Công tác đo đạc và bản đồ có truyền thống lịch sử lâu đời và đã để lại nhiều thành quả quan trọng. Do xuất hiện từ rất sớm và có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên những thuật ngữ chuyên môn được sử dụng trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau. Đồng thời, sự phát triển của ngành đo đạc và bản đồ luôn luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ; các sản phẩm của ngành đo đạc và bản đồ ngày càng phong phú, đa dạng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đang dần trở thành công cụ không thể thiếu của mọi tầng lớp xã hội trong hoạt động chuyên môn cũng như trong cuộc sống. Chính vì thế, số lượng các thuật ngữ về lĩnh vực đo đạc và bản đồ cũng luôn luôn được mở rộng và được sử dụng rộng rãi.
Trang 1HÀ NỘI, 2008
TỪ ĐIỂN
§O §¹C Vµ B¶N §å
HÀ NỘI, 2009
Trang 3TỪ ĐIỂN
ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
Trang 5Công tác đo đạc và bản đồ có truyền thống lịch sử lâu đời và đã để lại nhiều thành quả quan trọng Do xuất hiện từ rất sớm và có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên những thuật ngữ chuyên môn được sử dụng trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau Đồng thời, sự phát triển của ngành đo đạc và bản đồ luôn luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ; các sản phẩm của ngành đo đạc và bản đồ ngày càng phong phú, đa dạng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đang dần trở thành công cụ không thể thiếu của mọi tầng lớp xã hội trong hoạt động chuyên môn cũng như trong cuộc sống Chính vì thế, số lượng các thuật ngữ về lĩnh vực đo đạc và bản đồ cũng luôn luôn được
mở rộng và được sử dụng rộng rãi
Tuy nhiên, cho đến nay, tại Việt Nam hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống nhằm giải thích các nội dung khoa học có tính chất bách khoa về các thuật ngữ về đo đạc và bản đồ để thống nhất sử dụng trong chuyên môn cũng như phổ biến rộng rãi cho mọi tầng lớp xã hội Do đó, việc xây dựng một từ điển thuật ngữ về lĩnh vực đo đạc và bản đồ là công việc hết sức cần thiết
Từ điển đo đạc và bản đồ được biên soạn gồm khoảng 2700 mục từ thuộc các
lĩnh vực chuyên môn ngành đo đạc và bản đồ và một số lĩnh vực liên quan Từ điển nhằm đáp đòi hỏi ngày càng cao về việc cung cấp kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này, đặc biệt là các kiến thức được tích lũy từ sự phát triển của khoa học công nghệ đo đạc và bản
đồ của Việt nam và quốc tế Từ điển cũng sẽ là một tài liệu phục vụ đắc lực cho việc thực hiện quản lý nhà nước của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, đồng thời còn là một tài liệu rất hữu ích cho các nhà chuyên môn trong và ngoài ngành, các sinh viên trong các trường đại học và những người có quan tâm đến công việc và các sản phẩm của ngành
Ngoài sản phẩm từ điển đo đạc và bản đồ in trên giấy, Nhóm tác giả còn xây
dựng từ điển SAMDict tra cứu trên máy tính và từ điển trực tuyến tại địa chỉ
samdict.com.vn
Nhóm biên soạn từ điển xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Cục Đo đạc và Bản
đồ Việt Nam, các nhà khoa học, các đồng nghiệp đã ủng hộ, góp ý kiến trong quá trình biên soạn từ điển này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng vì biên soạn từ điển chuyên ngành là một công việc rất khó khăn, kiến thức chuyên môn còn hạn chế, chưa thể bao quát hết các lĩnh vực; đồng thời, Nhóm tác giả cũng chưa có kinh nghiệm về biên soạn từ điển; do vậy,
từ điển chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự ủng hộ, góp ý kiến của các đồng nghiệp và bạn đọc
Hà Nội, tháng 2 năm 2009
TM NHÓM BIÊN SOẠN ThS Nguyễn Văn Thảo
Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Lưu ý: Khi sử dụng tài liệu, vui lòng trích dẫn nguồn “Từ điển đo đạc và bản đồ”.
Trang 7VÀ CÁCH TRA CỨU TỪ ĐIỂN
1 Quy tắc chính tả và phiên chuyển tiếng nước ngoài trong biên tập nội dung
từ điển đo đạc và bản đồ
a) Chính tả
- Bổ sung các con chữ F, J, Z, W vào bảng chữ cái tiếng Việt để phiên chuyển tên riêng và thuật ngữ có gốc nước ngoài;
- Dùng i thay y ở cuối âm tiết mở, trừ các âm tiết uy và các trường hợp sau qu hoặc
y đứng một mình; ví dụ: tỉ lệ, kĩ thuật, quy phạm, ý nghĩa Tên riêng Việt Nam viết theo thói
quen truyền thống; ví dụ: Hà Nội, Bắc Kạn
- Viết hoa chữ đầu các âm tiết cấu tạo tên người, tên địa lí, kể cả những danh từ chung đi kèm đã trở thành tên riêng (trường hợp danh từ riêng chỉ có một âm tiết hoặc tên
người; ví dụ: Hồ Tây, TP Hồ Chí Minh.
b) Phiên chuyển tiếng nước ngoài
- Phiên chuyển tên riêng nước ngoài theo quy định tại Quy tắc phiên chuyển địa danh nước ngoài kèm theo Quyết định số 223/2007 ngày 14 tháng 2 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (có bổ sung thêm bốn con chữ F, J, Z, W vào bảng chữ cái tiếng Việt);
- Thuật ngữ vay mượn tiếng nước ngoài cũng phiên chuyển theo nguyên tắc trên
- Sau Công nguyên: sCN
- Trước Công nguyên: tCN
Trang 9an toàn dữ liệu Việc bảo vệ dữ liệu khỏi
bị lộ, bị phá huỷ, bị sửa đổi trong các hệ
thống thông tin chứa trong máy tính (A:
data security)
an toàn truy cập dữ liệu Những
phương pháp được đưa ra để kiểm soát
khả năng của người sử dụng xem hoặc
biến đổi dữ liệu Những phương pháp này
có thể bao gồm các khung nhìn lôgich và
các quyền truy cập thực của nhóm hoặc cá
nhân người sử dụng (A: data access
security) Xt quyền truy cập.
ảnh Hình thức biểu diễn hoặc miêu tả đồ
hoạ của một hình ảnh được tạo ra bởi một
thiết bị quang học hoặc điện tử Ảnh của
một vật là tập hợp các ảnh của các điểm
trên vật Trong một hệ kính vật hoàn hảo,
ảnh của một vật phẳng là một hình đồng
dạng với vật Tỉ số giữa kích thước của
ảnh và của vật tương ứng gọi là tỉ lệ của
ảnh Ảnh của một vật cũng có thể là thực
hay ảo, có thể nằm ở khoảng cách hữu
hạn đối với hệ quang sai hay vô cực Ảnh
được lưu ở dạng raster là một bộ số liệu
dạng nhị phân hay dạng số nguyên biểu
diễn cường độ ánh sáng, nhiệt hoặc độ
rộng quang phổ điện từ
ảnh âm X bản âm.
ảnh ẩn Ảnh đã thu lên phim (hoặc kính)
nhạy sáng, nhưng chưa nhìn thấy được vì chưa tráng phim
ảnh bằng Ảnh đo vẽ địa hình được chụp
với các giá trị của các nguyên tố định hướng ảnh đều nằm cho giới hạn cho phép Hiện nay, hầu hết các ảnh đo trong công tác đo đạc chụp ảnh hàng không đều
là ảnh bằng Nếu sử dụng hệ thống cân bằng con quay để ổn định máy chụp ảnh hàng không trên máy bay thì góc nghiêng của ảnh rất nhỏ (10-40’)
ảnh COSMOS Ảnh chụp bề mặt Trái Đất
từ tàu vũ trụ có người lái COSMOS (Liên
Xô cũ) bằng các thiết bị quét đa phổ độ phân dải cao trên 5 kênh phổ khác nhau với kích thước ảnh 18x18 cm, 30x30 cm Ngoài ra, các ảnh chụp từ thiết bị chụp KATE-140, MKF-6M trên trạm quỹ đạo Salyut cho ra sau kênh ảnh thuộc dải phổ 0,40 đến 0,89µm với độ phân giải mặt đất tại tâm ảnh đạt 20x20 m
ảnh của bóng địa vật trên ảnh Chuẩn
đoán đọc ngược Có hai loại bóng: bóng bản thân và bóng đổ Ảnh bóng địa vật có thể gây ảnh hưởng xấu cho việc đoán đọcảnh vì che lấp các địa vật lân cận Khi độ tương phản giữa bóng và nền lớn hơn độ tương phản của địa vật và nền thì ảnh củabóng có thể là chuẩn đoán đọc duy nhất Trong nhiều trường hợp, việc xác định chiều cao của địa vật (ống khói nhà máy,
A
Trang 10cột ăngten tiếp sóng ) bằng cách đo chiều
dài bóng nhanh và chính xác hơn đo lập
thể
ảnh dương Ảnh tạo ra bằng cách in từ
ảnh âm lên giấy hoặc bằng cách nghịch
đảo ảnh Ảnh dương đen trắng tạo thành
từ những hạt bạc kim loại, trong đó những
điểm sáng và tối trên ảnh tương ứng với
những điểm sáng và tối trên vật Ảnh
dương màu tạo thành nhờ ba loại thuốc
nhuộm màu cơ bản
ảnh đa phổ Ảnh viễn thám thu được
đồng thời theo nhiều kênh phổ (thường từ
4 đến 6 kênh) bằng hệ thống máy chụp
ảnh nhiều ống kính hoặc hệ thống quét
Ảnh đa phổ thường được quét hoặc chụp
là ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh Ảnh
đa phổ dựa trên nguyên lí các đối tượng
có bề mặt với tính chất vật lí khác nhau có
khả năng phản xạ phổ và đặc trưng phổ
khác nhau, nhằm nâng cao khả năng suy
giải các đối tượng của ảnh Ảnh đa phổ
được sử dụng rộng rãi nhất ở các nước
cũng như ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh
vực điều tra và thành lập bản đồ, điều tra
tài nguyên thiên nhiên Ảnh đa phổ được
đưa vào sử dụng từ đầu những năm 70
của thế kỉ 20, sau những thử nghiệm thành
công của chương trình chuyến bay tàu vũ
trụ "Apôlô" của Hoa Kì (1969) và phóng vệ
tinh Landsat 1 (ERTS) (1972 - 1973), cũng
như các thử nghiệm chụp ảnh đa phổ từ
tàu vũ trụ "Liên Hợp 12" (1973) Ảnh đa
phổ đang không ngừng được hoàn thiện
về độ phân giải và khả năng đo vẽ lập thể
(A: multi-spectral image)
ảnh địa Mô hình thời gian – không gian
được tổng quát hoá, phản ánh các đối tượng và hiện tượng của Trái Đất, được thể hiện theo tỉ lệ và ở dạng đồ hoạ Đặc tính chung chủ yếu của các ảnh địa như: tỉ
lệ, tổng quát hoá và thể hiện các yếu tố đồ hoạ Có thể phân biệt thành 3 loại: ảnh địa phẳng, ảnh địa khối, ảnh 3 chiều hay 4 chiều nổi chuyển động (A: Geoimage)
ảnh địa ảo Những đối tượng hoặc những
quá trình thực tế hoặc trừu tượng, tích hợp các yếu tố bản đồ, ảnh lập thể, biểu đồ khối và hoạt hình được tạo ra bằng máy tính Ảnh địa ảo có lưới chiếu, tỉ lệ, yếu tố tổng quát hoá giống như các dạng ảnh địa khác và được tạo ra nhờ môi trường điều khiển bằng phần mềm (A: Vitual Geoimage)
ảnh địa khối (cg ảnh 3 chiều – 3D),
thuật ngữ để chỉ các mô hình lập thể, cặp ảnh lập thể, ảnh nổi, biểu đồ khối
ảnh địa phẳng Hình ảnh trên mặt phẳng 2D (hoặc 2,5D) như: bản đồ in trên giấy, bản đồ điện tử, bản đồ quét, bản đồ nổi, ảnh rađa, ảnh hàng không, ảnh vệ tinh
ảnh đo Ảnh được dùng vào mục đích đo
đạc Ảnh đo là nguồn thông tin gốc của đối tượng đo phục vụ cho quá trình đo vẽ địa hình bằng ảnh Ảnh đo có các tính chất sau: 1) Nội dung của ảnh đo phản ánh trung thực các chi tiết bề mặt của đối tượng nhưng chưa thể hiện đúng và đầy
đủ theo yêu cầu của bản đồ địa hình; 2) Mức độ chi tiết và khả năng đo đạc của ảnh đo phụ thuộc vào điều kiện và phương thức chụp ảnh; 3) Ảnh đo chỉ là nguồn thông tin ban đầu nên không thể trực tiếp
sử dụng như thành quả đo đạc khác (vd: bản đồ) Các yếu tố hình học cơ bản của ảnh đo bao gồm: mặt phẳng vật, mặt phẳng ảnh, tâm chụp, mặt đứng chính, đường hướng chụp, trục chụp, điểm chính ảnh, điểm đáy ảnh, điểm đẳng giác, điểm
tụ chính, đường chân trời, đường nằm
Trang 11ngang chính, đường đẳng tỉ lệ Ảnh đo có
thể là ảnh viễn thám hoặc ảnh mặt đất
ảnh hàng không Ảnh của mặt đất được
chụp từ máy bay Hiện nay, chụp ảnh máy
bay đã được sử dụng thêm các phương
tiện chụp ảnh hồng ngoại nhiệt, rađa và
các loại chụp ảnh khác bên cạnh sự tiến
bộ của ảnh chụp từ vệ tinh Các máy quét
đa phổ, một hệ thống chụp ảnh bên sườn
thứ hai được sử dụng trong chụp ảnh hàng
không, trong đó có dạng hệ thống quét cơ
quang học để các tài liệu thu nhận được
ghi lại trên băng từ và chuyển lại thành
hình ảnh Ngoài việc sử dụng dải phổ
giống như đối với phim (0,3- 0,9m) các
máy quét còn có thể sử dụng toàn bộ dải
sóng của năng lượng hồng ngoại phản xạ
đến dải sóng 3m Các bước sóng dài hơn
cung cấp các thông tin có giá trị về thực
vật, đất và các loại đá Về ý nghĩa hình
học, ảnh hàng không là hình chiếu xuyên
tâm trong đó tâm chiếu là tiêu điểm phía
sau của kính vật máy ảnh hàng không
Ảnh hàng không nằm ngang là tấm ảnh
nhận được ở vị trí của trục quang máy ảnh
hàng không trùng với đường dây dọi Nếu
mặt đất hoàn toàn bằng phẳng thì tỉ lệ ảnh
trên toàn bộ tấm ảnh đều như nhau và
được xác định theo công thức:
H
f
m1 Trong đó, f là tiêu cự máy ảnh; H - độ cao
bay chụp ảnh Ảnh hàng không bằng là
tấm ảnh nhận được khi trục quang học của
máy ảnh trùng hoặc lệch với phương dây
dọi một góc nhỏ hơn 3o (ảnh hàng không
nằm ngang là trường hợp đặc biệt của ảnh
hàng không bằng) Ảnh hàng không
nghiêng là tấm ảnh nhận được khi trục
quang của máy ảnh lệch so với đường dây
dọi một góc bằng hoặc lớn hơn 3o Trên
ảnh nghiêng, tỉ lệ ảnh ở mọi vị trí không
giống nhau Tuỳ theo mục đích, yêu cầu
mà ảnh hàng không được chụp ở các tỉ lệ
khác nhau Ảnh hàng không được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực: quân sự, điều tra đất
đai, nông nghiệp, lâm nghiệp, quy hoạch
đô thị, thành lập các loại bản đồ, tìm kiếm khoáng sản, thăm dò dầu khí (A: aerial photograph)
ảnh hàng không tỉ lệ lớn Ảnh hàng
không có tỉ lệ từ 1:1 000 – 1:12 000 Ảnh này cho phép giải đoán chính xác toàn bộ phần cơ bản của địa hình, kể cả vi địa hình, thành phần các quần hợp thực vật thân gỗ và nhiều trảng cây bụi Tuy nhiên,
vì diện tích chụp nhỏ nên ảnh chỉ dùng để nghiên cứu các khu vực quan trọng Ảnh hàng không tỉ lệ lớn cũng được sử dụng nhiều trong thành lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn
ảnh hàng không tỉ lệ nhỏ Ảnh hàng
không có tỉ lệ từ 1:35 000 đến 1:100 000 Ảnh cho phép phân biệt các dạng và kiểu địa hình, các kiến trúc địa chất có hạng bậc khác biệt nhau, các kiến trúc phá hủy,
có thể dùng làm cơ sở để vẽ bản đồ địa hình địa chất các tỉ lệ tương ứng hoặc nhỏ hơn, phân chia được các tầng đá khác nhau, khoanh định các diện tích có lớp nước ngầm xuất lộ, phân chia được nhiều kiểu cảnh quan
ảnh hàng không tỉ lệ rất lớn Ảnh hàng
không có tỉ lệ 1:1 000, diện tích chụp rất nhỏ, chủ yếu dùng trong công tác xây dựng công trình Ảnh hàng không tỉ lệ rất lớn cũng cho phép đo đạc và nghiên cứu vấn đề của một đô thị
ảnh hàng không tỉ lệ rất nhỏ Ảnh hàng
không có tỉ lệ nhỏ hơn 1:100 000, còn gọi
là ảnh có độ cao lớn, có nội dung gần với ảnh vệ tinh tỉ lệ trung bình, đặc biệt có tác dụng khi nghiên cứu những vùng có độ phân cắt sâu lớn Thường chụp ảnh tỉ lệ rất nhỏ cho địa hình vùng núi cao
ảnh hàng không tỉ lệ trung bình Ảnh
hàng không có tỉ lệ từ 1:12 000 – 1:35 000, rất phù hợp cho việc giải đoán địa chất Có thể dùng ảnh cấp này để giải đoán địa chất công trình tỉ lệ vừa và lớn Khó phân biệt được các dạng thực vật riêng biệt nhưng
Trang 12cho phép giải đoán khá tốt lớp phủ thực
vật để định loại các kiểu thảm, phân biệt
các dạng địa hình vừa và nhỏ cũng như
các yếu tố thuỷ văn Ảnh hàng không tỉ lệ
trung bình được sử dụng nhiều trong thành
lập bản đồ địa hình
ảnh hồng ngoại Ảnh hình thành ở dải
phổ hồng ngoại (3,0 – 1 000 μm) nhờ sự
phát xạ nhiệt của đối tượng Ảnh hồng
ngoại phản ánh sự tương phản nhiệt (phát
xạ) trong đó những đối tượng có nhiệt độ
cao hơn được thể hiện bằng sắc ảnh sáng
hơn và những đối tượng có nhiệt độ thấp
hơn được thể hiện bằng sắc ảnh sẫm hơn
Ảnh hồng ngoại thu được nhờ hệ thống
thiết bị thu nhận sự tương phản về nhiệt và
chuyển thành hình ảnh có dạng như ảnh
chụp, song có ưu thế là ảnh hồng ngoại
có thể chụp vào bất kì lúc nào và trong mọi
điều kiện thời tiết Ảnh hồng ngoại có thể
là đen trắng, màu và lập thể Phim dùng để
chụp ảnh hồng ngoại có lớp nhũ tương X
ganines Khi chụp, thường dùng kính lọc
đỏ sẫm hoặc kính thuỷ tinh mangan màu
đen để lọc các bức xạ nhìn thấy được Ảnh
hồng ngoại có giá trị đặc biệt để phát hiện
những vùng cây trồng hoặc rừng bị sâu
bệnh, phát hiện dị thường nhiệt, hoạt động
của núi lửa, những kiến trúc dị thường
(như chứa dầu khí), để thành lập bản đồ
trường nhiệt và dòng chảy trên biển, nhiệt
độ của đất, các hiện tượng nước trồi cũng
như ô nhiễm nước và không khí Trong
lĩnh vực sinh học: nhờ khả năng xuyên qua
các vật thể, ảnh hồng ngoại xác định được
hệ thống tĩnh mạch chìm, thấy các vết sẹo
cũ đã bị mờ, phát hiện được một số bệnh
ngoài da đang hình thành Trong công tác
an ninh: ảnh hồng ngoại chụp tài liệu qua
một phong bì dán kín, nhằm phát hiện
những dấu vết để lại trên phong bì, hoặc
các thông báo bằng mật mã dấu dưới con
tem đã dán mà không cần bóc tem ra
hoặc phát hiện các chữ kí đã có lớp sơn
phủ lên, một bức tranh bị phủ một lớp sơn
hay các vết tẩy xoá, thêm bớt trong công
văn tài liệu Cũng có thể ứng dụng trong công tác nghiên cứu, quan sát các hình thái nguỵ trang trong chiến tranh
ảnh IKONOS Ảnh vệ tinh quang học
của hãng Space Imaging (Hoa Kì) Vệ tinh IKONOS được phóng lên quỹ đạo vào ngày 24/9/1999 Đây là vệ tinh thế hệ mới đầu tiên có khả năng chụp các ảnh với độ phân giải cao Ảnh IKONOS được thương mại hoá vào năm 2000, quá trình chụp và
xử lí ảnh được ứng dụng những công nghệ hiện đại nhất Độ phân giải của ảnh
có ở nhiều mức độ khác nhau: 1m, 4m, 5m Ảnh IKONOS có ảnh màu và ảnh đen trắng, ảnh toàn sắc độ phân giải 1mvà ảnh
đa phổ độ phân giải là 4m Ảnh IKONOS được phân chia thành các loại ảnh khác nhau theo mức độ định vị, nắn ảnh, thời điểm chụp ảnh và độ phân giải của ảnh
Về kĩ thuật, ảnh IKONOS hoàn toàn có thể
sử dụng thay thế cho ảnh hàng khôngtrong việc hiện chỉnh bản đồ, quản lí cơ sở
hạ tầng, giao thông, quy hoạch ở các vùng ngoại thành Về kinh tế, sử dụng ảnh
vệ tinh IKONOS có giá thành thấp hơn hẳn phương pháp sử dụng ảnh hàng không, thời gian thu thập và xử lí dữ liệu ảnh IKONOS lại ngắn hơn rất nhiều Có thể đặt hàng các bức ảnh theo từng khu vực
ảnh Landsat Ảnh được chụp từ vệ tinh
nghiên cứu Trái Đất ERTS-1 (Earth Reosourcer Technology Satellite) được Hoa Kì phóng lên quỹ đạo Trái Đất vào năm 1972 Sau đó, vệ tinh này đổi tên là Landsat 1, các vệ tinh thế hệ mới hơn làLandsat 2, Landsat 3, Landsat 4 và Landsat 5 Vệ tinh ERTS-1 mang theo bộ cảm MSS (máy quét đa phổ) với bốn kênh phổ khác nhau và bộ cảm RBV (Return Beam Vidicon) với ba kênh phổ khác nhau Ngoài Landsat 2, Landsat 3 còn có các vệ tinh khác như SKYLAB (1973) và HCMM (1978) Từ 1982 là các ảnh chuyên đề được thực hiện trên các các vệ tinh Landsat TM 4 và Landsat TM 5 với 7 kênh phổ khác nhau từ dải sóng nhìn thấy đến
Trang 13hồng ngoại nhiệt cho phép nghiên cứu Trái
Đất từ nhiều dải phổ khác nhau Hiện nay,
ngoại; 2) Đo khoảng cách giữa bộ cảm và
đối tượng; 3) Có thể triển khai hệ thống
quét và chụp ảnh; 4) Có khả năng đo/ghi
lại những tín hiệu phản hồi rời rạc, hệ
thống hiện đại hơn có thể đo/ghi lại toàn
bộ các dạng sóng từ tín hiệu phản hồi Ảnh
LiDAR sử dụng phổ biến trong thu thập
thông tin về mô hình số độ cao (DEM) và
cũng có thể sử dụng để đo chiều cao và
cấu trúc thảm thực vật Xử lí ảnh LiDAR
cần có những phần mềm chuyên biệt, khác
với các phần mềm xử lí ảnh viễn thám
quang học Hiện nay, công nghệ LiDAR
đang bước đầu được nghiên và ứng dụng
trong công tác đo đạc và bản đồ tại Việt
Nam (A: Light Detection And Ranging)
ảnh LISS Ảnh chụp từ các vệ tinh IRS
của Ấn Độ thuộc nhiều hệ khác nhau
ảnh mẫu đoán đọc Hình ảnh điển hình
của một khu đo nào đó đã được khảo sát
và điều vẽ ngoài trời mà với một độ tin cậy
nhất định nó phản ánh toàn bộ hình ảnh
địa vật trên ảnh trong điều kiện chụp ảnh
xác định Mẫu đoán đọc thường được
thành lập từ các cặp ảnh lập thể Theo nội
dung, ảnh mẫu chia ra ảnh mẫu chuyên đề
và ảnh mẫu tổng hợp; theo công dụng,
chia ra ảnh mẫu dùng chung và ảnh mẫu
dùng riêng
ảnh MOS-1 Một loại ảnh vệ tinh của
Nhật phục vụ cho quan sát biển phóng lên
quỹ đạo từ tháng 2/1987, MOS -1b phóng
lên quỹ đạo tháng 2/1990 (A: Marine
Orsetvation Satellite)
ảnh nằm ngang (cg ảnh lí tưởng),
ảnh đo được chụp với điều kiện lí tưởng khi các góc nghiêng của tia sáng chính, góc phương vị của trục chụp và góc xoay của ảnh đều có giá trị bằng 0o
ảnh nắn Ảnh đã được đưa về dạng ảnh
nằm ngang bằng phép nắn, trong đó sai số
do góc nghiêng của ảnh đã được loại trừ
và sai số do chênh cao địa hình gây ra đã được làm giảm đến giới hạn cho phép Trong ảnh nắn trực giao (Ortho) thì sai số
do chênh cao địa hình được loại trừ
ảnh nổi Ảnh chụp bằng máy ảnh chuyên
dụng, có hai ống kính, ghi lại thành hai dương bản lệch pha Dùng kính xem ảnh nổi thì hai hình ảnh ấy chập lại, tạo ra một cảm giác về không gian ba chiều Một bức ảnh nổi chụp tốt làm cho người xem tưởng như đứng trước cảnh thực Nguyên tắc này được áp dụng trong đo vẽ địa hình bằng ảnh lập thể (A: stereophotograph)
ảnh nửa tông Ảnh của người, vật, thiên nhiên tông đen trắng, tông màu, thu nhận được qua máy chụp ảnh, thể hiện trên giấy hoặc phim có độ chênh lệch tầng thứ giữa đen và trắng, đậm và nhạt, tối và sáng, chuyển tiếp không có ranh giới
ảnh nghiêng Ảnh đo được chụp với các giá trị bất kì của các nguyên tố định hướng ngoài của ảnh
ảnh nhị phân Tập hợp các bit được lưu giữ trong bộ nhớ máy tính, được bố trí thành một ma trận chữ nhật để biểu diễn các ảnh thật Màn hình máy tính là một dạng ảnh nhị phân mà người sử dụng nhìn thấy được
ảnh quang học Ảnh thu được nhờ tác
động của hệ thống quang học lên các tia sáng do đối tượng chụp ảnh phát ra hoặc phản xạ Ảnh quang học tái tạo hình và các chi tiết của đối tượng với độ chính xác không cao (do quang sai của các hệ thống quang học) Có hai loại ảnh quang học: ảnh thực và ảnh ảo: 1) Ảnh thực: ảnh
Trang 14ngược A’B’ của vật AB tạo thành do thấu
kính L (F là tiêu điểm của thấu kính), ảnh
có thể hứng trên màn, do chùm sáng hội tụ
tạo thành ; 2) Ảnh ảo: ảnh A’B’ của vật AB
tạo thành do thấu kính L, ảnh không thể
hứng trên màn, nhưng có thể nhìn thấy
kính L; F –tiêu điểm;
b – Ảnh ảo A’B’ của vật AB tạo thành do thấu kính L
ảnh quét Ảnh thu được bằng hệ thống
quét đặt trên máy bay hoặc vệ tinh, trong
đó hình ảnh được tạo thành bởi tập hợp
các điểm ảnh (phần tử ảnh) tuần tự thu
được sau quá trình truyền tín hiệu từ bộ
phận quét (gương dao động) sang bộ phận
thu quang điện theo từng dòng vuông góc
với hướng chuyển động của vệ tinh hoặc
máy bay rồi chuyển thành tín hiệu truyền
xuống trạm thu mặt đất và được ghi lại
dưới dạng ảnh hoặc trên băng từ Ảnh
quét có dạng một dải liên tục do nhiều
dòng hợp thành Ảnh Landsat và ảnh Spot
đều là ảnh quét Ảnh quét thường có độ
phân giải kém ảnh chụp Bằng phương
pháp quét có khả năng thu nhận được ảnh
nhanh và ở dạng số, tạo điều kiện thuận
lợi cho khâu xử lí bằng phương pháp số
ảnh QuickBird Ảnh vệ tinh độ phân giải
cao do hãng Global (Hoa Kì) cung cấp
Ảnh QuickBird có ảnh toàn sắc độ phân
giải từ 0,21 – 1 m và ảnh đa phổ độ phân
giải từ 2,44 - 4 m
ảnh rađa Ảnh được tạo ra bởi việc thu
nhận các bước sóng siêu cao tần (bước
sóng lớn hơn 2 cm) Viễn thám rađa tích
cực thu nhận ảnh bằng việc phát sóng dài siêu tần và thu tia phản hồi cho phép thực hiện các nghiên cứu độc lập không phụ thuộc vào thời tiết Sóng rađa có khả năng xuyên qua mây, lớp đất mỏng và là nguồn sóng nhân tạo nên có thể hoạt động cả ngày và đêm, không phụ thuộc vào năng
photograph)
ánh sáng Sóng điện từ trong khoảng
tần số mà mắt người nhận biết được, có bước sóng từ 0,74 m (ánh sáng đỏ) đến 0,40 m (ánh sáng tím) Theo nghĩa rộng, ánh sáng là bức xạ quang học (bao gồm
cả phần bức xạ hồng ngoại và tử ngoại) Những tính chất quan trọng của ánh sáng
là phản xạ, khúc xạ, giao thoa và phân cực Ánh sáng lan truyền trong chân không vào khoảng 300 000 km/s Trong ngành điện ảnh và nhiếp ảnh, ánh sáng được phân biệt: ánh sáng nội là ánh sáng được phát ra và chiếu bởi các loại đèn; ánh sáng ngoại là ánh sáng Mặt Trời Ngoài ra, có ánh sáng chủ, ánh sáng phụ, ánh sáng ngược, ánh sáng ven là những loại ánh sáng được tạo nên nhằm đáp ứng nội dung nghệ thuật của bộ phim, của bức ảnh xuất phát từ sự quan sát thực tiễn với không gian chân thực
ánh sáng ban ngày nhân tạo Ánh sáng
tạo bởi nguồn phát sáng nhân tạo mà chúng được phân bố gần đúng theo quang phổ của ánh sáng tự nhiên ban ngày với tương quan về sắc độ
ánh sáng đơn sắc Các dao động sáng
có cùng một tần số, do đó có cùng một màu sắc Có thể thu được ánh sáng gần với ánh sáng đơn sắc bằng cách tách riêng
từ phổ ánh sáng ra một vạch phổ hoặc một dải phổ hẹp nhờ các máy đơn sắc, bộ lọc sắc Thực tế, không có ánh sáng hoàn toàn đơn sắc mà chỉ có thể tạo được ánh sáng có bước sóng nằm trong một khoảng nhỏ từ + đến - ; càng nhỏ thì ánh sáng càng gần với ánh sáng đơn sắc
Trang 15Ánh sáng đơn sắc có thể được phát ra bởi
laze, điôt phát quang, máy đơn sắc
ánh sáng hoàng đạo Sự phát sáng của
bầu trời ban đêm do bụi trong không gian
giữa các hành tinh khuếch tán bức xạ Mặt
Trời Có thể thấy lúc hoàng hôn ở phía Tây
hoặc lúc bình minh ở phía Đông
ánh sáng màu Ánh sáng có bước sóng
0,74 – 0,40 m, từ ánh sáng tím qua các
màu lam, lục, vàng, da cam đến đỏ Dưới
ánh sáng tím là tia cực tím, trên ánh sáng
đỏ là tia hồng ngoại, mắt người không nhìn
thấy được nhưng các loại phim kĩ thuật
hoặc các bộ cảm đa phổ có thể ghi nhận
được
ánh sáng ngược Ánh sáng có hướng
chiếu trực tiếp vào phía ống kính của máy
chụp, tạo nên sự tương phản quan trọng,
vì những chi tiết của đối tượng (đối diện
với ống kính) đều nằm trong bóng tối Ánh
sáng ngược làm cho hình ảnh của đối
tượng nổi bật trên các lớp cảnh của thiên
nhiên, nổi bật trên nền trời với đường viền
sắc nét
ánh sáng nhân tạo Ánh sáng do con
người tạo nên từ ngọn nến, đèn dầu, lửa
đốt, đèn điện, đèn chớp điện tử Sử dụng
nguồn sáng nhân tạo cho phép khống chế
được cường độ, tính chất, thành phần
quang phổ của nó Nguồn sáng nhân tạo
mang đặc tính khác với nguồn sáng tự
nhiên ở chỗ: thành phần quang phổ hay
nhiệt độ màu trong từng loại nguồn sáng
đa dạng hơn Trừ đèn chớp điện tử, các
nguồn sáng nhân tạo khác có nhiệt độ màu
từ 1 853oK đến 20 000oK Cường độ ánh
sáng nhân tạo có từ 1 lux đến hàng triệu
lux Chụp ảnh với ánh sáng nhân tạo, có
thể chủ động tạo nên góc chiếu thích hợp
ánh sáng tự nhiên (cg ánh sáng Mặt
Trời), ánh sáng có cường độ và nhiệt độ
màu cao Ánh sáng Mặt Trời khi đi qua lớp
khí quyển bị thay đổi khá nhiều theo mùa
hoặc theo vị trí địa lí Thành phần các tia
sáng đơn sắc của ánh sáng Mặt Trời cũng thay đổi theo từng thời điểm Sự biến đổi
về cường độ ánh sáng cũng như thành phần các tia màu, quang phổ của nguồn sáng có ảnh hưởng lớn đến quá trình chụp ảnh, đặc biệt là ảnh màu, phim màu phụ thuộc rất lớn đến chất lượng quang phổ của nguồn ánh sáng tự nhiên
ánh sáng trắng Tập hợp các bức xạ điện
từ gây cho mắt người bình thường một cảm giác về màu sắc như ánh sáng Mặt Trời Ánh sáng do vật rắn hoặc chất lỏng phát ra khi được nung nóng đến nhiệt độ cao gần đúng là sánh sáng trắng Hỗn hợp hai hoặc ba bức xạ đơn sắc thích hợp theo một tỉ lệ thích hợp cũng gây được cảm giác về ánh sáng trắng
ánh sáng xuôi Hướng ánh sáng chiếu lên đối tượng đồng đều, không rõ phần sáng và phần tối Độ tương phản kém, làm mất hình khối Các lớp cảnh khác nhau từ tiền cảnh đến chân trời khó phân biệt Không nên dùng phim đen trắng chụp loại ánh sáng này, nhưng có thể dùng phim màu đảo dương chụp một số đối tượng có nhiều màu rực rỡ Trong trường hợp này,
độ tương phản màu thay thế cho độ tương phản ánh sáng
ảnh số Dạng tư liệu ảnh không lưu trên
giấy ảnh hoặc phim mà được lưu trên băng từ, đĩa từ hoặc các thiết bị nhớ khác Ảnh số được chia thành nhiều phần tử nhỏ được gọi là pixel, mỗi pixel tương ứng với một đơn vị không gian Quá trình chia mỗi ảnh tương tự thành các pixel được gọi là chia mẫu và quá trình chia các độ xám liên tục thành một số nguyên hữu hạn gọi là lượng tử hoá Các pixel thường có dạng hình vuông Mỗi pixel được xác định bằng toạ độ hàng và cột Hệ toạ độ ảnh thường
có điểm 0 ở góc bên trái và tăng dần từ trái sang phải đối với toạ độ cột và từ trên xuống đối với chỉ số hàng Trong trường hợp chia mẫu một ảnh tương tự thành một ảnh số thì độ lớn của pixel hay tần số chia
Trang 16mẫu phải được chọn tối ưu Độ lớn của
pixel quá lớn thì chất lượng ảnh sẽ xấu,
nếu pixel quá nhỏ thì dung lượng thông tin
lại quá lớn Ảnh số được ghi lại theo
những giải phổ khác nhau nên còn lại là tư
liệu đa phổ (A: digital image)
ảnh SPOT Ảnh vệ tinh của Pháp Hiện
nay, ảnh SPOT-5 có độ phân giải cao từ
2,5m đến 10 m được sử dụng khá rộng rãi
Kích thước của mỗi cảnh ảnh là 60 km x
60 km Hiện nay, ảnh SPOT-5 có nhiều
loại ảnh khác nhau: ảnh màu đa phổ độ
phân giải 10 m, ảnh đen trắng độ phân giải
5 m, ảnh đen trắng super-mode độ phân
giải 2,5 m Ảnh SPOT thường được sử
dụng để hiện chỉnh bản đồ địa hình
ảnh tổng hợp màu Sự mã hoá bằng
màu sắc các khác biệt về phổ của đối
tượng trên ảnh vệ tinh Đối với phổ chụp ở
vùng hồng ngoại, ảnh tổng hợp màu chỉ
cho màu giả không có thực trong tự nhiên
Ảnh tổng hợp màu là tư liệu tốt cho việc
giải đoán bằng mắt
ảnh tương tự Ảnh chụp thu được từ các
bộ cảm dùng phim trên cơ sở của lớp cảm
quang halôgien bạc Ảnh tương tự có độ
phân giải không gian cao nhưng kém về độ
phân giải phổ, đồng thời độ méo hình lớn
do ảnh hưởng của độ cong bề mặt Trái
Đất
ảnh vệ tinh Ảnh chụp bề mặt Trái Đất từ
các vệ tinh với độ cao khoảng 350 - 830
km Các thiết bị chụp có thể là máy ảnh đa
phổ, máy quét đa phổ, rađa, viđeo truyền
hình Vì vệ tinh bay thường xuyên vòng
quanh Trái Đất, nên ảnh vệ tinh có thể
cung cấp những thông tin về sự biến đổi
bề mặt Trái Đất qua các mùa hoặc các
năm Hiện nay, những tấm ảnh vệ tinh thu
được có độ phân giải đạt được từ 80 m
đến 0,2 m Với độ phân giải ngày càng
cao, ảnh vệ tinh có thể thay thế ảnh hàng
không trong việc cập nhật bản đồ hiện
trạng, xây dựng các bản đồ chuyên đề,
hiện chỉnh bản dồ địa hình Ngoài ra, ảnh
vệ tinh độ phân giải cao có một ưu điểm nổi bật so với ảnh hàng không là thời gian đặt chụp ảnh nhanh, kho tư liệu ảnh lịch
sử phong phú… Hiện tại, các loại ảnh vệ tinh có độ phân giải cao bao gồm: ẢnhIkonos độ phân giải 1m Ảnh QuickBird độ phân giải 0,2 m Ảnh SPOT độ phân giải 5
m hay 2,5 m , ảnh RadarSAR độ phân giải cao từ 1-3 m (ảnh Terra-X của châu Âu và ảnh ALOS của Nhật) Điều này sẽ mở ra khả năng ứng dụng ảnh SAR cho bản đồ tỉ
lệ lớn và các ứng dụng đòi hỏi độ chính xác cao Ảnh vệ tinh có loại chuyên dùng
để dự báo thời tiết như ảnh Meteo của Liên Xô (cũ); Iros - Noaa, Meteosat của Hoa Kì; có loại chuyên để nghiên cứu biển như Seasat (Hoa Kì) Vệ tinh SPOT cung cấp những cặp ảnh lập thể giúp nhìn rõ địa hình Phương pháp viễn thám sử dụng kĩ thuật tổng hợp màu để giải đoán bằng mắt hoặc dùng máy vi tính để xử lí ảnh vũ trụ với mục đích nghiên cứu tự nhiên như cấu trúc địa chất, sự thay đổi thảm thực vật, dự báo mùa màng, sự biến đổi của môitrường địa lí, ô nhiễm môi trường, lập bản
đồ tỉ lệ nhỏ Ở Việt Nam, các lĩnh vực sử dụng nhiều ảnh vệ tinh là nông nghiệp, lâm nghiệp, địa chất, đo đạc và bản đồ, địa lí Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa vào sử dụng trạm thu ảnh vệ tinh tại
Hà Nội Trạm được trang bị 3 hệ thống bao gồm trạm thu các loại ảnh của Pháp và 2 loại ảnh vũ trụ châu Âu Việc xây dựng thành công trạm thu ảnh vệ tinh mang lại hiệu quả kinh tế lớn, tạo được sự chủ động của Việt Nam trong nghiên cứu so với giải pháp phải mua ảnh như trước đây (A: satellite image)
ảnh vệ tinh độ phân giải cao Ảnh vệ
tinh có độ phân giải nhỏ hơn 10m Các loại ảnh vệ tinh thường dùng hiện nay là: QuickBird, ảnh toàn sắc có độ phân giải từ 0,2-1 m, ảnh đa phổ có độ phân giải 2,44-4m; Corona (độ phân giải 5 m); Ikonos, ảnh đơn kênh có độ phân giải 1m, ảnh đa phổ (4 kênh) độ phân giải 4m, thường dùng để
Trang 17hiện chỉnh bản đồ địa hình tỉ lệ trung bình
và lớn
ảnh vệ tinh độ phân giải thấp Ảnh vệ
tinh có độ phân giải lớn hơn 100 m Các
loại ảnh vệ tinh thường dùng hiện nay là:
MODIS (độ phân giải 500 m), SPOT
Vegetation
ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình
Ảnh vệ tinh có độ phân giải từ 15 đến 100
m Các loại ảnh vệ tinh thường dùng hiện
nay là: Landsat TM/ETM (độ phân giải 30
m): bao gồm 7 kênh phổ, thường dùng để
loại ảnh chụp Trái Đất từ các thiết bị trên
máy bay hoặc vệ tinh Ảnh viễn thám bao
gồm các loại sau: 1) Ảnh quang học: ảnh
được tạo ra bởi việc thu nhận các bước
sóng ánh sáng nhìn thấy (bước sóng
0,4-0,76 m); 2) Ảnh hồng ngoại: ảnh được
tạo ra bởi việc thu nhận các bước sóng
hồng ngoại phát ra từ vật thể (bước sóng
8-14 m); 3) Ảnh rađa: ảnh được tạo ra
bởi việc thu nhận các bước sóng trong dải
sóng siêu cao tần (bước sóng lớn hơn 2
cm); 4) Ảnh thu được bằng sóng địa chấn
Ảnh viễn thám có thể được lưu theo các
kênh ảnh đơn (trắng đen) ở dạng số trong
máy tính hoặc các kênh ảnh được tổ hợp
(ảnh màu) hoặc có thể in ra giấy, tùy theo
mục đích người sử dụng
ảo ảnh Hiện tượng quang học gây ra bởi
sự phản xạ toàn phần của các tia sáng khi
đi qua các lớp khí quyển ở gần mặt đất có
chiết suất khác nhau; thường gặp ở sa
mạc, xuất hiện ở chân trời, có thể là hình
ảnh bị biến dạng của một phần bầu trời
hoặc của người, vật
áp dụng tiêu chuẩn Việc sử dụng tiêu
chuẩn trong công việc sản xuất, kinh
doanh Có hai cách áp dụng tiêu chuẩn: 1)
Áp dụng trực tiếp, là sử dụng tiêu chuẩn trong sản xuất, kinh doanh; 2) Áp dụng gián tiếp, là áp dụng tiêu chuẩn thông qua một tiêu chuẩn hay tài lài liệu khác
áp kế Dụng cụ dùng để đo áp suất chất lỏng hoặc không khí Căn cứ vào kết cấu
độ nhạy người ta chia áp kế ra các loại: lỏng, kim loại, píttông, biến dạng và lò xo
Có áp kế tuyệt đối dùng để đo áp suất tuyệt đối, áp kế tương đối dùng để đo hiệu giữa áp suất trong một hệ thống nào đó với áp suất khí quyển Trong trắc địa có áp-nhiệt kế dùng để đo áp suất, nhiệt độ
và độ ẩm, từ đó tính ra được độ cao của điểm đặt máy
ASCII Bộ mã chuẩn 7 bit của Hoa Kì
dùng để trao đổi thông tin giữa các thiết bị
xử lí và truyền thông tin, trong đó mỗi kí tự
đồ hoạ và điều khiển ứng với một mã nhịphân duy nhất Bảng mã ASCII chuẩn định nghĩa 128 kí tự (từ 0 đến 127) Trong đó
32 kí tự đầu tiên là kí tự điều khiển và 96 kí
tự sau thể hiện các kí tự in được Bảng mã ASCII chuẩn bổ sung thêm 128 kí tự được gọi là bảng mã ASCII mở rộng, bảng mã này phụ thuộc hệ nền Có 2 bảng mã ASCII mở rộng phổ biến là: 1) OEM : dùng nhiều cho máy PC trước khi nạp hệ điều hành hay dùng với hệ điều hành MS-DOS Bảng này bao gồm nhiều kí tự kẻ khung, thường được định nghĩa là để dùng tùy quốc gia; 2) ANSI : chuẩn cho các hệ thống như Windows, vài hệ thống Unix và nhiều ứng dụng khác Bob Bemer là người phát triển hệ thống mã hoá ASCII vào những năm 1950 - 1960 (A American
Interchange)
Atlas Server Một giải pháp client - server
cho phép quản lí, phân tích, cập nhật, phân phối thông tin bản đồ và GIS trên mạng LAN, WAN, Internet Giảm thiểu chi phí đầu tư phần mềm, phần cứng cho người dùng cuối; giao diện thân thiện, đơn
Trang 18giản phù hợp với nhiều người dùng Atlas
Server thích hợp với các cơ sở dữ liệu bản
đồ, GIS từ rất nhỏ cho đến rất lớn, có khả
năng tuỳ biến cao, phù hợp với nhiều loại
hình tổ chức Các tính năng của Atlas
Server: 1) Cho phép quản lí nhiều bản đồ;
2) Cho phép chọn lọc, tìm kiếm thông tin;
3) Cho phép cập nhật thông tin; 4) Quản lí
biểu đồ; 5) Quản trị hệ thống; 6) Quản lí
bản đồ, chương bản đồ; 7) In ấn; 8) Tích
hợp Multimedia và Atlas Server
atlat (cg tập bản đồ), một tập hợp có hệ
thống hoàn chỉnh các bản đồ có liên quan
hữu cơ với nhau, chỉnh hợp và bổ sung
cho nhau, được xây dựng theo một đề
cương chung, hợp thành một thể thống
nhất Từ "Atlat" xuất hiện lần đầu tiên trên
bìa tập bản đồ của Mecato (1512 - 94)
Atlat rất đa dạng: atlat tổng hợp, atlat quốc
gia, atlat khu vực; theo nội dung (atlat địa lí
phổ thông, atlat địa lí tự nhiên, atlat kinh tế
- xã hội, atlat chuyên ngành ); theo mục
đích sử dụng (atlat giáo khoa, atlat du lịch,
atlat tra cứu khoa học ) Atlat đầu tiên
trên thế giới do nhà toán học, thiên văn
học, địa lí học người Hi Lạp Ptôlêmê thành
lập vào thế kỉ 2 Trên bìa của những tập
bản đồ xuất bản lần đầu tiên có vẽ tượng
thần Atlat vác quả địa cầu trên vai (Trong
thần thoại Hi lạp, Atlat là con của thần
Titang Đapê và là anh em ruột với thần
Ptôlêmê, người đã đem ngọn lửa cho loài
người Do thần Atlat chống lại Dơt, vị thần
chúa tể thế giới, nên đã bị trừng trị phải giơ
vai gánh đỡ cả bầu trời) Tất cả các tập
bản đồ in sau này tuy bìa không vẽ tượng
thần Atlat nữa, nhưng theo thói quen,
người ta vẫn gọi chung là Atlat (kể cả một
số tập tranh ảnh của các môn khoa học
khác như Sinh học, Cơ khí ) Atlat được
nhiều quốc gia xuất bản với nhiều chủ đề
khác nhau Tại Anh, đã xuất bản atlat với
kích thước 60cm x 47cm, nặng 30 kg, bao
gồm 154 bản đồ lớn, nhỏ kèm theo 800
bức ảnh Phía dưới mỗi bức tranh là
những dòng miêu tả khá chi tiết về địa lí,
văn hóa và lịch sử của các quốc gia gắn liền với những địa danh và các sự kiện văn hóa đó Hiện trên thế giới có khoảng 3000 bản sao tập atlat này được bày bán trong các phòng trưng bày Atlat đầu tiên ở Việt
Nam là tập Hồng Đức đồ bản (1490) Xt
tập bản đồ.
atlat ảo Một tập hợp có hệ thống hoàn
chỉnh các bản đồ được thành lập bằng công nghệ số và sử dụng ở dạng số hoặc trên màn hình Cùng với sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin, việc xây dựng và sử dụng atlat ảo ngày càng trở nên phổ biến vì tính phong phú và tính năng tiện dụng khi sử dụng bản đồ Ngoài việc sử dụng để đọc các bản đồ như tập bản đồ in trên giấy, atlat ảo còn cho phép
đo khoảng cách trên bản đồ, tra cứu cứu thông tin dưới dạng đa phương tiện (A:
virtual atlas) Xt atlat điện tử
atlat địa lí Tập hợp các bản đồ mang
tính hệ thống, được xây dựng theo một đề cương thống nhất, được in ra dưới dạng sách hoặc các tờ rời Sự thống nhất bên trong của atlat được đảm bảo bởi sự đối ứng, bổ trợ lẫn nhau, có sự liên hệ giữa các trang bản đồ và các chương, có sự lựa chọn hợp lí về lưới chiếu và tỉ lệ bản đồ (với số lượng không nhiều), có sự quy định thống nhất về tổng quát hóa bản đồ, phù hợp với hệ thống kí hiệu biểu thị và sự thiết kế thống nhất Atlat được phân biệt theo: sự bao quát không gian (atlat hành tinh, thế giới, châu lục, đại dương, nhóm quốc gia, quốc gia, đơn vị hành chính, vùng, thành phố ); theo nội dung (chung, chuyên đề, vd: atlat địa lí tự nhiên, atlat kinh tế, atlat phức hợp); theo ý nghĩa (nghiên cứu khoa học, địa phương, giáo khoa, phổ thông trung học, quân sự, du lịch, giao thông ); về kích thước (lớn, để bàn, sách, nhỏ, bỏ túi); về phương pháp thành lập (truyền thống, máy tính, in ra giấy hoặc atlat điện tử)
Trang 19atlat điện tử Một tập hợp có hệ thống
hoàn chỉnh các bản đồ được thành lập và
sử dụng bằng công nghệ số, có liên quan
hữu cơ với nhau, chỉnh hợp và bổ sung
cho nhau, được xây dựng theo một đề
cương chung, hợp thành một thể thống
nhất Các bản đồ được trực quan hoá và
sử dụng trên màn hình, tiếp cận GIS và sử
dụng kĩ thuật đa phương tiện, có khả năng
phân tích và truy xuất dữ liệu không gian
Atlat điện tử có thể được biên tập để phát
hành trên đĩa CD-ROM, DVD-ROM hoặc
trên mạng Internet Các chức năng tương
đối phổ biến của atlat điện tử bao gồm: 1)
Cho phép hiển thị theo từng chuyên đề,
theo các lớp đối tượng; 2) Cho phép phóng
to, thu nhỏ bản đồ và di chuyển hình ảnh
bản đồ trên màn hình; 3) Cho phép đo, tính
trên bản đồ: tọa độ, khoảng cách, phương
hướng, diện tích, khối lượng ; 4) Cho
phép thực hiện một số phép chuyển đổi; 5)
Cho phép xuất các bản đồ sang dạng khác
hoặc in ra giấy Một số loại atlat điện tử
còn có thêm một số chức năng tương tác
ở mức cao hơn như: 1) Hiển thị các thông
tin thuộc tính của đối tượng đồ họa; 2) Tìm
kiếm các đối tượng theo dấu hiệu nào đó
Hiện nay, atlat điện tử được nhiều quốc
gia xây dựng và phát hành vì những tính
năng tiện lợi của atlat và dễ dàng phổ biến
thông qua đĩa CD-ROM, mạng Internet
Hàng năm, hãng Microsof đều phát hành
bộ đĩa CD-ROM (hoặc DVD-ROM) Encata,
trong đó có hệ thống bản đồ điện tử rất đa
dạng và phong phú của toàn thế giới cũng
như các khu vực, quốc gia Tại Việt Nam,
năm 1998, Dự án GIS quốc gia thuộc Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường (cũ)
đã phối hợp với Tổng cục Du lịch phát
hành đĩa CD-ROM "Atlas tài nguyên và
môi trường Việt Nam" Sau đó, đã có nhiều
sản phẩm atlas điện tử được xây dựng
như: atlas địa lí Việt Nam, atlas môi trường
vùng Đông Bắc Việt Nam, atlas nông
nghiệp Việt Nam, atlas tỉnh Đồng Nai, atlat
tỉnh Cao Bằng Hiện nay, atlat điện tử đã
được nhiều cơ quan, địa phương xây dựng (A: electronic atlas)
atlat giáo khoa X tập bản đồ giáo khoa.
atlat khu vực Loại atlat tổng hợp bao trùm một khu vực, từ các đơn vị hành chính trong phạm vi một nước (huyện, tỉnh, vùng kinh tế) đến các khu vực liên quốc gia (vd: Atlat hạ lưu sông Mêkông) Atlat khu vực đa dạng về mục đích sử dụng, tính chất và ý nghĩa giá trị (tuỳ thuộc vào đặc điểm khu vực; mục đích sử dụng, trình
độ phát triển) Atlat khu vực có thể đáp ứng nhiều mục đích hoặc nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó
Atlat quốc gia Việt Nam Một công trình
khoa học của rất nhiều lĩnh vực, được xuất bản năm 1996 Cuối năm 1980, khi tiến hành xây dựng kế hoạch 5 năm 1981-
1986, Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã đăng ký công trình nghiên cứu xây dựng Atlas quốc gia thành một chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước Chương trình Xây dựng Atlas quốc gia có mã số 48.03, do GS.TS Nguyễn Văn Chiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam làm chủ nhiệm Nhà nước
đã cử ra Ban chủ nhiệm để lãnh đạo thực hiện chương trình nghiên cứu quan trọng này Ban chủ nhiệm chương trình, Ban biên tập khoa học của Chương trình bao gồm các nhà khoa học từ 5 cơ quan nghiên cứu khoa học chủ chốt của Nhà nước và các viện nghiên cứu của 10 Bộ và các trường đại học tham gia Tổng số tác giả tham gia thành lập bản đồ cho Atlat quốc gia là 349 người Trong quá trình thực hiện, Nhà nước đã cho phép Chương trình mời chuyên gia Liên Xô (cũ) giúp đỡ
về những lĩnh vực khoa học mà Việt Namcòn thiếu cán bộ có kinh nghiệm Đã có 11 chuyên gia về địa lí và hải dương học tham gia thực hiện Chương trình này Chương trình khoa học 48.03 đã hoàn thành phần xây dựng các bản đồ tác giả của atlat vào
Trang 20năm 1986 Từ năm 1987 đến 1996, Cục
Đo đạc và Bản đồ Nhà nước, tiếp đó là
Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên
và Môi trường) đảm nhiệm phần biên tập,
quốc gia Việt Nam gồm 14 chương với 114
trang bản đồ, 49 trang thuyết minh và tra
cứu địa danh, thể hiện bằng ngôn ngữ Việt
và Anh, gồm các phần chủ yếu sau: 1)
Phần mở đầu: 9 trang, gồm các bản đồ:
Việt Nam nhìn từ vũ trụ, Việt Nam trên bản
đồ thế giới, Việt Nam và các nước lân cận,
Đại Nam nhất thống toàn đồ, Hành chính
Việt Nam, Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh; 2) Phần tự nhiên: 8 chương, trình
bày trên 55 trang Chương I: Địa chất - 13
bản đồ; Chương II: Địa hình - 7 bản đồ;
Chương III: Khí hậu - 7 bản đồ; Chương
IV: Thủy văn - 14 bản đồ; Chương V: Thổ
nhưỡng - 4 bản đồ; Chương VI: Thực vật
- 10 bản đồ; Chương VII: Động vật - 8 bản
đồ; Chương VIII: Biển Đông - 15 bản đồ; 3)
Phần kinh tế - xã hội: 6 chương, trình bày
trên 49 trang Chương IX: Dân cư - 8 bản
đồ; Chương X: Nông nghiệp - 10 bản đồ;
Chương XI: Công nghiệp - 9 bản đồ;
Chương XII: Vận tải, bưu điện, thương
nghiệp - 6 bản đồ; Chương XIII: Kinh tế
chung - 2 bản đồ; Chương XIV: Giáo dục,
văn hóa, y tế, du lịch - 7 bản đồ; 4) Phần
thuyết minh bản đồ: Tiếng Việt - 19 trang,
tiếng Anh - 19 trang
Đây là Atlat quốc gia có quy mô lớn và đầy
đủ nhất của Việt Nam, được đánh giá cao
về trình độ khoa học bản đồ của Việt Nam
Năm 2005, công trình Atlat quốc gia Việt
Nam đã được Nhà nước tặng giải thưởng
Hồ Chí Minh Trung tâm sách kỷ lục Việt
Nam đã đề xuất Atlas Quốc gia Việt Nam
là quyển sách có kích thước lớn nhất Việt
Nam
atmôtphe Đơn vị đo khí áp, tính bằng
áp suất gây ra bởi một cột thủy ngân cao 760mm, (có khối lượng riêng bằng 13,5951 g/cm3, ở nhiệt độ 0oC và tại nơi có gia tốc trọng trường bằng 980,665 cm/s2)
ăngten Bộ phận của hệ thống vô tuyến
mà từ đó sóng vô tuyến được phát vào khí quyển hoặc không gian (ăngten phát) hoặc nhờ nó thu được sóng vô tuyến (ăngten thu) Ăngten định hướng là ăngten phát hoặc thu năng lượng một cách có hiệu quả hơn từ một số hướng so với những hướng khác Ăngten mọi hướng phát hoặc thu tốt như nhau trong mọi hướng Trong hệ thống GPS, có thể phân làm 4 loại ăngten: ăngten đơn cực hoặc lưỡng cực; ăngten xoắn bốn dây hoặc lò xo ruột gà; ăngten băng chữ nhật; ăngten xoắn hình công hoặc lo xo hình nón Mọi ăngten của hệ GPS đều cần phải cực hoá theo vòng tròn
ăngten chủ động X ăngten định hướng.
ăngten định hướng (cg ăngten chủ
động), ăngten bức xạ hay thu năng lượng sóng vô tuyến theo một số hướng ưu tiên nhất định Tính định hướng có thể được thực hiện bằng bộ phản xạ (ăngten phản xạ) hoặc bộ hướng sóng (ăngten hướng sóng) Trong đo GPS, ăngten định hướng
sử dụng để khuếch đại tín hiệu trước khi truyền đến máy thu
ăngten tự thích ứng (cg ăngten thông
minh), ăngen có búp sóng hội tụ nhằm vào mục tiêu (vd: ăngten điện thoại trên xe ô tô) Ăngten có thể quay tự động để bám mục tiêu khi xe đang di động, cự lihoạt động xa hơn so với ăngten thường
ăngten thông minh X ăngten tự thích
ứng.
ăngten Yagi Giàn ăngten định hướng
sử dụng rộng rãi cho truyền hình và kính thiên văn vô tuyến Nó gồm một hoặc hai lưỡng cực, bộ phản xạ song song và một loạt các bộ định hướng có giãn cách nhau
từ 0,15 – 0,25 bước sóng ở phía trước
Trang 21lưỡng cực Khi sử dụng để thu, cấu trúc
này điều tiêu tín hiệu tới lên lưỡng cực Để
truyền, tín hiệu ra của lưỡng cực được
tăng cường bởi các bộ định hướng
Ăngten này được đặt theo tên của
Hidetsuga Yagi (1886-1976)
ăngten xoắn ốc bốn dây Mộtkiểu ăngten
của GPS gồm bốn dây hình xoắn trôn ốc
trên mặt thu sóng vô tuyến Khi dùng cho
máy thu GPS, ăngten xoắn ốc bốn dây
thường có kích thước bắng 1/2 hoặc 1/4
chiều dài bước sóng và được đặt trong
một hộp nhựa hình trụ để tăng độ bền
âm bản X bản âm.
âm học biển Môn học nghiên cứu sự
truyền các dao động âm trong nước biển
Ở đây, âm truyền nhanh hơn trong không
khí khoảng 4,4 lần Sự truyền âm này phụ
thuộc chủ yếu vào sự phân bố nhiệt độ, độ
muối, sự thay đổi áp suất, độ sâu của biển,
tính chất đất đáy biển, trạng thái mặt biển,
độ vẩn đục của nước do các tạp chất hữu
cơ, vô cơ hoà tan tạo ra Sự truyền âm
trong nước biển tuân theo các quy luật về
hấp thụ, tán xạ, khúc xạ Âm học biển có
nhiều ứng dụng quan trọng: các máy thuỷ
âm, đo sâu, thăm dò các lớp đất đáy biển,
các đàn cá, liên lạc dưới nước
ấn bản Tất cả những bản của một tác
phẩm được sản xuất và phát hành với
cùng một khuôn mẫu và do cùng một thực
thể
ấn hiệu nhà xuất bản Hình tượng nghệ
thuật có ghi tên, chữ đầu tên hoặc kí hiệu
tượng trưng của nhà xuất bản; là yếu tố
thuộc chi tiết xuất bản, trình bày sách, do
nhà xuất bản chọn Vị trí ấn hiệu NXB do
nhà xuất bản định cho từng cuốn sách ở
trên bìa, trang tít sách, áo bìa và trên gáy
sách Phần lớn các nhà xuất bản đều có
ấn hiệu để dễ nhận biết trên các xuất bản
phẩm do nhà xuất bản phát hành
ấn loát X in
ấn phẩm Sản phẩm của ngành in, được
chia thành nhiều loại: 1) Ấn phẩm là xuất bản phẩm bao gồm các loại như sách, báo, tạp chí (xuất bản định kì, nhiều kì, không định kì); ấn phẩm tờ rời như bản nhạc, bản đồ, tranh ảnh 2) Ấn phẩm không phải là xuất bản phẩm bao gồm các loại như nhãn hiệu, bao bì, mẫu biểu, tài liệu thống kê, thiếp mời, danh thiếp
ấn xuất Số lượng bản in thành phẩm
để sử dụng hoặc phát hành Đối với bản
đồ địa hình, ấn xuất hiện nay thường quy định từ 100 – 500 bản Đối với những bản
đồ có tính chất sử dụng rộng rãi như bản
đồ du lịch các thành phố lớn (Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh) hoặc bản đồ Việt Nam in trên khổ Ao, ấn xuất có thể tới hàng chục nghìn bản
Trang 22bạc brômua Tinh thể hình lập
phương màu vàng nhạt, biến thành màu
xám khi tiếp xúc với ánh sáng; khối lượng
riêng 6,453 g/cm3(ở 25oC); tnc= 424oC; ts
= 1 505oC Rất nhạy với ánh sáng, tia X
hoặc tia phóng xạ Hầu như không tan
trong nước (1,65.10–6 % ở 25oC) và trong
các axit loãng; ít tan trong dung dịch NH3
(0,4% trong dung dịch NH310% ở 20oC)
Điều chế từ dung dịch muối bromua của
kim loại kiềm Dùng tráng lớp trên phim
ảnh, giấy ảnh, chất xúc tác khi điều chế
axit béo
bạc clorua Tinh thể hình lập phương,
màu trắng; khối lượng riêng 5,56 g/cm3; tnc
= 455oC; ts = 1 550oC Không tan trong
nước và trong các axit loãng; tan nhiều
trong axit clohiđric đặc, sôi; dễ tan trong
dung dịch amoniac đặc, KCN, Na2S2O3
do xảy ra quá trình tạo phức Bị phân huỷ
dưới tác dụng của ánh sáng trở thành màu
đen; bị khử bởi chì (Pb), magie (Mg), kẽm
(Zn), thuỷ ngân (Hg), đồng (Cu) Điều chế
từ dung dịch có chứa ion Ag+và dung dịch
có chứa ion Cl– Được dùng nhiều trong công nghiệp làm phim ảnh, giấy ảnh
bài toán bản đồ bốn màu Bài toán bản
đồ bốn màu đặt vấn đề: cần ít nhất bao nhiêu màu để tô màu các quốc gia hoặc các khu vực lân cận có chung biên giới Đây là bài toán khó nổi tiếng đã hấp dẫn nhiều nhà toán học xuất sắc Bài toán bản
đồ bốn màu chính thức đặt ra vào năm
1852 do một học sinh của Trường đại học Luânđôn hỏi thầy giáo là giáo sư toán học Môngan Ông không giải được và đã thảo luận với các nhà toán học khác nhưng cũng không giải quyết được, do đó đã trở thành bài toán khó và lưu truyền cho đời sau Sau đó, đã có nhà toán học cho rằng: với bất kì một tấm bản đồ nào, chỉ cần dùng 4 màu là đủ Đến tháng 9 năm 1976
“Thông báo của hội toán học Hoa Kì” đã đưa ra một tuyên bố làm chấn động giới toán học toàn thế giới: hai giáo sư của Trường đại học Ilinôi là Abel và Hagan đã dùng máy tính điện tử chứng minh là bài toán bản đồ bốn màu là chính xác Họ đã xem xét bài toán bốn màu cho 2000 bản
B
Trang 23đồ đặc thù và đã dùng 1200 giờ máy tính
để chứng minh bài toán trên
bài toán bảy cái cầu Một bài toán cổ
trong lí thuyết đồ thị: một con sông chảy
qua thành phố Quênichxbec, giữa sông có
hai đảo Có bảy cái cầu nối hai bờ sông
với hai đảo và nối hai đảo với nhau Liệu
có thể xuất phát từ một điểm trong thành
phố rồi lại trở về điểm đó bằng cách đi qua
đủ bảy cái cầu và mỗi cái cầu chỉ được
phép đi qua một lần mà thôi hay không?
Năm 1736, Ơle đã chứng minh bài toán
này không có lời giải, tức là không tồn tại
bài toán đảo X bài toán ngược.
bài toán ngược (cg bài toán nghịch, bài
toán đảo, bài toán cơ bản thứ hai), bài
toán trắc địa điển hình, khi biết toạ độ (x1,
y1) của điểm thứ nhất và toạ độ (x2, y2) của
điểm thứ hai thì sẽ tính được góc định
hướng 12của đoạn thẳng d12 và khoảng
cách nằm ngang d12giữa hai điểm đó Bài
toán ngược thường sử dụng khi tính
những số liệu cần thiết để bố trí công trình,
định hướng phương tiện trong giao thông
vận tải Trong quân sự được sử dụng tính
các phần tử bắn của pháo binh, tên lửa;
định hướng trong hành quân, tìm kiếm
mục tiêu,
bài toán thuận (cg bài toán cơ bản thứ
nhất), bài toán trắc địa điển hình, khi biết
toạ độ (x1, y1) của điểm thứ nhất và
khoảng cách nằm ngang (d ) giữa điểm
đó với một điểm thứ hai, góc định hướng
12của đoạn thẳng d12thì sẽ tính được toạ
độ (x2, y2) của điểm thứ hai đó Bài toán thuận thường sử dụng khi tính toán toạ độ khống chế trắc địa Có hai trường hợp giải bài toán trắc địa thuận: giải trên mặt phẳng; giải trên mặt cầu
bản âm (cg âm bản, bản âm phim, ảnh
âm), ảnh chụp của một đối tượng, trong đó những chỗ trắng trên vật chụp sẽ có màu đen, còn những chố đen trên vật chụp sẽ
có màu trắng Bản âm thu trên phim có thể
in trên giấy ảnh thành bản dương với số lượng bất kì Màu của ảnh trên bản âm phim màu là màu phụ của màu tương ứng trên vật được chụp
bản âm phim X âm bản.
ban biên tập (cg bộ biên tập), 1 Tập thể lãnh đạo, quản lí các mặt hoạt động của tờ báo, hoặc tạp chí, hoặc nhà xuất bản ở Việt Nam
2 Tập thể những người thực hiện một số công việc phục vụ cho quá trình tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học, hoặc một đề án về nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn, do ban chủ nhiệm đề tài, hoặc ban chủ nhiệm đề án lập ra với các tên gọi như ban hoặc tổ biên tập Tập thể này có nhiệm vụ thu thập, chọn lọc, sắp xếp, chỉnh lí tài liệu, cùng với tác giả biên soạn thành những báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu trình hội đồng nghiệm thu hoặc trình cơ quan chủ quản xem xét
bản can Tài liệu, sách, văn hoá phẩm,
hình vẽ, bản đồ được thực hiện trên giấy can Cơ sở để lập bản can là bản gốc Từ bản can có thể in ra nhiều bản sao bằng những phương tiện kĩ thuật khác nhau
bàn đạc Tấm gỗ vuông có kích thước
thay đổi từ 35 × 35 cm đến 70 × 70 cm, dày 2 - 4 cm, dùng kết hợp với máy bàn đạc trong đo vẽ bản đồ ngoài thực địa Khi
đo vẽ, bàn đạc được vặn chặt vào một giá
Trang 24ba chân và có thể quay xung quanh trục
đứng
bàn độ Một bộ phận của máy kinh vĩ
có cấu tạo vành đĩa hình tròn bằng kim loại
hoặc thuỷ tinh, có khắc các vạch từ 0 đến
360o, dùng để đo góc Tuỳ theo độ chính
xác của máy kinh vĩ, vạch khắc trên bàn độ
có thể chia ra phút , độ hoặc grad Có bàn
độ nằm dùng để đo góc nằm ngang; bàn
độ đứng để đo góc nằm nghiêng
bản đồ Hình ảnh tổng quát của bề mặt
Trái Đất, các thiên thể hoặc không gian vũ
trụ trên mặt phẳng theo những quy tắc
toán học xác định, được thu nhỏ theo quy
ước và khái quát hoá để phản ánh sự
phân bố, trạng thái và những mối liên hệ
của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, xã
hội được chọn lọc và thể hiện bằng hệ
thống kí hiệu và màu sắc Có thể coi bản
đồ là mô hình kí hiệu tượng hình có tính
thông tin cao, có sự tương ứng không gian
– thời gian so với nguyên gốc, có tính bao
quát lớn và tính rõ ràng, có khả năng đo
đạc Vì vậy, bản đồ trở thành phương tiện
nhận thức quan trọng nhất về các khoa
học Trái Đất và các khoa học về kinh tế –
xã hội, dùng để phản ánh trực quan những
tri thức đã tích luỹ được cũng như để nhận
biết những tri thức mới Về tỉ lệ, có thể
đồ địa lí chung, bản đồ chuyên đề (trong
đó bao gồm: bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh
tế – xã hội, các bản đồ có sự tác động lẫn
nhau giữa tự nhiên và kinh tế – xã hội, bản
đồ chuyên môn Tất cả các thể loại bản đồ
trên là bản đồ giải tích, phức hợp hoặc
tổng hợp Theo sự chuyên môn hóa trong
thực tiễn, có thể phân biệt một số kiểu bản
đồ: bản đồ kiểm kê, phản ánh sự tồn tại và
phân bố của các đối tượng, hiện tượng;
bản đồ đánh giá, phản ánh đặc điểm phù
hợp của các đối tượng đối với một số kiểu
hoạt động kinh tế nào đó; bản đồ đề xuất, phản ánh sự bố trí các biện pháp được đề
ra để bảo vệ các điều kiện tự nhiên và sử dụng tối ưu tài nguyên; bản đồ dự báo, phản ánh sự báo trước mang tính khoa học về các hiện tượng mà hiện thời chưa
có hoặc chưa rõ ràng
Bản đồ cổ nhất thế giới mà đến nay còn biết có từ thiên niên kỷ 5 tCN Những bản
đồ cổ nhất làm nổi bật các quan hệ địa hình như sự quan hệ, sự gần kề và sự ngăn cách Sự phát triển lớn trong việc lập bản đồ diễn ra khi hình học ra đời, nó đã được sử dụng lần đầu tiên ở Babylon vào khoảng thế kỷ 23 tCN Bản đồ được khắc
ở thành phố thánh thần Nippur, trong thời
kỳ Kassite (thế kỷ 14 tCN – thế kỷ 12 tCN) trong lịch sử Babylon, đã được tìm thấy ở Nippur Người Ai Cập cổ đại sau này cũng
sử dụng hình học để đo đạc đất đai cũng như tái đo đạc nó sau những thời kỳ ngập lụt của Nin do các ranh giới đã bị mất đi.Người Hy Lạp cổ đại đã bổ sung thêm tính nghệ thuật và khoa học cho bản đồ học Strabo (khoảng 63 tCN – khoảng 21 tCN) được coi là cha đẻ của địa lí vì ông đã viết
Geographia (Địa lí), trong đó ông dẫn
chứng và phê bình các công trình của những người khác (phần lớn trong số họ ngày nay chúng ta không biết do Strabo không nói đến tên của họ)
Bản đồ thông thường được lập ra bằng giấy và bút, nhưng sự ra đời và phổ biến của máy tính đã tạo ra nhiều thay đổi trong khoa học bản đồ Phần lớn các bản đồ có chất lượng thương mại ngày nay được tạo
ra nhờ các phần mềm lập bản đồ Chúng
có thể là CAD, GIS hay các phần mềm lập bản đồ chuyên nghiệp nào đó.Các chức năng của bản đồ như là công cụ trực quan cho các số liệu không gian Các số liệu này thu được từ công việc đo lường và có thể lưu trữ trong cơ sở dữ liệu, từ đó nó được
xử lí thành các loại bản đồ cho các mục đích khác nhau Xu hướng hiện nay trong lĩnh vực này là chuyển dần từ các phương
Trang 25pháp tương đồng sang các phương pháp
sử dụng kĩ thuật số nhằm tạo ra các bản
đồ có tính động và tương tác cao
bản đồ 299 (cg bản đồ giải thửa), bản
đồ được thành lập theo tinh thần Chỉ thị
299/TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của
Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu: phục
vụ cho việc thống kê đất đai, đăng kí đất
đai ban đầu, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nông nghiệp và đất ở thuộc
khu vực nông thôn trên phạm vi cả nước
Trên bản đồ thể hiện chi tiết đến từng thửa
đất, vẽ trọn thửa (ranh giới thửa đất phải
kép kín trên mảnh bản đồ) kèm theo bản
đồ gốc có sổ dã ngoại (ghi các thông tin về
thửa đất: chủ sử dụng, loại đất theo hiện
trạng ) Việc thành lập bản đồ 299 theo
các phương pháp: đo đạc mặt đất với các
dụng cụ đơn giản: thước dây, tiêu đo, bàn
đạc cải tiến (dùng định hướng, khoảng
cách đo bằng thước dây); ở các tỉnh vùng
đồng bằng sông Cửu Long sử dụng ảnh
đơn cùng tỉ lệ kết hợp điều vẽ ngoại nghiệp
bàn, thiếu khống chế thống nhất cho toàn
khu đo: xã, huyện), ghép biên bản đồ chủ
yếu dựa vào các yếu tố địa vật Độ chính
xác bản đồ chỉ đảm bảo trong phạm vị
mảnh bản đồ gốc Bản đồ 299 được biên
tập theo đơn vị hành chính cấp xã, các
mảnh bản đồ gốc được ghép biên với nhau
theo địa vật tạo thành tở bản đồ có kích
thước:100 x 75 cm với yêu cầu vẽ trọn
thửa đất Hiện nay, tại nhiều địa phương
do chưa có bản đồ địa chính chính quy
nên vẫn phải sử dụng loại bản đồ này để
quản lí đất đai
bản đồ á địa chất Một loại bản đồ địa
chất, chỉ thể hiện các thành tạo và cấu trúc
nằm trên mặt không chỉnh hợp
bản đồ ảnh Bình đồ ảnh được in trên
giấy hoặc lưu trong các thiết bị nhớ, được thể hiện theo một lưới chiếu bản đồ và kích thước đã định, có đưa lên nội dung bản đồ (lưới tọa độ, đường bình độ, dân
cư, thủy văn, giao thông và có thể bao gồm một số nội dung chuyên đề khác Bản
đồ ảnh được lập trên cơ sở các ảnh vũ trụ được gọi là bản đồ ảnh vũ trụ Đối với những khu vực rộng lớn có độ chênh cao lớn thường lập bản đồ trực ảnh (orthophotomaps) nhờ sự thực hiện nắn ảnh từ phép chiếu xuyên tâm về phép chiếu thẳng đứng và khử sai số về dáng đất và độ cong bề mặt Trái Đất Nhờ sự chồng khớp nền ảnh và cơ sở bản đồ chính xác mà bản đồ ảnh đặc biệt thuận lợi cho việc định hướng trên thực địa, tiến hành công tác thiết kế và làm cơ sở lập các bản đồ ảnh chuyên đề và bản đồ ảnh
vũ trụ chuyên đề Trong sản xuất, khi lập bản đồ ảnh, tiến hành in chập kí hiệu các địa vật, hệ thống đường bình độ và các ghi chú lên bản in sao từ bình đồ ảnh hàng không hoặc bình đồ ảnh vệ tinh Bản đồ ảnh rất đa dạng về chủ đề như địa hình, địa chất, kiến tạo, cảnh quan, Mặt Trăng Nền ảnh trên bản đồ ảnh có thể đen - trắng hoặc nhiều màu (A: photographic map)
bản đồ ảo X bản đồ số.
bản đồ bao đạc Một loại bản đồ địa
chính thời Pháp thuộc, thành lập cho cấp
xã, trên đó vẽ chu vi toàn xã và chu vi các loại đất khác nhau: đồi, núi, rừng, đất hoang, nghĩa địa, ruộng 1 vụ, ruộng 2 vụ, đất hoa màu, hồ ao, giao thông, sông ngòi
bản đồ biển Những bản đồ nhằm mục
đích đảm bảo hàng hải và giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến nghiên cứu và sử dụng các tài nguyên của biển và đại dương Bản đồ biển được xây dựng trên
cơ sở lí thuyết chung của bản đồ học, nhưng việc thành lập các bản đồ trên biển
Trang 26có nhiều khó khăn, phức tạp hơn thành lập
Có ý kiến cho rằng, những bản đồ biển
đầu tiên xuất hiện ở Italia vào thế kỉ thứ
13, đó là những bản đồ Portolan mô tả
biển Địa Trung Hải và dải ven bờ Đường
đẳng sâu lần đầu tiên được sử dụng vào
năm 1584 để vẽ độ sâu của biển Sự ra
đời của la bàn là yếu tố quan trọng thúc
đẩy sự phát triển của khoa học hàng hải
Trước đây, bản đồ biển chủ yếu được
thành lập ở tỉ lệ nhỏ, chủ yếu là xác định vị
trí các cảng và bến tàu Năm 1569, Gerad
Mecato (1512-1594) thiết kế phép chiếu
hình trụ đồng góc và được dùng cho bản
đồ hàng hải Do nhu cầu đi biển tăng
nhanh, năm 1675 ở Anh đã lập đài quan
sát Grinuyt ở ngoại ô Luân Đôn giúp cho
việc thành lập các bản đồ về gió, bản đồ
độ cao triều Ở Nga, Nagaep (1704 –
1780) là người đầu tiên thực hiện công tác
nội nghiệp thành lập bản đồ biển Cuối thế
kỉ 18 đã xuất hiện các tổ chức đo đạc quốc
gia và bản đồ biển ngày càng được quan
tâm, phát triển và được sử dụng rộng rãi
trên thế giới Ở Việt Nam, đầu thế kỉ 18 đã
xuất hiện những bản đồ biển dầu tiên do
người Pháp thành lập Các quốc gia Anh,
Pháp, Mĩ đều lập các bản đồ biển vùng
Biển Đông phục vụ mục đích xâm lược
quân sự Năm 1954, Bộ Quốc phòng đã bổ
sung, chỉnh lí các bản đồ tư liệu đã có và
xuất bản nhiều loại bản đồ biển các tỉ lệ
1:750 000, 1:500 000, 1:3000 000, 1:200
000, 1:100 000, 1:25 000, 1:10 000 cho
các cảng và tỉ lệ 1:2 500 000 vùng biển
Đông Nam Á Năm 1993, Tổng cục Địa
chính (cũ) tiến hành thử nghiệm công tác
đo vẽ bản đồ địa hình biển ở Việt Nam tỉ lệ
1:10 000 tại vùng biển Bãi Cháy (Quảng
Ninh) Từ năm 1995, chính thức đo vẽ bản
đồ địa hình đáy biển các tỉ lệ 1:10 000,
1:25 000, 1:50 000 Từ 1995 – 1999, Trung tâm Viễn thám đã sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập bộ bản đồ vùng quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa các tỉ lệ từ 1:500 000 –1:25 000 (A: sea map)
bản đồ biên giới Bản đồ thành lập phục
vụ cho công tác phân định biên giới giữa các nước Nội dung bản đồ bao gồm các yếu tố địa hình, thủy văn, dân cư, giao thông và các mốc biên giới, đường biên giới quốc gia Các mảnh bản đồ biên giới được lập theo tuyến biên giới với tỉ lệ, phạm vi thể hiện các yếu tố nội dung phụ thuộc vào tình hình thực tế đường biên giới và quy định giữa các quốc gia có liên quan (A: boundary map)
bản đồ Bone Một cách gọi hệ thống bản đồ địa hình do người Pháp thành lập cho khu vực các nước Đông Dương, bao gồm các tỉ lệ 1:10 000 cho các thành phố lớn; tỉ lệ 1:25 000 cho các khu vực ven biển và đồng bằng, tỉ lệ 1:400 000, 1:500
000, 1:1 000 000 toàn khu vực Đông Dương Bản đồ này sử dụng phép chiếu Bone, định vị trên elipxôit Clac 1880, bán trục lớn a = 6378249, bán trục nhỏ b =
6356515, độ dẹt = 1/293,5 Mạng lưới kinh, vĩ tuyến lấy kinh tuyến gốc 0o qua Thủ đô Pari của Pháp, đơn vị đo là grad Đối với bản đồ địa hình Đông Dương, lấy kinh tuyến giữa là 115o, vĩ tuyến giữa là
19o, giao điểm của kinh tuyến giữa và vĩ tuyến là điểm trung tâm của phép chiếu Các bản đồ địa hình Bone thành lập cho khu vực Đông Dương không đạt yêu cầu
về độ chính xác toán học, có biến dạng lớn
ở các khu vực Nam Trung Bộ, Tây Bắc, Móng Cái và vùng đảo Phú Quốc Về lí thuyết, bản đồ Bone không có sai số về diện tích
bản đồ các cơ sở gây ô nhiễm môi trường không khí Bản đồ thể hiện mức
độ phát thải các chất gây ô nhiễm không khí tại các cơ sở có những hoạt động gây
ô nhiễm không khí Nội dung bản đồ
Trang 27thường thể hiện các nội dung: 1) Tên, vị trí
các cơ sở gây ô nhiễm không khí (nhà
máy, xí nghiệp, các cụm công nghiệp…);
2) Năng suất phát thải các chất khí chính
thải ra từ các cơ sở gây ô nhiễm (ví dụ:
bụi, SO2, NO2, CO, O3…) được tính bằng
đơn vị mg/s
bản đồ cảnh quan Bản đồ phản ánh sự
phân bố, cấu trúc và nguồn gốc cũng như
sự biến động của các thể tổng hợp lãnh
thổ tự nhiên lấy cảnh quan làm đơn vị cơ
sở Tuỳ thuộc vào tỉ lệ bản đồ, trên bản đồ
cảnh quan thể hiện các cấp khác nhau của
hệ thống phân vị địa lí tự nhiên như đồi,
khu, cảnh, dạng, diện hoặc các bậc khác
nhau của hệ thống phân loại các cấp phân
vị như các bậc phân loại cảnh quan: lớp,
lớp phụ, nhóm, kiểu, kiểu phụ và loại cảnh
quan Bản chú giải của bản đồ cảnh quan
được xây dựng theo nguyên tắc phát sinh
Bản đồ cảnh quan tỉ lệ lớn và chi tiết (từ
các cảnh quan và các đơn vị lớn hơn Bản
đồ cảnh quan có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực
đánh giá tiềm năng tự nhiên cho các mục
đích nông - lâm nghiệp, địa lí y học, quy
hoạch xây dựng, du lịch
bản đồ canh tác Bản đồ được xây dựng
và sử dụng làm phương tiện cơ bản để tổ
chức chỉ đạo thâm canh cây trồng trên các
vùng sinh thái Xây dựng bản đồ canh tác
gồm các bước: quy định chỉ tiêu phân loại
ruộng theo địa hình và chế độ nước; quy
định chỉ tiêu phân loại ruộng theo tính chất
nông hóa; xác định hệ thống giống cây
trồng và hệ thống canh tác; định lịch canh
tác và mức độ đầu tư phân bón và các vật
tư kĩ thuật khác; biểu diễn các nội dung lên
bản đồ tỉ lệ 1:2 000 của cơ sở sản xuất
Chú giải gồm các nội dung chủ yếu sau: 1) Tình hình chung: vị trí địa lí, diện tích tự nhiên, diện tích canh tác, dân số, bình quân ruộng đất, lao động, thủy lợi; 2) Các chỉ tiêu kĩ thuật trồng trọt: loại cây trồng, diện tích, năng suất, sản lượng; 3) Diện tích từng thửa ruộng, tính chất nông hóa; 4) Bố trí cơ cấu giống cây trồng trên từng thửa ruộng, lịch canh tác; 5) Chu kì vật tư cần thiết trong năm
bản đồ câm (cg bản đồ công tua, bản
đồ trống), trên bản đồ chỉ có lưới bản đồ, đường ranh giới của các lãnh thổ, mạng lưới thuỷ văn, các tuyến đường giao thông
và các điểm dân cư quan trọng Trên bản
đồ không ghi địa danh Bản đồ câm có tỉ lệ lớn hơn thường được giáo viên địa lí dùng trong các giờ học, dạy đến đâu giáo viên điền nội dung đã chuẩn bị vào đến đó Đây
là phương pháp giới thiệu kiến thức mới độc đáo, hấp dẫn, thu hút học sinh theo dõi bài giảng mới Bản đồ câm có mối quan hệ chặt chẽ với sách giáo khoa, bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường và tập bản đồ
bản đồ cấu tạo Bản đồ thể hiện hình
thái và các kiểu cấu trúc của vỏ Trái Đất, nhưng không đề cập tới lịch sử và đặc điểm phát triển của chúng Muốn thể hiện các cấu tạo sâu, hay các cấu tạo trên mặt, các bề mặt đánh dấu, các vỉa, các thể xâm nhập có thể sử dụng các đường đẳng trị, các điểm đo cao tuyệt đối Bản đồ cấu tạo các mỏ dầu khí giúp ích cho việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác và tính trữ lượng khoáng sản
bản đồ cổ cấu tạo Bản đồ thể hiện các
cấu trúc hoặc các yếu tố liên quan với cấu trúc được hình thành vào trước một giai đoạn xa xưa nào đó; thường được vẽ các cấu trúc hình thành trước hoặc trong quá trình thành tạo mặt không chỉnh hợp
bản đồ cổ địa chất Bản đồ thể hiện cấu
trúc địa chất của một miền hay cả Trái Đất vào một thời kì địa chất xa xưa nào đó
Trang 28bản đồ cổ địa lí Bản đồ phản ánh hoàn
cảnh cổ địa lí trước đây, vào một thời kì
địa chất nào đó của một vùng và ghi rõ
điều kiện phát triển sinh vật đã từng sống
tại đó Bản đồ cổ địa lí được thành lập trên
cơ sở số liệu về địa tầng học, trầm tích
học, cổ sinh vật học, đặc điểm tướng đá
Trên bản đồ này cần phân định phạm vi lục
địa, biển, địa hình trên lục địa, chiều sâu
của biển
bản đồ cổ địa lí tướng đá Bản đồ thể
hiện các hoàn cảnh và yếu tố địa lí tự
nhiên, sự phân bố và đặc trưng của các
loại đá, chủ yếu là đá trầm tích của một
thời kì địa chất Vd trên bản đồ cổ địa lí
tướng đá có thể thấy diện phân bố xưa kia
của lục địa, biển, sông suối; các đặc trưng
về địa hình, khí hậu; các loại đá hình thành
trong các điều kiện địa lí tự nhiên nói trên
Bản đồ cổ địa lí tướng đá của một thời kì
địa chất giúp khôi phục hoàn cảnh, môi
trường địa lí tự nhiên của thời kì đó Từ
đó, chỉ ra phương hướng tìm kiếm, thăm
dò các khoáng sản lỏng và rắn, những vấn
đề có liên quan với địa chất thuỷ văn và
địa chất công trình
bản đồ cổ kiến tạo Bản đồ kiến tạo thể
hiện những đặc điểm của địa chất, kiến tạo
trong quá khứ địa chất nào đó và chỉ giới
hạn các yếu tố kiến tạo có được cho đến
thời gian nào đó
bản đồ công nghiệp chung Bản đồ
phản ánh sự phân bố công nghiệp của
lãnh thổ với những ngành công nghiệp
chính Đơn vị lập bản đồ thường là những
trung tâm công nghiệp, cụm công nghiệp
Bản đồ công nghiệp ngành có nội dung
hẹp hơn, thể hiện rất chi tiết đến các cơ sở
sản xuất công nghiệp Thường sử dụng
phương pháp kí hiệu để thể hiện nội dung
bản đồ
bản đồ công tua X bản đồ câm.
bản đồ cường độ quá trình xói mòn
Bản đồ thể hiện sự rửa trôi và thổi trôi của
đất (tính bằng m3/ha hay tấn/ha trong một năm)
bản đồ chi tiết Một loại bản đồ trong
chuyên ngành xây dựng được sử dụng để thành lập bản vẽ thi công công trình cầu và thiết kế các đoạn cầu dẫn Tỉ lệ bản đồ thường là 1:1000 với khoảng cao đều 0,5
m khi chiều dài cầu từ 300 – 500 m, tỉ lệ 1:2 000 với khoảng cao đều 1,0 m khi chiều dài cầu lớn hơn 500 m Phạm vi đo
vẽ được quy định: về hai phía bờ sông đo tới độ cao lớn hơn mực nước lũ từ 1-2 m,
về phía thượng lưu và hạ lưu từ 1-1,5 lần khoảng thông thuỷ sao cho có thể biểu diễn được chi tiết địa hình và địa vật ở những vị trí thiết kế cầu, các đoạn cầu dẫn, các công trình điều chỉnh và các bãi xây dựng ở gần khu vực đó Có thể thành lập bản đồ bằng phương pháp ảnh hàng không hoặc toàn đạc, bàn đạc
bản đồ chuyên đề Bản đồ phản ánh một
đề tài nào đó (chuyên đề, dối tượng, hiện tượng, lĩnh vực) hoặc kết hợp các đề tài Phân biệt các bản đồ chuyên đề các hiện tượng tự nhiên, xã hội và mối quan hệ giữa chúng (vd: các bản đồ địa chất, dân tộc, kinh tế – xã hội, sinh thái ) Theo mức
độ khái quát các hiện tượng được được phản ánh, phân biệt các bản đồ giải tích, bản đồ phức hợp và bản đồ tổng hợp Bản
đồ chuyên đề đóng vai trò quan trọng và
có ý ngĩa lớn và có hiệu qủa cho việc quy hoạch, xây dựng, phát triển, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, kinh tế - xã hội của các quốc gia và toàn thế giới
bản đồ chuyên đề biển Một loại bản đồ
biển (theo phân loại của Việt Nam), phục
vụ mục đích nghiên cứu cấu tạo của Trái Đất, cấu tạo địa chất qua các thời kì, nghiên cứu sự phân bố và trữ lượngkhoáng sản, sinh vật biển, tài nguyên thực phẩm biển, môi trường biển, các quá trình khí tượng, đặc điểm và sự chuyển động của nước Hiện nay, có các hình thức
Trang 29phân loại như sau: 1) Phân loại theo lãnh
thổ, bao gồm các nhóm bản đồ: dải ven
biển, vùng biển nông hay thềm lục địa,
vùng biển khơi 2) Phân loại theo nội dung
chuyên đề, bao gồm các nhóm bản đồ:
điều kiện tự nhiên và tài nguyên biển, kinh
tế - xã hội biển, môi trường biển
bản đồ chuyển động Bản đồ điện tử
được điều khiển bằng chương trình phần
mềm, thể hiện trong quá trình của hiệu
ứng chuyển động, dịch chuyển hình ảnh
trên màn hình Có thể dịch chuyển dọc
theo bản đồ và thay đổi các yếu tố nội
dung riêng lẻ (các đối tượng, kí hiệu), thay
đổi kích thước, định hướng, màu sắc, nhấp
nháy kí hiệu, chuyển đổi hình thái, thay đổi
độ sáng từng khu vực của bản đồ Bản đồ
chuyển động được thành lập để thể hiện
các đối tượng và các quá trình biến đổi
động, vd: sự chuyển động của frông khí
quyển, các vùng mưa, sự lan tỏa của cháy
rừng, chuyển động của sóng thần , trong
đó, kể cả sự chuyển động theo thời gian
thực
bản đồ chuyên môn Bản đồ thể hiện
hiện sự phân bố những hiện tượng và quá
trình có liên quan đến một ngành chuyên
môn, có mục đích và tính chất chuyên
dụng như: bản đồ hàng hải, bản đồ hàng
không, bản đồ giao thông, bản đồ dẫn
đường Trên bản đồ chuyên môn có thể
biểu thị nổi bật một số yếu tố nào đó hoặc
biểu thị bổ sung nội dung chuyên môn có
liên quan
bản đồ chuyên ngành Bản đồ chuyên
đề thể hiện các nội dung của một đề tài
tương đối hẹp hoặc một ngành kinh tế (vd:
bản đồ các mỏ khí đốt, bản đồ công nghiệp
hóa học ) Đôi khi cũng phân biệt các bản
đồ chuyên ngành hẹp (vd: bản đồ mỏ than
bùn) Bản đồ chuyên ngành cũng đồng
nghĩa với bản đồ chuyên đề
bản đồ dân cư Bản đồ thể hiện sự
phân bố, cơ cấu cũng như đặc điểm cư trú
dân cư Thể loại bản đồ dân cư gồm các
nhóm: 1) Bản đồ dân số: phản ánh sự phân bố dân cư, thành phần nam nữ, lứa tuổi, sự di chuyển và biến động tự nhiên; 2) Bản đồ cơ cấu xã hội: phản ánh thành phần giai cấp, nghề nghiệp ; 3) Bản đồ nhân chủng: phản ánh thành phần dân tộc, văn hoá dân tộc, đặc điểm nhân chủng và ngôn ngữ ; 4) Bản đồ cư trú: phản ánh phân bố mạng lưới điểm dân cư thành phố, nông thôn và các đặc điểm của chúng
về số dân, chức năng
bản đồ dẫn xuất Kết quả của quá trình
biến đổi bản đồ gốc thành sản phẩm bản
đồ khác nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu sâu hơn những đặc điểm nào đó của hiện tượng một cách thuận lợi Phương tiện để biến đổi là các toán tử biến đổi Có thể phân chia các phép biến đổi thực hiện trên bản đồ thành ba kiểu: biến đổi metric, cấu trúc và phương pháp biểu hiện bản đồ
bản đồ di động Bản đồ được thành
lập và hiển thị thông tin địa lí, sử dụng tương tác trên các thiết bị di động không dây có màn hình nhỏ ở mọi thời điểm và mọi nơi có tính toán đến ngữ cảnh và đặc điểm của người dùng Bản dồ di động là một phạm trù công nghệ có liên quan đến nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác nhau Bản đồ di động có đặc điểm kĩ thuật và yêu cầu riêng phù hợp với đặc tính của thiết bị
di động Phương pháp cung cấp, sử dụng bản đồ di động có thể theo hình thức trực tuyến hoặc ngoại tuyến tùy theo khả năng đáp ứng dịch vụ của công nghệ viễn thông
Đi đầu trong lĩnh vực này là Đại học kĩ thuật Munic (Đức), Hãng phát triển phần mềm ESRI (Hoa Kì) Tại Hàn Quốc, bản
đồ di động được sử dụng rộng rãi trong giao thông Ở Việt Nam, bản đồ di động đang được nghiên cứu, tiếp cận, bước đầu
đã có một số cơ quan, đơn vị triển khai xây dựng phần mềm và bản đồ di động sử dụng trên các thiết bị cầm tay (A: mobile map)
Trang 30bản đồ du lịch Bản đồ dùng cho mục
đích du lịch, trên đó biểu thị các đối tượng
và thông tin cần thiết cho khách du lịch
như cơ sở du lịch (bãi cắm trại, khách sạn,
nhà nghỉ, nhà hát, viện bảo tàng ), danh
lam thắng cảnh và di tích lịch sử cũng như
hệ thống đường sá, phương tiện giao
thông công cộng Kèm theo bản đồ có
phần giải thích và các hình ảnh, hình vẽ
minh hoạ Bản đồ du kịch có thể là bản đồ
tổng quát theo các tuyến đường (ô tô,
đường thuỷ ) hoặc bản đồ thành phố, khu
du lịch, tuyến du lịch
bản đồ dự báo Bản đồ phản ánh các
hiện tượng và các quá trình chưa tồn tại ở
thời điểm hiện tại hoặc chưa đạt được sự
nghiên cứu trực tiếp Phân biệt các bản đồ
dự báo theo thời gian và theo không gian
Về mức độ tin cậy của dự báo, có thể chia
ra: dự báo sơ bộ, dự báo chính xác, dự
báo rất chính xác, dự báo tính trước Về
mức độ tính trước, phân biệt các loại bản
đồ: dự báo nhanh, dự báo ngắn hạn, dự
báo trung hạn và dự báo dài hạn Bản đồ
dự báo được sử dụng nhiều nhất trong dự
báo thời tiết Bản đồ dự báo về một hiện
tượng nào đó có thể xảy ra, vd: bản đồ dự
báo thời tiết, bản đồ dự báo động đất
bản đồ dự báo thời tiết (cg bản đồ
xynôp), bản đồ địa lí có vẽ, ghi các số liệu
và kí hiệu từ kết quả quan trắc ở các trạm
khí tượng vào những giờ quy định Bản đồ
dự báo thời tiết được lập ở các cơ quan
khí tượng vài lần trong một ngày Trên bản
đồ xynôp, có thể biết được trường khí áp,
nhiệt độ, độ ẩm, phân biệt các khối khí,
xoáy thuận và xoáy nghịch, các hệ thống
mây, frông để dự đoán thời tiết Quy mô
địa lí của bản đồ dự báo thời tiết thường là
nửa bán cầu (vd lục địa Á - Âu), có nơi
phân tích quy mô cả bán cầu
bản đồ dự đoán sa khoáng Bản đồ thể
hiện những diện tích dự đoán theo mức độ
triển vọng sa khoáng để lập dự án tìm
kiếm thăm dò Những diện tích này được
phân chia dựa vào các yếu tố chủ yếu nhất quyết định điều kiện thành tạo và quy luật phân bố sa khoáng như thành phần, cấu tạo móng, vỏ phong hoá, điều kiện cổ địa lí khí hậu Nền của bản đồ dự đoán sa khoáng là bản đồ cổ địa mạo, cổ địa lí, địa mạo và bản đồ trọng sa
bản đồ dự đoán trường quặng Bản đồ kiến trúc trường quặng tỉ lệ 1:10 000 (đôi khi là 1:25 000) hoặc lớn hơn, phản ánh mối liên quan giữa quặng hoá và các yếu
tố địa chất cũng như các kết luận có tính chất dự đoán Trên bản đồ này dự đoán những quặng hoá có thể có trong phân vi trường quặng, đặc biệt là quặng ẩn (ở dưới sâu); đánh giá các mỏ và biểu hiện quặng; đánh giá định lượng triển vọng các trường quặng; chỉ dẫn định hướng công tác tìm kiếm và thăm dò tiếp theo
bản đồ đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí Bản đồ biểu diễn chất lượng của môi trường không khí (ô nhiễm hoặc không ô nhiễm bởi các thông số Ci so với tiêu chuẩn cho phép hoặc các chỉ tiêu đánh giá chúng) trên một phạm vi không gian khảo sát ở thời điểm hiện tại (ngày, tháng, mùa, năm) Nội dung bản đồ thể hiện chất lượng không khí
so với tiêu chuẩn cho phép của từng chất khí hoặc tổng hợp các chất khí gây ô nhiễm và được chia theo các mức độ khác nhau như sau: rất sạch; sạch; chớm
ô nhiễm; ô nhiễm; ô nhiễm nặng
bản đồ đất (cg bản đồ thổ nhưỡng),
bản đồ thể hiện sự phân bố của đất, nguồn gốc, điều kiện thành tạo đất và các tính chất lí hóa của nó Phân biệt: 1) Bản đồ đất chung, nội dung của nó thể hiện các nhóm đất theo nguồn gốc phát sinh; 2) Bản
đồ đất thành phần, nội dung phản ánh từng tính chất riêng của đất (thành phần
cơ học, độ chua, độ mặn, độ tập trung và lan tỏa của các phần tử hóa học ) Phổ biến nhất là các bản đồ đất thực dụng, ví dụ: bản đồ phân nhóm đất theo sản xuất
Trang 31nông nghiệp, bản đồ cải tạo đất, bản đồ xói
mòn đất Các bản đồ đất tỉ lệ lớn được
thành lập trên cơ sở đo đạc thực địa, bao
gồm cả việc đào và ghi chép các phẫu diện
đất, lấy các mẫu đất, điều vẽ ảnh hàng
không và vũ trụ, phân tích cảnh quan và
lớp phủ thực vật Các bản đồ đất tỉ lệ trung
bình và nhỏ được thành lập trong phòng
bằng cách sử dụng các thông tin chọn lọc
các số liệu phân tích của phòng thí
nghiệm, các tài liệu viễn thám
bản đồ để bàn Thuật ngữ chỉ các loại
bản đồ được thành lập với mục đích tra
cứu, nhìn gần, không dùng để treo tường
Bản đồ để bàn thường được lập với mức
độ chi tiết lớn, các yếu tố nội dung được
trình bày với màu sắc trang nhã; các kí
hiệu, chữ ghi chú có kích thước nhỏ; kích
thước bản đồ không lớn
bản đồ địa chấn (cg bản đồ động đất),
một loại bản đồ địa vật lí, phản ánh sự
phân bố, các đặc điểm định tính, định
lượng của động đất và các hiện tượng liên
quan với chúng Trên bản đồ động đất thể
hiện tâm chấn, độ sâu của ổ chấn, cường
độ và chu kì của động đất, sự truyền dẫn,
sóng và các hiện tượng kèm theo Năng
lượng trong ổ (lỗ, tâm) động đất đặc trưng
bởi mag, còn hiệu ứng bề mặt – là cường
độ (tính bằng bậc theo 10 độ richte Bản
đồ địa chấn có ý nghĩa quan trọng trong dự
báo mức độ nguy hiểm của động đất
bản đồ địa chất Một dạng bản đồ
chuyên đề quan trọng và phổ biến Bản đồ
thể hiện các yếu tố địa chất lộ ra ở phần
trên của vỏ Trái Đất của một vùng, một khu
vực hay toàn cầu (tùy theo tỉ lệ bản đồ)
Trên bản đồ địa chất, dùng màu sắc hoặc
các dạng kẻ vạch khác nhau để thể hiện
sự phân bố các loại đá (trầm tích, biến
chất, macma) và tuổi của chúng Các yếu
tố địa chất khác như thế nằm của các tầng
đá, các đứt gãy, vị trí khoáng sản, vị trí hoá
thạch được thể hiện bằng các kí hiệu
theo quy ước Thông qua các yếu tố địa
chất trên bản đồ địa chất, có thể hiểu được cấu trúc và lịch sử phát triển địa chất của phần vỏ Trái Đất Tuỳ theo yêu cầu của công tác địa chất hoặc các mục tiêu kinh
tế, có các loại bản đồ địa chất chuyên dùng như bản đồ kiến tạo, bản đồ khoáng sản, bản đồ địa chất thuỷ văn, bản đồ địa chất công trình, bản đồ thạch học Bản đồ địa chất là sản phẩm tổng hợp cuối cùng của công tác điều tra nghiên cứu địa chất,
là tài liệu không thể thiếu trong nghiên cứu địa chất tiếp theo cũng như trong nghiên cứu các lĩnh vực khoa học có liên quan Mức độ điều tra khái quát hoặc chi tiết của bản đồ địa chất thể hiện ở tỉ lệ của bản đồ Các loại bản đồ địa chất: bản đồ địa chất khái quát có tỉ lệ 1:500 000 và nhỏ hơn, bản đồ địa chất trung bình tỉ lệ 1:200 000 đến 1:100 000, bản đồ địa chất chi tiết tỉ lệ 1:50 000 Công việc lập bản đồ địa chất ở Việt Nam đã có từ cuối thế kỉ 19 Một bản
đồ địa chất Đông Dương rất sơ lược được Fucxơ thành lập năm 1882 có tỉ lệ 1:4 000
000 Từ sau Chiến tranh thế giới I, lãnh thổ Đông Dương được lần lượt đo vẽ theo tỉ lệ 1:500 000 Năm 1941, Frômagiê tổng hợp tất cả các kết quả đó và biên soạn bản đồ địa chất Đông Dương tỉ lệ 1:2 000 000 (tái bản 1952) Năm 1963, đã xuất bản bản đồ địa chất Miền Bắc Việt Nam tỉ lệ 1:500 000,
do tập thể các nhà địa chất Liên Xô và Việt Nam thực hiện Sau đó, các nhà địa chất Việt Nam đã lần lượt đo vẽ ở tỉ lệ trung bình các tờ bản đồ Miền Bắc Việt Nam Công tác lập bản đồ địa chất cũng được triển khai ở Miền Nam ngay sau 1975 Đến nay, đã hoàn thành bản đồ địa chất toàn quốc tỉ lệ 1:500 000 phủ kín cả đất liền và hải đảo, bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200 000 phủ kín lãnh thổ (phần đất liền) Công tác lập bản đồ địa chất tỉ lệ trung bình tỉ lệ 1:50
000 theo quy chuẩn quốc gia cũng đang tiến hành để phủ kín lãnh thổ Việt Nam (hiện nay đã kín khoảng 30% diện tích) Đã xuất bản bản đồ địa chất 1:1 000 000, 1:1.500 000, tỉ lệ 1:200 000
Trang 32bản đồ địa chất ảnh Bản đồ địa chất lập
trên cơ sở giải đoán ảnh viễn thám, kết
hợp sử dụng những tài liệu địa chất, địa
vật lí đã có Thường kết hợp một số lộ
trình địa chất ở những diện tích mấu chốt
(ô chìa khoá) để kiểm tra, xác định các đối
tượng địa chất, địa vật lí đã giải đoán phân
tích Có thể coi bản đồ địa chất ảnh là bản
đồ trung gian giúp đẩy nhanh, nâng cao
chất lượng công tác đo vẽ bản đồ địa chất
tại thực địa và nghiên cứu về địa chất, địa
mạo, địa chất thuỷ văn
bản đồ địa chất cấu tạo Bản đồ địa chất
lập theo phương pháp thể hiện trong
không gian như bản đồ địa hình một loại
mặt địa chất nào đấy (vd móng hoặc nóc
của một hệ tầng, mặt một tầng chuẩn, mặt
bất chỉnh hợp, mặt chứa nước ) nhằm thể
hiện cả phần ở dưới sâu hình thái cấu tạo
của mặt địa chất định nghiên cứu Bản đồ
địa chất cấu tạo phục vụ công tác thăm dò,
đánh giá trữ lượng khoáng sản và nước
dưới đất, phục vụ các yêu cầu có liên quan
với địa chất cấu tạo
bản đồ địa chất công trình Bản đồ biểu
thị tổng hợp những điều kiện địa chất công
trình của một lãnh thổ, ở một tỉ lệ nhất
định Phân biệt ba kiểu bản đồ địa chất
công trình: tổng quát, phân vùng và
chuyên môn; có khi thể hiện cả ba kiểu này
trên cùng một bản đồ Kèm theo bản đồ có
chú giải, các mặt cắt địa chất tiêu biểu,
bảng chỉ tiêu cơ - lí của đất đá và bản
thuyết minh bằng chữ Các cấp tỉ lệ của
bản đồ địa chất công trình giống như của
bản đồ địa chất
bản đồ địa chất thủy văn Bản đồ thể
hiện những thông tin về nước dưới đất của
một lãnh thổ hoặc một nước, bao gồm sự
phân bố của nước dưới đất trong các kiến
trúc địa chất thuỷ văn, tính chất chứa nước
của các kiến trúc đó, đặc điểm vận động
của nước, nguồn cung cấp và đường thoát
của nước, các đặc trưng về chất như
thành phần hoá học, đồng vị, vi khuẩn,
chất khí của nước và cả các thông tin về trữ lượng, bảo vệ môi trường nước Có hai loại bản đồ địa chất thuỷ văn: bản đồ địa chất thuỷ văn chung và bản đồ địa chất thuỷ văn chuyên môn Đến nay, Việt Nam
đã lập các bản đồ địa chất thuỷ văn toàn quốc với tỉ lệ 1:3 000 000, 1:1 000 000 và 1:500 000; đã có bản đồ địa chất thuỷ văn
tỉ lệ 1:200 000 cho những vùng kinh tế quan trọng
mà ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản đồ địa chính thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các yếu tố nội dung khác của bản đồ địa chính thể hiện theo quy định của Quy phạm thành lập bản đồ địa chính
bản đồ địa chính cơ sở Bản đồ gốc
được đo vẽ bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, hoặc đo vẽ bằng các phương pháp có sử dụng ảnh chụp từ máy bay kết hợp với đo vẽ bổ sung ở thực địa, chủ yếu được thành lập cho các đơn vị hành chính có nhiều đất lâm nghiệp Bản
đồ địa chính cơ sở được đo vẽ kín ranh giới hành chính và kín khung, mảnh bản
đồ Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ sung thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn: được lập phủ kín một hay một số đơn vị hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh; để thể hiện hiện
Trang 33trạng vị trí, diện tích, hình thể của các ô,
thửa có tính ổn định lâu dài, dễ xác định ở
thực địa của một hoặc một số thửa đất có
loại đất theo chỉ tiêu thống kê khác nhau
hoặc cùng một chỉ tiêu thống kê Đây là
giải pháp công nghệ nhằm đẩy nhanh tiến
độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất lâm nghiệp
bản đồ địa chính gốc Bản đồ thể hiện
hiện trạng sử dụng đất và thể hiện trọn và
không trọn các thửa đất, các đối tượng
chiếm đất nhưng không tạo thành thửa
đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt,
các yếu tố địa lí có liên quan; lập theo khu
vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị
hành chính cấp xã, trong một phần hay cả
đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số
huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một
thành phố trực thuộc Trung ương, được cơ
quan thực hiện và cơ quan quản lí đất đai
cấp tỉnh xác nhận Bản đồ địa chính gốc là
cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo
đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là xã) Các nội dung đã
được cập nhật trên bản đồ địa chính cấp
xã phải được chuyển lên bản đồ địa chính
gốc
bản đồ địa giới hành chính Bản đồ thể
hiện các mốc địa giới hành chính, đường
ranh giới phân chia các đơn vị hành chính
các cấp, biên giới quốc gia (nếu có) và các
yếu tố địa vật, địa hình có liên quan đến
địa giới hành chính (A: administrative
map)
bản đồ địa hình Một loại bản đồ địa lí
chung Ở Việt Nam, các loại bản đồ địa lí
chung có có tỉ lệ lớn hơn và bằng 1:1 000
000 là bản đồ địa hình Bản đồ địa lí chung
là mô hình thu nhỏ một khu vực của bề
mặt trái đất thông qua phép chiếu toán học
nhất định, có tổng quát hoá và bằng hệ
thống kí hiệu phản ánh sự phân bố, trạng
thái và các mối quan hệ tương quan nhất
định giữa các yếu tố cơ bản của địa lí tự
nhiên và kinh tế xã hội với mức độ đầy đủ,
chi tiết và độ chính xác cao, các yếu tố này được biểu thị tương đối như nhau và phần lớn giữ được hình dạng, kích thước theo tỉ
lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác hình học của kí hiệu và tính tương ứng địa lí của yếu tố nội dung cao Bản đồ địa hình có các tính chất sau: 1) Được thành lập trên cơ sở toán học nhất định; 2) Sử dụng hệ thống kí hiệu theo quy định chặt chẽ, thống nhất và có tính pháp lí của quốc gia; 3) Trên bản đồ có sự lựa chọn và khái quát các đối tượng được biểu thị; 4) Có hệ thống tỉ lệ, cách chia mảnh và đánh số mảnh thống nhất, có quy trình, quy phạm
và kí hiệu chung do Nhà nước ban hành; 5) Có tính hiện thời và độ chính xác cao; 6)
Là tài liệu cơ bản để thành lập các loại bản
đồ khác Ở Việt Nam, có ba hệ thống bản
đồ địa hình: 1) Bản đồ địa hình do Sở Địa
dư Đông Dương lập dưới thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỉ 20 đến 1954) theo phép chiếu bản đồ Bone và elipxôit Clac; 2) Bản
đồ địa hình do cơ quan bản đồ quân sự Hoa Kì và chính quyền Sài Gòn thành lập trong các năm 1961 - 1967 theo phép chiếu hình trụ ngang Mecato (UTM) và elipxôit Êvêret; 3) Bản đồ địa hình do Cục
Đo đạc và Bản đồ Nhà nước và Cục Bản
đồ Bộ tổng Tham mưu lập từ 1955 đến nay theo phép chiếu bản đồ Gauxơ và elipxôitKraxôpxki, Hệ HN-72; bản đồ theo phép chiếu UTM và elipxôit WGS84, Hệ VN-
2000 Cuối năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố hoàn thành bộ bản
đồ địa hình phủ trùm toàn quốc tỉ lệ 1:50 000, Hệ VN-2000, gồm 573 mảnh (A: topographic map)
bản đồ địa hình chuyên ngành Một loại
bản đồ địa hình, trên đó thể hiện chi tiết hơn về các yếu tố thuộc một nhóm địa hình phục vụ chuyên ngành Chúng được thành lập để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của một ngành khoa học hữu quan, hoặc dùng cho mục đích cụ thể Do đó, mức độ chi tiết thể hiện các yếu tố nội dung trên bản đồ địa hình chuyên ngành
Trang 34không đồng đều mà phụ thuộc vào mục
đích phục vụ của bản đồ
bản đồ địa hình đáy biển (cg bản đồ
địa hình thềm lục địa), sản phẩm khoa học
phản ánh về địa hình đáy biển cùng một số
đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội trên
vùng biển, gắn liền với địa hình biển Bản
đồ địa hình đáy biển thuộc nhóm bản địa lí
chung, được thành lập chủ yếu phục vụ
công tác điều tra và khai thác sử dụng
nguồn tài nguyên kinh tế biển Bản đồ địa
hình đáy biển (theo phân loại của Việt
Nam) bao gồm các nhóm sau: 1) Bản đồ
địa hình đáy biển tỉ lệ cơ bản (đề xuất tỉ lệ
1:200 000) thành lập phủ trùm toàn vùng
biển Việt Nam, kể cả vùng đặc quyền kinh
tế; 2) Bản đồ địa hình đáy biển thuộc thềm
lục địa có độ sâu nhỏ và trung bình, tỉ lệ
1:50 000 và 1:100 000; 3) Bản đồ phục vụ
thiết kế và xây dựng công trình biển, thành
lập ở những vùng biển có quy hoạch phát
triển kinh tế biển (thường là các vùng ven
biển, cửa sông), tỉ lệ 1: 10 000; Bản đồ
địa hình đáy biển thống nhất với bản đồ
địa hình trên đất liền về cơ sở toán học, hệ
thống kí hiệu, nguyên tắc phân loại và lựa
chọn nội dung
bản đồ địa hình Hệ HN-72 Bản đồ địa
hình được thành lập theo phép chiếu bản
đồ Gauxơ và elipxôit Kraxôpxki, hệ độ cao
Hòn Dấu (Hải Phòng) Hệ thống bản đồ địa
hình này chủ yếu do Cục Đo đạc và Bản
đồ Nhà nước, Tổng cục Địa chính và Cục
Bản đồ Bộ tổng tham mưu quân đội nhân
dân Việt Nam thành lập từ năm 1955 đến
năm 2000 Hệ thống bản đồ địa hình cơ
bản quốc gia Hệ HN-72 như sau: tỉ lệ
địa hình Hệ HN-72 chủ yếu được thành lập
theo công nghệ truyền thống, in trên giấy
bản đồ địa hình Hệ VN-2000 Bản đồ
địa hình được thành lập theo phép chiếu bản đồ UTM và elipxôit WGS84 định vị cho lãnh thổ Việt Nam, Hệ độ cao quốc giaHòn Dấu Hệ thống bản đồ này chủ yếu do
Bộ Tài nguyên và Môi trường và một vài
cơ quan đo đạc và bản đồ thuộc quân sự, lâm nghiệp thành lập từ năm 2000 trở lại đây Đến nay, hệ thống bản đồ địa hình cơ bản Hệ VN-2000 của Việt Nam bao gồm: 1) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:250 000 phủ trùm toàn bộ lãnh thổ; 2) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:100 000 phủ trùm toàn bộ lãnh thổ; 3) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:50 000 phủ trùm toàn bộ phần đất liền; 4) bản đồ địa hình tỉ
lệ 1:25 000; 5) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:10 000; 6) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:5 000; 7) Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:2 000 Bản đồ địa hình hệ VN-2000 có ở hai dạng: in trên giấy và dạng số (định dạng DGN, gồm 7 nhóm lớp: cơ sở toán học, thủy văn, địa hình, giao thông, dân cư, ranh giới, thực vật) Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai xây dựng hệ thống CSDL nền địa lí tỉ lệ 1:10 000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm toàn quốc; CSDL nền địa lí tỉ lệ 1:2 000, 1:5 000 các khu đô thị, khu vực công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm Dự kiến đến hết năm 2011 sẽ hoàn thành toàn bộ khối lượng này
bản đồ địa lí Bản đồ phản ánh sự phân
bố, đặc điểm, sự tác động lẫn nhau của các địa hệ tự nhiên, kinh tế - xã hội, các thành phần của chúng và các quá trình động thái phát sinh từ chúng Về nội dung, bản đồ địa lí có thể phân ra: bản đồ địa lí chung, bản đồ chuyên đề Về ý nghĩa, có thể phân ra: bản đồ tra cứu – khoa học, bản đồ giáo khoa, bản đồ địa phương, bản
đồ du lịch, bản đồ giao thông Bản đồ địa
lí còn được phân chia theo tỉ lệ, phạm vi lãnh thổ, mức độ giải tích – tổng hợp và các dấu hiệu khác (A: geographic map)
bản đồ địa lí chung Bản đồ địa lí phản
ánh tập hợp các yếu tố chủ yếu của mặt đất: cơ sở toán học, dáng đất, chất đất,
Trang 35thủy hệ, dân cư, giao thông, thủy hệ, thực
vật, các đối tượng kinh tế – văn hóa – xã
hội, địa giới Bản đồ địa lí chung mang ý
nghĩa toàn diện và đa mục đích, dùng để
nghiên cứu lãnh thổ, định hướng quy
hoạch, giải quyết cácnhiệm vụ khoa học và
thực tiễn Các nhà bác học Nga và nhiều
nước trên thế giới phân chia bản đồ địa lí
chung ra các loại sau: bản đồ địa hình (tỉ lệ
≥1:100 000), bản đồ địa hình khái quát (tỉ
lệ 1:200 000 – 1:500 000), bản đồ khái
quát (tỉ lệ ≤1:1 000 000) Ở Việt Nam, các
bản đồ địa lí chung tỉ lệ ≥1:1 000 000 gọi là
bản đồ địa hình (A: general geographic
map)
bản đồ địa lí chung biển Một loại bản
đồ biển (theo phân loại của Nga), bao
gồm: bản đồ khái quát tỉ lệ nhỏ, bản đồ đo
đạc thuỷ văn nguyên thuỷ, bản đồ địa hình
đáy biển
bản đồ địa lí địa phương Bản đồ thể
hiện những điểm đặc trưng nhất của địa
hình, thuỷ hệ, động thực vật, khoáng sản,
dân cư, kinh tế và du lịch của một tỉnh,
huyện hoặc một xã Bản đồ này thường
được dùng để giới thiệu những đặc điểm
về tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa
phương cho học sinh tại địa phương đó
bản đồ địa lí địa phương tổng hợp
Bản đồ địa lí địa phương tổng hợp thể hiện
những chỉ số tổng hợp, đặc trưng của một
địa phương cụ thể, nó có nội dung mang
tính chất tổng hợp, bao quát toàn bộ sự
vật hiện tượng một cách chung nhất Bản
đồ địa lí địa phương tổng hợp có tính khái
quát cao, nêu lên được những nét tổng thể
có tính quy luật, đồng thời thể hiện các mối
quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên, kinh
tế - xã hội của địa phương
bản đồ địa lí tự nhiên biển Một loại bản
đồ biển (theo phân loại của Nga)
bản đồ địa lí thổ nhưỡng Bản đồ thể
hiện vị trí, ranh giới các vùng địa lí thổ
nhưỡng (các vùng phân bố các loại đất
trong môi trường địa lí) Một vùng địa lí thổ nhưỡng gồm những loại đất có đặc tính, quá trình hình thành và cách sử dụng giống nhau
bản đồ địa lí y học Bản đồ phản ánh
các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và sự phân dị các điều kiện đó trên lãnh thổ Bản
đồ địa lí y học gồm nhiều nhóm: bản đồ đánh giá điều kiện tự nhiên dưới góc độ địa lí y học; bản đồ đánh giá thực - động vật dưới góc độ địa lí y học như bản đồ động vật truyền bệnh và gây bệnh, bản đồ vùng cây thuốc; bản đồ phân bố vùng bệnh
và tiềm năng nhiễm bệnh của vùng;bản đồ địa lí y học chung (phân lãnh thổ thành các đơn vị đồng nhất về ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên đến sức khoẻ của con người và về tính đặc thù của khu vực)
bản đồ địa mạo Bản đồ phản ánh địa
hình bề mặt Trái Đất về các mặt hình thái, nguồn gốc, lịch sử phát triển và những biến đổi hiện tại của nó Theo tỉ lệ, bản đồ địa mạo phân ra: 1) Tỉ lệ lớn: từ 1: 200 000 trở lên; 2) Tỉ lệ trung bình: từ 1 : 200 000 đến 1 : l 000 000; 3) Tỉ lệ nhỏ và tỉ lệ khái quát: nhỏ hơn 1 : 1 000 000 Phân loại theo nội dung: 1) Bản đồ địa mạo chung;
2) Bản đồ địa mạo chuyên hóa Bản đồ địa
mạo có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn trong thăm dò khoáng sản, thiết kế, xây dựng đường sá và các công trình thuỷ lợi
bản đồ địa mạo chung Một loại bản dồ
địa mạo thể hiện những đặc trưng của địa hình, nội dung bản đồ phản ánh tổng thể các chỉ tiêu riêng, trong dó quan trọng nhất
là những đặc diềm trắc lượng mô tả và trắc lượng-hình thái, nguồn gốc phát sinh
và tuổi của địa hình Có thể phân loại bản
đồ địa mạo chung thành hai loại: bản đồ phân tích và bản đồ tổng hợp
bản đồ địa mạo chuyên hóa Một loại
bản dồ địa mạo dược xây đựng theo những chỉ tiêu riêng, chỉ liên quan đến hình
Trang 36thái, trắc lượng-hình thái, nguồn gốc và
tuổi địa hình Ví dụ: bản đồ độ chia cắt
ngang, bản đồ độ chia cắt sâu của địa
hình, bản đồ độ dốc mặt đất, bản đồ khe
rãnh xói mòn, bản đồ phân vùng địa mạo
bản đồ địa tầng Bản đồ thể hiện sự
phân bố không gian, hình dạng, vị trí của
một phân vị địa tầng hoặc của một mặt địa
tầng tương ứng với một khoảng thời gian
địa chất nào đó, vd: bản đồ đẳng dày, bản
đồ đường đẳng cấu trúc, bản đồ tướng đá,
bản đồ biến đổi theo phương pháp thẳng
tuyến đo đạc thuỷ văn; làm cơ sở cho việc
đo vẽ địa chất công trình; thành lập bản
thiết kế tổ chức công tác xây dựng và thiết
kế các công tác đo đạc Bản đồ địa vật có
tỉ lệ 1:5 000 đối với sông có chiều rộng
trung bình <500 m và 1:10 000 đối với
sông có chiều rộng >500 m Nội dung bản
đồ chủ yếu thể hiện các đường biên của
địa vật và các yếu tố địa hình ảnh hưởng
đến hướng và tốc độ dòng chảy như: lòng
sông chính với các đảo và bãi bồi, các
điểm dân cư, các công trình xây dựng và
cầu hiện có, các khu rừng, các yếu tố đặc
trưng nhất của địa hình bờ sông, các trạm
đo nước Bản đồ thường được thành lập
(trên vật ghi nào đó) nhờ sử dụng các
phương tiện kĩ thuật và chương trình phần
mềm trong một phép chiếu và các nội dung
bản đồ được trình bày hệ thống kí hiệu
bản đồ độ cao Bản đồ thể hiện chi tiết
dáng đất của lục địa và đáy biển bằng các đường bình độ, đường bình độ sâu, điểm
độ cao, điểm độ sâu và tô màu theo tầng
độ cao Trên bản đồ độ cao, cần phải thể hiện đúng các kiểu địa hình và hình thái của dáng đất, độ chênh cao, độ cắt xẻ và
hệ thống thủy văn có quan hệ chặt chẽ với dáng đất Để nâng cao khả năng thể hiện dáng đất, trên bản đồ độ cao còn biểu thị vờn bóng địa hình
bản đồ độ sâu Một loại bản đồ chuyên
đề, phản ánh nội dung chính là độ sâu của vùng nước sông, hồ, biển và đại dương
bản đồ động vật (cg bản đồ địa lí động
vật), bản đồ phản ánh đặc điểm và địa lí thế giới động vật Phụ thuộc vào quan điểm khoa học dùng làm cơ sở để thành lập bản đồ Bản đồ động vật chia thành: bản đồ động vật học và bản đồ địa lí động vật Bản đồ động vật học phản ánh sự phân bố động vật và các hiện tượng liên quan đến thế giới động vật Bản đồ địa lí động vật ngoài những nội dung trên còn phản ánh mối quan hệ của các loài hoặc các quần thể động vật với các thể tổng hợp tự nhiên, với các điều kiện sinh thái Chủ đề của bản đồ động vật rất đa dạng như phân vùng động vật, vùng phân bố
Trang 37các loài; giống hoặc họ động vật, di cư
động vật có hại, tài nguyên động vật và
các hình thức sử dụng, bảo vệ và làm giàu
thế giới động vật
bản đồ gốc (cg bản gốc bản đồ), bản
đồ ban đầu hoặc nguyên bản, từ đó có thể
tiến hành nhân bản Theo phương pháp
thành lập bản đồ bằng công nghệ truyền
thống, bản đồ gốc gồm các loại: 1) Bản
gốc tác giả: bản đồ được tác giả lập với độ
chính xác cần thiết với mức độ đầy đủ và
chi tiết về nội dung theo đúng thiết kế,
được lập ở tỉ lệ bản đồ sẽ in, có chất lượng
trình bày tốt, theo quy định về màu sắc
trong thiết kế 2) Bản đồ đo vẽ từ thực địa:
bản vẽ được lập trên cơ sở các số liệu đo
vẽ ngoài thực địa bằng máy bàn đạc, máy
toàn đạc; 3) Bản gốc đo vẽ từ ảnh hàng
không: bản vẽ được đo vẽ từ các ảnh chụp
mặt đất bằng máy bay; 4) Bản gốc biên vẽ:
bản gốc nét được vẽ trên đế không biến
dạng dùng để lập bản đồ gốc chế in Theo
công nghệ số, bản gốc biên vẽ được thực
hiện trên máy tính và in ra giấy hoặc lưu
trên các thiết bị nhớ Bản gốc biên vẽ
thường thành lập ở tỉ lệ của bản đồ sẽ in,
trên đó vẽ tất cả các phần tử nội dung của
bản đồ theo đúng thiết kế hoặc quy phạm
5) Bản gốc chế in: bản đồ gốc đáp ứng đầy
đủ các yêu cầu của kĩ thuật chế bản và in,
dùng để chế các bản sao và bản in Bản
gốc chế in phải thoả mãn các yêu cầu:
theo đúng nội dung của bản gốc biên vẽ;
theo đúng các quy định về kí hiệu, kiểu, cỡ
chữ; nét vẽ rõ ràng, đẹp, bảo đảm các yêu
cầu của khâu sao, phiên và chế bản in;
kích thước của bản gốc chế in phải theo
đúng quy định Bản gốc chế in phân thành:
bản gốc nét, bản gốc chữ, bản gốc nền
màu và bản gốc nửa tông Theo phương
pháp thành lập bản đồ bằng công nghệ tin
học, khái niệm giữa các loại bản gốc hầu
như không có sự phân biệt rõ ràng Có thể
đồng nhất bản gốc tác giả và bản gốc biên
vẽ, còn bản gốc chế in cũng chính là bản
gốc biên vẽ có sự biên tập lại một số yếu
tố để đảm bảo kĩ thuật chế in bằng máy chế bản điện tử (A: original map)
bố địa lí và mối tương quan với các yếu tố khác Khi thành lập bản đồ theo công nghệ tin học, các bản gốc biên vẽ được hoàn thành với chất lượng đồ họa cao, do
đó, khi hoàn thành bản gốc biên vẽ chỉ cần thực hiện một số công việc biên vẽ cho phù hợp với yêu cầu kĩ thuật chế in bản đồ
để phục vụ công tác chế bản điện tử
bản đồ gốc tác giả Bản vẽ do cơ quan
hoặc tác giả thành lập, phản ánh nội dung chuyên đề và phương pháp thể hiện nội dung và hình thức trình bày đúng như các quy định trong bản thiết kế kĩ thuật nhưng chất lượng đồ họa có thể chưa cao, là hình ảnh của bản đồ chính thức sẽ in, được dùng để trình duyệt xin xuất bản (nếu có),
để chỉ dẫn biên vẽ, thanh vẽ, chuẩn bị in, chế bản Thuật ngữ bản đồ gốc tác giả thích hợp đối với các loại bản đồ chuyên
đề do thể loại bản đồ này rất đa dạng và không có chuẩn được xây dựng trước Nếu chất lượng bản gốc tác giả được biên
vẽ tốt thì không cần lập bản gốc biên vẽ Nếu bản tác giả được xây dựng theo công nghệ tin học thì thường bản gốc tác giả cũng cũng đồng thời là bản gốc biên vẽ
bản đồ giải thửa Một loại bản đồ địa
chính, được thành lập theo hệ toạ độ tự
do, nội dung cơ bản là ranh giới các thửa đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp, dân cư
Trang 38bản đồ giáo khoa Loại bản đồ sử dụng
với mục đích giảng dạy và học tập trong
các trường phổ thông Bản đồ là biểu hiện
thu nhỏ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựa
trên cơ sở toán học, bằng ngôn ngữ bản
đồ, phương tiện đồ hoạ phản ánh sự phân
bố, trạng thái, mối liên hệ tương hỗ của
các hiện tượng tự nhiên và xã hội - tương
ứng với mục đích, nội dung và phương
pháp của môn học trên những nguyên tắc
chặt chẽ của tổng quát hoá bản đồ, phù
hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa
tuổi học sinh, có xét đến cả yêu cầu giáo
dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường” Bản
đồ giáo khoa có những tính chất sau: tính
khoa học (bao gồm: tính trừu tượng, tính
chọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát,
tính đồng dạng hình học và sự phù hợp địa
lí), tính trực quan, tính sư phạm Bản đồ
giáo khoa được phân loại theo: tỉ lệ, lãnh
thổ (phạm vi khu vực), mục đích, nội dung,
đặc điểm sử dụng Các loại bản đồ giáo
khoa thường dùng và có ý nghĩa quan
trọng trong dạy địa lí hiện nay là: mô hình
địa lí giáo khoa (bao gồm: mô hình địa
phương, mô hình Trái Đất), bản đồ giáo
khoa treo tường, bản đồ trong sách giáo
khoa, atlat giáo khoa, bản đồ câm
bản đồ giáo khoa treo tường Bản đồ
dùng để giảng dạy và học tập ở trên lớp
Nó được dùng để nghiên cứu, giảng dạy
và học tập trong nhiều lĩnh vực, nhất là địa
lí và lịch sử Lượng thông tin khoa học
phải tương xứng với tỉ lệ bản đồ, các đối
tượng địa lí trên bản đồ được khái quát
hoá cao, có đối tượng phải cường điệu
hoá đến mức cần thiết Nhiều kí hiệu
tượng trưng, tượng hình, màu sắc đẹp, có
độ tương phản mạnh, gần gũi với đối
tượng được sử dụng làm cho bản đồ có
tính trực quan cao Nội dung và phương
pháp trình bày trên bản đồ phải phù hợp
với tâm sinh lí lứa tuổi, phù hợp thị lực học
sinh trong khoảng cách nhìn bản đồ từ 5 –
10 m
bản đồ hàng hải Một loại bản đồ biển
(theo phân loại của Việt Nam), được thành lập chủ yếu phục vụ cho các hoạt động của hải quân và ngành giao thông đường thuỷ trên biển Theo kết qủa đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu thành lập bản
đồ địa hình đáy biển” do TS Nguyễn Công Cường làm chủ nhiệm, bản đồ hàng hải được chia làm bốn loại: 1) Bản đồ tổng thể (tổng đồ), được thành lập ở tỉ lệ từ 1:1 000
000 đến 1:5 000 000 dùng để nghiên cứu tổng thể điều kiện hải văn, hàng hải cho mục đích giao thông hàng hải; 2) Bản đồ đường đi, được thành lập ở tỉ lệ từ 1:100
000 đến 1:500 000, dùng để dẫn tàu dọc theo bờ biển ở những nơi xa bờ đôi khi không nhìn thấy bờ biển; 3) Bản đồ riêng biệt, được thành lập ở tỉ lệ 1:25 000 đến 1:50 000, dùng để đảm bảo cho việc dẫn tàu ở những vùng có điều kiện hàng hải phức tạp, những nơi gần bờ biển, ở cảng,
ở các vịnh, ở những nơi ra vào của kênh biển; 4) Bình đồ, được thành lập ở tỉ lệ từ 1:500 đến 1:10 000, dùng để đưa tàu vào cảng, cầu cảng, chỗ neo tàu, thiết kế các công trình, lắp đặt thiết bị đo sóng, các công việc đo độ sâu Các phần tử nội dung chính của bản đồ hàng hải gồm: địa hình đáy biển được thể hiện bằng hệ thống đường đẳng sâu và các điểm độ sâu, hình dáng và tính chất của bờ biển, địa hình và các địa vật dễ định hướng trên bờ, các tuyến đường biển, các vật cản nguy hiểm cho tàu (bãi nông, đá ngầm, đá nổi, san hô ), chất đáy (bùn, cát, đá ), tình huống hoa tiêu (đèn biển, phao tiêu ), tài liệu về
độ lệch từ thiên, các đặc trưng hải văn (hải lưu, thuỷ triều ) cũng như mạng lưới toạ
độ chuyên dụng Đặc trưng chủ yếu của bản đồ hàng hải là thường sử dụng phép chiếu Meccato, bảo đảm đường tà hành là đường thẳng
bản đồ hàng hải chung (cg bản đồ
hàng hải), bản đồ biển (theo phân loại của Nga), chủ yếu, được dùng để dẫn đường cho tàu thuyền Bản đồ hàng hải theo tỉ lệ
Trang 39và theo ý nghĩa cụ thể được phân biệt ra
thành: bản đồ toàn vùng, bản đồ tuyến,
bản đồ hoặc bình đồ cục bộ
bản đồ hàng hải đặc biệt Một loại bản
đồ biển, bao gồm: 1) Bản đồ dẫn đường
(có phủ lưới đặc biệt để xác định vị trí tàu,
thuyền trên biển nhờ hệ thống dẫn đường
bằng rađiô Lưới toạ độ này được vẽ trên
nền bản đồ hàng hải; 2) Bản đồ dẫn
đường thủ công nghiệp, ví dụ: bản đồ dẫn
đường đánh bắt cá; 3) Bản đồ đặc chủng,
dùng để thực hiện những nhiệm vụ chiến
thuật linh hoạt của hải quân hoặc huấn
luyện quân sự
bản đồ hàng không Bản đồ chuyên
môn dùng để phục vụ việc lái máy bay, lập
kế hoạch bay và đảm bảo các chuyến bay
Nội dung bản đồ gồm cơ sở của bản đồ
địa lí chung và các yếu tố nội dung chuyên
môn (các góc phương vị vô tuyến điện, các
vật định hướng bằng mắt và bằng vô tuyến
định vị, các đối tượng và đỉnh núi nguy
hiểm cho chuyến bay ) Theo ý nghĩa,
bản đồ hàng không được phân ra: bản đồ
bay (để lập kế hoạch bay và lái máy bay
theo tuyến), bản đồ trên máy bay (để dẫn
đường có sử dụng các phương tiện kĩ
thuật vô tuyến và thiên văn), các bản đồ
chuyên môn (bản đồ độ lệch từ trường,
dẫn đường bằng vô tuyến ) Tuỳ thuộc
bán kính hoạt động của máy bay mà thành
lập các bản đồ tỉ lệ từ 1:200 000 đến
1:4 000 000 theo các lưới chiếu thuận tiện
cho việc giải quyết các nhiệm vụ hàng
không Xt bản đồ bay.
bản đồ hành chính Bản đồ thể hiện
ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo
địa danh và các yếu tố cơ sở địa lí (dân
cư; thủy hệ; giao thôn; yếu tố kinh tế, văn
hóa, xã hội) Trên bản đồ, các vùng hành
chính thường biểu thị bằng các nền màu
khác nhau Để làm nổi bật ranh giới hành
chính, có thể sử dụng các viền màu cho
các đơn vị hành chính Đây là loại bản đồ
chuyên đề được thành lập phổ biến nhất
Ở Việt Nam, hệ thống bản đồ hành chính cấp tỉnh đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập và phát hành cho 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Hệ thống bản đồ hành chính cấp huyện, cấp xã cũng được nhiều tỉnh, thành phố đầu tư kinh phí thành lập phục vụ công tác quản lí hành chính lãnh thổ của địa phương
bản đồ hiện trạng rừng Bản đồ thể hiện
sự phân bố, tình trạng và các loại hình rừng trên một vùng lãnh thổ nhất định Tùy theo vùng lãnh thổ mà có tỉ lệ khác nhau, phản ánh các chi tiết khác nhau và các yếu
tố liên quan đến rừng được thể hiện ở mức độ khác nhau
bản đồ hiện trạng sử dụng đất Bản đồ
chuyên đề về đất đai thường được thành lập theo đơn vị hành chính các cấp, nội dung bản đồ thể hiện đầy đủ và chính xác
vị trí, diện tích các loại đất theo hiện trạng
sử dụng đất Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thành lập trên cơ sở bản đồ địa chính (nếu có) và bản đồ địa hình kết hợp với việc điều tra bổ sung ngoài thực địa
bản đồ hiệu đẳng cấp Bản đồ thành lập
để nghiên cứu mối liên hệ của hai hiện tượng cùng một khu vực được biểu thị trên bản đồ theo cùng một phương pháp phân chia các đơn vị lãnh thổ Từ bản đồ, có thể nhanh chóng thấy được sự khác biệt về đẳng cấp của hai hiện tượng và xác định được khu vực trọng điểm cần nghiên cứu
bản đồ hình thể Bản đồ địa lí chung,
phản ánh diện mạo bề ngoài của lãnh thổ
và mặt nước, có tỉ lệ trung bình và nhỏ, mang tính chất khái quát Trên bản đồ hình thể thể hiện chi tiết dáng đất, thủy hệ, cát, băng hà, băng trôi, vùng ngập nước, mỏ khoáng sản và một số yếu tố kinh tế – xã hội (điểm dân cư, đường giao thông, ranh giới ) Bản đồ hình thể thường được thành lập ở dạng bản đồ giáo khoa
bản đồ học Một lĩnh vực khoa học, kĩ
thuật và sản xuất về thành lập, nghiên cứu
Trang 40và sử dụng bản đồ cũng như các tác phẩm
bản đồ khác Cũng có những giải thích
thuật ngữ Bản đồ học như sau: Khoa học
về sự phản ánh và nghiên cứu các hiện
tượng tự nhiên và xã hội bằng bản đồ như
là những mô hình (quan điểm mô hình –
nhận thức); khoa học về một dạng bản đồ
truyền đạt thông tin (quan điểm truyền
thông); Khoa học về ngôn ngữ bản đồ
(quan điểm ngôn ngữ); Khoa học về mô
hình hóa và nhận thức địa hệ mang tính hệ
thống thông tin – bản đồ (quan điểm thông
tin địa lí) Bản đồ học được chia thành các
bộ môn: Lí thuyết chung về bản đồ học,
toán bản đồ, thiết kế và biên vẽ bản đồ,
trình bày bản đồ, in bản đồ, kinh tế và sản
xuất bản đồ, sử dụng bản đồ, lịch sử bản
đồ học, nguồn tư liệu bản đồ, lưu trữ bản
đồ, tin học bản đồ, địa danh học bản đồ
Đặc biệt, còn phân biệt bản đồ học địa lí là
một lĩnh vực bản đồ học nghiên cứu sự
biểu thị và nghiên cứu địa hệ bằng bản đồ
Bản đồ học có quan hệ chặt chẽ với nhiều
bộ môn khoa học, kĩ thuật và nghệ thuật
như triết học, toán học, tin học, trắc địa,
các khoa học về Trái Đất, nhiều khoa học
xã hội, in, viễn thám, vẽ kĩ thuật và nghệ
thuật hội hoạ
Sơ lược lịch sử phát triển của Bản đồ
học
1) Bản đồ học thời kỳ Cổ đại:
Khái niệm về biểu thị bản đồ trên mặt đất
cong lên mặt phẳng thuộc công của các
nhà bác học Hy Lạp cổ đại Họ đã xác định
được hình dạng (hình cầu), kích thước của
Trái Đất và đã biết chia thành các đường
kinh tuyến, vĩ tuyến, thiết lập lưới chiếu
bản đồ Tác giả của công trình này là nhà
bác học Eratôxphen 276-194 tCN Trong
giai đoạn cổ đại, khoảng cuối thế kỷ 1, 2 ở
La Mã cổ đại, sự phát triển kến thức về
bản đồ đã đạt tới đỉnh cao Từ năm 90 đến
năm 168 (thời kỳ Đế quốc La Mã hưng
thịnh), nhà bác học La Mã gốc Ai Cập
Klapvơđia Ptôlêmê đã đưa ra những lý
thuyết, định nghĩa chính xác về môn bản
đồ học, ông đã xây dựng lưới chiếu bản
đồ, làm cơ sở thành lập 27 tấm bản đồ thế giới và 26 tấm bản đồ tỉ lệ lớn trên các lục địa: bản đồ các nước, các thành phố, các dãy núi, sông suối Trong các bản đồ đó,
vị trí của các vùng được xác định bằng toạ
độ địa lí, phục vụ cho việc nghiên cứu các quốc gia cổ đại thời đó Đó là một công trình nổi tiếng cho tới tận ngày nay 2) Bản đồ học thời kỳ Trung đại:
Những nước lớn, phát triển trong thời kỳ này như Trung quốc và vùng Ả Rập được coi là có nền bản đồ học phát triển nhất, nhưng những thành tựu đó lại không có giá trị sử dụng đáng kể trong các giai đoạn phát triển sau này của bản đồ học (trừ sự phát minh ra địa bàn) Khi xã hội vào thời
kỳ Phục Hưng, sự giao lưu buôn bán giữa các nước Đông-Tây phát triển, khi đó mới xuất hiện những bản đồ đi biển đầu tiên ở I talia Đến thế kỷ 15, ở châu Âu đã xuất hiện những tờ bản đồ in (1472) Mặt khác, phát minh của Ptôlêmê, do có tính hệ thống cao và không mang dấu ấn của Tôn giáo nên khi đó đã được dịch ra tiếng Latinh và được phổ biến rộng rãi Đến cuốithế kỷ 16, trên thế giới đã xuất hiện tới 40 nhà máy in bản đồ Những phát minh vĩ đại của khoa học bản đồ cũng xuất hiện vào cuối thế kỷ này Sau đó, sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản đã tạo điều kiện cho Bản đồ học ngày càng phát triển, với mục đích phục vụ cho việc quản lí các vùng đất mới xâm chiếm, giao lưu buôn bán Trong giai đoạn này, những công trình nổi tiếng nhất thuộc trường phái Flaman của Regard Mecator (1512-1594) Đã thành lập bản đồ thế giới (1569) trong lưới chiếu hình trụ đồng góc dùng để đi biển (hải đồ ngày nay) và tập bản đồ mang tên ông Sự nổi bật ở những công trình này là nội dung thể hiện phong phú, sự thống nhất cao, nguyên tắc toán học chặt chẽ, chất lượng trình bày