kiểm toán viên khác cho tổ chức cung cấpdịch vụ và phải đánh giá xem báo cáo này có hữu ích và thích hợp không

4. Nhóm IV: Nhóm chuẩn mực về bằng chứng kiểm toán:

Nhóm chuẩn mực bày đề cập đến việc thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ

và có giá trị giúp cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến Gồm các chuẩn mực:

VSA 500: Bằng chứng kiểm toán.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản đối với sốlượng và chất lượng các bằng chứng kiểm toán phải thu thập khi kiểm toánbáo cáo tài chính

o Bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp: Sự "đầy đủ" và tính "thíchhợp" luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các bằng chứng kiểm toánthu thập được từ các thủ tục thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản.Khi thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toánviên phải xem xét sự đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng làm cơ

sở cho việc đánh giá của mình về rủi ro kiểm soát

o Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán: Kiểm toán viên thu thậpbằng chứng kiểm toán bằng các phương pháp sau: kiểm tra, quan sát, điềutra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích Việc thực hiện các phươngpháp này một phần tuỳ thuộc vào thời gian thu thập được bằng chứng kiểmtoán

Trang 21

VSA 501: Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục và sự

kiện đặc biệt

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếnviệc thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán các khoản mục và sự kiệnđặc biệt trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính Các nguyên tắc và thủtục quy định trong chuẩn mực này bổ sung cho các nguyên tắc và thủ tụcquy định trong Chuẩn mực số 500 “Bằng chứng kiểm toán”

o Các khoản mục và sự kiện đặc biệt trong kiểm toán báo cáo tài chính,thường gồm:

- Hàng tồn kho

- Các khoản phải thu

- Các khoản đầu tư dài hạn

- Các vụ kiện tụng và tranh chấp

- Thông tin về các lĩnh vực hoặc khu vực địa lý

VSA 505: Thông tin xác nhận từ bên ngoài.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với việc

sử dụng thông tin xác nhận từ bên ngoài nhằm thu thập bằng chứng kiểmtoán của kiểm toán viên và công ty kiểm toán

o Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần xem xét sự cần thiết phải sử dụngthông tin xác nhận từ bên ngoài để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toánthích hợp nhằm hỗ trợ cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính Để đưa raquyết định này, kiểm toán viên cần phải xem xét mức độ trọng yếu, mức độrủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, và cân nhắc xem những bằng chứng cóđược từ thủ tục kiểm toán thông tin xác nhận từ bên ngoài đã và sẽ thựchiện cho các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính có làm giảm rủi ro kiểmtoán xuống mức thấp có thể chấp nhận được hay không

VSA 510: Kiểm toán năm đầu tiên – số dư đầu năm tài chính.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đến số

dư đầu năm tài chính khi kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên Chuẩnmực này cũng yêu cầu kiểm toán viên nắm được những sự kiện không chắc

Trang 22

chắn hay những cam kết hiện hữu ở thời điểm đầu năm tài chính trongtrường hợp kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên.

o Các thủ tục kiểm toán: Kiểm toán viên phải xem xét các số dư đầu năm đãđược phản ánh theo chế độ kế toán được áp dụng trong năm trước và được

áp dụng nhất quán trong năm nay Nếu có thay đổi chế độ kế toán thì kiểmtoán viên phải xem xét những thay đổi đó cũng như việc thực hiện và trìnhbày trong báo cáo tài chính năm nay

o Kết luận và lập báo cáo kiểm toán: Sau khi tiến hành các thủ tục kiểm toánnêu trên, nếu kiểm toán viên vẫn không thể thu thập đầy đủ bằng chứngkiểm toán thích hợp về số dư đầu năm, thì báo cáo kiểm toán báo cáo tàichính năm đầu tiên sẽ được lập theo một trong các loại sau: Báo cáo kiểmtoán loại “ý kiến chấp nhận từng phần” và Báo cáo kiểm toán loại “ý kiến

từ chối”

VSA 520: Quy trình phân tích.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếnquy trình (thủ tục) phân tích trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

o Nội dung và mục đích của quy trình phân tích: bao gồm việc so sánh cácthông tin tài chính, xem xét các mối quan hệ với mục đích giúp kiểm toánviên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toánkhác

o Có các quy trình: phân tích áp dụng khi lập kế hoạch kiểm toán; tích trongthử nghiệm cơ bản; phân tích áp dụng trong giai đoạn soát xét tổng thểcuộc kiểm toán

o Sau khi thực hiện các quy trình phân tích ta cần kiểm tra mức độ tin cậycủa quy trình phân tích và điều tra các yếu tố bất thường

VSA 530: Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản về lấy mẫukiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác để thu thập bằng chứng kiểm toántrong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

o Nội dung gồm có:bằng chứng kiểm toán, thử nghiệm kiểm soát, thử

nghiệm cơ bản, xem xét rủi ro trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm

toán

Trang 23

o Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán: Lựa chọn phần tử thử

nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm toán, chọn toàn bộ (kiểm tra 100%),lựa chọn các phần tử đặc biệt Lấy mẫu,thiết kế mẫu, tổng thể

o Dự tính sai sót trong tổng thể => Đánh giá kết quả mẫu.

VSA 540: Kiểm toán các ước tính kế toán.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản đối với kiểmtoán các ước tính kế toán trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

o Có các bước: Xem xét và kiểm tra quá trình lập các ước tính kế toán của

đơn vị; Kiểm tra các số liệu và xem xét các giả định; Kiểm tra các tính toánliên quan đến ước tính kế toán; So sánh ước tính kế toán đã lập của các kỳ

kế toán trước với kết quả thực tế của các kỳ đó; Xem xét các thủ tục phêduyệt ước tính kế toán của Giám đốc; Kiểm toán viên lập một ước tính độc

lập; xem xét sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc năm tài chính; Đánh giá

kết quả của các thủ tục kiểm toán

VSA 545: Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việckiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính.Chuẩn mực này hướng dẫn kiểm toán viên và công ty kiểm toán xem xétviệc xác định, trình bày và thuyết minh tài sản, nợ phải trả trọng yếu vàmột số khoản mục nhất định của vốn chủ sở hữu được trình bày hoặc thểhiện theo giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính Việc xác định giá trị hợp lýcủa tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu có thể phát sinh từ những ghinhận ban đầu hoặc những thay đổi giá trị sau đó Những thay đổi trong việcxác định giá trị hợp lý phát sinh qua thời gian có thể được xử lý theo cáccách khác nhau theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán

o Đánh giá tính thích hợp của việc xác định và trình bày giá trị hợp lý

o Kiểm tra các giả định, phương pháp định giá và dữ liệu quan trọng của BanGiám đốc đơn vị được kiểm toán về giá trị hợp lý

VSA 550: Các bên liên quan.

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đó đối vớitrách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện thủ tục kiểm toán đối với các

Trang 24

bên liên quan và giao dịch với các bên liên quan trong quá trình kiểm toánbáo cáo tài chính.

o Chuẩn mực kế toán "Thông tin về các bên liên quan" đòi hỏi phải có sựtrình bày về mối quan hệ giữa các bên liên quan, kiểm toán viên và công tykiểm toán phải được đảm bảo là những vấn đề trình bày đó là đầy đủ

VSA 560: Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập báo cáo

tài chính

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đếntrách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi xem xét các sựkiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính để kiểm toántrong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

o Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính liênquan đến trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán gồm 3 giaiđoạn:

- Các sự kiện phát sinh đến ngày ký báo cáo kiểm toán;

- Các sự kiện được phát hiện sau ngày ký báo cáo kiểm toán nhưngtrước ngày công bố báo cáo tài chính;

- Các sự kiện được phát hiện sau ngày công bố báo cáo tài chính

VSA 570: Hoạt động liên tục

o Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với tráchnhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán trong việc xem xét giả định

"hoạt động liên tục" mà doanh nghiệp đã sử dụng để lập và trình bày báocáo tài chính, bao gồm cả việc xem xét các đánh giá của Ban Giám đốccủa đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị

VSA 580: Giải trình của giám đốc.

o Mục đích của chuẩn mực này là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản vàhướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản trong việc thuthập và sử dụng các giải trình của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vịđược kiểm toán như những bằng chứng kiểm toán, các thủ tục được ápdụng để đánh giá và lưu trữ các giải trình của Giám đốc (hoặc người đứng

Ngày đăng: 19/03/2015, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Quá trình hình thành các chuẩn mực kiểm toán. - Hệ thống chuẩn mực kiểm toán việt nam
Hình 1.1 Quá trình hình thành các chuẩn mực kiểm toán (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w