1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở hàn quốc

86 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Tài Chính - Tiền Tệ Ở Hàn Quốc (1997 - 1998)
Tác giả Huỳnh Thị Vị
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Hoàng Linh
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Đông phương học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 717,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (9)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; (12)
  • 6. Cấu trúc của khóa luận (13)
  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA HÀN QUỐC (14)
    • 1.1. Hàn Quốc trong giai đoạn cất cánh kinh tế lần thứ hai: Phát triển công nghiệp kỹ thuật cao và hoàn thành công nghiệp hóa (1979 – 1993) (14)
      • 1.1.1. Về kinh tế (1979 – 1993) (14)
      • 1.1.2. Về xã hội (1979 - 1993) (20)
    • 1.2. Hàn Quốc trong những năm 1993 – 1997 (24)
      • 1.2.1. Tình hình kinh tế Hàn Quốc (1993 – 1997) (24)
      • 1.2.2. Tình hình xã hội Hàn Quốc (1993 – 1997) (29)
  • CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HÀN QUỐC TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ 1997 – 1998 (32)
    • 2.1. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 – 1998 ở Hàn Quốc (32)
    • 2.2. Tình hình kinh tế - xã hội của Hàn Quốc trong khủng hoảng (34)
      • 2.2.1. Về tình hình kinh tế (34)
      • 2.2.2. Về tình hình xã hội (38)
    • 2.3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội của Hàn Quốc (45)
    • 2.4. Những biện pháp khắc phục và kết quả (48)
      • 2.4.1. Một số cải cách trong hệ thống kinh tế Hàn Quốc (48)
        • 2.4.1.1. Chương trình của IMF (48)
        • 2.4.1.2. Các đối sách của Chính phủ (49)
      • 2.4.2. Về xã hội (55)
        • 2.4.2.1. Cải cách thị trường lao động (55)
        • 2.4.2.2. Các biện pháp đối phó thất nghiệp (59)
        • 2.4.2.3. Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội (63)
        • 2.4.2.4. Xây dựng quan hệ quản lý - lao động mới (64)
      • 2.4.3. Kết quả đạt được (65)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Ở HÀN QUỐC 1997 – 1998 VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA (67)
    • 3.1. Một số nhận xét (67)
      • 3.1.1. Tính chất của cuộc khủng hoảng (67)
      • 3.1.2. Đặc điểm của khủng hoảng (68)
    • 3.2. Những bài học kinh ngiệm rút ra (70)
      • 3.2.1. Đối với Hàn Quốc (70)
      • 3.2.2. Đối với Việt Nam (71)
      • 3.2.3. Đối với nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng (73)
  • KẾT LUẬN (76)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á tại Hàn Quốc từ năm 1997 đến 1998 đã được nhiều cơ quan khoa học và các nhà nghiên cứu Hàn Quốc tổng kết, rút ra nguyên nhân, tính chất, tác động và những bài học kinh nghiệm cụ thể Những công trình nghiên cứu này đã được công bố bởi Uỷ ban biên soạn lịch sử quốc gia, Viện Hàn Lâm nghiên cứu khoa học và Tổ chức nghiên cứu Hàn Quốc.

Tổ chức hợp tác quốc tế đã giới thiệu về Hàn Quốc qua các tài liệu như “Hàn Quốc (đất nước – con người)” và “sổ tay Hàn Quốc”, trình bày một cách hệ thống và khoa học về bức tranh kinh tế - xã hội hiện đại của đất nước này.

Nhiều nhà nghiên cứu Hàn Quốc như Song Byung Nak với “Bàn về kinh tế Hàn Quốc” (1994), Ilsa-kong trong “Hàn Quốc trong nền kinh tế thế giới”, Kim Iojure với “Kinh tế Hàn Quốc năm mươi năm sau giải phóng”, và Lee Churl-hee trong “Lịch sử và văn hóa Hàn Quốc” (2007) đã đầu tư nghiên cứu sâu về lĩnh vực kinh tế và xã hội, phản ánh quá trình phát triển đa dạng của quốc gia Những công trình này cung cấp cái nhìn rõ nét về đất nước, con người, và các thành tựu văn hóa, xã hội của Hàn Quốc, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch kinh tế thị trường, sử dụng công cụ thị trường và các chính sách vĩ mô để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa Tuy nhiên, cách viết của các tác giả thường mang tính chủ quan từ góc nhìn của người Hàn Quốc, dẫn đến sự thiếu khách quan trong một số trường hợp.

Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu về Hàn Quốc từ sớm, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997 – 1998 Nước này có nhiều công trình và bài viết quan trọng từ các nhà nghiên cứu uy tín, phản ánh sự quan tâm sâu sắc đến tình hình kinh tế của Hàn Quốc.

Các công trình tiêu biểu như “Người khổng lồ tiếp theo của châu Á – Hàn Quốc và công nghiệp hóa muộn” của A Amsden (1989), “Bốn con rồng nhỏ Trào lưu công nghiệp hóa ở Đông Á” của Ezra F Vogel (1991), và “Một cái nhìn khác về sự thần kỳ Đông Á” của Gusta Ranis (1996) đã khẳng định quan điểm về “thần kỳ Đông Á” và “kỳ tích sông Hàn” Nghiên cứu của Bottelier (1999) và Ngân hàng Thế giới (1999) cũng nhấn mạnh sự phục hồi và phát triển của Đông Á Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận xã hội Hàn Quốc hiện đại từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục.

Hàn Quốc đã có những bước phát triển kinh tế - xã hội ấn tượng, đóng góp quan trọng vào mô hình phát triển năng động của Đông Á với tăng trưởng cao và bền vững, mặc dù vẫn có những phê phán và chỉ trích đối với các luận điểm này.

Nhiều ý kiến phản biện về “sự thần kỳ Đông Á” cho rằng giai đoạn này đang đi đến hồi kết, như M Clifford trong “Con hổ nổi loạn” (1994), Walden Bello và Stephanie Rosenfeld với “Mặt trái của những con rồng” (1993), và Josephe Stiglitz trong “Suy nghĩ lại sự thần kỳ Đông Á” (2002) Các nghiên cứu này chủ yếu diễn ra vào những năm 90, khi kinh tế Hàn Quốc và Đông Á bắt đầu đối mặt với khó khăn sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ Những học giả này đã chỉ ra những mặt trái và hạn chế của các nền kinh tế châu Á, đưa ra những lập luận thuyết phục để chứng minh cho quan điểm của họ.

Tình hình nghiên cứu về Hàn Quốc ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra rất sôi nổi Tại Trung Quốc, các công trình nghiên cứu như “Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ” của Ngụy Kiệt và Hạ Diệu (1993) đã đưa ra những luận chứng quan trọng về sự thành công của các NICs Đông Á trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời rút ra bài học cho cải cách kinh tế của Trung Quốc Quách Diệu Bang cũng có tác phẩm “Kinh nghiệm của tiến bộ khoa học kỹ thuật và bồi dưỡng nhân tài ở Nam Triều Tiên” (1993), được coi là tấm gương cho các nước đang phát triển học hỏi, giúp họ có bước phát triển bền vững và trở thành những quốc gia mạnh mẽ trong nền kinh tế thế giới trong tương lai.

Năm 1996, báo Thông tin Bắc Kinh phối hợp với hãng Xinhua và tạp chí Tin tức thị trường Trung Quốc tổ chức hội thảo lớn về kinh tế thế giới và Đông Á, thu hút nhiều nhà khoa học, quản lý và lãnh đạo Hội thảo đã nhấn mạnh sự thành công kinh tế của các nước Đông Á và các nguyên nhân phát triển của khu vực này Nhiều nghiên cứu tại Nhật Bản, như “Mậu dịch và những chính sách đầu tư ở Đông Á” của Mokoto (1994) và “Chính sách công nghiệp hóa ở Đông Á” của RyuiChino Inore, Horohisa Kohama và Shujiro (1999), đã phân tích quá trình phát triển chính sách công nghiệp của Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan trong các ngành dệt, điện tử và ô tô Tại Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về Hàn Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997-1998, với những bài viết tiêu biểu như “Kinh tế Đông Á, nền tảng của sự thành công” của Đỗ Đức Định, phản ánh quá trình phát triển thần kỳ của Đông Á và Hàn Quốc.

Các công trình nghiên cứu về "hiện tượng thần kỳ Đông Á" đã được trình bày qua nhiều tác phẩm quan trọng, như bài viết của Nguyễn Thị Luyến (1995) và Ngô Thị Trinh (1997), cùng với nghiên cứu của Hoàng Văn Hiển (2000) về sự phát triển kinh tế và xã hội của Hàn Quốc từ 1961 đến 1993 Những tác phẩm này không chỉ khái quát mà còn phân tích chi tiết các thành tựu và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm về chuyển giao công nghệ và vai trò của Nhà nước trong sự phát triển kinh tế.

Một số công trình nghiên cứu về sự phát triển xã hội ở Hàn Quốc đã chỉ ra mối quan hệ giữa công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế Các tác phẩm như “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam” của Lê Bộ Lĩnh (1998) và “Giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc” của Hoàng Văn Hiển (1998) đã phân tích các khía cạnh xã hội và tác động của chúng đối với quá trình tăng trưởng kinh tế.

Nhiều công trình và bài viết tập trung vào triển vọng phát triển của Hàn Quốc, đặc biệt là những tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế - xã hội Các tác giả như Trần Lan Hương trong bài “Một số giải pháp của các Chaebol Hàn Quốc trước cơn lốc khủng hoảng tài chính – tiền tệ” (1998) và Nguyễn Thiện Nhân đã đề xuất các đối sách và chiến lược nhằm vượt qua khủng hoảng.

“Khủng hoảng kinh tế - tài chính ở châu Á 1997 – 1999, nguyên nhân, hậu quả và bài học với Việt Nam”(2002), Ngọc Anh với “Kinh tế Hàn Quốc sau 10 năm”(2007) …

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong khóa luận là phương pháp lịch sử - logic, nhằm trình bày quá trình hình thành và phát triển của vấn đề thông qua các sự kiện lịch sử và phân chia giai đoạn theo các mốc thời gian Bên cạnh đó, khóa luận còn áp dụng các phương pháp so sánh - đối chiếu và thu thập thông tin, tìm kiếm nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được chia làm 3 chương.

Chương 1: Khái quát trình phát triển của Hàn Quốc trong hai thập niên trước khủng hoảng

Chương 2 : Bức tranh kinh tế - xã hội Hàn Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ 1997 – 1998

Chương 3 Một số nhận xét về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở HànQuốc 1997 – 1998 và những bài học kinh nghiệm rút ra.

KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA HÀN QUỐC

Hàn Quốc trong giai đoạn cất cánh kinh tế lần thứ hai: Phát triển công nghiệp kỹ thuật cao và hoàn thành công nghiệp hóa (1979 – 1993)

Từ năm 1979 đến đầu năm 1993, Hàn Quốc đã thực hiện chính sách kinh tế tập trung vào ổn định thay vì phát triển một chiều, bao gồm ổn định giá cả, tự do hóa kinh tế và duy trì cân bằng kinh tế Quốc gia này đã đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp như gang thép, thiết bị máy móc, ô tô, tàu biển, xe máy và hóa chất thông qua các tập đoàn lớn như Daewoo, Hyundai, và Samsung Tuy nhiên, từ năm 1989 trở đi, nền kinh tế Hàn Quốc không còn duy trì được thời kỳ "hoàng kim" như hai thập niên trước.

Có 8 vấn đề nổi bật về quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn 1979 – 1993 trên cơ sở điều chỉnh mô hình kinh tế hướng ngoại bước vào thời kỳ công nghiệp kỹ thuật cao, chuẩn bị tiền đề cho việc gia nhập hàng ngũ các nước tư bản phát triển:

Hàn Quốc đang tiến hành đổi mới quan niệm về vai trò kinh tế của nhà nước và cơ chế vận hành kinh tế, nhằm giải quyết hiệu quả những vấn đề cản trở sự phát triển của đất nước Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

- Tiếp tục thực hiện kế hoạch hóa kinh tế, chuyển từ mô hình tăng trưởng mất cân đối sang mô hình tăng trưởng cân đối.

- Đẩy mạnh chương trình tự do hóa thị trường nhằm giảm bớt sự can thiệp của nhà nước.

Hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là cần thiết để khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu công nghiệp Đồng thời, cần hướng hoạt động của các doanh nghiệp này vào việc xuất khẩu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Để thúc đẩy công nghiệp, cần phát triển các ngành kỹ thuật – công nghệ cao của dân tộc, thay thế nguồn công nghệ nhập khẩu từ các nước phát triển Điều này cần gắn liền với việc tăng cường hoạt động khoa học – kỹ thuật, nhằm phục vụ hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

- Điều chỉnh hợp lý cơ cấu hàng xuất khẩu và đa dạng hóa, quốc tế hóa thị trường xuất khẩu.

Việc thu hút đầu tư nước ngoài theo hình thức mới cần được tiếp tục, đồng thời cần đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Hành động này phải gắn liền với chuyển giao công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa.

- Tiếp tục công cuộc cơ giới hóa, hiện đại hoa nông thôn nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị lên một bước [20; 133 - 163].

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Hàn Quốc đã có sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức về vai trò kinh tế của nhà nước, từ việc can thiệp chủ quan sang hỗ trợ phát huy các ưu thế của quy luật kinh tế thị trường, đồng thời loại bỏ tính chỉ huy của Chính phủ.

Vào năm 1981, Chính phủ Chun Doo Hwan đã đề ra một chiến lược phát triển với ba mục tiêu chính: ổn định giá cả, tự do hóa thị trường và tăng trưởng kinh tế cân đối Để đạt được ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát, nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp tài chính tiền tệ nghiêm ngặt, trong đó có việc giảm mạnh trợ giá lúa cho các hộ nông nghiệp.

Từ năm 1980 đến 1985, giá thóc tăng 25% và 16%, dẫn đến thâm hụt ngân sách giảm nhanh từ 5,6% năm 1981 xuống còn 0,96% năm 1986 Kể từ đầu năm 1983, Chính phủ đã giảm bớt ảnh hưởng của lạm phát Đồng thời, việc ổn định giá đi đôi với tự do hóa nền kinh tế, không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn sự điều chỉnh của nhà nước, mà là giảm thiểu can thiệp trực tiếp và tăng cường quyền tự chủ cho khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước Sự can thiệp của nhà nước chủ yếu mang tính gián tiếp thông qua các công cụ kinh tế khi cần thiết, thể hiện rõ nét trong chương trình này.

Chính phủ đã khôi phục tự do cạnh tranh cho các chủ thể kinh tế từ đầu năm 1980 thông qua nhiều biện pháp, bao gồm việc buộc giải thể 102 xí nghiệp không đủ khả năng cạnh tranh và ban hành Luật chống độc quyền và buôn bán trung thực vào ngày 32-12-1980 Ngoài ra, các phương án cải cách tài chính và dự luật hỗ trợ ngành nghề cũng được áp dụng, đánh dấu sự khác biệt quan trọng so với chiến lược tăng trưởng trước đây.

Tự do hóa hình thành cơ cấu công nghiệp nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối trong ngành Trước đây, Nhà nước phân bổ nguồn lực để định hình cơ cấu công nghiệp theo kế hoạch, nhưng hiện tại, Nhà nước đã chuyển giao quyền hình thành cơ cấu cho thị trường Điều này giúp tránh lặp lại tình trạng ưu tiên đầu tư quá mức như vào thập niên 1970, gây mất cân đối và cản trở sự phát triển của hệ thống tài chính.

Vào năm 1980, chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện tự do hóa một số lĩnh vực tài chính bằng cách hạ giá 20% đồng Won và tiến hành tư nhân hóa ngân hàng thương mại Trong thập niên 80, quá trình quốc tế hóa và mở cửa trong lĩnh vực tài chính được đẩy mạnh.

Trong những năm 60 và 70, Hàn Quốc áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu, chỉ cho phép nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất xuất khẩu, với tỷ lệ tự do hóa nhập khẩu chỉ đạt 50% Điều này khiến các nhà sản xuất trong nước ít phải cạnh tranh và gặp khó khăn do chất lượng hàng hóa không đạt yêu cầu so với sản phẩm từ các nước khác Tình trạng này đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế xuất khẩu của Hàn Quốc Để cải thiện, Chính phủ đã thúc đẩy tự do hóa nhập khẩu, cho phép cạnh tranh từ bên ngoài, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ hàng nhập khẩu trong tiêu dùng từ 68,2% năm 1979 lên 94,8% năm 1988.

Mức thuế nhập khẩu đã giảm từ 38,7% vào năm 1987 xuống còn 18,1% vào năm 1988 Đến đầu thập niên 1980, tỷ lệ tự do hóa nhập khẩu tăng lên 70% và đạt 95% vào năm 1990.

Tư nhân hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh là một hoạt động quan trọng diễn ra từ giữa thập niên 1970 đến cuối thập niên 1980, trong bối cảnh làn sóng tư nhân hóa quy mô lớn trên toàn cầu Nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là ngân hàng, đã từng bước được chuyển giao từ sở hữu nhà nước sang tư nhân Để giảm thiểu sự mất cân đối giữa các ngành công nghiệp lớn và vừa, Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ cho ngành công nghiệp vừa và nhỏ.

Hàn Quốc trong những năm 1993 – 1997

Với sự nỗ lực phấn đấu của cả Chính phủ và nhân dân, Hàn Quốc đã làm nên

Sự thần kỳ kinh tế trên sông Hàn đã diễn ra trong chưa đầy 30 năm, với hai lần cất cánh kinh tế ngoạn mục Từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu, Hàn Quốc gia nhập Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) vào tháng 10 năm 1996, trở thành một trong những nước phát triển nhất thế giới Thành công của Hàn Quốc đã trở thành hình mẫu cho nhiều quốc gia đang phát triển, khuyến khích họ chuyển hướng từ "phương Tây" sang "phương Đông" để tìm kiếm kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế của chính mình.

Từ tháng 2 năm 1993, Hàn Quốc khởi động giai đoạn xây dựng “Hàn Quốc mới” thông qua chiến lược toàn cầu hóa đầy tham vọng, nhằm thực hiện cải cách toàn diện và đồng bộ Tuy nhiên, giai đoạn 1993 – 1997 chứng kiến nhiều thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội, do di sản tiêu cực từ quá khứ và các yếu tố bên ngoài tác động không thuận lợi.

1.2.1 Tình hình kinh tế Hàn Quốc (1993 – 1997)

Từ năm 1993 đến tháng 12 năm 1997, Hàn Quốc, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Kim Young Sam, đã triển khai chương trình “phát triển kinh tế mới” nhằm cải cách cơ cấu kinh tế, khuyến khích mở cửa để nâng cao khả năng cạnh tranh Chương trình này đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tạo ra các sản phẩm cạnh tranh cao trên thị trường toàn cầu và đẩy mạnh phát triển các ngành kỹ thuật – công nghệ cao, đồng thời bắt đầu thực hiện chiến lược chuyển giao công nghệ tới các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Sự phát triển chậm chạp của nền kinh tế Hàn Quốc, đặc biệt trong quý III năm 1992, đã tạo ra yêu cầu khẩn cấp cho chính phủ Để phục hồi nền kinh tế, chính quyền Kim Young Sam đã triển khai kế hoạch kinh tế ngắn hạn 100 ngày và kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm, với các biện pháp quyết định nhằm phục hồi kinh tế và chống tham nhũng.

Trong kế hoạch 100 ngày cho nền kinh tế mới, các biện pháp ngắn hạn được đề xuất bao gồm tăng cường đầu tư, cải thiện cơ cấu của các công ty vừa và nhỏ, bãi bỏ một số điều luật kinh tế không cần thiết và đẩy mạnh phát triển công nghệ.

Chính sách trung và dài hạn tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp nhân dân, thông qua việc đảm bảo ổn định việc làm và tăng thu nhập thực tế.

Kế hoạch 5 năm cho nền kinh tế mới bao gồm các biện pháp cải cách chính như cải cách hệ thống thuế, cải cách chi tiêu của Chính phủ, cải cách các thành phần tài chính và cải cách điều lệ quản trị Những cải cách này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

Kế hoạch phát triển 5 năm cho nền kinh tế Hàn Quốc, lần thứ bảy, nhằm xây dựng một quốc gia mới và chuẩn bị gia nhập nhóm các nước phát triển Nội dung chính của kế hoạch tập trung vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Cơ cấu lại nền kinh tế bao gồm việc chuyển dịch mạnh mẽ các ngành sử dụng nhiều lao động và kỹ thuật thấp sang các khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc và Caribe nhằm ứng phó với tình trạng giá lao động tăng Đồng thời, cần phát triển các ngành sản xuất kỹ thuật cao để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng hóa từ Nhật Bản và Mỹ.

Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc tập trung vào việc đảm bảo sự ủng hộ toàn cầu cho hòa bình và ổn định tại Đông Bắc Á Để gia nhập nhóm các nước phát triển, Hàn Quốc thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế nhằm nâng cao vai trò quốc tế của mình Đồng thời, nước này cũng nỗ lực hiện đại hóa nền kinh tế và thúc đẩy quan hệ hợp tác với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, đặc biệt trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa và mở rộng thương mại.

Thực hiện chiến lược toàn cầu hóa, Hàn Quốc sẽ nỗ lực tham gia giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu hóa.

Bên cạnh kế hoạch kinh tế ngắn hạn 100 ngày và kế hoạch phát triển kinh tế

Trong 5 năm cầm quyền, Chính phủ Kim Young Sam đã triển khai chiến lược toàn cầu hóa, với bước đầu tiên là điều chỉnh các Chaebol.

Chaebol, hay còn gọi là "tài phiệt" trong tiếng Hàn, bắt nguồn từ các doanh nghiệp gia đình nhỏ và đã xuất hiện từ những năm 60 dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Park Chun Hee Những tập đoàn này thuộc sở hữu của các gia đình và phát triển theo mô hình đa dạng hóa, với sức mạnh kiểm soát lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Đến đầu thập niên 90, 30 Chaebol lớn nhất Hàn Quốc đã chiếm tới 90% GDP quốc gia, trong đó bốn Chaebol lớn nhất là Hyundai, Samsung, Daewoo và LG nắm giữ 22% tổng tài sản, 32% doanh thu và 57% xuất khẩu của toàn bộ doanh nghiệp tại Hàn Quốc.

Các Chaebol Hàn Quốc, như Hyundai và Samsung, không chỉ có ảnh hưởng lớn trong nước mà còn trên toàn cầu, khẳng định vị thế của mình với tài sản và doanh thu ấn tượng Hyundai, với tài sản 54,6 tỷ USD và doanh thu 75 tỷ USD, là tập đoàn sản xuất ô tô và đóng tàu hàng đầu Hàn Quốc, có 45 công ty chi nhánh ở nước ngoài Tương tự, Samsung, sở hữu tài sản 51 tỷ USD và doanh thu 80 tỷ USD, đứng thứ 12 thế giới với 140 chi nhánh, sản xuất hơn 3.000 mặt hàng từ chất bán dẫn đến tài chính Đặc điểm nổi bật của các Chaebol này là sự đa dạng hóa trong kinh doanh, với phạm vi hoạt động rộng rãi từ sản xuất thiết bị viễn thông, ô tô, hàng điện tử đến tài chính, ngân hàng và bảo hiểm.

Chaebol, đặc trưng bởi sự chi phối của gia đình người sáng lập và hậu duệ, là những tập đoàn tư bản gắn liền với huyết tộc Chúng có mối liên hệ chặt chẽ với giới chính trị cầm quyền và tận dụng sức mạnh kinh tế, tài chính để kiểm soát nền kinh tế quốc gia.

Để chuyển đổi từ nền kinh tế hàng hóa tiêu dùng và công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng và hóa chất, Chính phủ đã dựa vào sự hợp tác của các Chaebol trong việc thực hiện các kế hoạch phát triển công nghiệp Tuy nhiên, mô hình công nghiệp hóa này đã dẫn đến sự phát triển độc quyền và tập trung quyền lực, gây ảnh hưởng đến việc phân bổ vốn và lợi nhuận kinh tế vào tay một số tập đoàn lớn.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HÀN QUỐC TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ 1997 – 1998

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Ở HÀN QUỐC 1997 – 1998 VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA

Ngày đăng: 25/07/2021, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Anh (2007), “Kinh tế Hàn Quốc sau 10 năm”, Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, 192 (số 49), tr. 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Hàn Quốc sau 10 năm”, "Kinh tế châu Á – TháiBình Dương
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 2007
2. Phan Cao Nhật Anh (2008), “Việc làm của thanh niên Hàn Quốc sau khủng hoảng kinh tế”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 87(số 5), tr. 34-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của thanh niên Hàn Quốc saukhủng hoảng kinh tế”, "Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Phan Cao Nhật Anh
Năm: 2008
3. Phương Anh (1998), “Cải tổ tại Hàn Quốc”, Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, (số10), tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tổ tại Hàn Quốc”, "Việt Nam và Đông Nam Ángày nay
Tác giả: Phương Anh
Năm: 1998
4. Phương Anh (1998), “Thử thách đối với Hàn Quốc”, Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, (số 10), tr. 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử thách đối với Hàn Quốc”, "Việt Nam và ĐôngNam Á ngày nay
Tác giả: Phương Anh
Năm: 1998
5. Mai Văn Bảo (2005), “Kinh tế Đông Bắc Á: Đặc điểm và xu hướng biến đổi”, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 58(số 4), tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Đông Bắc Á: Đặc điểm và xu hướng biếnđổi”, "Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á
Tác giả: Mai Văn Bảo
Năm: 2005
6. Walden Bello (1999), Mặt trái của những con rồng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trái của những con rồng
Tác giả: Walden Bello
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
Năm: 1999
7. Ngô Xuân Bình (2005), “Hướng tới một cộng đồng châu Á phát triển bền vững”, Nhật Bản và Đông Bắc Á, 55(số 1), tr. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một cộng đồng châu Á phát triển bềnvững”, "Nhật Bản và Đông Bắc Á
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 2005
8. Bottelier (1999), Đông Á con đường dẫn đến phục hồi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Á con đường dẫn đến phục hồi
Tác giả: Bottelier
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 1999
9. Hồ Châu (1997), “Hàn Quốc chiến lược toàn cầu hóa hướng tới thế kỷ 21”, Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, (số 7), tr. 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc chiến lược toàn cầu hóa hướng tới thế kỷ21”, "Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 1997
10. Chu Việt Cường (1999), “Sáp nhập Chaebol – lối thoát khỏi cơn bão tài chính của Hàn Quốc?”, Ngiên cứu Đông Nam Á, 34(số 1), tr. 56-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáp nhập Chaebol – lối thoát khỏi cơn bão tàichính của Hàn Quốc?”," Ngiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Chu Việt Cường
Năm: 1999
11. Khương Duy (1996), “Hàn Quốc: Một mô hình tiến hành công nghiệp hóa khắc nghiệt”, Những vấn đề Kinh tế Thế giới, 39 (số 1), tr. 26-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc: Một mô hình tiến hành công nghiệphóa khắc nghiệt”, "Những vấn đề Kinh tế Thế giới
Tác giả: Khương Duy
Năm: 1996
12. Đỗ Đức Định (1995), Kinh tế ĐôngÁ, nền tảng của sự thành công, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế ĐôngÁ, nền tảng của sự thành công
Tác giả: Đỗ Đức Định
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 1995
13. Bùi Trường Giang (1998), “Nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu”, Những vấn đề Kinh tế Thế giới, 55 (số 5), tr. 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu”, "Nhữngvấn đề Kinh tế Thế giới
Tác giả: Bùi Trường Giang
Năm: 1998
14. Nguyễn Hoàng Giáp (2009), Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiếntranh lạnh và quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
15. Đặng Kim Hà (1999), “Bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á và vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn”, Nghiên cứu kinh tế, (số 253), tr. 29-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chínhchâu Á và vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn”, "Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đặng Kim Hà
Năm: 1999
16. Võ Thanh Hải (2006), “Nguồn gốc và lịch sử phát triển của các Chaebol ở Hàn Quốc”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 66(số 6), tr. 69-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và lịch sử phát triển của các Chaebolở Hàn Quốc”, "Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Võ Thanh Hải
Năm: 2006
17. Tá Hân (2000), Châu Á từ khủng hoảng nhìn về thế kỷ 21, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Á từ khủng hoảng nhìn về thế kỷ 21
Tác giả: Tá Hân
Nhà XB: Nxb thành phốHồ Chí Minh
Năm: 2000
18. Hoàng Văn Hiển (1997), Kinh tế Nics Đông Á: Singapore – Hồng Công – Đài Loan – Hàn Quốc, Nxb Đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nics Đông Á: Singapore – Hồng Công– Đài Loan – Hàn Quốc
Tác giả: Hoàng Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 1997
19. Hoàng Văn Hiển (1998), Giáo dục và Đào tạo ở Hàn Quốc, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Đào tạo ở Hàn Quốc
Tác giả: Hoàng Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Laođộng
Năm: 1998
20. Hoàng Văn Hiển (2000), Quá trình phát triển kinh tế và xã hội của Hàn Quốc trong giai đoạn 1961 -1993 và kinh nghiệm đối với Việt Nam), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển kinh tế và xã hội của HànQuốc trong giai đoạn 1961 -1993 và kinh nghiệm đối với Việt Nam)
Tác giả: Hoàng Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w