nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc và tranh cãi
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Hồ chủ tịch đó là sản xuấtphải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu Hồ Chí Minhcoi đây là biện pháp quan trọng để tích luỹ vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệuquả, đặc biệt là ở một nước nghèo nàn và lạc hậu như nước ta
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc
và tranh cãi Nó có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ởmọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các doanh nghiệp, các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị -xã hội; trong các giađình và từng người dân, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng Thất thoátlãng phí gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân; ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình đổi mới xây dựng đất nước; làm thất thoát khoản tài chính, tài sản lớn, làm biến chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước; làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới, trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài Nó là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định kinh tế xã hội
Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế thất thoát lãng phí trongđầu tư? Từ vấn đề cấp thiết đó, nhóm em xin đưa ra đề tài “Thất thoát, lãng phítrong đầu tư: thực trạng và giải pháp” Nhóm em rất mong qua sự nghiên cứu lýthuyết và tra cứu thông tin cho đề tài có thể hiểu thêm về vấn đề này và vậndụng vào thực tế để góp phần đưa nước ta hoàn thành quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước như mục tiêu đã đề ra của Đảng và Nhà nước ta
Trang 2CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ
TRONG ĐẦU TƯ
I Khái quát về đầu tư
1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào
đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã
bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư làđạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu
tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức laođộng và trí tuệ Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tàichính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việcvới năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
2 Phân loại đầu tư
2.1 Đầu tư tài chính
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua cácchứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếuchính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty phát hành Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế(nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trịtài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tàichính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cáchnhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác)
Trang 3Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư Để giảm độ rủi ro, họ có thểđầu tư nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền Đây là một nguồn cung cấp vốn quantrọng cho đầu tư phát triển.
2.2 Đầu tư thương mại
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bánvới giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán Loạiđầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đếnngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trìnhmua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với ngườiđầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ Tuy nhiên, đầu tư thương mại cótác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra,
từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn chophát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nóichung
2.3 Đầu tư phát triển
2.3.2 Vấn đề kết quả và hiệu quả của ĐTPT
Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị,
…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và tàisản vô hình (những phát minh, sáng chế, bản quyền,…) Các kết quả đạt đượccủa đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội
Trang 4Hiệu quả của ĐTPT phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hộithu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó.
Kết quả và hiệu quả ĐTPT cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu
tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủđộng sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quanquản lý nhà nước các cấp
Đối với đề tài về thất thoát, lãng phí (TTLP) trong đầu tư, chúng ta sẽ xemxét nguyên nhân và giải pháp của vấn đề này theo khía cạnh ĐTPT
II TTLP trong ĐTPT
1 Quan niệm về thất thoát, lãng phí
1.1 Thất thoát là gì?
Thất thoát vốn trong đầu tư là tất cả các hoạt động tác động tới dự án đầu
tư làm mất mát hoặc tổn thương các nguồn lực của dự án
Thất thoát xảy ra đối với khoản tiền đầu tư mà nhà đầu tư bỏ ra để trả chocác chi phí được duyệt trong quyết toán vốn đầu tư Các khoản chi phí này chưađược kiểm tra, giám sát chặt chẽ dẫn đến gian lận, tham nhũng hay rút ruột côngtrình gây thất thoát vốn ngay từ khi đồng vốn chưa đi vào dự án
1.2 Lãng phí là gì
Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm Trong đầu tư xây dựng cơ bản(XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làmgiảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí
Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cũng như Pháp lệnh của ủyban Thường vụ Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chúng ta có thể
hiểu lãng phí là sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, thời gian vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Trang 5hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định
Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khichưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suấtkhông phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹthuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểmkhông hợp lý; Thiết bị và công trình của dự án có chất lượng thấp làm giảm tuổithọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chiphí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự ánđược chi chưa tiết kiệm
Lãng phí và thất thoát là hai căn bệnh trong đầu tư XDCB Trong sự lãngphí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thấtthoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí không cần thiết hoặc làmgiảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư
2 Các dạng TTLP trong ĐTPT
TTLP xuất hiện dưới nhiều hình thức cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau.Dưới đây là một số loại cơ bản
2.1 TTLP trong đầu tư XDCB
Đây là một dạng TTLP chi tiêu diễn rất nghiêm trọng Thường bao gồm cácdạng sau:
- TTLP trong khâu quy hoạch (không có quy hoạch hoặc quy hoạchkhông tốt)
- TTLP trong khâu xác định chủ trương đầu tư
- TTLP trong khâu thẩm định, phê duyệt, thiết kế kỹ thuật, tổng dự
Trang 6- TTLP trong khâu kế hoạch hoá đầu tư.
- TTLP trong khâu đấu thầu xây dựng
- TTLP trong công tác chuẩn bị xây dựng
- TTLP trong khâu tổ chức thực hiện
- TTLP trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng
- TTLP trong khâu thanh, quyết toán
2.2 TTLP khác trong ĐTPT
- TTLP trong công nghệ
- TTLP trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
- TTLP trong thu thuế
III Những khả năng dẫn đến TTLP từ đặc điểm của ĐTPT
Khi nghiên cứu về ĐTPT có thể thấy được rằng các đặc điểm của nó cũngtiềm ẩn những khả năng dẫn đến TTLP
1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn có thể dẫn đến TTLP
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.Như vậy, nếu không có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng cácchính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu
tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm rất dễgây ra TTLP
Với nguồn vốn đầu tư lớn như thế, nhưng quyết định đầu tư chủ yếu vẫnchạy theo số lượng mà chưa tính đến khả năng bố trí nguồn vốn, chưa chú trọng
Trang 7đúng mức đến hiệu quả đầu tư Chính điều đó đã dẫn đến những lãng phí nguồnvốn ĐTPT.
Lao động cần sử dụng cho các dự án là rất lớn, đặc biệt đối với các dự ántrọng điểm quốc gia Tuy nhiên, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãingộ không tuân thủ một kế hoạch định trước và không hợp lý đã làm chậm tiến
độ của dự án và bị ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bốtrí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư… tạo ra TTLP
2 Thời kỳ đầu tư kéo dài gây TTLP các nguồn lực
Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoànthành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình ĐTPT có thời gian đầu tư kéo dàihàng chục năm
Trên thực tế việc đầu tư dàn trải đã dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thicông các công trình, dự án; nguồn vốn ngân sách lại phải phân tán, “rải mànhmành” làm nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào sử dụng nên không pháthuy hiệu quả đồng vốn đầu tư, gây TTLP các nguồn lực Do vốn lớn lại nằm khêđọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,giảm khả năng TTLP cần tiến hành phân kì đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lựctập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến
độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xâydựng cơ bản
3 TTLP do thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạtđộng cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Trong suốt quátrình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động 2 mặt, cả tích cực và tiêucực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
Trang 8Trong quá trình đầu tư, quản lý quá trình vận hành kết quả đầu tư khôngtốt, không nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng đã làm cho công trìnhkhông hoạt động tối đa được công suất, chậm thu hồi vốn và dẫn đến các haomòn vô hình
Ngoài ra cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngaytrong năm đómà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặc điểmrất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu
tư và rất dễ dẫn đến thất thoát lãng phí
4 Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư bị thất thoát do ảnh hưởng của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng
Các thành quả của hoạt động ĐTPT mà là các công trình xây dựng thườngphát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên Không thể dễ dàng dichuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác nên công tác quản lý hoạtđộng ĐTPT cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên chính là việc chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư Đầu tư cái
gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trênnhững căn cứ khoa học Đối tượng đầu tư và quy mô đầu tư không thích hợplàm cho dự án đầu tư đó không hiệu quả Ví dụ, công suất xây dựng nhà máysàng tuyển than ở khu vực có mỏ than (do đó quy mô vốn đầu tư) phụ thuộc rấtnhiều vào trữ lượng than của mỏ Do trữ lượng than của mỏ ít mà quy mô củanhà máy sàng tuyển lớn nên không đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt độnghết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án
Thứ hai là vấn đề lựa chọn địa điểm đầu tư Để lựa chọn địa điểm thực hiệnđầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉtiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… Không đảm bảo xây dựng
Trang 9một bộ tiêu chí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnhthổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất đã không thể khai thác được tối đa lợithế vùng và không gian đầu tư cụ thể, không tạo điều kiện phát huy hiệu quả vốnđầu tư gây TTLP.
5 ĐTPT có độ rủi ro cao.
Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư kéo dài và thời gian vận hành cáckết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của hoạt động ĐTPT thườngcao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan từphía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…
có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm,công suất sản phẩm không đạt công suất thiết kế… gây ra những tổn thất về vốnđầu tư
IV TTLP trong các giai đoạn đầu tư.
Theo nghiên cứu của Bộ Xây dựng, tình hình TTLP trong ĐTPT xảy ra ở tất cả các khâu từ quy hoạch, quyết định đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết
quả đầu tư
1 Trong khâu quy hoạch
Quy hoạch (QH) là khâu rất quan trọng, làm tiền đề cho các quá trình đầu
tư Hiện nay, chất lượng QH phát triển nhiều ngành chưa cao hoặc chậm đượcphê duyệt, chưa gắn kết chặt chẽ QH phát triển ngành với vùng và địa phương,chưa sát với thực tế, chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏađáng đến yếu tố môi trường và xã hội… Rõ ràng là hiện chưa có sự thống nhấtgiữa QH “cứng” với quy hoạch “mềm”, giữa QH mang tính định hướng với QHmang tính chỉ tiêu Chất lượng QH còn hạn chế, thiếu tầm nhìn dài hạn và đồng
bộ, chưa tuân thủ tính khách quan của quy luật thị trường Kế hoạch đầu tư phảichờ điều chỉnh, trong khi QH không sát, dẫn đến có công trình xây dựng xong
Trang 10hiệu quả rất thấp, gây TTLP lớn Tình trạng lập QH cho có hình thức để đủ thủtục xin vốn đầu tư, quyết định kế hoạch đầu tư không chuẩn bị kỹ vẫn phổ biến;Khi chất lượng công trình kém, xuống cấp nhanh thì lại đổ cho thời gian, nhiệm
vụ gấp, phải bảo đảm tiến độ trên giao… Tính pháp lý của QH thấp, phổ biếntình trạng không tuân thủ nghiêm theo QH, kế hoạch đã được duyệt; Thay đổi
bổ sung không đúng thẩm quyền làm sai lệch QH chung, chưa tôn trọng QH củacác ngành khác…
2 Trong công tác chuẩn bị đầu tư:
Công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: lập và thẩm định dự án đầu tư
Các nguyên nhân dẫn tới giảm chất lượng chuẩn bị dự án vừa có tính chấtchủ quan bắt nguồn từ chính các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng ởgiai đoạn này gồm chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, cơ quan quản lý nhà nước có liênquan và vừa có tính chất khách quan phát sinh từ các bất cập trong quy trìnhquản lý đầu tư xây dựng, trong các định mức kinh tế - kỹ thuật và trong hệ thốngtiêu chuẩn, quy chuẩn
3 Trong công tác thực hiện đầu tư
Thực hiện đầu tư bao gồm: đấu thầu công trình và thi công dự án
Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành Hạ giáthầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưngvẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thôngthầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rấtnghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầukhí
Trong việc thi công công trình, những sai sót trong kỹ thuật thiết kế và thicông , vi phạm về nghiệm thu, thanh quyết toán, có tiêu cực xảy ra ở phía chủđầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung
Trang 11cấp Đồng thời hiện tượng tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình, nâng giá,khai khống khối lượng, cắt xén vật tư cũng đưa lại những TTLP cho công trình.
4 Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác;hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệuquả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư Việc kéo dàithời gian vận hành kết quả đầu tư làm cho mức rủi ro trong đầu tư cao hơn, dễgây ra những lãng phí đối với công trình, dự án
V Các nhân tố tác động đến TTLP trong đầu tư
1 Nhân tố con người
Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề Trong hoạt động đầu tư
có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giámsát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người cóthẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chứcdanh nhiều khi không có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liênđới trách nhiệm, vậy nên đã xảy ra tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất
ít người chịu trách nhiệm cụ thể” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự
án nên thất thoát dễ dàng xảy ra Vậy nguyên nhân là do đâu?
1.1 Phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý con người yếu kém
Phẩm chất đạo đức là yếu tố cơ bản đầu tiên của người cán bộ Cán bộ cógiỏi nhưng phẩm chất kém cũng không mang đến hiệu quả trong công tác Đó là
sự sa sút, biến chất về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ,công nhân, viên chức, lợi dụng cương vị được giao cố ý làm trái, thông đồng,móc ngoặc với nhau để làm ăn phi pháp trong đầu tư XDCB, coi việc nhận dự
án công trình XDCB như một cơ hội làm ăn để tăng thu nhập, làm giàu bất
Trang 12quy trình quy phạm trong ĐTXD, gây nên những hậu quả đáng tiếc Điển hìnhnhất là vụ PMU18 ở Bộ GTVT
Hiện nay, tình trạng thiếu trách nhiệm, không sâu sát thực tế, vì lợi ích cục
bộ của ngành, địa phương và vì thành tích đã có những quyết định chủ trươngđầu tư sai là nguyên nhân quan trọng gây ra dàn trải, TTLP không nhỏ, ảnhhưởng về lâu dài Tuy chưa có số liệu đầy đủ nhưng nhiều chuyên gia cho rằngtrong đầu tư và xây dựng, lãng phí ở các khâu do các quyết định không sát,không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số TTLP Chưa kể tình trạng cố ý làmsai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu tư XDCB còn diễn ra ở nhiều dự án
1.2 Trình độ chuyên môn thấp
Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý viphạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế,trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnhhưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án Tại Hội thảo toànquốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định:nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất cả các khâu, các chủ thểtham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết
kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp) Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sátcủa UBTVQH ghi nhận trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương.Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sưxây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khảnăng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này
2 Cơ chế chính sách
2.1 Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh
Mặc dù nước ta đã có Pháp lệnh, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,nhưng vẫn chưa có cơ chế phòng ngừa, đấu tranh một cách cụ thể, đồng bộ,
Trang 13thống nhất chặt chẽ Những nội dung pháp luật chưa thật sự tuyên truyền sâurộng đến với dân, chưa thấm nhuần vào nhận thức, hành động của mọi người;chưa có chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm Việc thựchiện cải cách hành chính vừa chậm vừa lúng túng, chưa tạo ra tác động tích cựccho phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
2.2 Cơ chế quản lý, thanh tra giám sát không hiệu quả
Tổ chức bộ máy quản lý điều hành các dự án đầu tư còn nhiều yếu kém,nhiều đầu mối, nhiều tầng nấc Vẫn còn tình trạng các cơ quan quản lý nhà nướccan thiệp sâu vào công việc của đơn vị kinh doanh Cơ chế quản lý nhiều khichưa được xác lập rõ ràng, minh bạch Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán,giám sát đã tiến hành và đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn bất cập, chưađáp ứng yêu cầu chống quan liêu, lãng phí, chưa phối hợp chặt chẽ, thườngxuyên, đồng bộ giữa những cơ quan, tổ chức cùng ngăn chặn, chống lãng phí.Chưa thật sự huy động đông đảo nhân dân tham gia chống lãng phí Chưa có cơchế bảo vệ những người phát hiện, lên án các hành vi lãng phí Trong bộ máynhà nước, ở không ít nơi chưa thiết lập chế độ kiểm tra, giám sát quyền lực mộtcách chặt chẽ, cụ thể Chính sách tài chính vẫn còn biểu hiện cơ chế "xin - cho".Việc thực hành dân chủ còn nhiều hạn chế, do độc đoán chuyên quyền dẫn đếnnhững quyết định không chuẩn xác, làm lãng phí tiền của, thời gian, công sức,làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân
3 Nhóm nhân tố khách quan khác
TTLP trong ĐTPT cũng là do nguyên nhân từ các yếu tố khách quan nhưthiên tai, dịch bệnh trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biến động Nhữngtác động trên sẽ làm giảm tiến độ của công trình, ảnh hưởng tới đội ngũ tham giacông trình, làm giá cả nguyên vật liệu dẫn đến thời kỳ đầu tư kéo dài tạo nênnhững lãng phí cho dự án
Trang 14Chơng II
Thực trạng thất thoát lãng phí trong
đầu t ở Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Đầu t là hoạt động nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế Tuy nhiên không phải
cứ đầu t nhiều thì nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trởng cao, vì điều này còn phụthuộc vào hiệu quả sử dụng vốn đầu t Thực tế đã chứng minh hiệu quả sử dụngvốn đầu t giảm dần: năm 1995 đầu t 3 đồng tăng trởng 1 đồng, năm 2003 đầu t 5
đồng tăng trởng 1 dồng, năm 2005 đầu t 7 đồng mới tăng trởng 1 đồng
Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn là hiệntợng TTLP trong đầu t Trong giai đoạn 2001-2005, lợng TTLP ở mức sơ bộ 15%thì con số cũng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong phòng chống TTLP nhng tình trạngnày vẫn diễn ra tràn lan tại các công trình, dự án; và đây vẫn đang là vấn đề nangiải của các cấp các ngành cần đợc giải quyết
TTLP hiện nay là nghiêm trọng, kéo dài suốt dọc trong tất cả các giai
đoạn đầu t, từ công tác QH đến việc chuẩn bị đầu t, thực hiện đầu t, vận hành kếtquả đầu t
I TTLP từ công tác QH.
QH là giai đoạn đầu tiên quyết định đầu t vào đâu, đầu t vào cái gì,quy mô nh thế nào Vì vậy, QH sai lầm sẽ tạo hệ lụy về lâu dài Công tác QHcủa nớc ta hiện nay còn mang tính bị động, cha làm cơ sở, kế hoạch cho ĐTPT,dẫn đến một số quyết định đầu t sai lầm, hoặc dự án phải điều chỉnh nhiều lần,gây TTLP về vốn và các nguồn lực khác Theo nhận định của một số chuyên giakinh tế, TTLP do công tác QH gây ra lên tới 60-70% tổng TTLP trong đầu t
1 TTLP do QH thiếu tầm nhỡn dài hạn
QH đầu t ở nớc ta hiện nay thực sự cha có sự thẩm định một cách kỹcàng về các căn cứ kinh tế xã hội nh điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hay các yếu
Trang 15tố về thị trờng Từ đó, một số QH đã thể hiện rõ nét những sai sót, yếu kém:thiếu thị trờng đầu vào; sản phẩm đầu ra không có chỗ đứng, không tiêu thụ đợc,nhà máy buộc phải đóng cửa, gây ra lãng phí vốn đầu t.
1.1 Nhà máy thiếu nguyên liệu đầu vào.
Do công tác QH, đặc biệt là QH vùng nguyên liệu còn nhiều bất cập,việc xác định quy mô địa điểm một số cơ sở chế biến cha tốt, cha phù hợp vớikhả năng cung cấp nguyên liệu; thậm chí có những doanh nghiệp cha coi trọngviệc phát triển vùng nguyên liệu, làm cho sản xuất luôn bị động, thiếu nguyênliệu, hoạt động dới công suất Hậu quả là NM buộc phải đóng cửa sản xuất,không có khả năng trả nợ, và việc quyết định đầu t cho NM đã gây lãng phí lớn.Hoặc một hiện trạng nữa tại Thái Bình, công trình NM chế biến gạo sau thuhoạch ở huyện Đông Hng, xây dựng xong nhng do đặt ở vùng không có lúa nên
NM rơi vào tình trạng đói nguyên liệu, buộc phải cho hai công ty khác thuê lạidùng việc khác
Thiếu nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất còn là nguyên nhân dẫn đếncạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đẩy giá thành nguyên liệu đầu vào, làm chiphí sản xuất và do đó giá sản phẩm cũng tăng theo Đây là một lãng phí cho chiphí sản xuất không đáng có
1.2 Nhà máy thiếu thị trờng đầu ra.
Xây NM 100 tỷ đồng rồi…đóng cửa:
Trang 16Theo Bộ Xây Dựng, trong năm 2005 có 43 công trình TTLP, tổng mức
đầu t trên 5362 tỷ đồng, trong đó có công trình NM gạch Granit thiên thạch Nam
Định với số vốn 100 tỷ đồng, là công trình gây TTLP vốn đầu t nhà nớc lớn thứhai trong tổng số 43 công trình
Đã có thời gian ngành sản xuất gạch ốp lát Ceramic và Granit nhântạo đựơc xem là dễ kiếm lời do nhu cầu thị trờng phát triển mạnh Vì thế cácdoanh nghiệp đổ xô vào đầu t, đã không ít doanh nghiệp bị điêu đứng Do khôngnghiên cứu kỹ lỡng, không có khả năng dự báo trung và dài hạn về thị trờng tiềmnăng cho sản phẩm, các doanh nghiệp chỉ thấy đợc những lợi ích trớc mắt, chỉtrong vòng 5 năm công suất ngành này tăng từ 67 triệu lên đến 170 triệu métvuông/năm Trong khi nhu cầu thị trường những năm 2004-2005 châm lại, vànăm 2005 còn giảm 13% do ảnh hởng thị trờng nhà đất
Dây chuyền sản xuất gạch ốp lát Granit nhân tạo ở Nam Định công suấttrên 1 triệu m2 mỗi năm, là một trong những dây chuyền lớn nhất ở Việt Nam.Bắt đầu tham gia thị trờng đầu năm 2005, sản phẩm của NM đã nhanh chóngchất đầy các kho, và lấn sang khuôn viên xởng Chỉ sau gần ba tháng hoạt động,
NM đã gia nhập đơn vị đóng cửa nhà xởng, ngừng sản xuất
Do quy mô còn nhỏ, manh mún, vì vậy các doanh nghiệp không có lợi thế
về giá cả; hơn nữa trình độ công nhân thấp kém, không tiếp thu đợc, không vậnhành tốt dây chuyền hiện đại nên chất lợng sản phẩm làm ra kém, không có sứccạnh tranh trên thị trờng Chính vì thế, sản phẩm làm ra không tiêu thụ đợc,không đợc thị trờng chấp nhận, buộc phải đóng cửa sản xuất Việc đầu t cho
công trình không hiệu quả này là một lãng phí lớn với nguồn vốn hạn hẹp của
đất nớc nh hiện nay.
2 TTLP do QH thiếu đồng bộ giữa ngành, vựng lónh thổ.
Sự thống nhất giữa cỏc QH của ngành, vựng lónh thổ là một điều quantrọng, cần thiết, đảm bảo cho phỏt triển toàn diện ,cõn bằng trong tổng thểKTXH chung Nhưng thực tế hiện nay việc lồng ghộp cỏc QH giữa cỏc ngànhvới nhau , giữa cỏc ngành với vựng lónh thổ ở nước ta thực hiện chưa tốt, dẫnđến hậu quả là cỏc dự ỏn QH tràn lan, chồng chộo, khụng phỏt huy được hiệuquả sử dụng vốn đầu tư, gõy TTLP nặng nề
Trang 172.1 Hiện trạng TTLP từ QH thiếu đồng bộ giữa các địa phương trong cùng một ngành.
Một trong những khó khăn của công tác QH là sức ép rất lớn từ các địaphương Các cụm công nghiệp, các công trình giao thông, các cảng biển thườngđưa lại những lợi ích to lớn, thậm chí, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của nhiều địaphương Chính vì vậy, các địa phương đều mong muốn được đưa vào quy hoạch
và được có các công trình, dự án này Và không ít các dự án QH chỉ xuất phát từnhững bức xúc, bất cập và nhu cầu thực tế trước mắt của ngành, địa phương,chưa tính đến triển vọng phát triển kinh tế, công nghệ và hội nhập
Một ví dụ điển hình, nổi cộm gây TTLP là hiên trạng QH cảng biển củaViệt Nam Nước ta có hơn 3000km bờ biển, và đây là một lợi thế lớn để pháttriển ngành khai thác thuỷ hải sản, giao thông đường biển; dẫn đến hiện tượngbùng nổ phát triển cảng biển ở những địa phương có lợi thế xây dựng cảng:Theo kế hoạch xây dựng cảng, từ nay đến năm 2010, bình quân cứ 300km bờbiển lại đầu tư ít nhất một cảng biển So sánh với các nước có ngành hàng hảiphát triển, con số này là bất hợp lý bởi lẽ đầu tư như vậy quá dàn trải, sẽ dẫn đếnhiện tượng nhiều cảng nhưng cảng nào cũng nhỏ lẻ, manh mún, không phát huyhết công suất, lãng phí nguồn lực Ngoài ra, cả nước có hơn 100 cảng biểnnhưng lại không có cảng nước sâu tầm cỡ quốc tế
Trang 18Trong ảnh: tàu biển cập cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, TP.HCM
Năm 2007, số lượng hàng hoá thông qua biển Bắc chiếm 25-30% công suất
cả nước (công suất vẫn còn thừa); cảng phía Nam 57% quá tải Trong khi đómiền Trung chiếm 30% tổng chiều dài cầu cảng cả nước nhưng khối lượng vậnchuyển chỉ đạt 13%, ở tình trạng thiếu hàng
Trên bờ biển miền Trung có tới hàng chục cảng biển, tỉnh nào cũng cócảng, thậm chí có đến 2-3 cảng Do mạnh ai nấy làm nên nguồn vốn xây dựngcảng bị chia nhỏ, dàn trải Măc dù những cảng xây dựng gần đây quy mô khálớn nhưng công suất khai thác còn thấp Thực tế hàng chục cảng biển khu vựcnày phải chia nhau một lượng hàng Nhiều cảng biển không có tàu đi hàng ngày,các doanh nghiệp không thể xuất hàng đi, phải chuyển vào Sài Gòn hoặc Hải
Phòng chuyển qua Singapo, Hồngkông,… đẩy giá cước vận chuyển lên cao Đó chính là một khoản lãng phí không nhỏ và không đáng có.
Theo tính toán, vận chuyển một container 20 feet đi Osaka (Nhật Bản) quacảng Đà Nẵng, thời gian vận chuyến chậm hơn 7-10 ngày, chi phí cao hơn 35-45USD so với xuất từ cảng Sài Gòn Thực trạng QH bất hợp lý của các cảng biểnmiền Trung dẫn đến cảng luôn trong tình trạng đói hàng Nhiều cảng biển xây
Trang 19dựng quá gần nhau: cảng Hòn La (Quảng Bình) cách cảng Vũng Áng 25 km;cảng Chân Mây (Thừa thiên-Huế) cách cảng Chân Mây (Đà Nẵng) 30 km Thậm chí, cảng Dung Quất (Quảng Ngãi) chỉ cách cảng Kỳ Hà 10 km CảngChân mây, vốn đầu tư lên tới 203 tỷ đồng để đón tàu 3 vạn tấn nhưng do bất lợi
về điều kiện tự nhiên, địa lý và nguồn hàng nên sản lượng qua cảng đạt thấp.Nếuđầu tư không bất hợp lý sẽ không xảy ra tình trạng TTLP, và nguồn vốn lớn đó
có thể được sử dụng vào những mục tiêu KT-XH khác
2.2 Thiếu vốn đầu tư gây TTLP.
Do công tác QH kém, cơ chế xin - cho xuất hiện phổ biến tại các ngành, địaphương và quyết định đầu tư không gắn liền với trách nhiệm huy động vốn nênhiện tượng thiếu vốn cho công trình, dở dang công trình gây ứ đọng vốn; nhữngđồng vốn đã bỏ ra đầu tư là những đồng vốn “chết’’, không phát huy được hiệuquả sử dụng, gây TTLP
Theo kế hoạch thì tổng mức đầu tư hệ thống cảng hàng không giai đoạn2001-2005 được duyệt là 27.000 tỉ đồng nhưng bốn năm qua chỉ mới bố tríđược 2.510 tỉ đồng, đáp ứng 9,26% tổng mức đầu tư Cảng biển cũng vậy: tínhtoán tổng mức đầu tư giai đoạn 2000-2010 là 60.000 tỉ nhưng đến nay chỉ mớixác định được nguồn vốn là 5.090 tỉ đồng
Trong ngành công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản tình trạng cũng y hệtnhư vậy Do có quá nhiều công trình dự án vốn đầu tư không tương xứng, công
trình trì trệ, kéo dài, dang dở dẫn đếnchồng chéo, kém hiệu quả gây lãng phí khủng khiếp hàng ngàn tỉ đồng.
Cả trăm công trình thủy lợi dang dở đang đắp chiếu
Khô hạn và lũ lụt mấy năm qua đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người vàtài sản Có một nguyên nhân quan trọng là thiếu công trình thủy lợi Thế nhưnghiện có cả trăm công trình thủy lợi thi công dang dở và đang đắp chiếu do đầu tưdàn trải, thiếu vốn
Trang 20Điển hình là hồ chứa nước Thanh Lanh ở xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên,tỉnh Vĩnh Phúc có tổng vốn đầu tư 53,4 tỷ đồng Nằm giữa vùng đồi thấp của xã,
hồ Thanh Lanh có dung tích thiết kế 9,9 triệu m3, phục vụ tưới cho 1.200 ha đấtcanh tác, cung cấp nước sinh hoạt cho số đông người dân Trung Mỹ trong mùakhô hạn Nhưng chỉ được vài tháng sau đó, 3 đơn vị thi công là Công ty Xâydựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, Công ty xây dựng 1
và Công ty xây dựng 2 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đều rút luikhỏi công trường Các hạng mục đang thi công dang dở như đập tràn nằm trơkhấc, sắt hoen gỉ, 3 năm chờ đợi chưa có một giọt nước chảy qua Đập chính vớichiều cao hơn 1m đá kè nay đã bị xói lở bởi mưa lũ Ngay cả xe tải, máy xúc,máy ủi nằm phơi mưa, phơi nắng chờ vốn lâu quá cũng đã hoen gỉ, có nguy cơbiến thành sắt vụn
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, hồ ThanhLanh chia làm nhiều gói thầu Nhưng gói thầu nào cũng dở dang Thiệt hại trướcmắt có thể đo đếm được là phần công trình đã thi công đang bị hư hại, khi xâydựng tiếp đòi hỏi vốn đầu tư lớn hơn Hàng chục tỷ đồng đã đầu tư hoàn toànkhông phát huy chút tác dụng nào mà còn khiến doanh nghiệp lao đao vì không
có vốn quay vòng lại phải trả lãi vay ngân hàng.Hàng trăm ha lúa thiếu nước,năng suất thấp Hàng loạt hệ thống kênh mương không xây dựng tiếp được vànhững vùng QH khác cũng bị ảnh hưởng xấu 1.000 ha lúa 3 năm nay vẫn trôngchờ nước Thanh Lanh
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước còn gần 100công trình thủy lợi cùng chung số phận như hồ Thanh Lanh Với số vốn nằmchết tại các công trình lên đến cả nghìn tỷ đồng Có thể liệt kê một số công trìnhlớn đã và đang cần gấp vốn để phục vụ các chương trình phát triển kinh tế nôngnghiệp nông thôn như: công trình kiểm soát lũ Tân Thanh - Lò Gạch (ĐồngTháp), đê bao Vĩnh Hưng (Long An), hồ Phú Hòa (Quảng Bình), hồ Ái Tử(Quảng Trị), hồ Buôn Giong (Đăk Lăk)
Trang 21Đến nay, tổng vốn cỏc doanh nghiệp đầu tư vào cụng trỡnh thủy lợi cũn bị
nợ là 1.050 tỷ đồng Hàng loạt doanh nghiệp đó đầu tư vốn vào cụng trỡnh đangđiờu đứng, khụng ớt đơn vị hiện cú nguy cơ phỏ sản Khụng ai xỏc định được khinào cỏc hồ đập bị đắp chiếu sẽ hoàn thành
3 TTLP do cha thống nhất QH với các QH phát triển tổng thể KT-XH.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác QH của nớc ta còn kém, các QHcha đợc thờng xuyên cập nhật, bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với QH phát triểntổng thể Điều này dẫn đến các QH chồng chéo lên nhau, gây khó khăn cho việcthực hiện QH
Ngành GTVT cũng là một trong những ngành thể hiện sự yếu kém trongcông tác QH và gây TTLP không nhỏ vốn đầu t QH ngành này nhìn chung diễn
ra còn chậm, thiếu thống nhất, làm chi phí đền bù giải phóng mặt bằng lớn hơnnhiều lần so với tiền làm đờng
Chi 750 tỷ đồng cho làm 1km đờng:
Quốc hội năm 2005 đã đa ra những con số giật mình: Đoạn đờng từ khuvực Trung Tự đến Ô Chợ dừa ở Hà Nội chỉ dài vẻn vẹn 1.082m, mà dự kiến phảichi đến 750 tỷ đồng- tức là khoảng trên 40 triệu USD/km
Năm 2002, đoạn đờng từ Liễu Giai nối đến Đội Cấn cha đến 1km chi phíhết khoảng 90 tỷ đồng, đắt gấp 5 lần so với trung bình trên thế giới Hoặc năm
2005, đoạn đờng từ Trần Duy Hng, Khuất Duy Tiến đến Nguyễn Trãi 6,3 km thìcần tới 1300tỷ đồng- 218 tỷ đồng/km- 14 triệu USD/km Trong khi thế giới trungbình chỉ 1-1,5 triệu USD/km - ta đắt gấp 7 lần
Đây rõ ràng là những con số bất ngờ về lãng phí do thiếu QH
II TTLP trong cụng tỏc chuẩn bị đầu tư
1.TTLP trong cụng tỏc nghiờn cứu thăm dũ thị trường
Thị trường của một dự ỏn chớnh là đầu ra của dự ỏn Thụng thường núđược xỏc định trờn cơ sở thị trường mục tiờu của dự ỏn.Thị trường mục tiờu của
dự ỏn được xỏc định bằng ba bước cơ bản:
Trang 22- Xác định thị trường mục tiêu của dự án
Chủ trương chính sách của nhà nước liên quan đến lĩnh vực đầu tư trongtừng giai đoạn Trong khi việc nghiên cứu thị trường cần một thời gian khá dài
Vì vậy đôi khi nó gây nên một sự TTLP không đáng có
Nguồn nhân lực thường là các cán bộ trẻ, vì vậy họ có ít kinh nghiệm Do
đó việc quản lý cũng như xử lý số liệu, phạm vi nghiên cứu không được đúngtrọng tâm Việc này cũng gây nên một sự TTLP tương đối lớn Chúng ta có thể
kể đến các công trình do thiếu sự quan trắc, xử lý số liệu dẫn đến đầu tư sai lầm.Được đầu tư với kinh phí lên tới hàng trăm tỷ đồng, nhưng các dự án cải thiện ônhiễm môi trường ở TP Đà Nẵng gần như không phát huy được tác dụng, mặccho tình trạng ô nhiễm nguồn nước, rác thải, không khí trên địa bàn ngày càng
trầm trọng thêm Điển hình trong số các dự án cải thiện môi trường không hiệu
quả đó là Nhà máy xử lý nước thải KCN Hoà Khánh, Dự án bãi rác Khánh Sơnmới và Dự án thoát nước vệ sinh thành phố Do công tác xác định, nghiên cứuthị trường còn nhiều thiếu sót dẫn đến dự án không phát huy được hết công năngcủa nó
Ngoài ra trong nền kinh tế thị trường, trước khi quyết định đầu tư vào mộtsản phẩm mới các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả khi thực hiện Vìthế khâu nghiên cứu thị trường cần được quan tâm đặc biệt Việc này đôi khilàm các doanh nghiệp phải chấp nhận chịu lỗ ban đầu Nếu doanh nghiệp nghiên
Trang 23cứu thị trường không đúng hướng sẽ dẫn đến thất bại trong đầu tư vào sản phẩmmới.
Vì vậy việc tiếp cận sai thị trường và phối hợp không đồng bộ các công tácthăm dò thị trường sẽ gây tổn thất đặc biệt lớn trong quá trình đầu tư
2 TTLP trong công tác xác định quy mô vốn và huy động vốn
Vốn đầu tư cho dự án bao gồm vốn cố định và vốn lưu động Việc đầu tưđược thực hiện trước khi dự án thực hiện cũng như trong quá trình dự án hoạtđộng
Nguồn vốn cho dự án gồm có:
+ Nguồn vốn đầu tư trong nước:
- Vốn nhà nước
- Vốn của dân cư và tư nhân
- Vốn của ngân hàng thương mại
- Vốn trên thị trường tài chính
+ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
- Vốn ODA
- Vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
- Vốn đầu tư trực tiếp FDI
- Thị trường vốn quốc tế Việc TTLP trong việc huy động vốn có rất nhiều nguyên nhân, sau đây ta
sẽ đi sâu vào vài nguyên nhân chính:
Trang 242.1.Việc bố trí vốn ngân sách Nhà nước một cách phân tán, dàn trải dẫn đến việc thi công dở dang, chậm tiến độ dẫn đến TTLP vốn đầu tư.
Thực trạng này diễn ra một cách phổ biến ở nước ta, có thể kể đến rất nhiềutrường hợp điển hình Năm 2005 có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng
số dự án thực hiện đầu tư trong năm, trong đó 48 dự án nhóm A chậm tiến độ,chiếm 11,54% tổng số các dự án nhóm A thực hiện đầu tư trong năm; năm 2006
có 3.595 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,1%, trong đó có 25 dự án nhóm A(8,28%); năm 2007 có 3.979 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,9%, trong đó có 19
dự án nhóm A (7,88%)
Dự án cầu Thanh Trì và tuyến phía Nam vành đai 3 Hà Nội với số vốn đầu
tư 7.660 tỷ đồng chậm trễ nhiều tháng, mỗi ngày phải trả 1,5 tỷ đồng tiền lãivay Cầu xây xong nhưng hai đường dẫn lên cầu chưa hoàn thành nên tốn thêm
cả chục tỷ đồng nữa để xây dựng đường tạm, song chất lượng đường rất kém,thường xuyên gây ách tắc
Sức ép giữa một bên là nhu cầu đầu tư phát triển của các bộ, ngành và cácđịa phương là rất lớn, trong khi đó khả năng tăng vốn NSNN cho đầu tư pháttriển lại có hạn Trong bố trí kế hoạch vốn đầu tư vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờvào nguồn vốn bổ sung của ngân sách TW
Bên cạnh đó, nếu khâu quyết định đầu tư nếu cân nhắc kỹ hơn, sát sao hơnthì đã có thể tránh được những lãng phí Thực tế cho thấy, số lượng và tỷ lệ các
dự án có vi phạm các quy định về quản lý đầu tư (không phù hợp QH, phê duyệtkhông đúng thẩm quyền, không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự
án, đấu thầu không đúng quy định, giá dự thầu không phù hợp, ký hợp đồngkhông đúng quy định, chậm tiến độ, chất lượng xây dựng thấp, lãng phí) có xuhướng tăng lên: Năm 2005 có 1.882 dự án vi phạm (chiếm 14,57% dự án đầu tưtrong năm); năm 2006 có 3.173 dự án (chiếm 18,19% dự án đầu tư trong năm);
Trang 25năm 2007 có 4.763 dự án vi phạm Như vậy, việc sử dụng vốn ngân sách nhànước hợp lý là rất quan trọng trong chuẩn bị đầu tư.
2.2 Tình hình nợ vốn và hoàn trả tạm ứng vốn không đúng thời điểm dẫn đến thất thoát nguồn vốn đầu tư
Một trong những khó khăn của công tác chuẩn bị đầu tư là tình trạng nợvốn và hoàn trả tạm ứng không đúng thời điểm: Nợ khối lượng xây dựng cơ bảnhoàn thành do chưa có vốn thanh toán diễn ra ở một số bộ và hầu khắp đang làvấn đề rất bức xúc Các khoản nợ XDCB vượt quá khả năng cân đối của NSNN,dẫn đến việc chiếm dụng vốn lẫn nhau, nợ quá hạn Ngân hàng tăng
Đối với dự án xây dựng khu đô thị mới Phước Kiển - Nhơn Đức (huyệnNhà Bè), UBND TP.HCM phải chấp thuận điều chỉnh thời hạn bàn giao mặtbằng toàn bộ dự án 325 ha đến ngày 31/12/2010 theo đề nghị của UBND huyệnNhà Bè trong khi lịch trình đã ký kết là ngày 31/12/2009 Điều này do UBNDchậm trễ trong việc cấp tạm ứng vốn Điều đó gây ra sự lãng phí về mặt thờigian và làm mất đi nhiều chi phí cơ hội của dự án
2.3.Thiếu vốn đối ứng nên đã gây khó khăn cho việc giải ngân các dự
án ODA dẫn đến lãng phí nguồn vốn.
Vốn đối ứng cho các chương trình dự án ODA ở nước ta chỉ chiếm một tỷ
lệ không lớn, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ triển khai thực hiện dựán.Tình trạng các địa phương thường không thực hiện các cam kết của mình vềviệc đảm bảo nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA khá phổ biến
Qua giám sát một số dự án lớn như: Dự án Xây dựng đại lộ Đông Tây doNgân hàng hợp tác phát triển Quốc tế Nhật bản (JBIC) tài trợ tổng số vốn đầu
tư thực tế là 41.027 triệu Yên Nhật ( tương đương 5.021 tỷ đồng , tỷ giá Yên =122,38 VNĐ ) ; vốn đối ứng là 3.470 triệu đồng Có diện tích thực hiện trải dàitrên nhiều quận huyện, với khối lượng di dời giải tỏa lớn (9.333 căn hộ), chínhkhó khăn từ vốn đối ứng dẫn đến việc giải tỏa gặp nhiều khó khăn