1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp

58 842 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp
Tác giả Lò Thị Mai Phương, Vũ Tố Quyên, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Lê Thi Minh Thúy, Vũ Đức Linh
Người hướng dẫn TS. Từ Quang Phương, TS. Phạm Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp

Trang 1

KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ

Hệ : Chính quy

Hà nội, tháng 9 năm 2008

Trang 2

Danh sách thành viên nhóm 8

Trang 3

Danh mục các từ viết tắt

FDI Foreign Direct Investment

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàiWTO World Trade Organisation

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hơn 20 năm quá trình thực hiện đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyểnbiến rõ rệt Từ một nước xã hội chủ nghĩa nghèo nàn và lạc hậu vừa bước ra khỏi chế độ baocấp, Việt Nam đã từng bước tiến lên xây dựng một nền kinh tế đa ngành, đa dạng hóa vàhiện nay phát triển khá “nóng” trong lĩnh vực đầu tư, đây là một vấn đề đang được nhiềudoanh nghiệp, cá nhân và nhà nước Việt Nam rất quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh đấtnước ta đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ và đang từng bước hội nhập với nền kinh tếquốc tế Các doanh nghiệp, cá nhân đã chọn lựa đầu tư để sử dụng hiệu quả tài sản của mình,

từ đó góp phần tăng tài sản của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối các sảnphẩm, đóng góp vào ngân sách nhà nước, giải quyết được nhiều việc làm cho người laođộng…

Song, trên thực tế, đã có không ít các cá nhân, các doanh nghiệp Việt Nam còn hiểuchưa đúng về đầu tư, còn lúng túng trong việc xây dựng, triển khai và quản lý các dự án đầu

tư, chưa sử dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, ngoài ra vẫn còn có nhiềuthiếu sót trong các khâu của quá trình thực hiện các dự án đầu tư và nhất là đầu tư trong cáclĩnh vực kinh tế…điều đó đã dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phí trong các dự án đầu tưmột cách đáng tiếc Vì thế, để cho lĩnh vực “đầu tư” của Việt Nam phát triển ngày càngmạnh mẽ và bền vững thì công việc xây dựng, phát triển các dự án đầu tư cần phải có hướng

đi rõ ràng và cần một sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của doanh nghiệp, cá nhân, nhà nướcta

Đề tài đi vào phân tích thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư, đồng thời đưa

ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế lãng phí và thất thoát trong đầu tư tại Việt Namtrong thời kỳ hiện nay, giai đoạn 2000 - 2007 Chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS TừQuang Phương, TS Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này

Hà Nội, 23/10/2008

Trang 5

Chương I:

Những vấn đề lý luận chung về thất thoát và lãng phí trong hoạt

động đầu tư

I Những vấn đề lý luận chung về đầu tư.

1 Khái niệm đầu tư.

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra đểđạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn

so với những hi sinh về nguồn lực mà nguời đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.Nguồn lực hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Nhữngkết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản chính( tiền vốn), tài sản vật chất( nhàmáy, đường xá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản

lý, khoa học, kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao độngcao hơn trong nền sản xuất xã hội

Đầu tư đó là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loại tài sản kinhdoanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư (thường được gọi là đầu tư cho các đốitượng vật chất) cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi ( thường gọi là đầu

tư tài chính), mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn một nhucầu nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tươnglai ( thường gọi là dự án đầu tư )

Đầu tư đó là sử dụng vốn nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản để sinh lợidần trong thời gian tương lai Ở đây cần hiểu đúng ý nghĩa của danh từ dự trữ Ví dụ, mộtnhà máy công nghiệp được xây dựng lên không phải là để sử dụng hết ngay một lúc, mà phảikhai thác và vận hành nó trong nhiều năm, phần chưa sử dụng hết của nó có thể coi như một

dự trữ hay một tiềm năng

Đầu tư là một chuỗi hành động chi cho một chủ trương kinh doanh nào đó, và ngượclại chủ đầu tư sẽ nhận lại được một chuỗi các khoản thu để đảm bảo hoàn vốn và có lãi mộtcách thỏa đáng Ở đây đầu tư được quan niệm như một dòng nghiệp vụ thu chi sinh ra từ mộtchủ trương kinh doanh nào đó

Đầu tư là sử dụng các khoản tiền đã tích lũy được của xã hội, của các cơ sở sản xuất

Trang 6

kinh doanh và dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân vào việc tái sản xuất của xã hội nhằm tạo ra cáctiềm lực lớn hơn về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội

Đầu tư đó là một quá trình quản lý tài sản một cách hợp lý, nhất là về mặt cơ cấu củatài sản để sinh lợi Ở đây cần lưu ý rằng tài sản đó là một tổng thể các nhân tố và nguồn lựccủa sản xuất- kinh doanh thuộc quyền sử dụng của một doanh nghiệp nào đó tồn tại dướihình thức vật chất( như nhà xưởng, máy móc, dự trữ vật tư), hoặc dưới hình thức tiền tệ vàtài chính ( như các phương tiện tiền mặt, các khoản cho vay, các giấy có giá v v ), hoặcdưới hình thức phi vật chất ( như uy tín đối với thị trường), hoặc dưới hình thức lực lượnglao động Đây là một khái niệm về đầu tư có nội dung tổng quát và rộng rãi nhất

2 Các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự án đầu tư.

Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn : chuẩn bị đầu

tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư Cụ thể:

2.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

Trong 3 giai đoạn thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định

sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn vận hành kết quả đầu tư.Giai đoạn này bao gồm:

- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

- Tiến hành xúc tiến thăm dò thì trường trong nước hoặc nước ngoài để tìm nguồncung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng có thể huy động vốn đểđầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư

- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng

- Lập dự án đầu tư

- Thẩm định dự án để quyết định đầu tư

2.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư.

Giai đoạn này bao gồm các công việc sau đây:

- Xin giấy phép đầu tư

- Chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng của công trình

- Tổ chức đấu thầu

- Ký kết hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự án

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư

2.3 Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.

Vận hành các kết quả đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đầu tư, vận hành

Trang 7

có tốt hay không là dựa vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động, quá trình chọn lựa cácphương thức vận hành thích hợp với tùy từng dự án khác nhau.

II Những vấn đề lý luận về thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

1 Thế nào là thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

Thất thoát trong đầu tư là hiện tượng mất mát, thiệt hại không đáng có về vốn đầu

trong suốt quá trình đầu tư, từ khi quyết định chủ trương đầu tư cho đến khi dự án hoànthành và đưa vào sử dụng

Phần vốn đầu tư bị thất thoát là phần vốn tuy đưa vào dự án nhưng bị lãng phí hoặc biếnmất trong quá trình triển khai thực hiện dự án Nguyên nhân ở đây có thể do tiêu cực và thamnhũng gây nên lãng phí hoặc do thiên tai, dịch họa và do tác động của nền kinh tế

Thất thoát trong đầu tư được đo lường bằng giá trị thất thoát và tỷ lệ thất thoát Giá trịthất thoát được hiểu là hiệu số giữa tổng vốn đầu tư thực hiện với giá trị thực của công trình.Giá trị thực là phần chi phí thực tế, hợp lý, cần thiết để xây dựng công trình đạt được mụcđích đầu tư Tỷ lệ thất thoát là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thất thoát và tổng vốn đầu tư thựchiện xây dựng công trình Tỷ lệ thất thoát phản ánh mức độ thất thoát vốn đầu tư

Hiện tại, do chưa đo lường có hệ thống về mức độ thất thoát trong toàn bộ quá trình đầu

tư nên khó có thể đưa ra được những đánh giá đủ độ tin cậy để xác định mức độ nghiêmtrọng của tình hình và làm cơ sở để xem xét hiệu quả cụ thể của việc hoàn thiện các chínhsách quản lý nhằm chống thất thoát được đưa ra áp dụng như thế nào

Lãng phí trong đầu tư có thể hiểu là việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư không mang lại

hiệu quả như mong muốn, mà nguyên nhân của sự lãng phí này là xuất phát từ sự thiếu tráchnhiệm, thiếu năng lực của các cơ quan quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các cơ quan tư vấn,thiết kế, cơ quan thẩm định, cơ quan trực tiếp quản lý vốn trong quá trình thực hiện đầu tư

Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí : “Lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền,

tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả Đối với lĩnhvực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thìviệc lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản, lao động, thời gianlao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt quá định mức, tiêu chuẩnchế độ hoặc không đạt mục tiêu đã xác định”

Theo Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,

chúng ta có thể hiểu “lãng phí là sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, thời gian vượt

quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử

Trang 8

dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định.”

Lãng phí chính là chi cho những việc không đáng chi và chi ở những mức không

đáng chi Những việc đáng chi ở đây là những việc cấp bách nhất, nếu chúng ta không cónhững chỉ tiêu để đánh giá được việc gì là quan trọng nhất, là đáng chi nhất trong đầu tư thì

dễ dẫn đến việc lãng phí, có thể là lãng phí tiền, cơ hội hay là lãng phí một tiềm năng củamột dự án đầu tư

Lãng phí của một dự án đầu tư là gì? Theo ý kiến các chuyên gia trong công tác quản

lý dự án và quan niệm của các nhà tài trợ thì đó là các khoản chi không đem lại hiệu quả gìcho dự án hoặc phần chi cao hơn các quy định hợp pháp, chi không đúng quy định của dựán căn cứ theo mục đích và động cơ của các hành động trên mà có thể coi đó là lãng phíhay tham ô

Lãng phí do những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và cácnguồn lực khác trên mức hợp lý Hoặc không đạt được mục tiêu, kết quả đã xác định, nếu cóthì chất lượng, hiệu quả ở mức thấp hơn yêu cầu đặt ra Do những hư hao, tổn thất khôngđáng có hoặc không thể được phép Khái quát lại, những điểm nêu trên do hành vi chủ quancủa cá nhân, tập thể đều được gọi là hành vi lãng phí

Tóm lại, lãng phí là một hành động thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quýtrọng của cải, quý trọng sức người của nhà nước, của nhân dân Một dự án đầu tư được tiến

hành lúc nào cũng có thất thoát, trong đó lãng phí chiếm đến gần 80% giá trị thất thoát Thất thoát lãng phí là một hành động gây kết quả tai hại đến tài sản của nhà nước, của tập thể và

đó cũng là một hành động vi phạm pháp luật

2 Các hình thức biểu hiện thất thoát và lãng phí trong đầu tư

Thất thoát và lãng phí được xem là vấn đề nghiêm trọng hiện nay, là một trong nhữngnguyên nhân làm cho hiệu quả của các dự án đầu tư giảm sút, xét dưới từng góc độ khácnhau có thể nhận diện được thất thoát và lãng phí trong đầu tư cũng khác nhau, nếu xem xéttrong từng giai đoạn của quá trình đầu tư thì ta có thể thấy một số hình thức biểu hiện rõ ràng

nhất đó là : “dàn trải, kéo dài, thất thoát về vốn, kém hiệu quả, chất lượng và tuổi thọ

công trình giảm…” Cụ thể trong từng giai đoạn như sau:

2.1. Giai đoạn Chuẩn bị đầu tư

Chuẩn bị đầu tư là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đầu tư, trong giai đoạn này

có hai quyết định quan trọng đó là: Quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư

Trang 9

Chủ trương đầu tư thường có biểu hiện sai lầm là việc quy hoạch sai hay không có quyhoạch các dự án, đầu tư không có quy hoạch, không theo quy hoạch được phê duyệt hoặcphê duyệt sai không phù hợp với đặc điểm kinh tế, điều kiện tự nhiên, dân số và lao động…cũng sẽ dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, đây cũng là một nguyên nhân dẫn tới thất thoát vốnđầu tư, gây lãng phí về người và tài sản.

Quyết định đầu tư thường có biểu hiện sai lầm trong biên soạn và thẩm định báo cáokhả thi, dẫn đến lựa chọn địa điểm công trình sai, xác định quy mô dự án đầu tư quá lớn, nộidung đầu tư không đồng bộ, lựa chọn công nghệ sản xuất không phù hợp, ít quan tâm đếnthực tế sử dụng và vận hành công trình sau này…đây cũng là nguyên nhân gây ra lãng phílớn, tạo ra phần chủ yếu của thất thoát trong đầu tư

o Trong lĩnh vực giáo dục ta có thể thấy nhiều biểu hiện nhất có quyết định đầu tư

sai lầm Đó là một số dựa án xây dựng các trường học năng khiếu trong 1 thànhphố đầy đủ trang thiết bị hiện đại, tiện nghi, tuy nhiên chiêu sinh được rất ít đơngiản vì trong thành phố đã có một trường giống như thế, đó là một quyết định đầu

tư sai lầm gây lãng phí to lớn

o Về lĩnh vực công nghiệp, những biểu hiên thường thấy là quyết định xây dựng các

nhà máy sản xuất nhiều loại hàng hóa đa dạng, tuy nhiên lại không tính toán đếnquá trình vận hành sau này, không nghiên cứu kỹ thị trường nên thường dẫn tớihoạt động không hiệu quả, gây thất thoát và lãng phí lớn

Trong khâu chuẩn bị đầu tư có một quyết định quan trọng nữa đó là: “chọn địa điểmđầu tư” Chọn địa điểm đầu tư mà sai, không đáp ứng được các yêu cầu như: Gần nguồnnguyên liệu, gần nơi tiêu thụ sản phẩm, phù hợp với đặc điểm tài nguyên thiên nhiên, vị tríđịa lý, khí hậu,… thì sẽ có tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả hoạt động của dự ánđầu tư cả trước mắt và lâu dài Mỗi lần di chuyển địa điểm nhà máy không chỉ tốn kém chiphí về mặt vật chất, chi phí bảo quản, chi phí chạy thử, mà còn phải chi phí lớn cho công tácchuẩn bị mặt bằng…Xác định quy mô dự án không chính xác, không phù hợp với đặc điểm,điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của địa điểm xây dựng dự án

sẽ gây thất thoát, lãng phí như: dự án hoạt động không hết công suất, chi phí cho sản phẩm

cao, càng hoạt động càng lỗ, thậm chí có dây chuyền thiết bị không phát huy hiệu quả do đầu

tư không đồng bộ…Trong các dự án xây dựng một số công trình phục vụ cho giao thông

cũng đã có một số dự án do chọn sai vị trí xây dựng mà nó đã không phát huy được hiệu quảthực sự của nó, gây lãng phí rất nhiều

Trang 10

Hoặc chẳng hạn, đối với các dự án có thể gây ô nhiễm môi trường (sản xuất phân bónhay thuốc trừ sâu…) khi chọn địa điểm nếu đặt ở gần khu dân cư đông đúc, đến lúc đưa dự

án vào hoạt động mới phát hiện và xử lý ô nhiễm thì quá tốn kém, đưa chi phí đầu tư vượtquá dự kiến ban đầu có khi rất lớn, gây lãng phí rất nhiều tiền của

Khâu bố trí kế hoạch, cấp vốn đầu tư

Từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư phải thông quakhâu bố trí kế hoạch và cấp vốn đầu tư Việc bố trí kế hoạch đầu tư cũng là khâu dễ gây ralãng phí, thất thoát với những hiện tượng sau đây:

+ Bố trí kế hoạch không phù hợp với các mục tiêu định hướng của chiến lược, của quyhoạch được phê duyệt, kế hoạch đầu tư hàng năm không ăn khớp với kế hoạch đầu tư trung

và dài hạn…cũng sẽ dẫn đến gián tiếp làm thất thoát và lãng phí vốn đầu tư sau này,

+ Bố trí vốn đầu tư phân tán : danh mục các dự án đầu tư trong kế hoạch đầu tư quánhiều, chủ yếu là các dự án quy mô nhỏ, dẫn đến vốn đầu tư càng bị phân tán làm cho thờigian đầu tư bị kéo dài, tiến độ thực hiện dự án bị chậm lại, vốn đầu tư không phát huy đượchiệu quả, gây lãng phí vốn đầu tư

o Trong khâu này ta có thể nhận thấy biểu hiện rõ nhất là trong các dự án xây dựngcác khách sạn du lịch và các công viên của một số thành phố, các dự án thườngđược cấp vốn rất lớn và qua nhiều năm triển khai có dự án không phát huy đượchiệu quả, có dự án thì vẫn đang còn dở dang Điều này đặt ra vấn đề cần xem xétlại việc cấp vốn đầu tư và bố trí vốn sao cho hợp lý, nên đầu tư vào các dự án cótiềm năng, tránh lãng phí và thất thoát

2.2. Giai đoạn Thực hiện đầu tư.

Trong giai đoạn này ta có thể thấy biểu hiện thất thoát và lãng phí rõ ràng nhất đó là vấn

đề thời gian, vốn đầu tư của các dự án được chi ra và nằm khê đọng trong suốt những nămthực hiện đầu tư, đó là những năm vốn không sinh lời Thời gian thực hiện đầu tư càng kéodài thì vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn, lãng phí càng lớn

Khâu thiết kế

Chất lượng thiết kế một dự án đầu tư không đúng theo các quy phạm, quy chuẩn về kỹthuật của nhà nước, hồ sơ thiết kế không phù hợp với tình hình thực tế về địa chất, địa hình,khí hậu, điều kiện tự nhiên và đặc điểm về tài nguyên, nguồn nhân lực và đặc điểm vềnguyên liệu, vật tư thiết bị đầu vào, quy mô và khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra…sẽ dấn

Trang 11

đến những sai sót tất yếu trong thi công, gây hậu quả thất thoát lãng phí do phải khắc phụcsai sót để đảm bảo mục đích đầu tư.

Khâu lập và quản lý dự toán

Lập và quản lý dự toán của dự án thực chất là quản lý giá trong hoạt động đầu tư, đây là khâu không chỉ gây thất thoát lãng phí về vốn đầu tư mà còn là khâu nhạy cảm gây ra sơ hởdẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư, nó thể hiện ở một số hình thức sau:

+ Việc tính khối lượng từng loại công việc, vật tư theo thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổ chứcthi công làm cơ sở cho việc lập tổng dự toán, dự toán công trình Nếu khâu này không chínhxác, gây thất thoát lãng phí về vốn đầu tư

+ Áp dụng sai giá chủng loại vật tư, thiết bị đã đươc cơ quan chức năng thông báo theothực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán cũng sẽ gây thất thoát lãng phí

+ Sử dụng sai định mức kinh tế- kỹ thuật của nhà nước ban hành cho từng loại dự án đầu

tư theo quy phạm và quy chuẩn Hệ thống định mức kinh tế_ kỹ thuật để lập dự toán, thanhquyết toán không tiên tiến, không đầy đủ, không cụ thể đều dẫn đến thất thoát lãng phí vốnđầu tư

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có khâu đền bù, giải phóng mặt bằng cũng là

khâu thất thoát và lãng phí nhiều Trách nhiệm của các chủ đầu tư và chính quyền các cấpchưa được thực hiện đúng mức, công việc bàn giao mặt bằng thi công chậm (hiện khá phổbiến ở Việt Nam) đã làm thiệt hại cho nhà thầu không nhỏ, làm thời gian kéo dài, tiến độ thicông, gây ứ đọng vốn nhà nước và chậm đưa công trình vào khai thác sử dụng

Khâu chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, tổ chức đấu thầu

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của đôi bên mời thầu để thựchiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch vàhiệu quả kinh tế Tình trạng đáng quan tâm hiện nay là một số nhà thầu (phần lớn là doanhnghiệp xây dựng nhà nước) chấp nhận bỏ giá thầu theo kiểu phá giá, dưới mức hợp lý (đượchiểu là bù đắp chi phí sản xuất cộng thuế giá trị gia tăng và một phần lợi nhuận tối thiểu).Điều nay tất yếu dẫn đến hậu quả tiêu cực là bớt xén vật tư, giảm cấp vật liệu làm giảm chấtlượng dự án đầu tư Hậu quả là doanh nghiệp bị thiệt hại, bị lỗ Nhà nước lại bỏ ra một khoảnchi phí để khắc phục, sửa chữa công trình

Khâu theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư.

Công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện đầu tư của chủ đầu tư, ban quản lý

dự án, của tư vấn giám sát không chặt chẽ, thậm chí mang tính hình thức dẫn đến việc nhà

Trang 12

thầu : làm sai thiết kế; sử dụng vật tư không đúng quy cách, không đảm bảo chất lượng; bớtxén nguyên vật liệu…các phần của dự án đầu tư nhiều khi được nghiệm thu không đúng chế

độ, khai tăng khối lượng, nghiệm thu khống khối lượng, nâng giá vật tư, nguyên vật liệulên…

o Một số dự án như xây dựng kênh mương, nhà máy sản suất, trường học, kho bạc…

do trong quá trình xây dựng không được theo dõi, giám sát chặt chẽ nên sau khiđưa vào sử dụng đã bị xuống cấp nghiêm trọng, công trình bị sạt lở, bị hư hỏngnặng, có công trình thì trong quá trình thi công đã bị rút bớt xén nguyên vật liệunhư thép, thay đổi vật liệu rẻ tiền, nên các bể lọc, bể chứa đều bị rạn, nứt nghiêmtrọng, có những công trình không những gây thất thoát lãng phí về vốn mà còn gây

ra những vụ tai nạn như sập giàn dáo, sập nhà gây thiệt hại về người, về của rấtđáng tiếc Đây là những biểu hiện cần phải được xử lý nghiêm khắc

2.3. Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.

Đây là giai đoạn cuối của một dự án đầu tư, nó cũng có một vai trò rất quan trọng trongviệc quyết định sự thành công của dự án vừa thực hiện Việc bố trí triển khai các kế hoạch đểđưa dự án vào khai thác, sử dụng cũng là khâu mà dễ gây ra lãng phí và thất thoát Cụ thể vớitừng dự án có quy mô khác nhau mà áp dụng chi phí vận hành khác nhau, tuy nhiên trên thực

tế có nhiều dự án đã sử dụng lượng chi phí vận hành quá lớn vượt quá mức cần thiết so vớigiá trị thực của nó, hoặc là các kế hoạch áp dụng không hợp với các dụ án và không khả thinên đã dẫn tới tình trạng dự án đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế cũng như xã hộimong muốn, thạm chí hoàn toàn không có hiệu quả…đây là một lãng phí to lớn sau khi đãhoàn thành dự án

III Hậu quả của thất thoát và lãng phí trong đầu tư

Hiện nay thất thoát và lãng phí là một vấn đề nghiêm trọng không những trong lĩnhvực đầu tư mà trong nhiều lĩnh vực khác, nó xảy ra trên phạm vi rộng, tính chất phức tạp vàgây hậu quả nặng nề về nhiều mặt:

1.Về mặt kinh tế

Hạn chế phát triển kinh tế: Khi những điều kiện cho sự phát triển kinh tế bị huỷ diệt

như nguồn vốn đầu tư bị thất thoát và lãng phí, vốn trong nước bị thất thoát ra nước ngoài,vốn từ nước ngoài đầu tư nhỏ giọt, hiệu quả sử dụng của các dự án đầu tư xây dựng quá kém,sức cạnh tranh với nước ngoài yếu vv kinh tế trong nước sẽ chậm phát triển

Trang 13

Cản trở đầu tư nước ngoài: Mục đích đầu tư của thương gia nước ngoài là lợi nhuận,

họ đầu tư vào những nơi có lợi nhuận cao, nơi mà quyền lợi và của cải đầu tư của họ đượcbảo đảm Trong một nước mà lĩnh vực đầu tư có tỷ lệ thất thoát và lãng phí cao, luật phápthường lỏng lẻo không bảo đảm được tài sản của người đầu tư thì thông thường họ sẽ e dèhơn trong quyết định đầu tư của mình

Giảm tốc độ làm việc, sản xuất: để có thể nhận được tiền hối lộ, những cán bộ, nhânviên hữu trách phải kéo dài thời gian giải quyết sự việc liên quan đến dự án đầu tư để ngườitrong cuộc phải trả tiền Những dự án đầu tư mà không có tham nhũng, không có thất thoátthì mọi thành viên hữu trách của dự án gắng sức đạt kết quả cao về số lượng cũng như vềphẩm chất, trong khi những dự án có tham nhũng gây thất thoát thì ỷ lại, làm qua loa có lệ vì

họ đã mất lòng tin vào cán bộ quản lý

Tham nhũng chính là nguyên nhân gây ra hậu quả thất thoát trong các dự án đầu tư.Tham nhũng làm cho nợ quốc gia tăng quá mức thực tế: Phí tổn của những dự án xây dựng

hạ tầng cơ sở thường được chi phí do tiền vay từ nước ngoài Để có thể nhận thi công dự án,các công ty đấu thầu phải trả tiền hối lộ, những người có quyền quyết định sẽ chọn công tynào trả tiền hối lộ cao nhất, chi phí cho tham nhũng được công ty thi công đấu thầu tính vào

dự án, nên tổn phí dự án cao hơn thực tế Qua đó tổn phí dự án tăng thêm và quốc gia phảimang nợ nhiều hơn Ngoài ra tham nhũng làm giảm thu nhập hay tăng chi phí quốc gia, thí

dụ như đút lót nhân viên hữu trách để trả ít thuế, để khỏi trả tiền phạt, gian lận, ăn cắp củacông vv do đó chính phủ phải mượn nợ nhiều hơn cho những chi phí quốc gia

Thất thoát và lãng phí làm cho hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư bị giảm sútnhanh chóng, chất lượng công trình thực hiện không đáp ứng được nhu cầu đặt ra… Một số

dự án do lãng phí vốn đầu tư nên đã dẫn tới hiện tượng thời gian đầu tư bị kéo dài, ảnhhưởng đến tiến độ thực hiện dự án, vốn đầu tư không phát huy được hết hiệu quả của nó

Lạm dụng tham ô, tham nhũng để gây nên thất thoát lãng phí trong đầu tư cũng gâyhậu quả nghiêm trọng, chủ đầu tư cứ chủ trương phát sinh nhiều hạng mục yêu cầu cấp trênphải giải quyết, gây hiện tượng ỷ lại, vừa mất cân đối ngân sách nhà nước, nền kinh tế bịthiệt hại, vừa tạo ra bất công giữa các dự án, các ngành, các địa phương…

Khi mà những hành động như rút ruột nhà nước, rút ruột công trình, bớt xén vật tư,chủ đầu tư và bên thi công móc nối và thỏa thuận với nhau để kiếm lời vẫn diễn ra thườngxuyên thì thất thoát và lãng phí không thể lượng hóa được, điều này rất nguy hiểm và gâykhó khăn trong việc quản lý các hoạt động của dự án đầu tư, từ đây sẽ gây ra sơ hở dẫn đếnphát sinh nhiều tiêu cực hơn trong hoạt động đầu tư và nhiều hậu quả kinh tế khác…

Trang 14

vi những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá” Người dân hàng ngàychứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần họ quen thuộc vớinhững hành vi này và cuối cùng trở thành bình thường hoá trong xã hội Đó cũng trở thànhmột trong những nguyên nhân chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội.

Nền tảng xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị tàn phá là do hành động gây lãng phí của cáccán bộ quản lý dự án quá nhiều và lộ liễu, bớt xén nguyên vật liệu trong các dự án xây dựnggây hậu quả nặng nề trong tương lai ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Và đó cũngchính là những hành động làm gương xấu cho những thế hệ sau

Thất thoát và lãng phí càng nhiều thì các dự án đầu tư cáng kéo dài nhiều năm, hậuquả là ảnh hưởng đến an ninh trật tự, môi trường sống của người dân nơi dự án thực hiện,nhiều dự án ở các vùng miền núi không thi công vào mùa khô mà lại thi công vào mùa mưa,thêm yếu tố mưa xuống, dự án không thực hiện được phải bỏ dở dang….điều này ảnh hưởngrất nhiều đến môi trường và xã hội

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư vẫn đang vô tư phát triển, vẫn đang ngày một gâyhậu quả cho toàn xã hội, nó gây ra những hậu quả khôn lường như cản trở đến sự phát triểnkinh tế- xã hội của một vùng, của một thành phố là địa điểm xây dựng dự án hay thậm chí làcủa một quốc gia, hoặc nó có thể làm cho dự án không hoạt động hết công suất, chi phí thựchiện cao hơn, không phát huy được hiệu quả tốt nhất của dự án…

Thất thoát vốn đầu tư, lãng phí về người và tài sản vẫn đang là những vấn đề nổi cộmhiện nay, vẫn chưa có con số thất thoát cụ thể nhưng những hậu quả mà việc làm đó gây ra

đã và đang bị xã hội và dư luận lên án mạnh mẽ và vẫn đang tìm ra các giải pháp để xử lý nó

Thất thoát lãng phí là một hành động gây kết quả tai hại đến tài sản của nhà nước, củatập thể, của xã hội và đó cũng là một hành động vi phạm pháp luật Nếu cứ để thất thoát vàlãng phí diễn ra thì những kẻ phạm pháp như những viên chức hữu trách đã tự lập ra luật

Trang 15

pháp mới và áp dụng chúng thay vì luật pháp quốc gia hiện hành Nếu trong một quốc gia có

1 triệu viên chức tham nhũng, tham ô gây thất thoát thì trong quốc gia đó sẽ có 1 triệu cơquan lập pháp và hành pháp tư nhân được thực dụng, trong lúc cơ quan lập pháp và hànhpháp chính thức của quốc gia chỉ là bù nhìn Hậu quả ở đây là hệ thống pháp luật của nước ta

bị lũng đoạn

Trang 16

Chương II:

Thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

I Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam là kết quả của số lượng hơn là của hiệuquả đầu tư Vốn đầu tư phát triển ngày một gia tăng cả về lượng vốn tuyệt đối, cả về tỷ lệlượng vốn đó so với GDP Một con tính rất đơn giản: năm 1995, vốn đầu tư phát triển so vớiGDP chỉ có 31,7%, nhưng đã làm cho GDP tăng 9,54%, tức là để GDP tăng 1% thì tỷ lệ vốnđầu tư so với GDP mới chỉ cần 3,3% (hay suất đầu tư là 3,3 lần); còn vào năm 2003, tỷ lệvốn đầu tư so với GDP lên tới 36,3%, nhưng GDP chỉ tăng 7,26%, thì suất đầu tư đã lên đến

5 lần, tức là hiệu quả đầu tư đã giảm tới 34%, hay giảm hơn 1/3 ; năm 2004, tỷ lệ vốn đầu tư

so với GDP đạt 36,3%, với suất đầu tư đạt 4,7 lần, nên tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,69%;năm 2005 tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP theo kế hoạch là 36,5%; nếu suất đầu tư chỉ đạt nhưnăm trước (4,7 lần) thì tốc độ tăng GDP cũng chỉ đạt khoảng 7,8%, thấp xa so với mục tiêutăng 8,5% đã đề ra Đây là tỷ lệ thuộc loại cao đứng thứ 11 trên thế giới, thứ 3 ở châu Á vàthứ 2 trong khu vực Đông Nam Á Vào năm 2006, Việt Nam được Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) coi là một “Trung Quốc đang nổi lên” và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) coi làmột “ngôi sao”

Hoạt động đầu tư ở Việt Nam tỏ ra xuất sắc về mặt số lượng, nhưng lại tương đốikém về mặt chất lượng Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2004 của WB đối với 23quốc gia cho thấy, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 3 về tỷ lệ đầu tư so với GDP, nhưng chỉ xếp thứ

17 về mặt chất lượng và hiệu quả đầu tư

Từ những phân tích trên có thể thấy, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ nâng cao sốlượng đầu tư sang tăng cường hiệu quả và năng suất của đầu tư Đã đến lúc Việt Nam nênchuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu vào sang tăng trưởng dựa trên hiệu quả Sựchuyển biến như vậy sẽ đòi hỏi Việt Nam phải hành động trên nhiều mặt

Theo tính toán của các tổ chức quốc tế, nếu suất đầu tư của khu vực ngoài quốcdoanh chỉ có 3,7 lần thì của khu vực kinh tế nhà nước lên đến trên 7 lần, tức là cao gần gấpđôi khu vực ngoài quốc doanh, hay hiệu quả đầu tư chưa bằng một nửa Một mặt trong tổngvốn đầu tư nhà nước có một tỷ lệ khá lớn là vốn đi vay trong nước (thông qua phát hành tráiphiếu, công trái ) và vay nước ngoài (thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 17

ODA, vay nước ngoài cân đối ngân sách, cho vay lại ); mặt khác khu vực nhà nước đượchưởng nhiều ưu đãi từ vị trí, đất đai, xóa nợ, khoanh, hoãn nợ, lãi suất cho vay Cần nhớrằng, suất đầu tư của các nước trong khu vực chỉ trên dưới 3 lần.

Thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng đầu tư cũng có những giới hạn của nó Chỉ tăng đầu

tư về mặt số lượng có thể sẽ không đem đến những kết quả như mong muốn Hiệu quả đầu

tư là chất lượng tăng trưởng Số lượng vốn dù có tăng lên nhưng nếu hiệu quả đầu tư màkhông tăng lên thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng không cao lên tương ứng

Do đầu tư của Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng, việc tăng cường hiệu quả của lĩnh vựcnày cần đến việc xác định lại ưu tiên của các dự án Có thể giảm quy mô của những dự án cómức độ cấp thiết ít hơn và ưu tiên đầu tư vào những dự án có chất lượng cao và tỷ lệ hoànvốn lớn Đây là việc làm đặc biệt quan trọng vì mức độ phân cấp ở Việt Nam là rất cao

Bộ KH&ĐT cho biết, khả năng huy động vốn đầu tư khoảng 554 nghìn tỷ đồng(tương đương trên 34 tỷ USD ) năm 2008 Số vốn huy động này tăng 19,6% so với ước thựchiện năm 2007 và bằng 41,5% GDP Nguồn vốn đầu tư sẽ được huy động từ nguồn ngânsách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng nhà nước, vốn ODA, khu vực doanh nghiệpnhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và dân cư…

Trong đó, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước sẽ đạt gần 97 nghìn tỷ đồng,chiếm 17,5% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội; vốn tín dụng nhà nước khoảng 40 nghìn tỷđồng (7,2%); vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và dân cư (dân doanh)hơn 201 nghìn tỷ đồng (36,4%)…

Các nguồn vốn này được tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộitrọng yếu, đặc biệt là các dự án phát triển giao thông, thủy lợi, điện, cảng biển; xây dựng cáckhu công nghiệp; phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp giảm nghèo; phát triển giáodục đào tạo; hỗ trợ hoạt động đầu tư …

Phát triển thể chế của Việt Nam hiện vẫn chưa bắt kịp với tốc độ phát triển nhanhchóng của dòng vốn FDI Mặt khác, sự kết nối giữa lĩnh vực FDI và các doanh nghiệp trongnước vẫn còn hạn chế

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2005, chỉ có 69% trong tổng số 20,8 tỷ vốn FDIcam kết đổ vào Việt Nam được giải ngân Năm ngoái, chưa đầy 40% trong 12,7 tỷ USD camkết vào năm 2006 được giải ngân Tình hình giải ngân các khoản vay phát triển cũng diễn ratương tự Do đó, một việc làm cấp thiết là Việt Nam phải tăng cường khả năng hấp thụ vốn

để giảm khoảng cách giữa lượng cam kết và lượng giải ngân của các dòng vốn từ bên ngoài

đổ vào

Trang 18

Tăng cường hiệu quả đầu tư cũng có nghĩa là những nguồn tài chính dài hạn mới cầnđược phát triển để thay thế những nguồn hỗ trợ phát triển từ các nước tài trợ Những nguồnvốn mới này cần đến từ thị trường vốn vì các ngân hàng thương mại sẽ phải đối mặt với mức

độ rủi ro cao nếu cung cấp những khoản cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạncho các dự án phát triển Sự nổi lên của thị trường chứng khoán Việt Nam là một bước pháttriển được chào đón Tuy nhiên, cần có nhiều hơn nữa các biện pháp cải cách, trong đó cóviệc thiết lập những khung pháp lý phù hợp để đảm bảo sự vận hành trơn tru của thị trườngvốn

Hình 1: Nguồn vốn đầu tư qua các năm (tỷ đồng)

0 20000

Kinh tế ngoài Nhà nước

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

- Hiệu quả đầu tư thấp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước

Các nền kinh tế thành công trong khu vực đều duy trì một tỷ lệ cao trong thời giandài như Thái Lan khoảng 30% GDP Việt Nam hiện đã và đang cố gắng thu hút vốn đầu tư

từ nhà nước, dân cư và vốn bên ngoài để có được tỷ lệ đầu tư rất cao tới gần 40% GDP nhằmđạt tốc độ phát triển bình quân 8% giai đoạn 2000-2007

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là sự gia tăng vốn đầu tư từ khu vực quốc doanh hiện đangnhận được sự tài trợ “hào phóng” của Chính phủ thông qua việc thực hiện các dự án cônghay tín dụng ưu đãi nhưng lại đóng góp rất ít vào động lực phát triển và xuất khẩu Điều nàythể hiện qua một số chỉ tiêu cụ thể như chiếm 43,9% trong tổng đầu tư, song chỉ tạo 41,1%tăng trưởng công nghiệp thực hay đạt 10% giá trị gia tăng trong giai đoạn 6 năm (2000-2006) Trong khi đó, hai khu vực còn lại là vốn đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh chỉ

Trang 19

chiếm tỷ trọng 17,7% và 41,3% lại có gia tăng về giá trị từ năm 2000 và 2006 tới 56% và164%, số lượng lao động tuyển dụng tăng bình quân 22,4% và 25,7%, ngược lại, khu vựcquốc doanh lại giảm -0,1% giai đoạn 2001-2005 Hệ quả là hệ số suất đầu tư chung (ICOR)rất cao do ảnh hưởng của đầu tư từ nhà nước không hiệu quả, con số bình quân lên tới 4,4thời kỳ 2001-2006 Điều này được thể hiện qua chỉ số ICOR ngày càng lớn Thời kỳ 1991-

1995 chỉ số này là 3, nhưng thời kỳ 1996-2000 đã lên tới 4,3; thời kỳ 2001-2005 khoảng 4,7đến nay là trên 5,0.Trong khi đó, số liệu tương ứng khi so sánh với các quốc gia khác tronggiai đoạn tiến hành công nghiệp hóa 1961-1980 như Hàn Quốc chỉ có 3,0 hay Đài Loan là2,7 Không chỉ như vậy, khu vực quốc doanh lại đang kiểm soát thị trường nội địa, chiếmdụng các nguồn tài nguyên khan hiếm như đất đai, tín dụng với giá rẻ Cuối cùng, việc mởrộng rất nhanh, song kém hiệu quả của các tập đoàn dựa trên các tổng công ty nhà nước độcquyền ngành và nhận hỗ trợ của Chính phủ đang gây ra biến dạng nền kinh tế quốc dân, hìnhthành nhóm lợi ích để vận động và bảo vệ quyền lợi với nguồn tài trợ từ các ngân hàngthương mại nhà nước chưa kể sự thâm nhập rất nhanh của tư bản nước ngoài vào nhữngngành đang nhận được bảo hộ hay ưu đãi

"Đầu tư khu vực nhà nước tuy đã có xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao Từ mức bìnhquân 51% thời kỳ 1991- 2005, đến nay tỷ lệ này còn là 43% Cơ cấu đầu tư đã có sự dịchchuyển theo hướng tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế - xãhội, đồng thời quan tâm đầu tư hơn cho vùng nghèo, xã nghèo vùng đồng bào dân tộc

Tuy nhiên, công tác quản lý đầu tư còn yếu kém, chất lượng quy hoạch chưa cao,chưa thực sự là cơ sở vững chắc cho hoạch định các kế hoạch phát triển Việc quản lý vừarườm rà, vừa lỏng lẻo trong đầu tư thể hiện ở tất cả các khâu từ xác định chủ trương, lậpthẩm định dự án, ra quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán… đến khâu triểnkhai thực hiện, theo dõi cấp phép và thanh toán gây ra tình trạng thất thoát không nhỏ chovốn đầu tư từ ngân sách nhà nước

Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn có tình trạng số lượng dự án duyệt chờ ngân sách cấpvốn ngày càng tăng, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách

Ngoài ra, nguyên nhân sâu xa còn là do đã đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trungquá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các dự án có khả năng thuhồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị làm tăng GDP

Hiện đầu tư công của chúng ta đã vượt xa so với khả năng của ngân sách nhà nước.Trong khi đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã chiếm tới 50% ngân sách Điều này sẽ khiến đầu

tư cho an sinh xã hội, giáo dục bị ảnh hưởng."Nếu chưa tìm được đối tác thích hợp sẽ tổchức đấu thầu lại."

Trang 20

Bội chi NSNN so với GDP

Nguồn: Bộ Tài chính

Giai đoạn từ năm 2001-2007, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể Tốc độ tăngthu hằng năm bình quân là 18,8% Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 18,5% Bội chiNSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức4,9%-5% GDP Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong 7 năm trở lạiđây tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GDP) vì giai đoạnnăm 1991-1995, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2,63% và giai đoạn từ năm 1996-

2000 ở mức 3,87% so với GDP

- Tăng quá mức của các dòng vốn từ bên ngoài

Đối với Việt Nam, vốn nước ngoài đã và đang đóng góp phần quan trọng trong giatăng đầu tư, chi tiêu và kinh tế đối ngoại Hàng năm, dòng vốn từ bên ngoài chảy vào ViệtNam rất lớn dưới các hình thức: viện trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư nước ngoài(đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và đầu tư tài chính nước ngoài FFI) và kiều hối Trong năm

2007, tổng vốn từ bên ngoài ước đạt 14,6 tỷ USD hay khoảng 20% GDP, trong đó từ đầu tưnước ngoài 8,6 tỷ USD và từ kiều hối 5,0 tỷ USD chưa kể gần 1,0 tỷ USD giải ngân ODA

Số tiền ngoại tệ này đã góp phần không chỉ vào tăng trưởng kinh tế mà còn bù đắp cho thâmhụt cán cân thương mại và tăng dự trữ quốc gia

Tuy nhiên, việc tăng quá nhanh của các dòng vốn bên ngoài mà đặc biệt là FFI đanggây tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung mà trực tiếp đến thị trường chứng khoán vàbất động sản nói riêng Trong năm 2007, lượng vốn FFI chảy vào Việt Nam lên tới gần 6 tỷUSD cùng với các dịch chuyển đầu tư trong nước đã làm bùng nổ các thị trường chứngkhoán tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng giá trị vốn hóa lên tới 30 tỷ USD,chiếm 43% GDP hay gấp 3 lần về quy mô so năm 2006 Điều này đã tạo sức ép lên cung tiền

Trang 21

do nhu cầu chuyển đổi nhiều tỷ USD sang VND phục vụ giao dịch mua bán Không chỉ nhưvậy, các tổ chức đầu tư tài chính nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng thậmchí dẫn dắt thị trường và ảnh hưởng tới ban hành chính sách Bên cạnh đó, bong bóng bấtđộng sản tại các khu vực đô thị phát triển như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang cónguy cơ xảy ra và bùng nổ do lượng tiền quá lớn trong dân cư, dịch chuyển đầu tư của doanhnghiệp và các siêu dự án FDI Thời gian qua, giá đất của các dự án phát triển đô thị đã tănglên rất nhanh, thậm chí nhiều nơi tăng hơn 100% hay giá 1m2 đất gấp gần 20 lần thu nhậpbình quân hiện mới đạt 825$/năm Điều này không chỉ làm biến dạng thị trường bất động sản

do bong bóng đầu cơ mà còn gây ra mâu thuẫn xã hội, phân hóa giàu nghèo và cản trở nhucầu nhà ở chính đáng của người dân

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài FII

Sau khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam có xu hướng tăng, nhưngquy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn FDI Một số quỹ mới hoạt động tại Việt Nam

từ năm 2001 có quy mô vốn bình quân từ 5-20 triệu USD cho một quỹ nhỏ hơn giai đoạn(1991-1997), chiếm 1,2% vốn FDI, tăng lên 3,7% (2004), tỷ lệ này còn quá thấp so với cácnước trong khu vực (tỷ lệ thu hút FII/FDI trong khoảng 30-40%).Tuy nhiên, thực tế cũng chothấy, đầu tư FII vào Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã tăng rất mạnh Biểu hiện rõnhất là việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các tập đoàn tài chính quốc tế trong thờigian qua đã không ngừng gia tăng Đến cuối năm 2006, khoảng trên 2 tỷ USD vốn đầu tưgián tiếp được công bố thông qua các quỹ đầu tư chính thức.Theo các nhà đầu tư, lý do để họhướng về Việt Nam là Chính phủ đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đốivới sự phát triển của nền kinh tế, tính chuyên nghiệp hoá từng bước của môi trường đầu tư và

sự thành công của những nhà đầu tư hiện hữu Bên cạnh đó, phải kể đến những bước tiếnmới trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam bao gồm: việc phát hành thêm trái phiếu chínhphủ ra nước ngoài và trái phiếu tư nhân, thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốnnhà nước (SCIC); quá trình cổ phần hoá đang diễn ra tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàngthương mại quốc doanh; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống điện và giaothông, cải cách khung pháp lý dành cho các nhà đầu tư nước ngoài

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Trang 22

Trong giai đoạn từ 1988 đến tháng 9/2007, đã có 8.058 dự án FDI được triển khai ở ViệtNam Lượng vốn đầu tư trong gần 20 năm đạt đến con số 72,86 tỉ USD nhưng cho đến thờiđiểm 9/2007 mới chỉ thực hiện được khoảng 42,5% – một hiệu suất không hề cao Nếu bổ ratheo các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì càng thấy rõ

II.Thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư giai đoạn 2000 – 2007.

Trong báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VIII có đánh giá việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội năm

1991-2000 đã nhận định “ cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý Tình trạng bao cấp và bảo hộ

Trang 23

còn nặng Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí ” Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

nhà nước hiện nay vẫn chưa cao, đầu tư dàn trải đi kèm với tình trạng thất thoát vốn là mộttrong những lãng phí lớn nhất

Thất thoát và lãng phí có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương;

ở mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các doanh nghiệp,các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị - xã hội; trong các gia đình và từng người dân.Thất thoát và lãng phí có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng Thất thoát diễn ra

ở mọi giai đoạn của quá trình đầu tư cũng như trong mọi lĩnh vực

Trong những năm qua bên cạnh những thành tựu và tiến bộ đã đạt được trongĐT&XD, vẫn còn những mặt yếu kém, bất cập là quản lý còn lỏng lẻo, dàn trải, thiếu tậptrung, cơ cấu đầu tư chưa phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển, dẫn đến tình trạngđầu tư kém hiệu quả, nhất là các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng

do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn danh nghiệp nhànước đầu tư còn bị thất thoát và lãng phí nhiều Báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cònthông báo là báo cáo của các Bộ, Ngành và địa phương về số liệu thất thoát, lãng phí trongXDCB còn ở mức độ rất hạn chế Các số liệu nêu trong văn bản này chủ yếu căn cứ vào côngtác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, “còn trên thực tế khó định lượng một cáchchính xác số liệu về lãng phí và thất thoát” Bản báo cáo cho rằng: “Tuy những con số nóitrong báo cáo chưa đủ để khẳng định tỷ lệ thất thoát lãng phí 20 đến 30% như dư luận xã hộihoặc một số chuyên gia đã phát biểu, nhưng cũng đủ để thấy tính chất nghiêm trọng của tìnhhình”

Vấn đề thất thoát, lãng phí trong quản lý nguồn vốn đầu tư những năm vừa qua luônthu hút sự quan tâm lớn của toàn xã hội Thất thoát, lãng phí diễn ra ở hầu hết các dự án,công trình; ở mọi công việc, ở mọi khâu trong quá trình đầu tư (tuỳ mức độ, phạm vi, thủđoạn, tính chất có khác nhau) mặc dù có rất nhiều văn bản điều chỉnh hoạt động đầu tư trongcác thời kỳ Có thể nói đây là lĩnh vực được điều chỉnh, bổ sung và ban hành nhiều văn bảnnhất

Báo cáo của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội năm 2002 Tổng thanh tra Nhà nước đã có

12 đoàn thanh tra liên ngành, thanh tra 17 dự án quy mô lớn có tổng mức đầu tư 9.385 tỉđồng (trong đó tổng giá trị vốn được thanh tra, kiểm tra là 6.406 tỉ đồng) như dự án cải tạoquốc lộ 1 đoạn Hà Nội - Lạng Sơn, Sân đỗ A1 - cụm cảng Hàng không Nội Bài, Dự án ximăng Bút Sơn Phát hiện số sai phạm về kinh tế và tài chính chiếm 13,59 % tổng giá trị vốnđược kiểm tra Theo báo cáo của Tổng Thanh tra nhà nước ở từng hạng mục công trình đượcthanh tra đều có vi phạm:

Trang 24

7/17 dự án vi phạm khâu chuẩn bị đầu tư

7/17 dự án sai phạm về thẩm định dự án

10/17 dự án vi phạm quy chế đấu thầu

10/17 dự án vi phạm thiết kế thi công

14/17 dự án vi phạm quy định nghiệm thu

16/17 dự án vi phạm thanh toán, quyết toán công trình

Tổng số sai phạm về tài chính trong 17 dự án này là 870 tỷ đồng Các địa phương đãkiến nghị xử lý 136 tỉ đồng, trong đó thu về ngân sách nhà nước 65 tỉ đồng, còn lại là xuấttoán, giảm trừ quyết toán, buộc đơn vị thi công phải sửa chữa, khắc phục hậu quả 71 tỉ đồng;kiến nghị xử lý kỷ luật 515 người, chuyển cơ quan điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự 7

vụ Các vi phạm này liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan thuộc Bộ Giao thông Vậntải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hoá -Thông tin, Bộ Y tế và UBND các tỉnh: Nghệ An, Lào Cai, Thái Nguyên, các Tổng Công ty:Dệt May, Rượu Bia, Dầu khí, Xi măng, Cục Hàng không và Cụm cảng sân bay quốc tế NộiBài

Năm 2003, Thanh tra 14 dự án phát hiện sai phạm về kinh tế 19,1 % số vốn đượckiểm tra Trong hai năm 2002 và 2003 thanh tra các bộ và địa phương phát hiện số sai phạm

về tài chính chiếm 1,57 % số vốn của 2518 dự án đã thanh tra Theo kết quả thanh tra một số

dự án, công trình với số vốn 8235 tỷ đồng đã phát hiện ra tổng số sai phạm về tài chính là

1235 tỷ, chiếm trên 14% tổng số vốn

Trong năm 2004 Hà Nội đã có kết quả 47/54 dự án tiến hành thanh, kiểm tra, Kết quả

là con số lãng phí, thất thoát trong năm được phát hiện là 3,6%, đã giảm hẳn so với nămngoái (năm 2003 thất thoát, lãng phí trên 4%) Qua triển khai 197 cuộc thanh tra kinh tế xãhội, thành phố đã phát hiện sai phạm, thất thoát tới 5.285 triệu đồng trong 48 dự án (chiếm3,6% tổng vốn đầu tư đã kiểm tra)

Năm 2006, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành 38 cuộc thanh tra lớn theo chương trình

kế hoạch và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Qua thanh tra đã phát hiện nhiều saiphạm trong quản lý, chi tiêu tài chính, lãng phí, thất thoát với tổng giá trị hơn 1.560 tỷ đồng

và 5,47 triệu USD Thanh tra các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiến hành 12.603 cuộc thanhtra, kiểm tra (chủ yếu là các cuộc thanh tra về đầu tư xây dựng), qua đó phát hiện sai phạmvới tổng giá trị 4.822 tỷ đồng Từ thực tiễn các cuộc thanh tra nêu trên có thể rút ra kết luận:Hầu hết các dự án được thanh tra đều có sai phạm và sai phạm diễn ra ở tất cả các khâu, các

Trang 25

giai đoạn của quá trình đầu tư Đáng chú ý, năm 2006 Tổng hội xây dựng đã công bố danhsách 43 dự án đầu tư xây dựng có thất thoát, lãng phí nhằm chống lãng phí, thất thoát trongđầu tư XDCB (có danh sách kèm theo).

Trong báo cáo kiểm toán năm 2007, Kiểm toán Nhà nước kết luận, đã có nhiều saiphạm, thiếu sót trong đầu tư xây dựng cơ bản, diễn ra ở mọi khâu: từ khâu lập và giao dựtoán cho tới khâu giám sát, thực hiện; tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún diễn ra trongnhững năm vừa qua vẫn chậm được khắc phục, dẫn đến việc bố trí vốn cho các dự án vượtquá khả năng Công tác quản lý nguồn vốn đầu tư lỏng lẻo đã tạo các kẻ hở gây thất thoátvốn đầu tư ngân sách và vốn tín dụng đầu từ Nhà nước Theo đánh giá của Tổng hội Xâydựng VN, yếu tố giúp dễ nhận thấy nhất về hiệu quả đầu tư thấp là chỉ số ICOR đang có xuhướng ngày càng tăng, từ mức 4,1 (giai đoạn 1990-2000) lên xấp xỉ 5 (giai đoạn 2001-2005)

và tình trạng thất thoát, lãng phí đang diễn ra trong tất cả giai đoạn của dự án

Trong báo cáo kết quả kiểm toán của 6 công trình, dự án trọng điểm quốc gia vừađược KTNN công bố thì dự án nào, chương trình nào cũng có sai phạm về chấp hành chínhsách, sai quy định về chế độ tài chính Cụ thể, trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia nướcsạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2001-2005, số tiền sai phạm là 49,7 tỷ đồng,Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giáo dục-Đào tạo năm 2006 là hơn 89,2 tỷ đồng; Dự ánngành cơ sở hạ tầng nông thôn là trên 66,2 tỷ đồng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hộicác xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là 39,5 tỷ đồng; Dự ánNhà máy Thủy điện Hàm Thuận; Dự án khu đô thị Bắc Thăng Long – Vân Trì (Hà Nội) thì

số tiền sai phạm là hơn 80,7 tỷ đồng Riêng đối với Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đôthị Bắc Thăng Long – Vân Trì (Hà Nội), KTNN đã chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra dophát hiện các sai phạm nghiêm trọng trong dự án này

Nhà máy thủy điện Hàm Thuận

Trang 26

Số lượng, tỉ lệ các dự án có vi phạm các quy định về quản lý đầu tư, như: không phùhợp quy hoạch, phê duyệt không đúng thẩm quyền, đấu thầu không đúng quy định, chậm tiến

độ, chất lượng xây dựng thấp, lãng phí có xu hướng tăng lên Kết luận này được đoàngiám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH) đưa ra vào ngày 22/9/2008, tại phiên họp thứ

12 về giám sát đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) sử dụng vốn Nhà nước giai đoạn 2005-2007.Năm 2005 có 1.882 dự án vi phạm, chiếm 14,5% dự án thực hiện đầu tư trong năm; năm

2006 có 3.173 dự án vi phạm (18,19%) và năm 2007 có 4.763 dự án vi phạm (16,6%) Mặtkhác, số nợ đọng vẫn còn lớn, tính đến tháng 6-2008 là hơn 3.860 tỉ đồng Tiến độ các dự ánrất chậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án thấp, còn thấtthoát, lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vốn khác, đầu tư thiếu đồng bộ Tình trạng bố trívốn dàn trải vẫn còn khá phổ biến”- Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền, trưởng đoàngiám sát, nhận xét Năm 2005, có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng số dự án thựchiện trong năm Con số này tăng nhanh trong 2 năm tiếp theo: Năm 2006 có 3.595 dự án(13,1%); năm 2007 có 3.979 dự án chậm tiến độ (13,9%)

1 Giai đoạn Chuẩn bị đầu tư.

Tình trạng đầu tư không theo quy hoạch được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếutính đồng bộ, không đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu, bảo

vệ môi trường, điều tra thăm dò thị trường không kỹ; chủ trương đầu tư không đúng khi xemxét, phê duyệt dự án đầu tư Theo nhận xét của các chuyên gia trong và ngoài nước, lãng phí

ở khâu quy hoạch chiếm tới 60-70% tổng số thất thoát, lãng phí vốn nhà nước

Mức độ lãng phí tập trung nhiều nhất ở khâu quyết định đầu tư, trong đó có các khía

cạnh như: dự án có cần thiết đầu tư hay không, đầu tư vào lúc nào và ở đâu, triển khai vớiquy mô thế nào là thích hợp cho trước mắt cũng như quá trình khai thác, sử dụng lâudài thất thoát do đầu tư sai, thiếu cơ sở khoa học khá nhiều Nhiều dự án sử dụng vốn đầu

tư cơ bản của Nhà nước thông qua nhiều cơ quan chức năng có thẩm quyền đã phê duyệt các

dự án, công trình đầu tư không có tính khả thi, kém hiệu quả

Khâu khảo sát thiết kế cũng không kém phần quan trọng, tình trạng khảo sát ẩu dẫn

đến tình trạng thiết kế sai, công trình không đảm bảo chất lượng, không phát huy được hiệuquả, chi phí xử lý tốn kém, thậm chí không thể sử dụng Bắt đầu từ khảo sát, thiết kế một khicông việc này làm không tốt có thể sẽ gây ra thất thoát lãng phí ở các bước sau: Việc thừavốn ở dự án này đôi khi không thể chuyển sang dự án khác nên nhiều chủ đầu tư phải tìmcách sử dụng cho hết vốn, công trình sinh ra chắp vá, tốn kém Tại Dự án nâng cấp Quốc Lộ

5, do tính toán vốn đầu tư ban đầu không chính xác nên tổng số vốn đầu tư dôi ra khá nhiều,người ta phải nghĩ ra việc xây dựng đường gom, cầu vượt Do bước khảo sát, thiết kế trong

Trang 27

giai đoạn chuẩn bị đầu tư không tốt làm phát sinh khối lượng, phát sinh chi phí tư vấn giámsát, quản lý trong giai đoạn thi công Vì dự án đã thực hiện nên phải bám lấy phương án đangtiến hành do vậy phải bổ sung vốn đầu tư để xử lý khối lượng phát sinh Do thiết kế khôngtính toán chính xác và không kiểm tra tính toán một cách cụ thể nên người thiết kế đã đưa racác yêu cầu vật liệu cao hơn mức an toàn cần thiết

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, một công trình lớn như đường Hồ Chí Minhvẫn lặp lại yếu kém thường thấy trong lĩnh vực xây dựng cầu đường trong nhiều năm quangay từ khâu khảo sát, thiết kế Ví dụ, 8 gói thầu đoạn Thanh Hóa - Nghệ An, do công tácthăm dò, khảo sát và tính toán địa chất, thủy văn, các bước lập thiết kế kỹ thuật sơ sài, cónhiều sai sót về địa chất công trình dẫn đến khối lượng xây lắp, mời thầu, nhất là khốilượng đào đắp nền đường có thay đổi lớn, làm phát sinh chi phí khảo sát, thiết kế, tăng giáthành công trình: có gói thầu phát sinh thêm 9,4 tỉ đồng, có gói thêm 12 tỉ đồng Tổng cộng,

cả đoạn này phát sinh gần 53,92 tỉ đồng

Việc lập dự án, chuẩn bị đầu tư là giai đoạn rất quan trọng, tuy nhiên, tại nhiều dự án

được thanh tra, công tác khảo sát thiết kế, lập dự án còn sơ sài, thiếu chính xác, là nguyênnhân chính dẫn đến những dự án phải điều chỉnh, hoặc phải thiết kế, thi công lại, thời gianthực hiện dự án kéo dài, gây lãng phí, tốn kém lớn cho ngân sách Nhà nước Quản lý chấtlượng yếu kém trong giai đoạn lập dự án đầu tư dẫn đến nhà máy xây xong không có nguyênliệu phải hoạt động cầm chừng, cảng cá không có tàu cập bến, chợ không có người họp, nhàxây xong không có người ở

Việc thẩm định và phê duyệt dự án để ra quyết định đầu tư chỉ quan tâm tới tổng mức

vốn đầu tư, không quan tâm tới hiệu quả, điều kiện vận hành của dự án, nên nhiều dự án saukhi hoàn thành và đưa vào sử dụng không phát huy tác dụng, gây lãng phí rất lớn

Số lượng và tỉ lệ các dự án đầu tư XDCB sử dụng ngân sách nhà nước có vi phạm cácqui định về quản lý đầu tư (không phù hợp với qui hoạch; phê duyệt không đúng thẩmquyền; không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự án; đấu thầu không đúng quiđịnh; bỏ giá thầu không phù hợp; phê duyệt không kịp thời; ký hợp đồng không đúng quiđịnh; chậm tiến độ; chất lượng xây dựng thấp; lãng phí) có xu hướng tăng lên

Cụ thể, năm 2005 có 1.822 dự án vi phạm (chiếm 14,57% dự án thực hiện đầu tưtrong năm), năm 2006 có 3.173 dự án vi phạm (chiếm 18,19% dự án thực hiện đầu tư trongnăm), năm 2007 có 4.763 dự án vi phạm (chiếm 16,6% dự án thực hiện đầu tư trong năm) Các bộ, ngành và địa phương mới phản ánh được những sai phạm trong thủ tục đầu tư, chưaphản ánh đúng thực tế về chất lượng công trình và việc thất thoát, lãng phí trong đầu tư xâydựng (theo báo cáo của các cơ quan năm 2005 có 28 dự án có lãng phí, chiếm 0,1%; năm

Trang 28

2006 có 8 dự án có lãng phí, chiếm 0,03%; năm 2007 có 17 dự án có lãng phí, chiếm 0,06%tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm)

2.Giai đoạn thực hiện đầu tư

Số liệu thống kê từ Bộ Tài chính cho thấy, chỉ tính riêng kế hoạch đầu tư thuộc khốitrung ương trong thời gian 2001-2003 đã có hơn 1.300 dự án chưa đủ thủ tục vẫn được bố trí

kế hoạch Nhiều dự án khởi công chỉ có quyết định đầu tư, chưa có quyết định phê duyệtthiết kế và tổng dự toán "Chính điều này đã dẫn đến tình trạng bị đọng vốn, giải ngân chậm,gây lãng phí lớn về vốn" Cụ thể:

Công tác chọn chủ đầu tư là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện dự án, nhưng

có không ít dự án đã chọn chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm, thiếu năng lực tài chính, dẫn tới thờigian thực hiện dự án kéo dài, gây lãng phí

Một số Bộ, ngành, địa phương khi xác định mức vốn đầu tư ít quan tâm đến việc tiếtkiệm vốn đầu tư, sử dụng đơn giá, định mức trong tính toán cao hơn quy định, làm tăng khốilượng, tăng dự toán công trình Nhiều dự án không làm đúng thiết kế, chủ đầu tư và bên thicông móc nối, thoả thuận khai tăng khối lượng, điều chỉnh dự toán để rút tiền và vật tư từcông trình

Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các ban quản lý dự

án, các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư

Qua kiểm tra một số công trình, đã phát hiện tình trạng lãng phí và thất thoát vốnnhà nước diễn ra phổ biến ở nhiều công trình, nhiều dự án, nhiều lĩnh vực, nhiều cấp; tỷ lệlãng phí và thất thoát của những công trình có mức lãng phí và thất thoát thấp cũng tới 10%,cao thì lên tới 30-40%, thậm chí có công trình lên đến 80%, đặc biệt trường hợp lãng phí thấtthoát 100% như Nhà Hát chèo Hà Nội xây xong không dùng được ngày nào đã hỏng Đó làchưa tính đến những công trình đầu tư kém hiệu quả, công nghệ sản xuất lạc hậu, sản xuất racác sản phẩm với chất lượng kém, giá thành cao và không tiêu thụ được

Trang 29

Khâu đấu thầu cũng thể hiện tính cục bộ của quá trình đầu tư Trong công tác đấuthầu, bên cạnh những sai phạm thường gặp như chỉ định thầu, áp dụng kết quả đấu thầu saiquy định, thông thầu, bán thầu , vấn đề nổi lên tại các doanh nghiệp lớn như Tổng công tyThan Việt Nam, Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn Việt Nam, là việc chỉ định thầu chủ yếu dành cho các đơn vị trong ngành,hoặc thành lập một công ty chuyên thực hiện một số dự án xây dựng của ngành, trong khicông ty này thiếu khả năng thực hiện dự án Việc làm này đã làm giảm tính cạnh tranh, đồngthời gây thiệt hại cho Nhà nước và cho chính bản thân doanh nghiệp Quy chế đấu thầu thiếuchặt chẽ, không công khai minh bạch đã dẫn đến việc một nhà thầu trúng nhưng sau đó chiaphần cho các nhà thầu còn lại Hay giành giật gói thầu bằng giá quá thấp, bằng 28,9% giá góithầu (gói 2B hầm đèo Hải Vân), hoặc chênh lệch lên tới 400 tỷ đồng (gói thầu xây dựng cảngCái Lân) dẫn đến công trình kém chất lượng, thời gian thi công kéo dài, chi phí phát sinhlớn vẫn được quyết toán

Dự án đường Bắc Ninh-Nội Bài cũng gây thất thoát hàng chục tỷ đồng Đoạn NộiBài- Bắc Ninh là một trong 5 đoạn tuyến của dự án cải tạo QL 18 Đoạn này có tổng dự toánđược duyệt 581 tỷ đồng Trong đó, giá trị xây lắp là 433 tỷ đồng; GPMB: 80 tỷ đồng; Chiphí tư vấn: 50 tỷ đồng Tại dự án này, PMU 18 đã lập hồ sơ mời thầu không sát thực tế dẫnđến việc giá trị dự toán (phê duyệt theo hồ sơ trúng thầu) tăng 22,6 tỷ đồng Trong đó saikhối lượng trong hồ sơ mời thầu dẫn đến giá trị dự toán tăng 13,4 tỷ đồng; Thay đổi chủngloại vật liệu nhưng chưa làm thủ tục điều chỉnh giảm giá dự toán 1,5 tỷ đồng

Dự án đường Bắc Ninh-Nội Bài

Ngày đăng: 03/04/2013, 15:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức lựa  chọn nhà thầu - Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp
Hình th ức lựa chọn nhà thầu (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w