Trong bài viết này tác giả phân tích một số bất cập trong việc sử dụng các thuật ngữ trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ, từ đó đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền để tìm ra hướng giải quyết để chuẩn hóa các thuật ngữ chưa được thống nhất này.
Trang 1MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ THUẬT NGỮ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
KS Lê Văn Thái
Khoa Kỹ thuật hạ tầng đô thị, trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: trong bài báo này tác giả phân tích một số bất cập trong việc sử dụng các thuật ngữ
trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ, từ đó đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền để tìm ra
hướng giải quyết để chuẩn hóa các thuật ngữ chưa được thống nhất này
1 Đặt vấn đề
Lĩnh vực trắc địa và bản đồ
(TĐ&BĐ) là ngành khoa học xuất hiện rất
sớm từ nhu cầu của thực tế cuộc sống con
người Do có xuất xứ từ xa xưa, trên những
vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới nên
những thuật ngữ dùng trong TĐ&BĐ hiện
nay cũng có nguồn gốc từ nhiều thứ tiếng
khác nhau: Hi Lạp, Anh, Nga, Trung
Quốc… Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào lĩnh vực TĐ&BĐ đã tạo nên
bước ngoặt về công nghệ, tạo ra những dạng
sản phẩm vô cùng phong phú và được ứng
dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời
sống xã hội - kinh tế - kỹ thuật và an ninh
quốc phòng Tuy nhiên, những thuật ngữ này
chưa có sự thống nhất cao trong các ý kiến
của các nhà chuyên môn và cũng chưa có
quy định sử dụng bằng văn bản của các cơ
quan có thẩm quyền nên gây sự hiểu nhầm
cho người học và gây nhiều khó khăn cho
đơn vị hoạt động ở lĩnh vực này
Mục tiêu của bài báo này là đánh giá
những mâu thuẫn trong việc sử dụng thuật
ngữ trắc địa bản đồ, từ đó đưa ra biện pháp
sử dụng tốt hơn, góp phần xây dựng một hệ
thống ngôn ngữ đo đạc thống nhất
2 Lược sử ngành TĐ&BĐ trên thế giới và
ở Việt Nam
a Lược sử TĐ&BĐ trên thế giới
Ngày nay chúng ta biết khá rõ lịch sử phát triển của TĐ&BĐ thông qua các tư liệu khảo
cổ học và bản đồ học Người ta tìm thấy những khoanh vùng chiếm hữu đất làm nông nghiệp ngay từ cuối thời đồ đá mới Vào khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, việc phân chia và chiếm hữu đất đai ở Ai Cập đã hình thành Hàng năm, sau các trận lũ của sông Nin, người ta phải xác định lại ranh giới chiếm hữu lãnh thổ Chính điều đó đã thúc đẩy con người sáng tạo ra các dụng cụ
và phương pháp thích hợp để đo đạc phân chia đất Thuật ngữ “trắc địa” tức “phân chia đất đai” được ra đời từ đấy Sau Ai Cập đến nền Văn Minh của Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, Người Hy Lạp đã đề ra thuyết trái đất là một khối cầu Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên con người đã dùng các phương pháp đo đạc để xác định độ dài của cung kinh tuyến và đưa
ra kích thước gần đúng của quả đất Bản đồ đầu tiên đã được nhà thiên văn học Teleme
vẽ vào thế kỷ thứ II sau công nguyên
Thế kỷ thứ XVI, nhà bản đồ học Mecartor đã tìm ra phép chiếu phương vị ngang đồng góc
để vẽ bản đồ Thế kỷ XVII, nhà bác học Lambert đo được độ dài kinh tuyến qua Pari
và đặt ra đơn vị độ dài đo là mét Thế kỷ XIX, nhà toán học Gauss tìm ra phương pháp chiếu bản đồ mới
Trang 2Trong những thập kỷ gần đây, những
thành tựu mới về khoa học kỹ thuật đã làm
cho khoa học TĐ&BĐ có những bước phát
triển mạnh: Kỹ thuật thăm dò từ xa (viễn
thám) đã cho phép thành lập bản đồ từ ảnh
máy bay, ảnh vệ tinh Nhiều nước công
nghiệp phát triển đã chế tạo ra nhiều máy
trắc địa có kích cỡ nhỏ, nhiều tính năng, có
độ chính xác cao, sử dụng máy tính điện tử
vào việc giải các bài toán trắc địa có khối
lượng lớn … là những thành tựu mới nhất
của khoa học áp dụng trong TĐ&BĐ
b Lược sử TĐ&BĐ ở Việt Nam
Sự phát triển của ngành TĐ&BĐ ở
Việt Nam đã có từ rất lâu Nhân dân ta từ
thuở xưa đã áp dụng kiến thức trắc địa và kỹ
thuật đo đạc để xây thành Cổ Loa xoáy trôn
ốc và sau đó xây dựng kinh đô Thăng Long,
đào kênh nhà Lê (Tiền Lê)… Đặc biệt dưới
thời nhà Lê, năm 1467, vua Lê Thánh Tông
đã cho người đi khảo sát núi sông để thành
lập bản đồ nước Đại Việt thời Hồng Đức
Đây là tư liệu quý về quản lý lãnh thổ, địa
chính, trắc địa, bản đồ tạo nên lịch sử 500
năm của ngành
Đầu thế kỷ XX, sau khi thôn tính và
lập nền đô hộ, Pháp đã tiến hành công tác đo
vẽ cho toàn bộ Đông Dương nhằm mục đích
khai thác tối đa cho vùng đất này Việc đo
đạc được tiến hành có tổ chức, áp dụng các
phương pháp đo khoa học và các máy móc
có chất lượng cao Những bản đồ số, hồ sơ
còn lưu trữ nói lên điều đó Hiện nay những
bản đồ, những số liệu đo đạc từ trước năm
1945 vẫn còn được dùng trong một số
ngành
Trong thời kháng chiến chống Pháp
(1646-1954) công tác trắc địa chủ yếu phục
vụ cho mục đích quân sự như: Trắc địa pháo
binh, công binh, trinh sát… Sau cuộc kháng
chiến thành công, nhà nước Việt Nam ra đời năm 1959 đánh dấu một bước trưởng thành của ngành trắc địa Việt Nam
3 Một số vấn đề trong việc sử dụng thuật ngữ đo đạc bản đồ
Sự phong phú về vốn thuật ngữ từ cổ cho tới hiện đại, từ các nước có chữ Latinh đến các nước có chữ không tự dạng Latinh Đồng thời, với việc ứng dụng công nghệ mới
và lĩnh vực TĐ&BĐ trong những năm gần đây, đã làm xuất hiện hàng loạt những thuật ngữ mới Ví dụ: Bản đồ số, bản đồ chuyển động, trái đất số, hệ thống thông tin địa lý, địa tin học, ảnh vệ tinh, mô hình số độ cao, siêu
dữ liệu… Những thuật ngữ này cũng chưa có
sự thống nhất cao trong các ý kiến của các nhà chuyên môn và cũng chưa có quy định sử dụng bằng văn bản của các cơ quan có thẩm quyền Ví dụ: Khái niệm về digital map được biểu hiện bằng các thuật ngữ tiếng Việt: Bản
đồ số, bản đồ dạng số, bản đồ số hóa, bản đồ
kĩ thuật số… Khái niệm baseline được biểu hiện bằng các thuật ngữ tiếng việt: cạnh đáy, vectơ không gian… Bản chú giải trong bản
đồ được sử dụng với các thuật ngữ: Chỉ dẫn, giải thích, chú dẫn… Khái niệm Geodatabase được biểu hiện bằng các thuật ngữ: Cơ sở dữ liệu địa lí, cơ sở dữ liệu thông tin địa lí, cơ sở
dữ liệu nền địa lí, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lí; Máy để đo độ cao được gọi là: Máy thủy chuẩn, máy thủy bình… Đường bình độ còn được gọi là: Đường đồng mức, đường đẳng cao, vòng cao độ…
Lưới khống chế đo đạc về tọa độ được gọi là lưới khống chế mặt phẳng, lưới khống chế mặt bằng
Thuật ngữ trắc địa từ lâu đã được các nhà chuyên môn sử dụng tương đối phổ biến trong công tác chuyên môn (Lưới khống chế trắc địa, trắc địa mỏ, trắc địa công trình, trắc
Trang 3địa ảnh, trắc địa địa hình, điểm khống chế
trắc địa…) Cũng như đặt tên cho các cơ
quan hoạt động trong lĩnh vực này (Liên
đoàn trắc địa địa hình, Công ty trắc địa bản
đồ số 3, Xí nghiệp liên hiệp trắc địa và bản
đồ, Khoa trắc địa, Bộ môn trắc địa ảnh…)
Trong những năm gần đây thuật ngữ này đã
bị các nhà chuyên môn thay thế bằng thuật
ngữ đo đạc (lưới đo đạc, điểm đo đạc cơ sở,
đo đạc địa chính, Bộ môn Đo ảnh và Viễn
thám, Công ty Đo đạc ảnh Địa hình, Công ty
Đo đạc Địa chính và Công trình…)
Tuy vậy ngay trong cùng một hệ
thống văn bản, hệ thống tổ chức cũng không
có cách gọi thống nhất theo một nguyên tắc
nhất định Ví dụ: Xí nghiệp Trắc địa bản đồ
(thuộc công ty đo đạc ảnh địa hình, công ty
đo đạc địa chính và công trình), Trung tâm
dịch vụ Tư liệu TĐ&BĐ (thuộc trung tâm dữ
liệu TĐ&BĐ)…
Thuật ngữ TĐ&BĐ cũng thường
được nhiều cơ quan, địa phương chuyển
thành Đo đạc và Bản đồ Ví dụ: Phòng Quản
lí ĐĐ&BĐ, Trung tâm ĐĐ&BĐ, Xí nghiệp
ĐĐ&BĐ, thông tin ĐĐ&BĐ, hệ thống
ĐĐ&BĐ…
Có nhiều thuật ngữ về những khái
niệm, sản phẩm được sử dụng trong các văn
bản quy phạm pháp luật, thiết kế kỹ thuật,
giáo trình giảng dạy, tài liệu kĩ thuật… chưa
chuẩn xác Ví dụ: Khái niệm về tổng quát
hóa (generalization): Một số tài liệu chuyên
môn sử dụng thuật ngữ khái quát hóa (đo vẽ
địa hình – NXB Đại học Quốc gia, 2001;
Bản đồ học – NXB đại học quốc gia, 2006)
Cách gọi như vậy chưa bao quát hết ý nghĩa
của nội dung công việc bao gồm hai phần:
Lựa chọn các yếu tố cần thiết và bỏ đi các
yếu tố không cần thiết, khái quát hóa bản đồ
về hệ thống phân loại, đơn giản hóa hình
dạng của đối tượng Phần lớn các văn bản thiết kế kĩ thuật của đơn vị thi công thường không sử dụng đúng thuật ngữ này và diễn tả bằng cách diễn giải: “lựa chọn, lấy, bỏ”;
“tổng hợp, lấy bỏ” (quy định về thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.)
Tờ bản đồ in trên giấy (tờ in) được gọi là bản in (trùng với bản in là bản kẽm sử dụng để in trên máy in offset)
Có những thuật ngữ do tự bản thân người viết tài liệu dịch từ các tài liệu nước ngoài, mỗi tác giả hiểu vấn đề theo cách riêng, do
đó có rất nhiều cách gọi khác nhau Từ đó, cũng nãy sinh ra những cách hiểu khác nhau của cùng một công việc thực hiện nhưng bằng những phương tiện khác nhau
Hiện nay để thực hiện những công việc trong ngành TĐ&BĐ có thể thực hiện theo hai phương pháp (thường gọi là công nghệ truyền thống và công nghệ số hoặc công nghệ tin học); do có đặc thù mỗi công nghệ, mà kết quả của một số bước công nghệ giống nhau cho ra kết quả khác nhau Vì vậy, nếu không sử dụng bằng thuật ngữ phù hợp sẽ khó phân biệt được đó là dạng sản phẩm của công nghệ nào Ví dụ: Trong biên
vẽ bản đồ tỉ lệ lớn thành bản đồ tỉ lệ nhỏ hơn
ở công nghệ truyền thống thường được gọi
là liên biên bản đồ Tuy nhiên, trong công nghệ số, thuật ngữ này không còn phù hợp Thông thường, trong các văn bản quy phạm pháp luật có kèm theo nội dung giải thích một số từ ngữ nhưng với số lượng rất ít
và lời giải thích rất ngắn gọn và được hiểu là những thuật ngữ này chỉ phục vụ cho việc những khái niệm được nêu trong văn bản đó Thậm chí, trong cùng một văn bản cũng có những thuật ngữ sử dụng không thống nhất
Do đó, gây nhiều khó khăn cho người đọc
Trang 4Đối với tên gọi các loại máy móc,
phương pháp đo đạc, hạng mục công việc,
văn bản tài liệu … cũng có nhiều trường hợp
sử dụng khác nhau do thói quen của từng
ngành, từng địa phương
Ví dụ: Tập bản đồ – Atlat – Atlas;
Chú thích – Chú dẫn – Chỉ dẫn – Giải thích;
Đường đẳng cao – Đường đồng mức – Vòng
cao độ – Đường bình độ; Trắc địa – Trắc
đạc; Máy thủy bình – Máy thủy chuẩn –
Máy đo độ cao
Trước đây các bản đồ trong sách giáo
khoa do NXB Giáo dục xuất bản gọi là sơ đồ,
hiện nay quy định gọi là lược đồ Một số quy
định mới đã thay cách gọi Bản đồ địa hình
nhà nước – Bản đồ địa hình quốc gia, Điểm
tọa độ Nhà nước – Điểm tọa độ Quốc gia…
Thực tế hiện nay, số lượng sách
chuyên ngành TĐ&BĐ được xuất bản rất ít
vì các lí do: Thiếu người biên soạn, thiếu
kinh phí, vấn đề bản quyền… Mặt khác, mặc
dù mạng internet đã có tốc độ phát triển rất
nhanh nhưng các tài liệu chuyên ngành về
ĐĐ&BĐ được đăng tải còn rất ít, nhất là các
tài liệu về tiếng Việt Chính vì vậy, việc phổ
biến các kiến thức chuyên ngành một cách
rộng rãi còn nhiều hạn chế; rất nhiều cán bộ
quản lý, cán bộ kĩ thuật gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi soạn thảo các văn bản hoặc lập thiết kế, luận chứng kinh tế - kĩ thuật Do vậy, đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý, kĩ thuật
4 Kết Luận
Tóm lại, thuật ngữ TĐ&BĐ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của con người Nếu các thuật ngữ không có tính thống nhất, sẽ gây ra cho người tiếp cận những cách hiểu khác nhau tạo nên hiểu nhầm, và gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, kĩ thuật, dẫn đến thực thi vấn đề mâu thuẫn với nhau
Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản lý là cần xây dựng một hệ thống các quy định bằng văn bản của các cơ quan có thẩm quyền có tính thống nhất cao trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ Để làm được điều này cần có sự phối hợp giữa các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan ban hành luật Mặt khác cần có cơ chế thực thi, bắt buộc mọi người phải tuân thủ thực hiện Có như vậy mới đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống văn bản đo đạc và bản đồ để thuận lợi cho công tác chỉ đạo điều hành, quản lý xã hội và công tác quy hoạch, kế hoạch
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] PGS.TS Nguyễn Trọng San Giáo trình đo đạc địa chính NXB Hà Nội 2006
[2] Trần Đức Thanh Đo vẽ địa hình NXB đại học quốc gia Hà Nội 2001
[3] Nguyễn Tấn Lộc Trắc địa đại cương NXB đại học quốc gia TP.HCM
[4] TS Triệu Văn Hiến Bản Đồ Học NXB đại học Mỏ Địa chất 1992
[5] Nhịp cầu bạn đọc Tạp chí Tài nguyên & Môi trường Trang 48 - 49 (15) 2012
[6] PGS.TS Võ Chí Mỹ Từ điển Kỹ thuật Trắc địa Bản đồ Anh – Việt NXB Bản Đồ 2008
[7] https://sites.google.com/site/buimanhhungvfu/home/gps-va-ban-do-so
[8] http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=38&ID=121
434&Code=ULOK121434