1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC MARX – LENIN

59 506 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 318,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC MARX – LENIN

Câu 1: Trình bày các tiền đề, giai đoạn phát triển của triết học Marx – Lenin?

Thứ nhất: Các tiền đề ra đời triết học Marx – Lenin:

Tiền đề kinh tế - chính trị - xã hội :

- Những năm 30 của thế kỉ 19, Chủ nghĩa tư bản bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển mới: phương thức sản xuất tư bản đã phát triển manh mún và trở thành lực lượng kinh tế thống trị ở Anh – Pháp và một phần ở Đức Nó thể hiện tính vượt trội hơn hẳn so với nền sản xuất phong kiến Chủ nghĩa tư bản đã đơn giản hóa mối quan

hệ xã hội, tạo ra không gian thông thoáng cho cá nhân, khai thông cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, lý luận, đòi hỏi cách mạng hóa khoa học kĩ thuật Nó đã thay đổi hình thái kinh tế xã hội phong kiến bằng hình thái kinh tế xã hội Tư bản – là một tất yếu khách quan và nó thể hiện sự vận động đi lên của xã hội Giai cấp Tư sản đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử

- Quan hệ sản xuất thúc đẩy các quan hệ xã hội khác Quan hệ sản xuất Tư bản với tinh thần cạnh tranh, sản xuất mới có tính trọng tâm, phá vỡ tình trạng cát cứ, bế quan tỏa cảng, tích tụ sản xuất, khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún Cách mạng Tư sản thực chất là thay thế phương thức sản xuất cũ bằng phương thức sản xuất tư bản

- Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm bộc lộ những

tư tưởng đối lập bên trong vốn có của nó và biểu hiện về mặt xã hội là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống các nhà tư bản Nhiều cuộc khởi nghĩa của công nhân

đã mang tính chất của khởi nghĩa vũ trang

 Từ đó đặt ra nhu cầu khách quan là phải có một vũ khí lý luận sắc bén, phản ánh được một cách khoa học quá trình vận động cách mạng của giai cấp công nhân – đó là sự chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho cuộc cách mạng về chính trị

 Các phong trào mang tính tự phát, thiếu tổ chức Do đó, đòi hỏi cấp thiết phải có một vũ khí lý luận khoa học, các học thuyết Xã hội chủ nghĩa không tưởng ra đời

Trang 2

 Sự đối lập của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt dẫn đến phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân càng lúc càng gay gắt Vì vậy, vai trò lịch sử của giai cấp tư sản về cơ bản kết thúc, một số hình thái tư sản trước đây có những giá trị khoa học nhất định giờ không còn tính khách quan khoa học nữa.

- Triết học Marx ra đời đã phản ánh đúng lịch sử khách quan phát triển đấu tranh Cách mạng của giai cấp công nhân toàn thế giới như nguyện vọng và lợi ích chân chính của nó Với sự ra đời của triết học Marx, giai cấp công nhân đã tìm thấy ở

đó sức mạnh và vũ khí tinh thần của mình

Tiền đề lý luận :

1. Tiền đề sâu xa : Đó là sự kế thừa có chọn lọc tinh hoa, tinh thần của nhân loại được tích lũy trong suốt hơn 2.000 năm Di sản Karl Marx và Engels kế thừa là phong cách tư duy phương tây không chấp nhận sự khẳng định một chiều mà tìm kiếm chân lý mới, tranh luận tạo nên thời đại lịch sử kế tiếp nhau mang phong cách tư duy hai chiều, mặc dù mỗi thời đại sau đều có sự

kế thừa thời đại trước

2. Tiền đề trực tiếp và cụ thể : là triết học cổ điển Đức mà cụ thể là phương pháp biện chứng của Hegel và chủ nghĩa duy vật của Feuerbach

3. Các tiền đề khác: Truyền thống văn hóa và khai sáng triết học Marx đã tiếp thu và phát triển lên tầm cao mới, những giá trị nhân văn của các thời đại đã qua được phát triển lên tầm cao mới hoàn thiện hơn

4. Tiền đề khoa học tự nhiên: Thế kỉ 18 – 19, khoa học tự nhiên phát triển như vũ bão với hàng loạt phát minh mang ý nghĩa vượt thời đại, đưa đến sự biến đổi trong phong cách tư duy của con người Nổi bật là 3 phát minh lớn:

- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng

- Thuyết tế bào

- Thuyết tiến hóa

Thứ hai: Thời kì phát triển của triết học Marx

- Giai đoạn 1837 – 1844: Quá trình chuyển biến tư tưởng của Marx và Engels về mặt thế giới quan, từ Chủ nghĩa Duy tâm sang Chủ nghĩa Duy vật biện

Trang 3

chứng, về mặt nhân sinh quan từ Chủ nghĩa Dân chủ sang Chủ nghĩa Cộng sản, tất cả thể hiện qua hàng loạt tác phẩm.

- Giai đoạn 1844 – 1848: Là thời kì luận điểm nền tảng đầu tiên của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, xác định được diện mạo của Chủ nghĩa Marx nói chung và triết học Marx nói riêng

- Giai đoạn 1848 – 1871:

• Thời kì 1848 – 1852: Sự phát triển của quan niệm duy vật về lịch sử trong quá trình cách mạng Dân chủ Tư sản - Marx và Engels đánh giá nội dung và thực chất các cuộc cách mạng Dân chủ tư sản, vai trò của giai cấp nông dân trong các cuộc cách mạng đó, rút ra những bài học quý giá về liên minh các lực lượng trong xã hội vì những mục tiêu chung, phác thảo những vấn đề tổ chức

xã hội tương lai

• Thời kì 1950 – 1960: Sự phát triển triết học Marx trong quá trình xây dựng Kinh tế - Chính trị học, đáng chú ý nhất là bộ Tư bản, nó không chỉ là một tác phẩm Kinh tế - Chính trị mà là một hệ thống triết học thật sự, là sự giải thích các vấn đề kinh tế bằng phương pháp triết học

Trang 4

Câu 2: Triết học là gì? Vấn đề cơ bản của triết học, phương pháp nhận thức

thế giới của triết học?

Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và TD (?)

1 Khái niệm triết học:

- Triết học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới ấy

Tri thức triết học mang tính: hệ thống – lý luận – khái quát

- Triết học đã ra đời trong thời kì chiếm hữu nô lệ (ở phương tây), và trong thời

kì từ chiếm hữu nô lệ sang phong kiến (ở phương đông) gắn liền với phân công lao động xã hội, tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay

+ Ở giai đoạn đầu, khi triết học mới ra đời, triết học nghiên cứu mọi thứ tri thức, triết học là tri thức bao gồm mọi tri thức Đây là giai đoạn mà triết học là khoa học của mọi khoa học Do điều kiện sống, triết học phương đông gọi là triết học hướng nội (đề cập đến con người, xã hội loài người), triết học phương tây là triết học hướng ngoại (chủ yếu nói về vũ trụ)

+ Thời kì trung cổ, giáo hội giữ vai trò nhiếp chính, quyền lực của nhà nước lúc này không bằng giáo hội, khoa học lúc này phục vụ cho thần học, khoa học nghiên cứu kinh thánh để chứng minh sự đúng đắn của kinh thánh (ở phương tây), còn ở phương đông triết học vẫn phát triển như thời kì cổ đại

+ Thời kì phục hưng (Thời kì khai sáng) – thời kì khôi phục những gì hưng thịnh bị vùi dập đem lại ánh sáng trí tuệ Khoảng thế kỉ 15, giai cấp tư sản giành được chính quyền nên rất muốn đẩy mạnh quá trình sản xuất ra của cải vật chất, nhận thấy cần phải phát triển về khoa học  tạo điều kiện cần thiết để khoa học phát triển, đánh dấu một thời kì mới về đối tượng nghiên cứu của triết học, lấy tự nhiên – con người – xã hội loài người làm đối tượng nghiên cứu

Vào khoảng thế kỉ 17, lượng kiến thức của con người đã tương đối nhiều Sự phát triển của sản xuất lúc này đòi hỏi con người phải hiểu thật sâu từng lĩnh vực của thế giới, phân công lao động đi vào chi tiết, tỉ mỉ, thể hiện sản xuất đã phát triển, đòi

Trang 5

hỏi kiến thức sâu của con người, các nhà khoa học phải chọn từng lĩnh vực để nghiên cứu Mỗi một lĩnh vực các nhà khoa học nghiên cứu hình thành nên một khoa học cụ thể, lúc này các khoa học tách khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập.

2 Vấn đề cơ bản của triết học:

Ngành khoa học nào cũng nghiên cứu rất nhiều vấn đề, tất cả các vấn đề đó gọi

là hệ thống các vấn đề (hệ vấn đề) Trong hệ thống vấn đề thì vị trí và vai trò của các vấn đề không giống nhau Trong các vấn đề sẽ có những vấn đề bổ trợ, có những vấn

đề giữ vai trò nền tảng, định hướng để ngành khoa học ấy giải quyết những vấn đề còn lại – Đó là vấn đề cơ bản

Vậy, vấn đề cơ bản của triết học là gì? Đó là vấn đề cơ bản, nền tảng, đóng vai

trò định hướng để dựa vào đó giải quyết những vấn đề còn lại Đi vào cụ thể thì vấn

đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Mối quan hệ này còn thể hiện mối quan hệ giũa tồn tại và tư duy, giữa thế giới và con người

Vì sao mối quan hệ giữa vật chất và ý thức lại là vấn đề cơ bản của triết học? Bởi

vì:

1 Không có một trường phái triết học nào không bàn đến mối quan hệ và vấn đề

đó trong suốt lịch sử triết học Mối quan hệ này xuyên suốt lịch sử triết học, không có trào lưu triết học nào lại không giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Khi giải quyết vấn đề này ta sẽ biết đâu là triết học duy học duy vật và đâu là triết học duy tâm

2 Bởi khi giải quyết được vấn đề này thì các vấn đề khác sẽ được giải quyết

3 Trong phép biện chứng thừa nhận biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng chủ quan thể hiện dưới dạng lý luận nhận thức, phép biện chứng và logic biện chứng Đổi mới tư duy thực chất là trở về với tư duy biện chứng Lý luận nhận thức có khách thể và chủ thể Triết học xã hội có tồn tại xã hội và ý thức xã hội.Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

- Mặt thứ nhất: Xác định ngôi thứ giữa vật chất và ý thức, xác định cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào Có 3 cách xác định:

+ Cách 1: Vật chất có trước – ý thức có sau  vật chất quyết định ý thức, thừa

nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thứ 2 của ý thức

Trang 6

+ Cách 2: Ý thức có trước - vật chất có sau  ý thức quyết định vật chất, thừa

nhận tính thứ nhất của ý thức, tính thứ 2 của vật chất

+ Cách 3: Vật chất và ý thức không tồn tại độc lập, chúng không nằm trong

quan hệ sản sinh, cũng không nằm trong quan hệ quyết định lẫn nhau

Trong 3 cách giải quyết trên thì:

* Cách 1 và 2, tuy đối lập về nội dung nhưng giống nhau ở chỗ chúng đều thừa nhận tính thứ nhất của một nguyên thể vật chất hoặc ý thức, những cách giải quyết này thuộc về triết học nhất nguyên

Trong triết học nhất nguyên, những người khẳng định tính thứ nhất của vật chất thuộc trường phái nhất nguyên duy vật, còn gọi là chủ nghĩa duy vật Những người khẳng định tính thứ nhất của ý thức thuộc trường phái triết học nhất nguyên duy tâm, còn gọi là chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy vật gồm: Chủ nghĩa duy vật chất phác

Chủ nghĩa duy vật siêu hìnhChủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy tâm gồm: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

Chủ nghĩa duy tâm khách quan

* Cách 3 thuộc về triết học nhị nguyên Triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hòa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng về bản chất – triết học nhị nguyên nghiêng về chủ nghĩa duy tâm

- Mặt thứ hai: Đề cập đến thuộc khả năng nhận thức của con người; Con người có khả năng nhận thức những điều mình chưa biết không?

* Phái khả tri cho rằng con người có khả năng nhận thức những gì mình chưa biết, phái này khẳng định con người có thể hiểu được đối tượng từ rộng đến sâu, từ ít đến nhiều Lý luận của phái này gọi là khả tri luận

* Phái bất khả tri cho rằng con người không có khả năng nhận thức những gì mình chưa biết Phái này cho rằng con người cứ phải theo đuổi các sinh vật bởi nó luôn thay đổi nên con người không thể hiểu được đối tượng hoặc ít ra là nhận thức được bản chất của nó

3 Phương pháp nhận thức thế giới của triết học:

Trang 7

Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc, những yêu câu mà bắt buộc con người phải thực hiện trong khi con người vươn đến mục đích của mình

Có 2 phương pháp: Phương pháp siêu hình

Phương pháp biện chứng

- Phương pháp siêu hình : Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời khỏi cái khác biệt và giữa những mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối Nhận thức đối tượng ở trạng thái bất biến, nếu có sự biến đổi thì chỉ là sự biến đổi về

số lượng và nguyên nhân của sự biến đổi đó nằm ngoài đối tượng

- Phương pháp biện chứng : nhận thức đối tượng trong mối liên hệ có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, ràng buộc nhau, được nhận thức trong trạng thái động, nằm trong xu thế thay đổi, vận động và phát triển

Kết luận: Triết học dựa trên các thành tựu khoa học cụ thể, rút ra những kết luận chung nhất, và những kết luận chung ấy đóng vai trò định hướng của các khoa học

cụ thể

Trang 8

Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lenin?

Định nghĩa:

1. Các quan niệm của các nhà duy vật trước Marx :

- Quan niệm thời cổ đại : Xuất hiện những quan niệm mang tính trực quan cảm tính để giải thích thế giới theo lập trường duy vật Theo họ, thế giới tồn tại khách quan được cấu thành từ vật chất, vật chất là bản nguyên của thế giới Tuy nhiên, những quan niệm này mang tính trực quan, cảm tính, họ đồng nhất vật chất với vật chất cụ thể Những quan điểm này còn thô sơ, nhưng nó có ưu điểm là vật chất được xem là cơ sở đầu tiên của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Quan niệm đó hoàn toàn đối lập với quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm về cơ sở đầu tiên của thế giới là tinh thần

- Quan niệm về vật chất của triết học duy vật thời kì khai sáng (TK 17 - 18) : Quan niệm về vật chất thời kì này mang tính siêu hình máy móc Ngoài việc khẳng định chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, các nhà triết học thời kì này còn đồng nhất vật chất với một thuộc tính nào đó của vật chất - như đồng nhất vật chất với khối lượng, năng lượng

- Quan niệm về vật chất của Triết học duy vật thời cận đại (cuối TK 19 đầu 20) : Đến cuối TK 19 đầu 20, vật lý đã có những phát minh rất quan trọng, chính nó

đã góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa duy vật cũ Việc phát hiện ra tia X, phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, phát hiện ra điện tử, hiện tượng khối lượng điện

tử tăng khi vận tốc của nó tăng Những phát hiện đó đối lập nhau với quan niệm vật chất về nguyên tử hay là về khối lượng Chủ nghĩa duy tâm lợi dụng tình hình đó để giải thích cho quan điểm của mình về thế giới, chống lại chủ nghĩa duy tâm Vì vậy, thời kì này đã diễn ra một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong các nhà triết học và khoa học có quan điểm duy vật siêu hình

về vật chất

Trước sự khủng hoảng đó của triết học, Lenin đã viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, ông đã bác bỏ những quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và cho rằng không phải “vật chất tiêu tan” mà chỉ có

Trang 9

giới hạn hiểu biết của con người về vật chất là tiêu tan, nghĩa là cái mất đi không phải là vật chất mà là giới hạn của sự nhận thức về vật chất.

Bằng sự kế thừa khoa học tự nhiên, những quan điểm có chọn lọc của chủ nghĩa duy vật trước Marx, Lenin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện và khoa học về phạm trù vật chất

2. Định nghĩa của Lenin về vật chất :

Định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Phân tích:

a. Vật chất là một phạm trù triết học : Phạm trù là những khái niệm cơ bản, không thể thiếu được trong một ngành khoa học nào đó, phản ánh những đặc trưng chung nhất của một nhóm đối tượng

- Phạm trù triết học là một phạm trù rộng và khái quát nhất không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày Vật chất có thể định nghĩa được bằng cách đặt nó trong quan hệ độc lập với ý thức xem cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào

- Với tư cách là một phạm trù triết học, vật chất phải thể hiện thế giới quan và hướng đến giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

b. Vật chất dùng để chỉ thực tại khách quan : Thực tại khách quan là những gì tồn tại ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, ý thức không thể làm thay đổi hay quyết định bất kì cái gì của nó Đó là tiêu chuẩn để phân biết cái gì là vật chất, cái

gì không phải là vật chất, cả trong tự nhiên và trong đời sống xã hội

- Vật chất là vô cùng, vô tận, nó có vô vàn các thuộc tính khác nhau, rất đa dạng

và phong phú mà khoa học ngày càng tìm ra và phát hiện thêm những thuộc tính mới của nó

- Trong tất cả những thuộc tính của vật chất thì thuộc tính “thực tại khách quan”,

sự tồn tại bên ngoài độc lập với ý thức của con người là thuộc tính chung nhất, vĩnh hằng với mọi dạng, mọi đối tượng khác nhau của vật chất

- Tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người đều là những dạng khác nhau của vật chất Như những quy luật kinh tế xã hội, những quan

Trang 10

hệ sản xuất của xã hội, tuy không tồn tại dưới dạng vật thể, khối lượng, năng lượng, cấu trúc phân tử, nguyên tử… nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức Vì vậy chúng chính là vật chất dưới dạng xã hội

- Thuộc tính “tồn tại khách quan” cũng là tiêu chuẩn để khẳng định thế giới vật chất có tồn tại thực sự, tồn tại do chính nó hay không Bởi vậy, nó là cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức

c. “Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác”: Vật chất tồn tại khách quan, nhưng không tồn tại vô hình, trừu tượng, mà là sự tồn tại hiện thực, cụ thể Khi vật chất tác động lên các giác quan của con người thì gây ra cảm giác của con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó Như vậy, khái niệm nhận thức của con người đối với vật chất chính là xuất phát từ thuộc tính tồn tại cảm tính, tức tồn tại có thể nhận thức được bản thân vật chất

Con người có thể nhận thức được khách quan nhờ các giác quan của mình, nó thuộc về phái khả tri (con người có thể nhận thức những cái mình chưa biết) Nó nói lên tầm quan trọng của các giác quan trong quá trình nhận thức, khoa học chứng minh rằng mọi hoạt động nhận thức của con người đều thông qua các giác quan Nếu các giác quan này ngày càng hoàn thiện thì nhận thức của con người ngày càng cao, nếu các giác quan của con người khiếm khuyết thì nhận thức của con người cũng khiếm khuyết Trình độ nhận thức của con người phụ thuộc rất nhiều vào các giác quan, đó là cầu nối của quá trình nhận thức, điều đó khẳng định thực tại khách quan là cái có trước, còn cảm giác là cái có sau, vật chất tồn tại không lệ thuộc vào

ý thức

d. “Được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại”: phản ánh sự hiểu biết của con người chỉ là hình ảnh về thực tại khách quan Nó là kết quả của quá trình các giác quan của con người chụp lại, chép lại, phản ánh lại thực tại khách quan  sự hiểu biết của con người thuộc lĩnh vực ý thức, thực tại khách quan thuộc về thế giới vật chất Ý thức là hình ảnh về thế giới vật chất xã hội trong quá trình nhận thức của con người Chính vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất sẽ quyết định nội dung ý thức

e. “Không phụ thuộc vào cảm giác”: đề cập đến tính chất quan trọng nhất của vật chất: sự tồn tại trong ý thức không phụ thuộc vào ý thức, đó là tồn tại khách

Trang 11

quan, là cơ sở quan trọng nhất để xác định một cái gì đó có thuộc về vật chất hay không

Kết luận: Vật chất có nhiều thuộc tính, thuộc tính tồn tại khách quan, thuộc tính

phản ánh nhưng quan trọng nhất là tồn tại khách quan Đó là cơ sở quan trọng nhất

để xem xét, còn các vấn đề còn lại cho ta hiểu về ý thức, mối quan hệ giữa vật chất

và ý thức, khả năng nhận thức của con người

3. Rút ra từ định nghĩa :

Sự thống nhất giữa tính trừu tượng của phạm trù và tính hiện thực của vật chất được thể hiện: vật chất với tư cách là phạm trù thì nó là kết quả của quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa của con người Nó là sản phẩm của tư duy trên vật chất, với tư cách là vật chất thì nó là những cái thể hiện cụ thể qua các sự vật, các quá trình, các quan hệ…

 Trong thế giới có rất nhiều các sự vật với kích thước, thuộc tính khác nhau thuộc về thế giới vi mô, vĩ mô… chúng có đặc tính chung là tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người Từ đó, con người khái quát hóa các sự vật cụ thể thành khái niệm chung Đó là khái niệm vật chất

Lenin đã có một cách định nghĩa mới là không định nghĩa vật chất theo cách thông thường mà đã đem vật chất đối lập với ý thức

4. Ý nghĩa :

a. Định nghĩa đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Marx về vật chất Chủ nghĩa duy vật trước Marx lấy cái trong giới tự nhiên để giải thích cho thế giới Điều đó về cơ bản là đúng nhưng hạn chế ở chỗ là đã đồng nhất vật chất với vật thể Định nghĩa của Lenin đã phân biệt được vật chất với vật thể một cách

rõ ràng

Chủ nghĩa duy vật trước Marx:

Vật chất = nước, lửa, không khí  tồn tại khách quan

Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

Vật chất = thực tại khách quan  tồn tại khách quan

Khác nhau ở chỗ chủ nghĩa duy vật trước Marx biểu hiện một hoặc một số cái, còn chủ nghĩa duy vật biện chứng biểu hiện mọi cái, chính điều này làm cho Chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới trở thành chủ nghĩa duy vật biện

Trang 12

chứng, tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử, và đồng thời tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

b. Định nghĩa bác bỏ những quan điểm duy tâm về vật chất, Chủ nghĩa duy tâm thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan

c. Giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm duy vật

d. Góp phần giải quyết khủng hoảng về mặt thế giới quan diễn ra cuối thế kỉ XIX đầu XX, góp phần thúc đẩy khoa học phát triển, vì nó cho rằng con người có khả năng nhận thức thế giới, cho con người thấy rằng quá trình nhận thức ấy phải thống qua các giác quan

e. Đặc tính khắc phục tính chất trực quan siêu hình máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tư sản hiện đại

f. Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động

và phát triển không ngừng nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ta những kết quả mới, những thuộc tính mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại

Ngày nay, mặc dù khoa học tự nhiên đã tiến những bước rất dài so với thời điểm khi những định nghĩa vật chất của Lenin ra đời, nhưng nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa cho đến ngày nay Sự thừa nhận hay không định nghĩa này vẫn là tiêu chuẩn

để phân biệt thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm

Trang 13

Câu 4: Nguồn gốc ý thức, bản chất của ý thức, ý nghĩa?

Ý thức là phạm trù triết học chỉ một dạng hoạt động dặc biệt diễn ra trong bộ óc con người, phản ánh thế giới khách quan Ý thức là thuộc tính đặc biệt chỉ có riêng

ở dạng vật chất có tổ chức cao Ý thức được hình thành từ thuộc tính phản ánh và thông qua hoạt động lao động cải biến thế giới tự nhiên và xã hội của con người

1 Nguồn gốc ý thức: Nguồn gốc tự nhiên Bộ não đang hoạt động

Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan tác động đến giác quan gây hiện tượng phản ánh.

Nguồn gốc xã hội: Lao động và ngôn ngữ

a. Nguồn gốc tự nhiên :

- Trên cở sở tiếp cận y học, sinh học, ta rút ra nguồn gốc ý thức trên cơ sở tiếp nhận triết học Bộ não con người có khoảng 17 tỉ tế bào thần kinh, có 2 loại tế bào trắng và xám Tế bào trắng thu nhận thông tin, hấp thụ thông tin; tế bào xám xử lý thông tin dẫn ra tổ chức sáng tạo, làm cho khả năng xử lý thông tin cao Tỉ lệ chất xám và chất trắng trong não người về cơ bản là như nhau, trên não bộ chia làm nhiều khu, mỗi khu lưu giữ những chức năng khác nhau, chỉ có não bộ đang hoạt động mới sản sinh ra ý thức

Bộ não của con người là một dạng cụ thể đặc biệt của vật chất, khác với tất cả các dạng vật chất khác về cấu trúc và thuộc tính

- Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất này đối với những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quátrình tác động qua lại

VD: Tất cả các sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều có khả năng nhận thức qua

lại lẫn nhau Khi A tác động đến B thì B sẽ tác động trở lại A, đồng thời B vẫn giữ lại các dấu vết của A tạo ra

Phản ánh là quá trình, trong đó một sự vật này khi nhận tác động của một sự vật khác, nó có khả năng tác động ngược trở lại vật đã tác động đến nó, đồng thời với quá trình đó nó giữ lại những dấu vết mang nội dung vật đã tác động lên nó Quá trình phản ánh này diễn ra khác nhau ở các sự vật hiện tượng khác nhau Sự

Trang 14

khác nhau này bị quyết định bởi mức độ tác động và cấu trúc của các dạng vật chất trong khi tác động qua lại lẫn nhau

Cùng với sự tiến hóa của thế giới vật chất, thuộc tính phản của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó ý thức là hiện tượng phản ánh cao nhất của thế giới vật chất

 Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người

b. Nguồn gốc xã hội :

- Lao động là sự tác động vào giới tự nhiên của con người, làm giới tự nhiên thay đổi về tính chất, hình dáng, cấu trúc cho phù hợp với nhu cầu của con người Lao động có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển ý thức:

Thay đổi cấu trúc cơ thể của vượn người để trở thành cơ thể của con người: giải phóng 2 chi trước của con người để làm những việc tinh vi hơn.

Hoạt động lao động làm cho các giác quan của con người ngày càng trở nên hoàn thiện: cải biến nguồn thức ăn (nhiều đạm)

Nhờ quá trình lao động mà ngôn ngữ ra đời, nhờ quá trình lao động ngôn ngữ thêm hoàn thiện, làm cho con người liên kết lại với nhau, làm nên mối quan hệ khách quan trong xã hội.

Hoạt động lao động làm thuộc tính bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình tự bộc lộ

Lao động giúp con người hoàn thiện bàn tay, chế tạo ra của cải lao động, làm cho hoạt động có mục đích của con người đạt mục đích cao hơn, làm cho con người khác nhau về chất so với con vật.

- Ngôn ngữ giúp con người nhận thức, cho phép con người ý thức được về đối tượng một cách gián tiếp:

Ngôn ngữ giúp con người trao đổi thông tin, qua đó cung cấp cho con người những nội dung mới, hoặc điều chỉnh những nội dung mà con người đã có.

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ 2, là cái vỏ vật chất của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khách quan sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi giữa các thế hệ Không có nguôn ngữ nào lại không chứa đựng một lượng nội dung ý thức nhất định và không có một ý thức Tư tưởng nào lại

Trang 15

không bộc lộ bằng ngôn ngữ Vì thế ngôn ngữ chứa đựng tư tưởng và tư tưởng bộc lộ qua ngôn ngữ Thông qua ngôn ngữ, con người hiểu được tri thức, rèn luyện tư tưởng là rèn luyện ngôn ngữ Sự hoàn thiện và phát triển của ý thức dẫn đến sự hoàn thiện và phát triển của ngôn ngữ.

Tóm lại, lao động và ngôn ngữ là 2 sức kích thích chủ yếu để hình thành và phát triển ý thức

2 Bản chất của ý thức:

- Ý thức là sự phản ảnh của thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất

• Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quyết định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm

• Sự cải biến trong sáng tạo của ý thức là tuân theo quy luật phản ánh không xuyên tạc hiện thực

- Phản ánh ý thức là sáng tạo vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội, ý thức mang bản chất xã hội

• Ý thức là một hiện tượng xã hội Là sản phẩm của sự phát triển xã hội, không phải chỉ là sự phát triển giản đơn

• Nếu con người tách khỏi xã hội sẽ không hình thành nên tri thức

Trang 16

 Kết cấu của ý thức: tri thức, tình cảm, ý chí… Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất, quyết định bản chất chủ động, sáng tạo, tích cực của ý thức.

Kết luận: Ý thức mang bản chất xã hội, nó là hình ảnh chủ quan của thế giới

khách quan Ý thức con người bị những điều kiện xã hội quyết định cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện, tất cả mọi giai đoạn trong xã hội quyết định hình thức biểu hiện ý thức của con người trong xã hội đó Ý thức phản ánh toàn bộ đời sống vật chất của xã hội đó ở mỗi giai đoạn lịch sử đó, ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, nhưng hình ảnh về thế giới khách quan đó không y nguyên như bản thân của thế giới mà nó bị cải tạo qua chủ quan của mỗi người Chủ quan thể hiện qua tri thức, kinh nghiệm, tố chất của mỗi người

3 Ý nghĩa phương pháp luận:

- Do ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức

và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, cần chống lại bệnh chủ quan duy ý chí

- Do ý thức là sự phản ánh tự giác sáng tạo hiện thực nên cần chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễn

Câu 5: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa?

1. Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :

a. Khái niệm :

Trang 17

từ thuộc tính phản ánh và thông qua hoạt động lao động cải biến giới tự nhiên và

xã hội của con người

b. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :

- Vật chất quyết định ý thức :

• Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất quyết định ý thức, vật chất

là nguồn gốc của ý thức, vật chất sinh ra ý thức Ý thức là chức năng của óc người – dạng vật chất có tổ chức cao của thế giới vật chất – là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

• Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc người, thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức, quyết định nội dung của ý thức

- Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất :

• Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người

• Ý thức không phản ánh đúng hiện thực khách quan, có thể kềm hãm với một mức độ nhất định hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

• Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người, con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy

• Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới (thực hiện) được phát triển đến mức độ nào chăng nữa cũng phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan

Trang 18

c Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội

Đó là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ xã hội khác như chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan

2 Ý nghĩa phương pháp luận

- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức phải đảm bảo nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng, từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình

là cơ sở, không lấy ý chí áp đặt cho thực tế Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực => tôn trọng quy luật khách quan

- Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất, thông qua hoạt động của con người nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn của con người:

• Nguyên tắc khách quan: Không loại trừ mà còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động, chủ quan, phát huy tính sáng tạo của ý thức

• Vai trò tích cực của ý thức là ở chỗ nhận thức được thế giới khách quan làm cho con người hình thành được mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiết cho hoạt động thực tiễn của mình

• Trong hoạt động thực tiễn phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức

xã hội cho nhân dân nói chung, nâng cao trình độ cho cán bộ, Đảng viên, nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ ngày nay Mặt khác, phải củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cách mạng cho nhân dân, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho CB – Đảng viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học

Trang 19

• Để thực hiện nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng động chủ quan của con người, phải vận dụng đúng giá trị (qh?) lợi ích, phải có động

cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học và không vụ lợi

- Cần chống lại bệnh chủ quan duy ý chí, cũng như thái độ thụ động, chờ đợi vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan

3 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào đời sống xã hội

- Nhân tố vật chất gồm: Tồn tại

Tính chất địa lý ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội Dân số với tất cả các biểu hiện của nó.

Phương thức SX là sự thống nhất giữa LLSX và QHSX Không gian và thời gian

Quy luật.

- Nhân tố ý thức gồm: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

Ý thức là sự p.ánh sáng tạo TGKQ & bộ óc con ngườ.i Đường lối chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp Các q.điểm, quan niệm, tâm tư, tiêu chuẩn, nguyện vọng Một số biểu hiện của phong tục tập quán, thói quen đề cập đến hoạt động con người nhưng cũng có một phần thuộc về ý thức.

- Ý nghĩa cụ thể:

+ Nếu vật chất là nguồn gốc ý thức, sản sinh và quyết định ý thức thì trong hoạt động của mình, con người phải tôn trọng nguyên tắc khách quan, tôn trọng nguyên tắc khách quan là tôn trọng vài trò quyết định của nhân tố vật chất Biểu hiện của việc tôn trọng nguyên tắc khách quan:

• Khi đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp, mục tiêu, mục đích… Con người không được thuần túy xuất phát từ ý muốn chủ quan của mình và trên hết phải xuất phát từ nhân tố vật chất Điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân, vùng, địa phương, phải xuất phát từ yếu tố vật chất

• Khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng thì vấn đề trọng yếu trước tiên quyết định hành động của con người thành công hay thất bại là con người

có tìm ra, huy động được, tổ chức được những nhân tố vật chất thành lực

Trang 20

lượng vật chất hay không? – Tìm ra nhân tố vật chất khó bởi vì nó đòi hỏi con người phải có tri thức đúng về vật chất, huy động tốt sẽ tổ chức tốt, sức mạnh

sẽ tăng lên nhiều lần…

• Vì vật chất là nguồn gốc của ý thức, sản sinh ý thức, quyết định ý thức nên muốn giải thích các hiện tượng tinh thần con người, phải quay về với nguồn gốc của nó là đời sống vật chất

+ Nếu ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người thì trong cuộc sống của mình, con người phải phát huy vai trò tích cực của những nhân tố chủ quan – phát huy tính năng động chủ quan của con người, thực chất là phát huy sự tác động tích cực trở lại nhân tố ý thức đối với vật chất Hướng tích cực thể hiện những nhân tố ý thức thúc đẩy các nhân tố vật chất, biểu hiện của tính tích cực năng động, sáng tạo:

• Con người phải biết tôn trọng tri thức khoa học sáng tạo

• Truyền bá tư tưởng khoa học ấy vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng quần chúng hành động

• Con người phải không ngừng rèn luyện để tiếp cận, làm chủ tri thức, duy trì và phát triển thuần phong, mỹ tục

• Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính năng động của ý thức Con người phải cố gắng làm chủ tri thức khoa học toàn diện bao gồm tri thức khoa học tự nhiên và tri thức khoa học xã hội

• Khi muốn thực hiện hay xây dựng một điều gì đó phải chống cái đối lập với

nó, chống tư tưởng xem thường vai trò ý thức, xem thường tri thức khoa học, các yếu tố khác nhau như thuần phong, mỹ tục…

4. Khắc phục và ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí :

 Bệnh chủ quan, duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng XHCN

 Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách sáng tạo, sáng tạo trên cơ sở của sự phản ánh Vì vậy, nếu cường điệu tinh thần sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí Bệnh chủ quan, duy ý chí là khuynh

Trang 21

hướng tuyệt đối hóa vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay cho sự yếu kém về tri thức khoa học.

 Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan biểu hiện trong một số chủ trương và chính sách, xa rời hiện thực khách quan

 Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, tri thức lý luận, không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn

- Bệnh chủ quan, duy ý chí còn do nguồn gốc lịch sử - xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự

ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí

- Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải sử dụng đồng bộ biện pháp Trước hết phải đổi mới tư duy, lý luận nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của

hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu

Câu 6: Trình bày nội dung của phương pháp biện chứng duy vật?

Nội dung của phép biện chứng duy vật được thể hiện qua 2 nguyên lý, 2 nguyên

lý này được cụ thể qua các quy luật:

Trang 22

1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến :

- Thế giới được hình thành từ những sự vật, hiện tượng, những quá trình khác nhau Không có một sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác nhau, chúng luôn nằm trong mối liên hệ với nhau

a. Khái niệm :

Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau, góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một bộ phận hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau

b. Nội dung và tính chất các mối liên hệ phổ biến :

- Tính khách quan: Không phụ thuộc vào ý thức con người Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động qua lại, đó là phương thức tồn tại của vật chất, là một yếu

tố khách quan Do đó, mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan Liên hệ là vốn có của các sự vật hiện tượng mà chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó

- Tính phổ biến: Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật hiện tượng, ở tất

cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Mối liên hệ phổ biến mà hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới

- Tính phong phú đa dạng: Các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất là

đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng Vì thế khi nghiên cứu các sự vật hiện tượng cần phải phân loại các mối liên hệ một cách cụ thể Tính đa dạng, phong phú còn thể hiện ở vai trò, vị trí của các mối liên hệ đối với sự tồn tại của các chính thể là không giống nhau

 Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những mối liên hệ sau: chung – riêng; cơ bản – không cơ bản; bên trong – bên ngoài, chủ yếu – thứ yếu; không gian – thời gian… Sự phân loại này là tương đối và mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung

 Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới chủ quan, còn những hình thức cụ thể của mối liên là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cụ thể

c Ý nghĩa

Trang 23

Vì mối liên hệ mang tính khách quan và mang tính phổ biến nên trong hành động nhận thức của con người, con người cần phải tôn trọng tính toàn diện, nghĩa là khi con người nhận thức một đối tượng nào đó, hoặc giải quyết một vấn đề gì đó, đánh giá gì đó thì ngoài việc tìm hiểu bản thân đối tượng ra, con người cần tìm hiểu tất cả các mối liên hệ mà nó có (quan hệ toàn diện).

Con người không bao giờ nhận thức được tất cả các mối liên bản chất không gian vô hạn, thời gian không điểm khởi đầu, không điểm kết thúc Con người có nhiều mối liên hệ, nếu con người càng hiểu nhiều mối liên hệ thì sai lầm của con người càng ít Nếu tôn trọng điểm toàn diện thì sẽ đạt được hiệu quả tối ưu hơn, cần chống tư tưởng phiến diện một chiều, phiến diện lấy một yếu tố nhỏ thay cho chỉnh thể

Từ tính riêng biệt của các mối liên hệ đòi hỏi con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nghĩa là khi nhận thức nhận định, đánh giá một điều gì đó thì con người phải đặt nó vào không gian của nó, thời gian của nó, những mối liên hệ của nó (ở đâu?; khi nào?; với cái gì?) Cần chống quan điểm chung chung, đại khái

=> Nguyên lý vế mối liên hệ phổ biến phản ánh đặc trưng thứ nhất trong phép biện chứng

 Khái niệm về sự phát triển :

Trang 24

Phát triển là khuynh hướng chung Đề cập đến trạng thái phát triển là đề cập đến vận động tiến lên được xác định về hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.

Từ khái niệm trên cho thấy:

- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối liên hệ biện chứng với nhau, vì nhờ có mối liên hệ thì sự vật mới có sự vận động và phát triển

- Cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển Vận động là mọi

sự biến đổi nói chung, còn phát triển là sự vận động có khuynh hướng và gắn liền với sự ra đời của cái mới hợp quy luật

 Nội dung và tính chất của nguyên lý :

Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới, sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa liên tục Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian, thậm chí có lúc có sự thụt lùi tạm thời Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật, nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật

 Phân biệt quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển :

Quan điểm xem sự phát triển là một quá trình vận động và tiến lên thông qua những bước nhảy vọt về chất Nguồn gốc của sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ở trong sự vật

Quan điểm siêu hình nói chung không thừa nhận sự phát triển của sự vật

vì họ thường tuyệt đối hóa sự ổn định của sự vật - hiện tượng Sau này, khi khoa học đã chứng minh cho quan điểm về sự phát triển của sự vật, buộc họ phải nói đến

sự phát triển Song với họ, phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về chất, nguồn gốc của nó ở bên ngoài sự vật hiện tượng

 Ý nghĩa :

- Từ việc nghiên cứu nguyên lý trên, chúng ta thấy rằng: Phát triển là khuynh hướng chung, là bản chất của sự vận động và phát triển Muốn nhận

Trang 25

thức đúng sự vật phải có quan điểm phát triển, đồng thời phải biết đặt sự vật trong điều kiện lịch sử cụ thể

- Quá trình phát triển có thụt lùi tạm thời, không được bi quan, đồng thời phải biết ủng hộ cái mới, phải chấp nhận nó vì sự phát triển cao hơn

- Hiện nay chúng ta đang trong công cuộc đổi mới đất nước, cần phải phân tích tình hình một cách biện chứng để rút ra bài học bổ ích cho lý luận cách mạng, trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động thực tiễn nhằm tiếp tục trên con đường XHCN mà Đảng ta đã lựa chọn

 Ý nghĩa phương pháp luận

- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với các sự vật hiện tượng khác, phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí và vai trò của từng mối liên

hệ đối với sự vận động và phát triển của sự vật, tôn trọng quan điểm toàn diện

- Nếu khuynh hướng của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Quan điểm phát triển đòi hỏi phải phát triển sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện được cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật Tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể

Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển Với cách xem xét và nghiên cứu theo quan điểm toàn diện sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao

Đảng đã vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển trong việc xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam đã “sử dụng sức mạnh thời đại, sức mạnh quan sự - chính trị - kinh tế - ngoại giao, sức mạnh của các vùng chiến lược để giành thắng lợi trong chiến tranh giải phóng” Ngày nay, trong chặng đường đầu của thời kì quá độ, quan điểm này đang được vận dụng để mở cửa, phát huy nội lực nhằm kết hợp sức mạnh toàn diện để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh

Trang 26

Câu 7: Trình bày 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật?

I. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật đối lập, nó cho ta biết nguồn gốc của sự phát triển

Trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, Lenin đã coi quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, bởi quy luật này đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động

và phát triển của sự vật Đó là chìa khóa giúp ta nắm vững thực chất của các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Nội dung:

Bất kì sự vật hiện tượng nào cũng là một chỉnh thể bao gồm những bộ phận khác nhau, những yếu tố khác nhau liên kết tạo thành Trong đó có những thành phần có khuynh hướng ngược chiều nhau được gọi là các mặt đối lập Cứ hai mặt đối lập hình thành nên một mâu thuẫn, những mặt đối lập này vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong điều kiện nhất định, đến một mức độ nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết, khi đó sự vật chuyển hóa, sự vật mới ra đời sẽ có những mặt đối lập mới, mâu thuẫn mới Những quá trình thống nhất và đấu tranh mới của các mặt đối lập và đến một lúc nào đó mâu thuẫn lại được giải quyết, sự vật lại được chuyển hóa

Như vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển và cụ thể hơn là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển

Cứ 2 mặt đối lập hình thành nên một mâu thuẫn, mâu thuẫn chính là mối liên hệ giữa hai mặt đối lập, nếu mặt đối lập vốn có ở các dạng tồn tại khác thì mâu thuẫn cũng là cái vốn có, vấn đề là nhận ra nó hay không mới là quan trọng

1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến:

Mâu thuẫn là một khái niệm để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập Đó là những mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một sự vật Mâu thuẫn là sự thống nhất của hai mặt đối lập, mâu thuẫn mang các tính chất sau:

- Tính khách quan : Mâu thuẫn nằm bên ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, mâu thuẫn mang tính khách quan và là cái vốn có trong các sự vật

Trang 27

hiện tượng và tính phổ biến tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên - xã hội và tư duy.

- Tính đa dạng, phong phú, và phức tạp : Mâu thuẫn trong mỗi sự vật và trong các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau Trong mỗi sự vật hiện tượng không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn lại có đặc điểm và vai trò tác động khác nhau đối với sự vận động

và phát triển của sự vật Vì vậy cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể

2. Mâu thuẫn là một chỉnh thể trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau:

- Thống nhất giữa các mặt đối lập là:

• Các mặt đối lập cùng tồn tại: Nó cùng tồn tại vì không bao giờ có một mặt đối lập Nếu mặt đối lập này mất đi thì mặt đối lập kia cũng sẽ mất đi, phải có một mặt đối lập này thì mới có một mặt đối lập kia

• Các mặt đối lập có sự liên hệ quyết định, ràng buộc lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình, góp phần quyết định trạng thái tồn tại của nhau Mặt đối lập này không thay đổi thì tất yếu dẫn đến sự thay đổi của mặt đối lập kia

- Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự xung đột bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập Đấu tranh giữa các mặt đối lập đến một mức độ nhất định trong những điều kiện nhất định thì xung đột được giải quyết, xung đột được giải quyết thì bước chuyển hóa được thực hiện Khi sự vật mới ra đời thì tự nó đã có những thành phần và yếu tố khác nhau

Trong một mâu thuẫn thì sự thống nhất giữa các mặt đối lập không tách rời với

sự đấu tranh giữa chúng, bởi trong sự quy định ràng buộc lẫn nhau, hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, đấu tranh với nhau

 Phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, quá trình hình thành và phát triển của một mâu thuẫn Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện sự khác biệt, sau đó phát triển lên thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và có điều kiện thì giữa chúng có sự chuyển hóa và xung đột được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới

Trang 28

được hình thành và lại một quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển.

 Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển hóa) thì không có sự phát triển, chuyển hóa của các mặt đối lập là tất yếu, là kết quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Do sự đa dạng của thế giới nên các hình thức chuyển hóa cũng rất đa dạng; có hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau và cũng có thể chuyển hóa lên hình thức cao hơn

- Sự vận động và phát triển của sự vật thể hiện trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập Trong đó, thống nhất giữa các mặt đối lập là tạm thời, tương đối – còn đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho

sự vận động và phát triển của sự vật là sự tự thân và diễn ra liên tục Tính tương đối của thống nhất giữa các mặt đối lập làm cho thế giới vật chất phân hóa thành các bộ phận, các sự vật đa dạng, phức tạp, gián đoạn

Tóm lại:

Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan là đều là thể thống nhất giữa các mặt đối lập, chính sự đấu tranh giữa các mặt đối lập và sự chuyển hóa giữa chúng là nguồn gốc và động lực của sự phát triển, cho phép con người rút ra một

- Phải biết phân loại mâu thuẫn

- Xác định vị trí và vai trò của mâu thuẫn

Ý nghĩa phương pháp luận:

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, Lenin gọi quy luật này là “hạt nhân” của phép biện chứng vì nó là cơ sở để hiểu rõ mối quan hệ giữa các phạm trù khác nhau cũng như các quy luật cơ bản khác trong phép biện chứng duy vật

Trang 29

Mâu thuẫn là khách quan, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển nên muốn nắm được bản chất của sự vật cần phải phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của chúng.

Mâu thuẫn mang tính phổ biến và đa dạng Do đó, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải có phương pháp phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể, việc giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập và với những điều kiện chín mùi

Quy luật mâu thuẫn là quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ rõ nguồn gốc và động lực của sự phát triển, quy luật có tính phổ biến vì vậy được vận dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong quá trình vận động cần nhận rõ thống nhất là tương đối, đấu tranh là tuyệt đối Chú ý không được tuyệt đối hóa mặt đối lập này mà phủ nhận mặt đối lập kia, hoặc dung hòa các mặt đối lập, thủ tiêu mâu thuẫn

Trong quá trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta biết phát hiện đúng mâu thuẫn của từng thời kì cách mạng, đưa cách mạng đến thắng lợi

Quy luật từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại :

Quy luật này cho ta hiểu cách thức của sự phát triển

Nội dung:

Mọi chỉnh thể đều là sự thống nhất giữa chất và lượng, trong đó Chất tương đối ổn định, còn Lượng thường xuyên biến đổi Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì Chất sẽ thay đổi Khi đó sự vật chuyển hóa, sự vật mới ra đời với Chất mới và Lượng mới Lượng vẫn tự nó thường xuyên biến đổi để đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định Chất lại chuyển hóa nhưng sự biến đổi của Lượng này khác sự biến đổi của Lượng cũ cả về tốc độ và khuynh hướng, điều này do Chất quyết định Như vậy, cách thức của sự phát triển là từ những thay đồi về Lượng đã dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại Để hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt này, trước hết cần nắm vững khái niệm Chất và Lượng

1. CHẤT : là một phạm trù triết học, dùng để chỉ tính quy định vốn có của các sự vật, là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với cái khác

Ngày đăng: 18/03/2015, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w