1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn DẠY TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 9

18 903 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 110,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi làm bài tập làm văn , học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức Tiếng Việt để viết đúng chính tả ,viết câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản nhằm đạt được yêu cầu của đề

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP

DẠY TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 9 A/ ĐẶT VẤN ĐỀ :

Phần tập làm văn Nghị luận lớp 9 nằm ở chương trình học kì II, có tính tích hợp đồng tâm từ lớp 7 và lớp 8

Lớp 7 : - Tìm hiểu chung về văn nghị luận

- Các kiểu nghị luận: chứng minh , giải thích Lớp 8 : + Ôn tập , luyện tập về luận điểm

+ Biểu cảm trong văn nghị luận

+ Miêu tả và tự sự trong văn nghị luận

Lớp 9: - Nghị luận về vấn đề xã hội

- Nghị luận về vấn đề văn học Yêu cầu chủ yếu của tập làm văn là củng cố tri thức và kỹ năng đã được học ở tiết đọc hiểu văn bản và tiết Tiếng Việt Đặc biệt sách giáo khoa mới coi phần tập làm văn là sự tổng hợp của ngữ và văn (Tích hợp ngang) và nguyên tắc ôn cũ-hiểu mới (Tích hợp đồng tâm ) và đảm bảo truyền thụ tri thức có hệ thống khoa học (Tích hợp dọc)

Khi làm bài tập làm văn , học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức Tiếng Việt để viết đúng chính tả ,viết câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản nhằm đạt được yêu cầu của đề bài và để có một văn bản hoàn chỉnh Phần văn bản giúp học sinh có kiến thức để trình bày vốn hiểu biết của mình Như vậy ,tập làm văn là một môn học mang tính chất thực hành ,toàn diện ,tổng hợp và sáng tạo Nó có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Ngữ văn

Ở nước ta ,văn nghị luận là một thể văn có truyền thống lâu đời ,có giá trị và tác dụng to lớn trong trường kì lịch sử , trong công cuộc dựng nước và giữ nước, trong phản ánh nhận thức thẩm mĩ của dân tộc về văn chương, nghệ thuật

… Có thể kể đến các tác giả nổi tiếng như : Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai … Đây là các tác giả đã thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận , giá trị nghệ thuật cao,giá trị nhân văn sâu sắc

Thông qua phần tập làm văn nghị luận, giáo viên có thể củng cố, hình thành cho học sinh các kỹ năng như: quan sát , so sánh, phân tích , tổng hợp Đồng thời hình thành và phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày lí lẽ, dẫn chứng nhằm diễn tả suy nghĩ và ý kiến riêng về vấn đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong văn học nghệ thuật

Trang 2

Xuất phát từ sự nhận thức vai trò quan trọng của việc dạy - học Tập làm văn Nghị luận, người viết xin đưa ra những nguyên nhân và giải pháp cần thiết cho phần Tập làm văn Nghị luận lớp 9 Đây là sự đúc kết kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tìm hiểu từ thực tế học tập của học sinh Đưa ra ý kiến này với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy Tập làm văn Nghị luận lớp 9 Từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc cải tiến phương pháp dạy-học Tập làm văn trong bậc Trung học cơ sở

B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :

I/ THỰC TRẠNG :

1/ Chương trình Tập làm văn nghị luận :

a/ Về thời gian và kết cấu chương trình.

Học sinh được học văn nghị luận ở lớp 7 là 15 tiết và 11 tiết ở lớp 9.Nội dung của các bài học chỉ rõ đặc trưng của bài văn nghị luận là nêu ý kiến,trình bày lý lẽ,ba yếu tố của văn nghị luận là luận điểm,luận cứ và lập luận.Chương trình chú trọng nghị luận xã hội và nghị luận văn học nhằm hướng suy nghĩ của học sinh vào các vấn đề của đời sống và văn học.Cụ thể như sau :

Nội dung : + Tìm hiểu chung về văn nghị luận

+ Đề văn nghị luận

+ Yêu cầu của bài văn nghị luận

+ Bố cục và lập luận

+ Lập luận chứng minh

+ lập luận giải thích

Nội dung : + Thao tác phân tích và tổng hợp + Nghị luận về một hiện tượng,sự việc

+ Nghị luận về một tư tưởng,đạo lý + Nghị luận về nhân vật văn học + Nghị luận về một đoạn thơ,bài thơ Yêu cầu :

-Nghị luận được xem như một kiểu

bài độc lập

- Thao tác đơn giản,chứng minh và

giải thích

- Dung lượng bài viết từ 1-4 trang vở

học sinh

Yêu cầu :

- Thấy được sự kết hợp các phương thức

- Vấn đề nghị luận đa dạng,phức tạp

- Dung lượng bài viết nhiều hơn từ 4 –7 trang vở học sinh

b/ Về sách giáo khoa và sách tham khảo :

Trang 3

- Qua bảng trên ta thấy văn nghị luận có sự tích hợp đồng tâm.Ở lớp 7 học sinh hiểu mục đích, nội dung,bố cục,kiểu bài nghị luận.Đến lớp 8 và lớp 9 học sinh được nâng cao hơn

Cách xây dựng chương trình đảm bảo tính hợp lý,vừa có sức khái quát,vừa phong phú đa dạng phù hợp với nguyên tắc vừa sức cho học sinh

Các tiết Tập làm văn nghị luận theo trình tự :Xây dựng bài qua thực

hành,thực hành nhận biết và thực hành tạo lập văn bản.Sách giáo khoa chú trọng cả lý thuyết và thực hành.Phần tìm hiểu có nhiều câu hỏi tình huống, phần luyện tập có phần đọc thêm với mục đích cung cấp kiến thức bổ trợ.Đúc kết kiến thức có phần ghi nhớ

- Sách tham khảo cơ bản nhất là sách giáo viên,được biên soạn sát với sách giáo khoa.Sách có phần lưu ý và phần hướng dẫn cụ thểvề phương pháp rất thuận lợi cho việc giáo viên tham khảo

Sách tham khảo cho học sinh khá phong phú gồm:các loại sách văn mẫu.Các sách này có giá trị nhưng cũng có phần phức tạp vì có nhiều cách trình bày mang tính cá nhân

2/ Về phía giáo viên :

Các thầy cô giáo đã thực hiện nghiêm túc quy định,nề nếp về chuyên môn, giảng dạy nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao Đặc biệt những người có tâm huyết với nghề nghiệp đã tìm tòi phương pháp mới để truyền đạt kiến thức cho học sinh có hiệu quả Đặc biệt tất cả các giáo viên đã được tập huấn thay sách, đã áp dụng phương pháp dạy mới vào chương trình

Tuy nhiên vẫn còn có những thầy cô do còn bỡ ngỡ, hoặc do không đủ thời gian nên chưa giúp học sinh nắm vững kiến thức nghị luận và vận dụng kiến thức

Việc giáo viên chấm bài và trả bài cho học sinh còn làm qua loa,đại khái Các tiết học văn bản và Tiếng Việt chưa có sự tác động thích đáng cho Tập làm văn

Quá trình dự giờ, thao giảng để rút kinh nghiệm đối với tiết Tập làm văn còn hạn chế.Bởi vì phần lớn giáo viên có tâm lý chung là ngại dạy và dự giờ giảng dạy tiết Tập làm văn

3/ Về phía học sinh :

Rất ít học sinh say mê học văn Số học sinh giỏi văn thực sự rất hiếm Học sinh không biết phương pháp học do không tìm hiểu và vận dụng lý thuyết để làm văn.Thậm chí có những em không sử dụng đến sách giáo khoa.Học sinh

Trang 4

cũng không biết vận dụng kiến thức của Tiếng Việt và văn bản vào làm văn Đặc biệt các em chưa xác định thế nào là luận điểm, luận cứ và lập luận

Giờ trả bài học sinh chỉ quan tâm đến điểm số mà không quan tâm đến việc sửa chữa các lỗi để rút kinh nghiệm

Tệ hại hơn là học sinh không xác định được mình viết đúng hay sai, hay hay dở, đúng sai, hay dở tới mức nào Hơn nữa các em sử dụng bút xoá trong bài làm rất tuỳ tiện

4/ Về cách kiểm tra đánh giá :

Cấu trúc đề kiểm tra hoặc thi, phần làm văn chiếm 6 hoặc 7 điểm ( gọi là phần tự luận)

Đề bài kiểm tra thường là ở kiến thức cơ bản,quen thuộc

Các bài làm văn theo văn mẫu vẫn phải cho điểm dẫn đến tình trạng học sinh làm bài rập khuôn máy móc

5/ Hậu quả :

Khả năng nói và viết Tập làm văn nghị luận của học sinh còn yếu.Học sinh không đủ trình độ năng lực ứng dụng những kiến thức Tập làm văn vào cuộc sống

Cách đánh giá một bài làm văn có khi không phản ánh được thực chất, trình độ khả năng của học sinh

Trong kiểm tra thi cử,học sinh chủ yếu làm được phần trắc nghiệm, còn phần tự luận(Tập làm văn) đa số chỉ đạt được từ 2 hoặc 3 điểm

II/ NGUYÊN NHÂN :

1/ Cách dạy của giáo viên :

Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa đảm bảo sự kết hợp giữa văn bản-Tiếng Việt-Tập làm văn

Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả cao Học sinh học thụ động buộc giáo viên phải thuyết giảng nhiều.Chính điều này làm tê liệt sự hào hứng học văn bản, các em không nắm được kiến thức văn chương, từ đó dẫn đến thiếu vốn kiến thức làm Tập làm văn

Giờ Tiếng Việt đòi hỏi phải dạy cho học sinh dùng được Tiếng Việt một cách chính xác để giao tiếp,để cảm thụ được cái đẹp ngôn từ và có cách diễn đạt tốt trong văn bản.Nhưng trong tiết học,học sinh chưa được tận dụng tối đa các tình huống giao tiếp.Thời gian thực hành, luyện tập chưa nhiều.Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh viết còn sai chính tả, dùng từ đặt câu chưa đúng ngữ pháp Đây là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng bài làm văn

Trang 5

Giờ tập làm văn học sinh học chưa được học đến nơi đến chốn, thực tế sách giáo khoa vẫn còn có một số bài trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh Trong một tiết học, phần luyện tập quá ít thời gian Hơn nữa giáo viên không nhắc lại kiến thức để củng cố cho học sinh

Việc ra đề kiểm tra nhiều khi cũng chưa đúng mức,thường là yêu cầu quá cao, hoặc vấn đề quá quen thuộc

Việc chấm bài cũng có thiếu sót,thường là giáo viên chỉ cho học sinh mức điểm trung bình.Có những bài chỉ chấm điểm mà không có một lời phê nào Một tiết trả bài làm văn chưa được đầu tư cao.Vì thế học sinh không có cơ hội rút kinh nghiệm nhiều

2/ Cách học của học sinh:

Phần lớn học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi lên lớp.Các sự kiện, hiện tượng văn học được cung cấp ở lớp, học sinh chưa chịu khó tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức

Đối với môn Tập làm văn, học sinh học tập một cách máy móc.Trước một đề bài, các em ít khi nghiên cứu đề, chỉ đọc loáng thoáng và cứ thế học sinh phóng bút viết tràng giang đại hải, không chốt lại ở một điểm nào

Nhiều bài làm văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo nàn,thiếu chính xác và không theo trình tự Trong nghị luận văn học thì chưa có sự phân biệt về thể loại Các em thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay, cái đẹp có thật trong văn chương do không chú ý trong giờ đọc hiểu văn bản.Vì vậy khi làm văn phân tích chỉ là sự suy diễn một cách nôm na

Còn nghị xã hội các em làm bài đại khái chung chung Khi làm bài, học sinh chưa có ý thức sắp xếp các luận cứ, luận điểm theo một trình tự nhất định Đa số bài làm văn thấp điểm còn do chưa biết cách chuyển đoạn chuyển ý.Và không làm theo trình tự hướng dẫn các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý Bên cạnh đó cũng còn có nhiều bài làm câu què, câu cụt, câu tối nghĩa khiến giáo viên phải phán đoán, suy xét mới hiểu nổi Tình trạng mắc lỗi về chính tả, ngữ pháp và dùng từ sai cũng khá phổ biến Có bài suốt từ mở đầu đến kết thúc không có một dấu câu nào Như vậy làm sao mà bài văn của học sinh đạt điểm cao được

III/ GIẢI PHÁP :

1/ Cách giảng dạy của giáo viên :

- Đổi mới cách giảng dạy theo phương pháp tích cực :

+ Tăng cường tổ chức các hoạt động của học sinh

Trang 6

+Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một cách chủ động

+Tăng cường học tập độc lập cá nhân phối hợp với hoạt động nhóm

+ Học sinh tự đánh giá được năng lực và kết quả làm văn của mình

- Giáo viên cần nắm chắc nội dung và phương pháp giảng dạy Trong quá trình giảng dạy cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của người học Các bước lên lớp cần phải linh động dựa vào nội dung bài giảng và tình hình cụ thể của mỗi lớp

Quá trình dạy Tập làm văn, giáo viên chú ý đến hoạt động giao tiếp Đây là một biện pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong việc tạo lập văn bản Cần phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực sự Các tiết học cần được học sinh chuẩn bị bài tốt để tham gia vào hoạt động nhận thức và thực hành Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự khám phá các tri thức trong phần ghi nhớ.Từ điểm ghi nhớ mà cụ thể hoá bài đã học

Khi thiết kế giáo án giáo viên cần chú ý các điểm sau:

- Phân bố cân đối thời gian giữa lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều tới các thao tác rèn luyện kỹ năng: nói, đọc, nghe, viết

- Giáo viên phải có sự đầu tư thực sự cho tiết dạy để nghiên cứu, tìm và lựa chọn những hoạt động thích hợp đối với từng bài dạy, từng tiết học Không nên

kì vọng có nhiều hoạt động diễn ra trong một tiết trên lớp

- Tương ứng với các hoạt động của giáo viên là hệ thống các hoạt động của học sinh Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao tác, hành vi thái độ của

mình.Trong giờ học không nên để học sinh rơi vào thế bị động hay thụ

động.Trong tiết học học sinh tự lựa chọn phương pháp lĩnh hội, tiếp thu kiến thức Tức là học sinh ghi nhiều hay ít, ghi chi tiết cụ thể hay theo mô hình.Cái đích cần đạt đến của tiết văn nghị luận là học sinh tiếp thu tri thức lý

thuyết,biến nó thành vốn riêng để điều chỉnh thao tác và kỹ năng tạo lập văn bản

- Khi thiết kế giáo án tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng tạo của học sinh

Diễn biến của tiết dạy luôn ở trạng thái động tuỳ thuộc vào các yếu tố: Trình độ người học,thái độ tâm lý người dạy, điều kiện đồ dùng dạy học…Cùng một giáo viên, một giáo án ,nhưng nếu dạy ở hai lớp khác nhau thì sẽ có hai tiết dạy với những tình huống cụ thể khác nhau Thậm chí các phương án trả lời sáng tạo của học sinh có thể giúp giáo viên bổ sung, điều chỉnh những kiến thức trong bài giảng của mình

Trang 7

- Trong tiết dạy chú ý đến hoạt động nhóm để phát huy sự sáng tạo tập thể Bên cạnh đó cần đẩy mạnh hoạt động độc lập giúp học sinh phát huy điểm

mạnh, người dạy có điều kiện đánh giá chính xác từng học sinh

- Tận dụng tiết dạy tự chọn để củng cố, nâng cao kiến , kỹ năng cho học sinh

2/ Giáo viên yêu cầu học sinh nắm vững những điểm cơ bản trong văn nghị luận:

a Văn nghị luận:

Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc một tư

tưởng,quan điểm nào đó

Các kiểu văn nghị luận: Nghị luận xã hội

Nghị luận văn học

Điều quan trọng nhất của văn nghị luận là luận điểm, luận cứ, lập luận:

Là ý kiến thể hiện tư

tưởng,quan điểm của bài

văn

Là lý lẽ,dẫn chứng đưa

ra làm cơ sở cho luận điểm

Là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm

- Trả lời câu hỏi: nói cái

gì?sẽ nêu ra điều mà ta gọi

là luận điểm

- Luận điểm được thể hiện

ngay trong:

a/ Nhan đề(Đầu đề,tựa

đề)

b/ Dưới dạng câu khẳng

định nhiệm vụ chung

- Lí lẽ là những đạo lí,lẽ phải đã được thừa

nhận,nêu ra là được đồng tình

- Dẫn chứng là sự việc,số liệu,bằng chứng để xác nhận cho luận điểm

- Lập luận bao gồm:

+ Suy lí.

+ quy nạp

+ Diễn dịch

+So sánh.

+ Nhân quả

+ tổng-phân-hợp

- Trong một văn bản nghị

luận có thể có:

a/ Luận điểm chính:Tổng

quát,bao trùm toàn bài

b/ Luận điểm phụ:Là bộ

phận của luận điểm chính

a/ Lí lẽ:

- Đặt câu hỏi:như thếnào?

vì sao?đúng hay sai? bằng cách nào?

b/ Dẫn chứng:

- Dẫn chứng lịch sử

- Dẫn chứng thực tế

- Dẫn chứng thơ văn

Lưu ý:

Khái niệm lập luận dùng thay cho thuật ngữ:luận chứng

- Các thao tác nghị luận thực sự gồm:Giải thích,chứng minh,bình luận,phân tích

Trang 8

- Luận điểm,luận cứ là nội dung của bài văn thì lập luận tạo nên giá trị về hình thức của bài văn

- Trình tự dạy văn nghị luận là:

+ Tìm hiểu chung, cách làm bài

+ Thực hành nói

+ Thực hành viết

b/ Phương pháp làm bài văn nghị luận:

Cần cho học sinh thực hành các kỹ năng:

- Tìm hiểu đề

- Lập dàn ý

- Viết theo dàn ý(Tức là viết hoàn chỉnh)

- Kiểm tra lại bài viết

Trong các bước trên,giáo viên cần chú trọng cho học sinh bước lập dàn ý: Dàn ý được hình thành trên cơ sở bước tìm hiểu đề thấu đáo Dàn ý tránh cho bài làm trùng ý, thiếu sót ý, bố cục không có sự cân đối

Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn Nó giống như bản thiết kế một ngôi nhà

Lập dàn ý sẽ đạt được thuận lợi sau:

+ Thấy được mức độ giải quyết vấn đề nghị luận Tránh được tình trạng bài làm xa đề, lạc đề

+ Có điều kiện suy nghĩ sâu xa, toàn diện hơn để điều chỉnh và phát triển hệ thống luận điểm; cân nhắc bỏ bớt ý trùng lặp, bổ sung ý chưa có, sắp xếp các ý theo trình tự hợp lí Tránh được tình trạng sót ý hoặc thừa ý

+ Hình dung được hệ thống luận điểm, luận cứ của bài văn Chủ động phân phối thời gian làm bài, phân lượng và dành thời gian thoả đáng cho trọng tâm củabài

Có dàn ý tốt khi viết thành bài văn hoàn chỉnh sẽ không vướng vấp Dàn ý in đậm trong bài làm, đảm bảo cho sự thành công của bài văn nghị luận

Cho học sinh nắm vững hai phép lập

luận quen thuộc là giải thích và chứng

minh: Lập luận chứng minh

1/ Mở bài:

- Giới thiệu vấn đề(hoàn cảnh lịch sử,

xã hội có liên quan đến vấn đề chứng

minh )

- Nêu tầm quan trọng( vai trò ,ý nghĩa

Lập luận giải thích

1/ Mở bài:

- Giới thiệu vấn đề

- Nêu tầm quan trọng…

Trang 9

xã hội) của vấn đề chứng minh

2/ Thân bài :

a Giải thích ngắn gọn luận đề

b Chứng minh lần lượt từng luận

điểm:

- Luận điểm 1 : +luận cứ (lí lẽ,dẫn

chứng)

Phân tích dẫn chứng, chuyển ý

- Luận điểm 2: Lập luận dẫn dắt đưa

dẫn chứng Phân tích dẫn chứng

3/ Kết bài :

- Nêu nhận xét chung về vấn đề

- Phát triển mở rộng vấn đề ,nêu

phương hướng áp dụng vào cuộc sống

2/ Thân bài:

a Giải thích luận đề (Thường trả lời câu hỏi : như thế nào ? Có ý nghĩa gì ? )

b Giảng giải vấn đề bằng lí lẽ để làm rõ tầm quan tầm quan trọng hoặc tác dụng của vấn đề đối với cuộc sống (Thường là trả lời câu hỏi : Tại sao? Vì sao?)

+ Luận cứ 1(Lí lẽ, dẫn chứng) + Luận cứ 2(Lí lẽ, dẫn chứng)

c Hướng người đọc suy nghĩ và hành động đúng theo vấn đề (Thường là trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Làm như thế nào?)

3/ Kết bài :

- Nhấn mạnh cách hiểu đúng vấn đề

- Liên hệ thực tế, rút ra bài học

* Học sinh cần phân biệt kiểu bài bình luận với giải thích, chứng minh:

- Bình là đánh giá xem xét một sự việc đúng hay sai, tốt hay xấu Luận là bàn thêm nhằm bổ sung, phát triển cái đúng, uốn nắn cái sai, hướng dẫn thái độ

hành động đúng

- Vậy bình luận là phương pháp lập luận dùng cách bàn bạc, phân tích giúp

người đọc, người nghe có hiểu biết chính xác, sâu rộng một vấn đề nào đó;

đồng thời giúp người đọc, người nghe có thái độ hành động đúng đối với vấn

đề đó

- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt:

+ Điểm giống nhau: Đều dùng phương pháp nghị luận để làm bài Đều sử

dụng lí lẽ, dẫn chứng

+ Điểm khác nhau:

Đề giải thích, chứng minh thường đưa ra những vấn đề đúng Thường dùng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp với phương pháp lập luận

Đề bình luận có thể có những vấn đề đúng, hoặc vừa đúng vừa sai, hoặc sai hoàn toàn Kiểu bài này người viết phải bày tỏ ý kiến, quan điểm rõ ràng Cần

Trang 10

có mở rộng vấn đề toàn diện, triệt để Nói cách khác bài văn bình luận mang tính chất tổng hợp và ở mức độ cao hơn so với giải thích, chứng minh

- Phương pháp làm bài văn bình luận:

+ Bài bình luận có hai phần: Bình và Luận

Phần bình tìm hiểu, xác định được đúng-sai, từ đó phát biểu nhận xét, đánh giá và bày tỏ thái độ bằng lí lẽ dẫn chứng cụ thể Có một số khả năng xuất hiện trong phần bình như sau:

Vấn đề đúng hoàn toàn

-Đúng như thế nào?

Khía cạnh 1,2…

Dùng lí lẽ dẫn chứng

làm rõ

-Tại sao đúng?

Khía cạnh 1,2…

Dùng lí lẽ dẫn chứng

làm rõ

Vấn đề vừa đúng vừa sai

- Chỉ rõ điểm đúng + Đúng trong trường hợp nào? Thời điểm nào?

+ Đúng với người nào?

-> Lí lẽ, dẫn chứng làm rõ

- Vì sao đúng?

- Vì sao sai? Chỉ rõ điểm sai

-> Lí lẽ dẫn chứng làm rõ

Vấn đề sai hoàn toàn

- Sai như thế nào?

Khía cạnh 1,2…

Lí lẽ dẫn chứng làm rõ

- Tại sao sai?

Khía cạnh 1,2…

Lí lẽ dẫn chứng làm rõ

Phần luận cần xem xét vấn đề đúng- sai trong phạm vi , giới hạn nào? Cần bổ sung, mở rộng thêm như thế nào? Rút ra bài học gì thuộc quan điểm lí luận hoặc đạo đức trong cuộc sống.Có thể bàn luận theo các hướng :

- Hoàn cảnh khác nhau

- Quan điểm trái ngược nhau

- Mở rộng liên hệ với vấn đề khác

- Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề nhằm xây dựng nhận thức, thái độ và đề

ra hành động đúng

Tóm lại: Học sinh sử dụng các thao tác nghị luận: Giải thích, chứng minh, bình luận và phân tích,tổng hợp để làm tốt kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống ; và nghị luận về tư tưởng đạo lí

Ví dụ một đề bài như sau :Suy nghĩ về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”

Đề thuộc kiểu nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí Học sinh có thể vận dụng các thao tác nghị luận đã hướng dẫn ở trên để làm bài

Học sinh có thể lập dàn ý theo phép lập luận giải thích như sau :

a Mở bài:

- Vấn đề nghị luận là lòng nhớ ơn

Ngày đăng: 06/03/2015, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w