HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TẠI MIỀN TRUNG TIỂU LUẬN MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Sự phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát v
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TẠI MIỀN TRUNG
TIỂU LUẬN MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Sự phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và tác động đến hoạt động kinh doanh của NHTM
những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam.
GVHD: PGS TS Nguyễn Đắc Hưng Học viên: Lâm Thái Bảo Ngọc
Lớp CH TCNH 04C
Huế, 5/2012.
Trang 2MỤC LỤC
I.1.1 Khái niệm lạm phát 1 I.1.2 Các loại lạm phát 1
b Lạm phát cao (lạm phát phi mã) 1
I.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 2
a Lạm phát do cầu kéo 2
b Lạm phát do cầu thay đổi 2
c Lạm phát do chi phí đẩy 2
d Lạm phát do cơ cấu 2
e Lạm phát do xuất khẩu 3
f Lạm phát do nhập khẩu 3
h Lạm phát đẻ ra lạm phát 3 I.2 Công cụ và chính sách tiền tệ 4 I.2.1 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương 4
b Mục tiêu của chính sách tiền tệ 4
c Định hướng điều hành chính sách tiền tệ 4 I.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ 5 I.2.3 Các nội dung của chính sách tiền tệ 5
Trang 3II Nhận thức và thực trạng về sự phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân
II.1 Thực trạng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát những năm qua ở Việt Nam 5
II.1.3 Hoạt động thị trường mở 7
II.1.5 Hạn mức tín dụng 9 II.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 10 II.2.1 Dự trữ bắt buộc 10
II.2.3 Hoạt động thị trường mở 12
II.2.5 Hạn mức tín dụng 14
Trang 4NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I Cơ sở lý luận
I.1 Lạm phát
I.1.1 Khái niệm lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền
tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu
I.1.2 Các loại lạm phát
a Lạm phát thấp
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới 10 phần trăm một năm
b Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách
Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải
Trang 5c Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười
Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi)
I.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
a Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền
phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát
b Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
c Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng
d Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả thì không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó
Trang 6e Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
f Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
g Lạm phát tiền tệ
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế́ Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh
tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng Khi lượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong tay bạn có nhiều hơn 100 triệu , thì sự tiêu dùng theo
đó mà tăng rất lớn theo xã hội Áp lực cung hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường,
và do đó sức ép lạm phát tăng lên
h Lạm phát đẻ ra lạm phát
Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý đó là tâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thì giá cả sẽ tăng cao tạo nên tâm lý dự trữ đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung hàng hóa sẽ càng trở nên khan hiếm kích thích giá lên, từ đó gây ra lạm phát
Trang 7I.2 Công cụ và chính sách tiền tệ
I.2.1 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
a Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một trong số các chính sách kinh tế vĩ mô mà ngân hàng trung ương thông qua các công cụ và chính sách của mình thực hiện việc kiểm soát, điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ nhất định
Việc tăng hay giảm cung về tiền tệ đều do ngân hàng trung ương quyết định Trong trường hợp cung về tiền tệ tăng lên, kết quả đầu tiên là lãi suất giảm xuống; lãi suất giảm xuống sẽ làm gia tăng các khoản chi tiêu bao gồm chi cho đầu tư, tiêu dùng
và xuất khẩu, qua đó tổng cầu tăng lên sẽ làm gia tăng sản lượng và việc làm Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển qua nóng, cung về tiền tệ phải giảm đi, lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên, từ đó làm giảm chi tiêu của nền kinh tế, tổng cầu giảm, nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng phát triển quá nóng
b Mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Mục tiêu cao nhất
+ Ổn định tiền tệ
+ Tăng trưởng kinh tế
+ Tạo việc làm
- Mục tiêu trung gian
+ Phải đo lường được + Phải kiểm soát được + Phải tác động trực tiếp đến mục tiêu cao nhất
- Mục tiêu hoạt động
+ Vốn khả dụng của ngân hàng thương mại
+ Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
c Định hướng điều hành chính sách tiền tệ
Trang 8- Điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt ưu tiên kiềm chế lạm phát, tạm thời hy sinh mục tiêu tăng trưởng; rút bớt tiền tệ từ lưu thông về; hạn chế cung ứng tiền vào lưu thông bằng cách tăng các loại lãi suất và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Điều hành chính sách tiền tệ nới lỏng ưu tiên tăng trưởng, tạm thời hy sinh lạm phát; cung ứng tiền ra lưu thông; tăng tổng phương tiện thanh toán cho nền kinh
tế bằng cách giảm các loại lãi suất và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
I.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ
- Các loại lãi suất chủ đạo hay lãi suất điều hành
+ Lãi suất cơ bản
+ Lãi suất cho vay tái cấp vốn, tái cơ cấu
+ Các loại lãi suất khác
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Tái chiết khấu
- Tỷ giá
- Nghiệp vụ thị trường mở
- Cho vay tái cấp vốn và tái cơ cấu
- Nghiệp vụ SWAP
- Nghiệp vụ khác
I.2.3 Các nội dung của chính sách tiền tệ
- Chính sách tín dụng
- Chính sách quản lý ngoại hối
- Chính sách đối với ngân sách nhà nước
II Nhận thức và thực trạng về sự phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền
tệ thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
II.1 Thực trạng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát những năm qua ở Việt Nam.
Trang 9II.1.1 Dự trữ bắt buộc
Tại điều 45 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước đã quy định “Ngân hàng nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất ở mức 10% và cao nhất ở mức 35% trên toàn bộ tiền gửi ở các tổ chức tín dụng.” Trong trường hợp cần thiết hội đồng quản trị ngân hàng nhà nước quyết định tăng tỷ lệ dự trữ trên mức 35% và ngân hàng nhà nước trả lãi mức tăng đó Trên thực tế công cụ này được bắt đầu sử dụng từ cuối năm 1989 với tổng số tiền các ngân hàng thương mại phải ký gửi lên đến hơn 100 tỷ đồng, năm
1990 là 356 tỷ đồng và các năm sau vẫn được thực hiện theo mức 10% tính trên số tiền gửi vào ngân hàng
Đầu năm 1994, ngân hàng nhà nước đã có quy định bổ sung: tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nhưng cũng là để thi hành cho một thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau theo chủ trương lúc thì thắt chặt, lúc thì nới lỏng nhằm kiểm soát lạm phát Sự ổn định như vậy nói lên rằng đây là giai đoạn đầu sử dụng công cụ này nên ngân hàng nhà nước chưa điều khiển nó một cách linh hoạt theo tình hình tiền tệ luôn biến động, chưa thực hiện đầy đủ vai trò điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bội số tín dụng của các ngân hàng thương mại như chức năng vốn có của công cụ này
Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, ngân hàng nhà nước đã sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm mục tiêu góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
và đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở nước ta
II.1.2 Tái chiết khấu
Tái chiết khấu là một công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối lượng tiền tệ và đã được nhà nước cho phép sử dụng tại điều 41 và 43 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam Nhưng trong thực tế ở nước ta trong giai đoạn sau đổi mới
do thừa hưởng tiềm thế của một nền lưu thông trong đó không được phép tồn tại tín dụng thương mại, vì vậy chưa có công cụ truyền thống trực tiếp để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu như các loại kỳ phiếu, thương phiếu, Do đó việc tái chiết khấu được thực hiện dựa trên căn cứ các chứng từ ngân hàng thương mại đã cho
Trang 10vay, nhưng chưa đến hạn các doanh nghiệp phải trả nợ lãi Căn cứ vào các chứng từ
đó ngân hàng nhà nước cho các ngân hàng thương mại vay lại những khoản nợ mà các ngân hàng thương mại đã cho các doanh nghiệp vay Một mặt ngân hàng nhà nước còn thực hiện phương thức “mua lại” các dự án đã được các ngân hàng thẩm định trước khi đầu tư nhưng ngân hàng thương mại không đủ vốn
Trong thời gian qua do chưa có những công cụ nghiệp vụ để thực hiện công cụ lãi suất tái chiết khấu nên ngân hàng nhà nước đã sử dụng hình thức cho vay cầm cố HÌnh thức này được thực hiện bằng cách các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đem một số loại giất tờ có giá trị đến ngân hàng nhà nước làm vật thế chấp để vay tiền Loại tín dụng này nhằm giải quyết khó khăn tài chính tạm thời cho các ngân hàng thương mại Hình thức mua lại các dự án đầu tư tái cấp vốn theo hình thức cho vay thế chấp một thời gian dài là công cụ thay thế cho thương phiếu và kỳ phiếu Những hạn chế của công cụ tái chiếu khấu ở nước ta trong thập niên 1990 là tất yếu trong thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trưởng
II.1.3 Hoạt động thị trường mở
Đây là một trong những công cụ quan trọng được ngân hàng nhà nước các nước sử dụng để điều hành có hiệu quả chính sách tiền tệ Thậm chí một số ngân hàng coi đây là công cụ sắc bén nhất trong các hoạt động của mình
Nhưng ở Việt Nam, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp gồm suốt 4 thập kỷ qua, phù hợp với cơ chế đó ngân hàng nhà nước Việt Nam không thể sử dụng các công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu) để điều hành chính sách tiền tệ Công cụ đó trên thực tế bước đầu đã phát huy tác dụng khi hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực sự đổi mới Điều 21 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa 10 kỳ họp thứ 2 thông qua quy định “Ngân hàng nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường
mở thông qua việc mua bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu ngân hàng nhà nước và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.”
Trang 11Từ năm 1996, ở Việt Nam đã có những đợt hoạt động của các thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, ngoại tệ bên ngân hàng Trong đó năm 1996 là 19 đợt, năm
1997 là 35 đợt đấu thầu trái phiếu, khối lượng trúng thầu là 2.912,5 tỷ đồng trong đó các công ty bảo hiểm mua 828 tỷ đồng, án tổ chức tín dụng mua 2.084,5 tỷ đồng Điều này cho thấy vốn nằm trong các định chế tài chính còn khá nhiều nhưng cho vay
có nhiều rủi ro Các định chế tài chính quay trở lại mua tín phiếu kho bạc để đảm bảo
an toàn và chống lỗ Tuy nhiên do thị trường đấu thầu chỉ bán tín phiếu kho bạc có kỳ hạn một năm nên không tạo ra công cụ tiền tệ để thúc đẩy sự ra đời của hoạt động thị trường mở của ngân hàng nhà nước Năm 1998, ngân hàng nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính tiếp tục phát hành thường xuyên trái phiếu kho bạc, số dư trái phiếu đến cuối tháng 9/1998 là 3.478,7 tỷ đồng
II.1.4 Lãi suất
Trước năm 1993, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng một cấp, về thực chất nó là một bộ phận của ngân hàng nhà nước Mối quan hệ của ngân hàng với kinh tế ngoài quốc doanh và với dân chúng là hạn chế Khi ngân sách nhà nước thâm hụt, các ngân hàng phát hành thêm tiền để bù đắp Khi các doanh nghiệp nhà nước thiếu vốn thì ngân hàng phát hành tiền cho vay tín dụng Vì vậy dẫn tới lạm phát trầm trọng đến 3 con số Tháng 3/1988 đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong chính sách tiền tệ ở Việt Nam bằng Nghị định 53 và tháng 5/1990 là việc ban hàng hai Pháp lệnh về ngân hàng Ngân hàng nhà nước, ngân hàng hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp cùng với việc áp dụng chính sách lãi suất đã góp phần rất cơ bản vào việc kiềm chế lạm phát những năm sau đó
Từ giữa tháng 3/1989 đã đưa lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên cao hơn chỉ số lạm phát hàng tháng Tháng 1 và tháng 2/1989 chỉ số giá chỉ tăng hơn 7,4% và 4,2% nhưng lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng và không có kỳ hạn đã được mạnh dạn nâng lên 12% và 9%/năm Biện pháp lãi suất thực dương này lần đầu tiên được thực thi đã phá vỡ sự trì trệ của các kênh thu hút tiền thừa trong dân và khắc phục căn bản sự tê liệt của chính sách lãi suất cần ổn định từ năm 1985 đến quý I/1989 Số dư tiền tiết kiệm tăng lên nhanh chóng đã giảm lạm phát